Phát Minh Cuối Cùng - Chương 9
9
Định Luật Hồi Quy Tăng Tốc
Điện toán đang trải qua một sự thay đổi phi thường nhất kể từ thời điểm phát minh ra máy tính cá nhân. Những sáng tạo của thập niên sắp tới sẽ vượt xa những sáng tạo của cả ba thập niên trước gộp lại.1
Paul Otellini
CEO của Intel Với hai tác phẩm The Age of Spiritual Machines: When Computers Exceed Human Intelligence và The Singularity is Near, Ray Kurzweil đã trưng dụng thuật ngữ Singularity và thay đổi ý nghĩa của nó thành một thời kỳ xán lạn đáng mong chờ trong lịch sử loài người, được ông quan sát với một độ chính xác đặc biệt qua các phép ngoại suy. Ông viết, sau khoảng 40 năm nữa, sự phát triển công nghệ sẽ tiến bộ nhanh đến mức sự hiện hữu của con người sẽ bị thay đổi về cơ ban, và kết cấu lịch sử vốn có sẽ sụp đổ. Máy móc và sinh vật sẽ trở nên không thể phân biệt được. Các thế giới ảo sẽ trở nên sinh động và quyến rũ hơn cả thế giới thực. Công nghệ nano sẽ cho phép sản xuất theo nhu cầu, chấm dứt nạn đói và sự nghèo khổ, chữa trị cho mọi loại bệnh tật của loài người. Bạn có thể dừng quá trình lão hóa của mình lại, hoặc thậm chí đảo ngược nó. Đây sẽ là khoảng thời gian quan trọng nhất để sống, không chỉ vì bạn sẽ chứng kiến một nhịp độ thực sự đáng kinh ngạc của sự biến đổi công nghệ, mà còn bởi công nghệ hứa hẹn đem lại cho bạn các công cụ để trường sinh bất lão. Đó sẽ là bình minh của kỷ nguyên “Singularity.”
Vậy Singularity là gì? Đó là một giai đoạn tương lai, khi mà nhịp độ thay đổi công nghệ sẽ nhanh chóng và ảnh hưởng của nó sẽ sâu sắc đến nỗi cuộc sống con người sẽ bị biến đổi đến mức không thể đảo ngược. Dù không phải thiên đàng hay địa ngục, nhưng kỷ nguyên này sẽ biến đổi những khái niệm về đời sống mà chúng ta vẫn dựa vào, từ những mô hình kinh tế cho đến vòng quay của đời người, bao gồm cả bản thân cái chết…2
Hãy xem những câu chuyện về Harry Potter của J. K. Rowling từ góc nhìn này. Những câu chuyện này có thể là tưởng tượng, nhưng nó không phải viễn cảnh vô lý vì thế giới của chúng ta sẽ có thể là như thế chỉ sau vài thập niên nữa tính từ bây giờ. Về cơ bản, mọi “phép thuật” của Potter sẽ được hiện thực hóa thông qua các công nghệ mà tôi sẽ khảo sát trong cuốn sách này. Trò quidditch và việc biến con người hay đồ vật thành những hình dạng khác sẽ có thể thực hiện được ⦾ trong các môi trường giả lập hiện thực hoàn toàn, cũng như trong chính hiện thực bằng cách sử dụng các thiết bị nano.3
Vậy là thời kỳ Singularity sẽ “không phải là thiên đàng hay địa ngục” nhưng chúng ta sẽ được chơi quidditch! Khái niệm Singularity của Kurzweil hiển nhiên là rất khác biệt với khái niệm Singularity của Vernor Vinge và sự bùng nổ trí thông minh của I. J. Good. Liệu chúng có thể tương thích? Đây vừa là quãng thời gian tốt nhất để sống, vừa là quãng thời gian tồi tệ nhất? Tôi đã đọc gần như từng từ mà Kurzweil viết, nghe tất cả các bài phát biểu, các đoạn ghi âm ghi hình của ông. Năm 1999, tôi đã phỏng vấn ông khá lâu cho bộ phim tài liệu có một phần về AI. Tôi biết ông đã viết và nói những gì về các mối nguy của AI, và những thứ đó không nhiều lắm.
Tuy vậy, đáng ngạc nhiên là ông lại chịu trách nhiệm gián tiếp cho sự ra đời của bài tiểu luận có tính cảnh báo thuyết phục nhất về Singularity – Why the Future Doesn’t Need Us (1999) (Tại sao tương lai không cần chúng ta) của Bill Joy.4 Trong đó Joy, một nhà lập trình, kiến trúc sư máy tính, đồng sáng lập Sun Microsystems⦾, đã chủ trương cần giảm tốc và thậm chí dừng việc phát triển ba công nghệ mà ông tin là nguy hiểm chết người nếu cứ theo đuổi chúng với tốc độ hiện thời: trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano và công nghệ sinh học. Joy cảm thấy bị thôi thúc phải viết tiểu luận này sau cuộc nói chuyện đáng sợ trong một quán bar với Kurzweil, sau khi đọc cuốn The Age of Spiritual Machines của ông. Trong các tác phẩm và bài giảng phi học thuật về hiểm họa AI, tôi nghĩ chỉ có Ba định luật của Asimov (dù nhầm lẫn) là được trích dẫn nhiều hơn bài luận có ảnh hưởng cực lớn của Joy. Đoạn văn sau sẽ tóm tắt cách nhìn của ông về AI:
Nhưng, với viễn cảnh về sức mạnh máy tính cấp độ con người sau khoảng 30 năm nữa, một ý tưởng mới tự ra đời: phải chăng tôi đang làm việc để tạo ra những công cụ, thứ sẽ cho phép xây dựng công nghệ có khả năng thay thế loài người. Tôi cảm thấy sao về chuyện này? Rất không thoải mái. Trong cả sự nghiệp, tôi đã luôn đấu tranh để xây dựng các hệ thống phần mềm đáng tin cậy, và tôi thấy dường như chắc chắn rằng tương lai sẽ không tiếp diễn tốt đẹp như một số người đang mường tượng. Kinh nghiệm cá nhân cho tôi thấy chúng ta thường tự đánh giá quá cao khả năng thiết kế của mình. Trước sức mạnh khủng khiếp của những công nghệ mới này, chúng ta có nên đặt câu hỏi bằng cách nào chúng ta có thể sống chung với chúng? Và nếu từ những phát triển công nghệ ấy, chúng ta có thể hoặc thậm chí chắc chắn tuyệt chủng, thì chúng ta có nên tiếp tục với một sự cẩn trọng lớn?5
Vài lời nói chơi ở quán bar của Kurzweil có thể tạo ra một cuộc tranh luận tầm cỡ quốc gia, thế nhưng những lời cảnh báo ít ỏi của ông đã bị át đi trong cơn bão hứng khởi của những dự đoán tốt đẹp. Ông nhấn mạnh rằng mình không vẽ ra một ngày mai thiên đường, nhưng tôi nghĩ chắc chắn đó là thứ ông muốn làm.
Ít người viết một cách thông tuệ và thuyết phục về công nghệ như Kurzweil – ông kỳ công để làm cho thông điệp của mình thực sự dễ hiểu, và ông bảo vệ nó với sự khiêm nhường. Tuy nhiên, tôi nghĩ ông đã phạm sai lầm khi chiếm hữu cái tên “Singularity” và gán cho nó một nghĩa mới đầy lạc quan. Nó lạc quan đến nỗi khiến tôi, cũng như Vinge, cảm thấy cái nghĩa đó đáng sợ, được lấp đầy bằng những hình ảnh và ý tưởng hấp dẫn, che giấu những nguy hiểm. Ông đã dán cái nhãn mới, dìm yếu tố tai họa của AI xuống và quá thổi phồng lời hứa hẹn. Khởi nguồn từ một đề xướng công nghệ, Kurzweil đã tạo ra một trào lưu văn hóa mang âm hưởng tôn giáo mạnh mẽ. Tôi nghĩ rằng pha trộn sự biến đổi công nghệ với tôn giáo là một sai lầm lớn.
Hãy tưởng tượng một thế giới khi mà khác biệt giữa người và máy mờ đi, khi ranh giới giữa nhân tính và công nghệ nhạt nhòa, khi linh hồn và con chip silicon hợp nhất… Trong bàn tay đầy cảm hứng [của Kurzweil], cuộc sống ở thiên niên kỷ mới dường như không còn khiến người ta nản chí. Thay vào đó, thế kỷ 21 của Kurzweil hứa hẹn là một thời đại trong đó sự kết hợp giữa cảm tính con người với trí tuệ nhân tạo sẽ thay đổi và cải thiện về cơ bản cách chúng ta sống.
The Age of Spiritual Machines
(bản bỏ túi, 1999) Kurzweil không chỉ là cha đẻ của vấn đề Singularity, một người tranh luận lịch lãm và không bao giờ nao núng, mà còn là một người khởi xướng phong trào không biết mệt mỏi, thậm chí có phần máy móc. Ông là lãnh tụ của nhiều nam thanh và một số nữ tú, những người sống để chờ Singularity. Những người theo thuyết Singularity thường khoảng từ 20 đến hơn 30 tuổi, chủ yếu là đàn ông và không có con. Phần lớn họ là những anh chàng da trắng thông minh, những người đã nghe được tiếng gọi của Singularity. Nhiều người đã đáp lại bằng cách từ bỏ sự nghiệp, thứ vốn có thể làm bố mẹ họ tự hào, để sống như tu sĩ, tận tâm với các vấn đề Singularity. Đa phần họ tự học, một phần có lẽ vì không có chương trình đại học nào có chuyên ngành tổng hợp về khoa học máy tính, đạo đức, kỹ thuật sinh học, khoa học thần kinh, tâm lý học và triết học, nói ngắn gọn là nghiên cứu Singularity. (Kurzweil đồng sáng lập Đại học Singularity, một ngôi trường không cấp bằng và không được công nhận. Nhưng nó hứa hẹn “một sự hiểu biết rộng, đa chiều về những ý tưởng và vấn đề lớn nhất trong những công nghệ sẽ thay đổi tương lai.”) Dù sao thì nhiều người theo thuyết Singularity cũng quá thông minh và tự lập nên không muốn đi theo con đường học hành truyền thống. Còn nhiều người khác thì là những kẻ dở hơi điên rồ mà rất ít trường cao đẳng hoặc đại học chịu nhận.
Một số người theo thuyết Singularity coi sự duy lý là giáo lý chủ yếu trong tín ngưỡng của mình. Họ tin rằng khả năng duy lý và logic tốt hơn, đặc biệt ở những người ra quyết định trong tương lai, sẽ giảm thiểu xác suất chúng ta tự tiêu diệt mình bằng AI. Họ lập luận, bộ não chúng ta đầy các thành kiến và suy nghiệm (heuristics) kỳ lạ, thứ vốn phục vụ tốt cho chúng ta trong quá trình tiến hóa, nhưng sẽ khiến chúng ta vướng vào rắc rối khi phải đối mặt với những lựa chọn và rủi ro đầy phức tạp trong thế giới hiện đại. Tiêu điểm chính của họ không phải là một Singularity tiêu cực và tai họa, mà là một thứ tích cực, sung sướng. Ở đó, chúng ta có thể tận dụng các công nghệ kéo dài tuổi thọ để sống thật lâu, có lẽ là ở dạng máy thay vì ở dạng sinh học. Nói cách khác, hãy tự thanh tẩy bạn khỏi những ý nghĩ sai lầm, và bạn có thể tìm thấy sự giải thoát khỏi thế giới nhục thể, và khám phá sự trường sinh bất lão.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi Singularity thường được gọi là Khải huyền của Những kẻ cuồng công nghệ – trong vai trò của một phong trào, nó có những dấu hiệu đặc trưng của một tôn giáo ngày tận thế, bao gồm các nghi thức rửa tội, khuynh hướng xa rời thân xác tạm bợ của con người, chờ đợi cuộc sống vĩnh hằng, có một giáo chủ rõ ràng và (tương đối) lôi cuốn. Tôi hết lòng tán thành ý tưởng của những người theo thuyết Singularity, rằng AI là thứ quan trọng nhất hiện nay mà chúng ta nên quan tâm. Nhưng khi câu chuyện lái sang sự bất tử, tôi không có hứng thú. Những giấc mơ về cuộc sống vĩnh cửu có sức mạnh bóp méo sự thật một cách quá đáng. Quá nhiều người theo thuyết Singularity tin rằng sự hợp lưu của các dòng công nghệ hiện đang tăng tốc sẽ không sinh ra những loại thảm họa mà từng dòng công nghệ đơn lẻ có thể tạo ra, hoặc những thảm họa kết hợp mà chúng ta đã tiên đoán, mà ngược lại nó sẽ làm một thứ khác biệt 180 độ. NÓ sẽ giải thoát loài người khỏi thứ họ lo sợ nhất: cái chết.
Làm thế nào mà bạn có thể đánh giá chính xác một số công cụ, và liệu sự phát triển của chúng có nên được điều chỉnh không, và bằng cách nào, khi mà bạn tin rằng chính những công cụ ấy sẽ cho phép bạn trường sinh bất lão? Thậm chí ngay cả những người duy lý bậc nhất trên thế giới cũng không có cái năng lực diệu kỳ để đánh giá tôn giáo của họ với một cái đầu lạnh. Và như học giả William Grassie⦾ đã lập luận, khi bạn đang hỏi những câu hỏi về sự hóa thân, về số ít người được lựa chọn, và về cuộc sống vĩnh hằng, bạn đang nói về cái gì nếu không phải là tôn giáo?
Liệu Singularity có dẫn tới việc các máy móc có tâm hồn sẽ thay thế con người? Hay sẽ dẫn tới việc con người hóa thân thành các siêu nhân bất tử sống trong một thiên đàng duy lý và khoái lạc? Con đường dẫn tới Singularity có phải đi qua một thời kỳ đau khổ? Liệu sẽ có một số ít người được bầu ra biết về bí mật của Singularity, những người tiên phong, và có lẽ sẽ là những tàn dư cuối cùng của nhân loại, đến được Miền đất hứa? Các chủ đề đậm tính tôn giáo như vậy đều hiện diện trong những bài hùng biện và lập luận duy lý của những người theo thuyết Singularity, thậm chí ngay cả khi những cách giải thích kiểu thuyết tiền và hậu thiên hy niên⦾ không được phát triển một cách thích hợp, y như trong trường hợp của các phong trào Chúa cứu thế tiền khoa học.6
Không giống như quan điểm của Good và Vinge về tương lai tăng tốc, Singularity của Kurzweil được mang tới không chỉ nhờ trí tuệ nhân tạo, mà từ ba công nghệ tăng tiến tới điểm giao hòa – công nghệ gen, công nghệ nano và công nghệ robot, một thuật ngữ rộng ông dùng để chỉ AI. Cũng không giống với Good và Vinge, Kurzweil đã đi tới một lý thuyết hợp nhất về tiến hóa công nghệ, thứ giống như bất cứ lý thuyết khoa học đứng đắn nào, cố gắng giải thích hiện tượng quan sát được và đưa ra những tiên đoán về các hiện tượng sẽ có trong tương lai. Nó được gọi là Định luật Hồi quy Tăng tốc, hay LOAR (Law of Accelerating Returns).
Đầu tiên Kurzweil đề xuất rằng các quá trình tiến hóa đi theo một đường cong mượt mà theo dạng hàm mũ, và sự phát triển của công nghệ chính là một trong các quá trình tiến hóa đó. Cũng giống như sự tiến hóa sinh học, công nghệ cho phép tiến hóa ra một năng lực, rồi dùng năng lực đó để tiến hóa tiếp lên nấc tiếp theo. Ví dụ như ở con người, bộ não lớn và ngón cái đối diện với lòng bàn tay cho phép chế tạo ra các công cụ và tạo ra sức nắm chặt để tay có thể sử dụng chúng một cách hiệu quả. Trong công nghệ, máy in góp phần vào công nghệ đóng sách, khiến dân chúng biết đọc biết viết, dẫn tới sự ra đời của các trường đại học và nhiều phát minh hơn nữa. Động cơ hơi nước tạo nên sức bật cho cách mạng công nghiệp và từ đó ngày càng thêm nhiều phát minh.
Công nghệ khởi đầu chậm do cách thức tự xây dựng trên cái nền là chính bản thân nó, nhưng sau đó đường cong tăng trưởng của nó dốc lên cho đến khi nó bắn thẳng lên gần như dốc đứng. Theo những biểu đồ và bảng biểu đã trở thành thương hiệu của Kurzweil, chúng ta đang bước vào thời kỳ quan trọng nhất của sự tiến hóa công nghệ, giai đoạn bắt đầu dốc đứng, cái “đầu gối của đường cong hàm mũ.” Kể từ đây, nó chỉ có đi lên.
Kurzweil đã phát triển Định luật Hồi quy Tăng tốc của ông để mô tả sự tiến hóa của bất cứ quá trình nào mà trong đó có sự tiến hóa của các hình mẫu thông tin. Ông áp dụng LOAR cho sinh học, vốn ưu tiên sự gia tăng tính trật tự của các phân tử, nhưng nó có tính thuyết phục hơn khi được sử dụng để dự đoán tốc độ thay đổi của công nghệ thông tin, bao gồm máy tính, máy ảnh kỹ thuật số, Internet, điện toán đám mây, thiết bị chẩn đoán và điều trị trong y tế, và nhiều nữa – bất cứ công nghệ nào có liên quan tới việc lưu trữ và thu hồi thông tin.
Như Kurzweil đã ghi chú, LOAR về bản chất là một lý thuyết kinh tế. Những Hồi quy Tăng tốc được các phát minh, sự cạnh tranh, thị phần hỗ trợ – những đặc trưng của thị trường và các công ty sản xuất. Trong thị trường máy tính, hiệu ứng này được biểu thị bằng Định luật Moore, một lý thuyết kinh tế khác đội lốt một lý thuyết công nghệ, được nhận ra lần đầu tiên vào năm 1965 bởi nhà đồng sáng lập Intel là Gordon Moore.
Định luật Moore nói rằng số lượng transistor có thể gắn lên một vi mạch để chế tạo ra một chip vi xử lý sẽ tăng gấp đôi sau mỗi chu kỳ 18 tháng. Một transistor là một công tắc bật/tắt mà cũng có thể khuếch đại điện áp. Càng nhiều transistor nghĩa là tốc độ xử lý càng lớn, và máy tính chạy càng nhanh. Định luật Moore hàm nghĩa máy tính sẽ trở nên nhỏ hơn, mạnh hơn và rẻ hơn với một tốc độ ổn định. Chuyện này không xảy ra nhờ Định luật Moore là một định luật của thế giới vật lý, kiểu như định luật hấp dẫn, hoặc Định luật Thứ hai về Nhiệt động học. Nó xảy ra vì người tiêu dùng và thị trường thương nghiệp luôn thúc đẩy người sản xuất chip máy tính phải cạnh tranh và góp phần tạo ra những máy tính, điện thoại thông minh, máy ảnh, máy in, pin năng lượng mặt trời, và sắp tới là máy in 3D, ngày một nhỏ hơn, nhanh hơn và rẻ hơn. Người sản xuất chip đang sử dụng các công nghệ và kỹ thuật của quá khứ. Vào năm 1971, 2.300 transistor có thể được gắn lên một con chip. 40 năm sau, hay là sau hai lần 20, con số đó là 2.600.000.000.7 Và với sự tăng tốc như vậy, hơn hai triệu transistor nói trên có thể được gắn vào dấu chấm ở cuối câu này.
Sau đây là một ví dụ ngoạn mục cho lập luận trên. Jack Dongarra, một nhà nghiên cứu ở Phòng nghiên cứu quốc gia Oak Ridge thuộc bang Tennessee, thành viên của một đội chuyên theo dõi tốc độ của các siêu máy tính, xác định rằng máy tính bảng bán chạy nhất của Apple, iPad 2, có tốc độ tương đương siêu máy tính Cray 2 vào khoảng năm 1985. Thực tế là với tốc độ 1,5 gigaflop (1 gigaflop bằng một tỉ thao tác tính toán, hay phép toán trên một giây), iPad 2 hẳn đã nằm trong danh sách 500 siêu máy tính chạy nhanh nhất thế giới hồi năm 1994.8
Vào năm 1994, ai mà có thể tưởng tượng rằng chưa đầy một thế hệ nữa, một siêu máy tính với kích cỡ nhỏ hơn một cuốn sách sẽ đủ rẻ để có thể cho không học sinh cấp 3, và hơn thế, nó sẽ kết nối vào kho kiến thức nhân loại mà không cần dây cáp? Chỉ có Kurzweil mới táo bạo như vậy, và dù ông không đưa ra lời xác nhận chính xác về các siêu máy tính, nhưng ông đã dự đoán đúng sự bùng nổ của Internet.9
Trong công nghệ thông tin, mỗi bước đột phá lại kéo theo bước đột phá kế tiếp đến gần hơn – đường cong chúng ta đã nói đến sẽ dốc thêm. Do vậy, khi nghĩ về iPad 2, câu hỏi đặt ra không phải là chúng ta sẽ chờ đợi điều gì sau 15 nam tiếp theo. Thay vào đó, hãy chú ý đến những gì sẽ xảy ra trong một phần nhỏ của thời lượng đó. Vào khoảng năm 2020, Kurzweil ước đoán rằng chúng ta sẽ sở hữu các laptop với sức mạnh xử lý thô tương đương bộ não người, cho dù chúng chưa có sự thông minh.
Chúng ta hãy cùng xem Định luật Moore áp dụng cho sự bùng nổ trí thông minh thế nào. Nếu chúng ta giả định rằng AGI có thể đạt được, Định luật Moore sẽ hàm ý rằng ngay cả các vòng lặp tự cải tiến của sự bùng nổ trí thông minh cũng không nhất thiết cần phải có để đạt được ASI, hay siêu trí tuệ nhân tạo. Đó là vì một khi bạn đã đạt được AGI, hai năm sau các máy móc với trí thông minh cấp độ con người sẽ tăng tốc gấp đôi. Và sau hai năm nữa, lại tiếp tục tăng gấp đôi. Trong khi đó, trí thông minh trung bình của con người vẫn y như cũ. AGI sẽ nhanh chóng vượt xa chúng ta.
Nếu trí thông minh đó bắt đầu tham gia quá trình tự cải tiến bản thân nó, thì điều gì sẽ xảy ra? Eliezer Yudkowsky mô tả việc sau khi có AGI, tốc độ tăng trưởng công nghệ sẽ vuột khỏi tầm điều khiển của chúng ta nhanh đến thế nào.
Nếu tốc độ máy tính tăng gấp đôi mỗi hai năm, điều gì xảy ra nếu một AI được cài trên máy tính đang thực hiện các nghiên cứu?
Tốc độ máy tính tăng gấp đôi mỗi hai năm.
Tốc độ máy tính tăng gấp đôi mỗi hai năm làm việc.
Tốc độ máy tính tăng gấp đôi mỗi hai năm làm việc theo hệ quy chiếu hiện tại.
Hai năm sau khi Trí tuệ nhân tạo đạt cấp độ con người, tốc độ của chúng nhân đôi. Một năm sau, tốc độ của chúng nhân đôi tiếp. 6 tháng – 3 tháng – 1,5 tháng… Singularity.10
Một số người phản đối rằng Định luật Moore sẽ dừng lại trước năm 2020, khi chuyện cho thêm transistor vào các vi mạch trở nên bất khả thi về mặt vật lý. Một số khác nghĩ rằng Định luật Moore sẽ tạo điều kiện cho sự nhân đôi nhanh hơn khi các bộ vi xử lý được áp dụng công nghệ mới, dùng những bộ phận nhỏ hơn để thực hiện việc tính toán, chẳng hạn các phân tử, các hạt photon ánh sáng, thậm chí cả DNA. Các con chip xử lý 3D, được Đại học Bách khoa Federale de Lausanne của Thụy Sĩ (EPFL) phát triển, có thể là thứ đầu tiên thắng được Định luật Moore. Dù chưa đi vào sản xuất, nhưng các con chip của EPFL được sắp theo phương thẳng đứng thay vì trên một mặt phẳng như trước đây, và sẽ nhanh hơn, có hiệu suất cao hơn các con chip truyền thống, cũng như dùng được trong công nghệ xử lý song song.11 Và ngay cả công ty mà Gordon Moore đồng sáng lập cũng đã nối dài Định luật Moore với việc sáng chế ra transistor 3D đầu tiên. Như đã nói, transistor là các công tắc điện tử. Transistor truyền thống hoạt động bằng cách điều chỉnh dòng điện chạy trong không gian hai chiều. Transistor Tri-Gate mới của Intel điều khiển dòng điện chạy trong không gian ba chiều, với tốc độ tăng 30% và tiết kiệm 50% năng lượng. Một tỉ transistor Tri-Gate sẽ có mặt trong mỗi con chip thế hệ mới của Intel12
Vì việc gắn các transistor lên silicon được dùng nhiều trong công nghệ thông tin, từ máy ảnh đến các cảm biến y tế, nên Định luật Moore cũng áp dụng cho chúng. Nhưng Moore đã lập ra lý thuyết về các vi mạch chứ không phải về nhiều lĩnh vực được kết nối trong công nghệ thông tin, vốn bao gồm cả cách thức sản xuất và sản phẩm. Do đó, định luật tổng quát hơn của Kurzweil, Định luật Hồi quy Tăng tốc, là một lựa chọn thích hợp hơn. Và nhiều công nghệ đang trở thành công nghệ thông tin, như máy tính, và thậm chí robot, chúng tăng trưởng và ngày càng có quan hệ mật thiết với mọi khía cạnh của thiết kế sản phẩm, sản xuất và bán hàng. Chú ý là việc sản xuất điện thoại thông minh – không chỉ con chip xử lý của nó – đã hưởng lợi từ cuộc cách mạng kỹ thuật số. Mới chỉ sáu năm kể từ ngày chiếc iPhone đầu tiên ra đời, Apple đã cho ra sáu phiên bản. Apple đã tăng tốc độ của chúng lên gấp đôi, và với hầu hết người dùng thì giá thành đã giảm hơn một nửa. Đó là vì tốc độ phần cứng trong các thành phần của máy đã được nhân đôi như thường lệ. Và ngay trong từng công đoạn của dây chuyền sản xuất, sự nhân đôi đó cũng diễn ra.
Các hiệu ứng được LOAR dự đoán vươn xa hơn cả ngành công nghiệp máy tính và điện thoại thông minh. Gần đây nhà đồng sáng lập Google là Larry Page đã gặp Kurzweil để thảo luận về tình trạng nóng lên toàn cầu, và họ đã chia tay với một tâm trạng lạc quan. Sau 20 năm nữa, họ khẳng định, công nghệ nano sẽ khiến năng lượng mặt trời trở nên kinh tế hơn dầu mỏ hoặc than đá. Ngành công nghiệp này sẽ cung cấp cho thế giới 100% số năng lượng mà nó cần. Dù năng lượng mặt trời chỉ đủ dùng cho 0,5% nhu cầu hiện nay của thế giới, nhưng họ cho rằng con số đó sẽ nhân đôi mỗi hai năm như điều đã xảy ra suốt 20 năm qua. Vậy là hai năm nữa năng lượng mặt trời sẽ chiếm 1% sản lượng năng lượng toàn cầu, sau bốn năm nữa là 2%, và sau 16 năm nữa sẽ nhân đôi tám lần bằng 256% nhu cầu năng lượng của thế giới. Ngay cả khi tính đến sự tăng dân số và nhu cầu năng lượng lớn hơn trong hai thập niên sau đấy, từng đó năng lượng mặt trời vẫn đủ và còn thừa ra một ít. Và như thế, theo Kurzweil và Page, tình trạng nóng lên toàn cầu sẽ được giải quyết.13
Và với cái chết cũng sẽ như thế. Theo Kurzweil, chuyện kéo dài sự sống mãi mãi hầu như đã ở trong tầm tay.
“Chúng ta hiện giờ đã có những phương tiện thực sự để hiểu rõ phần mềm của cuộc sống và tái lập trình nó; chúng ta có thể dừng sự hoạt động của các gen mà không phải can thiệp vào, có thể thêm vào các gen mới và cả những bộ phận cơ thể mới với liệu pháp tế bào gốc,” Kurzweil nói. “Điểm mấu chốt ở đây, đó là y học hiện nay là một dạng công nghệ thông tin – sức mạnh của nó sẽ nhân đôi mỗi năm. Những công nghệ này sẽ mạnh hơn một triệu lần sau 20 năm, với cùng một giá thành.”14
Kurzweil tin rằng con đường ngắn nhất dẫn tới AGI là kỹ nghệ đảo ngược bộ não – quét nó vô số lần để thu được một bộ tổng hợp các vi mạch của não. Được thay thế bằng các giải thuật hoặc các mạng phần cứng, những vi mạch này sẽ được khởi động trên một máy tính như là một bộ não tổng hợp duy nhất, và được dạy mọi thứ nó cần biết. Nhiều tổ chức đang làm việc trong các dự án đi theo con đường tới AGI này. Chúng ta sẽ thảo luận một số cách tiếp cận và các chướng ngại sắp tới.
Tốc độ tiến hóa của phần cứng cần thiết để chạy một bộ não ảo đòi hỏi một cái nhìn sâu hơn. Chúng ta hãy bắt đầu với bộ não người và sau đó hướng tới những máy tính có thể giả lập chúng, Kurzweil viết rằng bộ não có khoảng 100 tỉ neuron, mỗi neuron kết nối với khoảng 1.000 neuron khác.⦾ Như vậy là khoảng 100 triệu triệu kết nối Mỗi kết nối có khả năng thực hiện khoảng 200 tính toán mỗi giây (các vi mạch nhanh hơn thế ít nhất là 10 triệu lần). Kurzweil nhân các kết nối bên trong neuron của bộ não với tốc độ tính toán từng cái và nhận được kết quả là 20 triệu tỉ tính toán trên một giây, hoặc 20.000.000.000.000.000.16
Danh hiệu siêu máy tính nhanh nhất thay đổi gần như hằng tháng, nhưng ngay lúc này thì máy tính Sequoia của Bộ Năng lượng đang chiếm ngôi với hơn 16 petaflop. Đó là 16 triệu tỉ tính toán trên một giây, hoặc là khoảng 80% tốc độ của bộ não người, như Kurzweil đã tính vào năm 2000.17 Tuy nhiên trong cuốn The Singularity is Near, vào năm 2005, Kurzweil đã giảm ước lượng tốc độ bộ não từ 20 xuống còn 16 petaflop, và dự đoán rằng một siêu máy tính sẽ đạt được tốc độ ấy vào năm 2013.18 Sequoia đã làm được sớm hơn một năm.
Có thật là chúng ta đã tới gần giới hạn của bộ não? Những con số này có thể dễ gây nhầm lẫn. Bộ não là những vi xử lý song song và làm cực tốt một số việc, trong khi máy tính hoạt động tuần tự và làm tốt những việc khác. Bộ não thì chậm và làm việc với những xung mạch của các neuron. Máy tính có thể xử lý công việc nhanh hơn và lâu hơn, thậm chí lâu vô hạn.
Tuy thế, bộ não người vẫn là ví dụ duy nhất của chúng ta về trí thông minh cao cấp. Nếu kỹ thuật “brute force” muốn cạnh tranh với nó, thì máy tính phải thực hiện được những chiến công ấn tượng về nhận thức. Hãy xem một số mẫu siêu máy tính thường gặp trong các hệ thống phức tạp hiện nay: các hệ thống thời tiết, vụ nổ hạt nhân 3D và giả lập phân tử dùng trong sản xuất. Bộ não người liệu có bao hàm một sự phức tạp giống thế, hoặc hơn thế không? Theo mọi chỉ báo thì chúng tương đương nhau.
Có lẽ, như Kurzweil nói, chinh phục bộ não người chỉ là chuyện nay mai, và 30 năm sắp tới của khoa học máy tính sẽ tương đương 140 năm, tính theo tốc độ tiến triển hiện nay.19 Phải nói thêm rằng chế tạo AGI cũng là một công nghệ thông tin. Với tốc độ máy tính tăng theo hàm mũ, các nhà nghiên cứu AI có thể tăng tốc công việc của họ. Nó có nghĩa là viết nhiều giải thuật phức tạp hơn, nhiều giải thuật thiên về sức mạnh hơn, giải quyết các vấn đề điện toán khó hơn và tao ra nhiều thử nghiệm hơn.20 Các máy tính nhanh hơn góp phần tạo ra một ngành công nghiệp AI mạnh hơn, đến lượt mình sẽ cung cấp thêm nhiều nhà nghiên cứu máy tinh và các công cụ hữu dụng để đạt tới AGI.21
Kurzweil viết rằng sau khi các nhà nghiên cứu chế tạo ra một máy tính có khả năng vượt qua được bài kiểm tra Turing vào năm 2029, mọi thứ thậm chí sẽ còn tăng tốc mạnh hơn.22 Nhưng ông không tiên liệu về một vụ bùng phát Singularity cho đến tận 16 năm sau, 2045. Sau đó tốc độ tiến bộ công nghệ sẽ vượt quá khả năng điều khiển của bộ não chúng ta. Do đó, ông lập luận, chúng ta cần phải tăng cường bộ não để theo kịp. Điều đó có nghĩa là đưa những công nghệ trợ giúp não trực tiếp vào các mạch neuron của chúng ta, giống như cách mà hiện nay các thiết bị cấy ở lỗ tai kết nối trực tiếp đến các dây thần kinh thính giác trợ giúp cho người khiếm thính.23 Chúng ta sẽ làm cho những kết nối neuron chậm chạp đó chạy tốt hơn, nghĩ nhanh hơn, sâu sắc hơn và nhớ được nhiều hơn. Chúng ta sẽ truy cập đến tất cả kiến thức của nhân loại, và tương tự như máy tính, sẽ có khả năng chia sẻ những suy nghĩ và kinh nghiệm của mình tới người khác một cách tức thời, trong khi trải nghiệm những suy nghĩ của họ. Sau cùng, công nghệ sẽ giúp chúng ta nâng cấp bộ não với một bộ nhớ trung gian bền hơn mô não, hoặc chúng ta sẽ tải ý thức của mình lên máy tính, trong khi vẫn bảo tồn những phẩm chất khiến chúng ta là chúng ta.
Tất nhiên, viễn cảnh tương lai này giả định một điều là bạn ở trong bạn, bản thân bạn, có thể di chuyển, và đó là một giả định rất lớn. Nhưng đối với Kurzweil, đây là con đường đến với sự bất tử, là một biển cả kiến thức và kinh nghiệm vượt quá những gì con người hiện tại có thể nắm bắt. Sự tăng cường trí thông minh sẽ xảy ra thật từ tốn khiến ít người gạt bỏ nó. Nhưng “từ tốn” nghĩa là vào năm 2045, vậy là chỉ 30 năm nữa, với những thay đổi chủ yếu, sâu sắc diễn ra vào năm năm cuối cùng, hoặc gần như thế. Như vậy có tuần tự không? Tôi nghĩ là không.
Như chúng ta đã lưu ý ở trên, Apple đã cho ra sáu phiên bản iPhone trong sáu năm. Theo Định luật Moore, trong khoảng thời gian đó phần cứng của họ đã tăng trưởng đủ để có được hai hoặc nhiều hơn thế số lần nhân đôi, nhưng nó chỉ tâng một lần. Tại sao? Đó là vì thời gian chậm trễ sinh ra trong quá trình phát triển, thử nghiệm và sản xuất các linh kiện của iPhone, bao gồm bộ vi xử lý, camera, bộ nhớ, ổ cứng, màn hình… và sau đó là việc tiếp thị và bán hàng.
Liệu khoảng thời gian trễ từ tiếp thị đến bán hàng này có bao giờ mất đi? Có lẽ đến một ngày nào đó, phần cứng cũng sẽ tự cập nhật như là phần mềm hiện nay. Nhưng chuyện đó sẽ không xảy ra cho đến khi khoa học làm chủ được công nghệ nano hoặc kỹ nghệ in 3D trở nên phổ cập. Và khi nâng cấp những bộ phận của bộ não chúng ta, thay vì cập nhật phần mềm Microsoft Office hoặc đi mua vài con chip hay RAM, đó sẽ là một chuỗi hành động tinh xảo hơn bất cứ những gì chúng ta từng trải nghiệm, ít nhất là trong lần đầu tiên.
Vậy mà Kurzweil tuyên bố rằng trong thế kỷ này, chúng ta sẽ trải nghiệm 200.000 năm tiến bộ công nghệ trong 100 năm lịch sử. Liệu chúng ta có thể chịu được nhiều sự thay đổi diễn ra nhanh chóng đến vậy?
Nicholas Carr, tác giả cuốn The Shallows (Những kẻ hời hợt), lập luận rằng điện thoại thông minh và máy tính đang làm giảm chất lượng tư duy của chúng ta và thay đổỉ hình thái của bộ não người. Trong cuốn Virtually You (Bạn trong Internet), nhà tâm thần học Elias Ahoujaoude cảnh báo rằng các mạng xã hội và trò chơi nhập vai đã cổ vũ cho một lượng lớn những thứ bệnh hoạn, bao gồm thói ái kỷ và tính vị kỷ quá mức. Sự đắm chìm vào công nghệ làm yếu đi cá tính và bản ngã – là nhận định của Jaron Lanier, lập trình viên, người tiên phong trong công nghệ thực tế ảo, tác giả của cuốn You Are Not a Gadget: A Manifesto (Bạn không phải là một thứ phụ tùng: Lời tuyên ngôn). Các chuyên gia này cảnh báo những hậu quả bất lợi đến từ những máy tính bên ngoài cơ thể chúng ta. Và Kurzweil đề xuất rằng những thứ tốt đẹp sẽ chỉ đến từ những máy tính bên trong cơ thể chúng ta. Tôi nghĩ thật không hợp lý khi chờ đợi điều vốn từng diễn ra trong hàng trăm ngàn năm tiến hóa sẽ thay đổi chỉ trong 30 năm, và chúng ta có thể được tái lập trình để yêu thích một sự tồn tại, thứ vô cùng khác biệt với cuộc sống mà chúng ta đã mất bao thế hệ để thích nghi.
Nhiều khả năng con người sẽ quyết định một tốc độ thay đổi mà họ có thể chế ngự và kiểm soát được. Mỗi người có thể chọn một cách khác nhau, và nhiều người sẽ chọn cùng một tốc độ cũng tương tự như việc họ cùng thích một kiểu quần áo, ô tô hoặc máy tính. Chúng ta đã biết rằng Định luật Moore và LOAR mang tính kinh tế thay vì tính tất định. Nếu có đủ người với đủ tài nguyên muốn tăng tốc bộ não của họ một cách nhân tạo, họ sẽ tạo ra một lượng cầu nhất định. Tuy nhiên, tôi nghĩ Kurzweil đã đánh giá quá cao ham muốn được nghĩ nhanh hơn và sống lâu hơn của các cá nhân trong tương lai. Dù sao đi nữa, tôi không nghĩ là một Singularity tràn đầy niềm vui, như ông đã định nghĩa về nó, sẽ trở thành hiện thực. AI được phát triển mà không có đủ độ an toàn sẽ làm hỏng nó.
Công cuộc chế tạo AGI là bất khả kháng và có lẽ là bất khả trị. Và vì thứ động lực nhân đôi đã được biểu thị bằng LOAR, AGI sẽ chiếm lấy sân khấu thế giới (ý tôi là chiếm) sớm hơn nhiều so với những gì ta nghĩ.

