Sơn Ca Vẫn Hót - Chương 11

21

Khi mùa hè đổ bộ xuống thung lũng sông Loire, trời nóng gay gắt hệt như mùa đông lạnh giá tê buốt vậy. Vianne thèm mở cửa phòng ngủ cho không khí tràn vào, nhưng không một ngọn gió nhẹ nào lay động trong cái đêm cuối tháng Sáu nóng nực này. Chị vuốt mớ tóc ẩm ướt khỏi mặt và ngả người xuống cái ghế cạnh giường.

Sophie buột ra tiếng rên rỉ. Vianne nghe thấy tiếng nó gọi “Mẹ ơi” lộn xộn, kéo dài, và chị nhúng mảnh vải vụn vào bát nước để trên cái tủ đầu giường duy nhất còn lại. Nước ấm như mọi vật trong căn phòng trên gác này. Chị vắt mảnh vải, quan sát nước thừa chảy vào bát. Rồi chị đặt mảnh vải ướt lên trán con gái.

Sophie lẩm bẩm gì đó không rõ và bắt đầu giãy giụa.

Vianne ghì con xuống, thì thầm vào tai con những lời yêu thương, cảm thấy hơi nóng ập vào môi chị.

- Sophie, - chị nói, cái tên như một lời cầu nguyên không đầu không cuối. - Mẹ đây. - Chị nhắc đi nhắc lại cho đến khi Sophie dịu lại.

Cơn sốt ngày càng nguy kịch hơn. Sophie ốm đã nhiều ngày nay, nó cảm thấy đau nhức và khó chịu. Ban đầu, Vianne tưởng là một cái cớ để tránh né những việc hai mẹ con cùng chia sẻ: làm vườn, giặt giũ, đóng hộp, khâu vá. Vianne cố làm nhiều hơn không ngừng nghỉ, thu được nhiều hơn. Ngay cả lúc này là giữa hè, chị đã lo cho mùa đông sắp tới.

Buổi sáng nay đã cho Vianne thấy sự thật (và làm chị cảm thấy mình giống một người mẹ tồi vì không nhận ra ngay từ đầu): Sophie ốm, rất nặng. Nó bị quật ngã bởi cơn sốt suốt cả ngày nay, thân nhiệt tăng dần. Con bé không thể nuốt được gì, kể cả nước là thứ cơ thể nó rất cần.

- Con uống nước chanh nhé? - Chị hỏi.

Không có tiếng trả lời.

Vianne cúi xuống và hôn lên bên má nóng bỏng của Sophie.

Thả mảnh vải vào trong cái bát đầy nước, chị đi xuống tầng dưới. Trên bàn ăn, một cái hộp đợi xếp đầy - gói vật dụng cá nhân chị sắp gửi Antoine. Hôm qua chị bắt đầu sắp xếp và định hôm nay xong xuôi sẽ mang đến bưu điện, nếu không vì Sophie trở bệnh nặng hơn.

Chị sắp xuống đến bếp thì nghe thấy tiếng hét của con gái.

Vianne tất tả chạy lên gác.

- Mẹ ơi, - Sophie rền rĩ và ho. Một âm thanh khủng khiếp, lạch cạch. Sophie giãy giụa trên giường, giật mạnh chăn mền, cố đẩy chúng ra. Vianne ra sức làm con gái dịu lại, nhưng Sophie như một con thú hoang, vừa vặn vẹo vừa la hét và ho như xé phổi.

Giá như chị có một ít thuốc Chlorodyne của bác sĩ Collis Browne. Nó trị ho rất hiệu nghiệm.

- Sẽ ổn thôi, Soph. Mẹ đây, - Vianne dỗ dành, nhưng lời lẽ của chị chẳng có tác dụng.

Beck xuất hiện cạnh chị. Chị biết mình nên tức giận vì anh ta ở đây - ở đây, trong phòng ngủ của chị - nhưng chị quá mệt mỏi và hoảng sợ không thể tự dối mình được nữa.

- Tôi không biết giúp con bé ra sao nữa. Trong thành phố không có aspirin hoặc kháng sinh dù phải mua với bất cứ giá nào.

- Không mua được dù đổi bằng ngọc trai?

Chị ngạc nhiên nhìn anh ta:

- Anh biết tôi bán ngọc trai của mẹ tôi ư?

- Tôi sống cùng nhà với chị mà. - Anh ta ngừng một chút. - Tôi biết thế vì công việc của tôi là biết chị đang làm gì.

Chị không biết trả lời ra sao.

Anh ta nhìn xuống Sophie:

- Nó ho suốt đêm. Tôi nghe thấy.

Sophie bỗng lặng ngắt, thế mới càng đáng sợ.

- Nó sẽ khá hơn.

Anh ta thọc tay vào túi và rút ra một lọ kháng sinh nhỏ.

- Đây.

Chị ngước nhìn anh ta. Chị có phóng đại quá không khi nghĩ anh ta đang cứu mạng con gái chị? Hay anh ta muốn chị nghĩ thế? Chị có thể biện minh rằng nó cũng giống như việc nhận đồ ăn từ tay anh ta - xét cho cùng, anh ta cần ăn và công việc của chị là nấu ăn cho anh ta.

Đây là một thiện ý, chỉ thế thôi, và sẽ không có giá nào hết.

- Cầm lấy đi, - Beck nói dịu dàng.

Chị nhận lọ thuốc. Trong một giây, cả hai cùng cầm cái lọ. Chị cảm thấy những ngón tay anh ta áp vào tay chị.

Cái nhìn đăm đăm của họ khóa vào nhau, và một thứ xảy ra giữa họ, một câu đã hỏi và được trả lời.

- Cảm ơn anh, - chị nói.

- Chị không phải cảm ơn.

+++++

- Thưa ngài, Sơn ca đã tới.

Ngài lãnh sự Anh gật đầu:

- Đưa cô ấy vào.

Isabelle vào văn phòng toàn đồ gỗ gụ sẫm màu ở cuối hành lang lộng lẫy. Nàng chưa tới bàn, người đàn ông ngồi sau bàn đã đứng dậy.

- Rất vui gặp lại cô.

Nàng ngồi lún sâu vào chiếc ghế bọc da không thoải mái và nhận cốc brandy ông đưa mời. Lần vượt dãy Pyrénées gần nhất thật khó khăn, dù thời tiết tháng Bảy tuyệt đẹp. Một trong những phi công Mỹ không chịu nghe lệnh của “một đứa con gái” và bỏ khỏi hàng ngũ. Họ được tin anh ta đã bị người Tây Ban Nha bắt giữ. “Người Mỹ ấy mà”, nàng vừa nói vừa lắc đầu. Không cần phải nói thêm. Nàng và người liên lạc của nàng, Ian - bí danh là Thứ Ba - đã làm việc cùng nhau từ khi bắt đầu có con đường trốn thoát mang tên Sơn ca. Được mạng lưới của Paul giúp đỡ, họ đã lập nên hàng loạt nơi trú ngụ an toàn khắp nước Pháp và một đội du kích sẵn sàng liều mình để giúp những người phi công bị bắn hạ trở về quê hương. Nhiều nam nữ công dân Pháp đêm đêm quan sát bầu trời, theo dõi các máy bay gặp nạn và những cái dù lơ lửng rơi xuống. Họ lùng sục các đường phố, nhìn ngó vào các bóng tối, xem xét kỹ càng các nhà kho, chuồng gia súc, tìm những người lính Đồng minh đang ẩn nấp. Một khi đã trở về Anh, các phi công không thể lại bay vì họ đã biết về mạng lưới. Thay vào đó, họ chuẩn bị cho các đồng nghiệp những tình huống xấu nhất, dạy họ những kỹ năng ẩn trốn, hướng dẫn họ cách tìm trợ giúp, cung cấp cho họ tiền franc Pháp, la bàn và ảnh để sẵn sàng làm giấy tờ giả.

Isabelle nhấp một ngụm brandy. Kinh nghiệm đã dạy nàng phải cảnh giác với chất cồn sau mỗi chuyến đi. Nàng hay bị mất nước hơn nàng nghĩ, nhất là trong cái nóng mùa hè.

Ian đẩy một phong bì tới trước nàng. Nàng cầm lấy, đếm những tờ franc trong đó, và nhét tiền vào túi áo khoác.

- Trong tám tháng qua, cô đã đem lại cho chúng tôi tám mươi bảy phi công, Isabelle ạ, - anh nói và ngồi xuống. Chỉ trong phòng này, chỉ có hai người, anh mới gọi tên thật của nàng. Trong các cuộc trao đổi chính thức với MI9, nàng là Sơn ca. Với các nhân viên ở lãnh sự quán và ở Anh, nàng là Juliette Gervaise. - Tôi nghĩ cô nên tiến hành chậm lại.

- Chậm lại?

- Bọn Đức đang lùng sục Sơn ca, Isabelle ạ.

- Đấy là tin cũ rồi, Ian.

- Chúng đang cố thâm nhập con đường trốn thoát của cô đấy. Bọn Đức Quốc xã đang ở ngoài đó, giả vờ là các phi công bị bắn rơi. Nếu cô vớ phải một tên trong bọn chúng...

- Chúng tôi thận trọng mà, Ian. Anh biết điều đó. Tôi đích thân chất vấn từng người. Và mạng lưới ở Paris không dễ mệt mỏi.

- Chúng đang tìm kiếm Sơn ca. Nếu bọn chúng tìm thấy cô...

- Chúng sẽ không tìm thấy. - Nàng đứng dậy.

Anh cũng đứng dậy, và đối diện nàng.

- Cẩn trọng nhé, Isabelle.

- Luôn luôn.

Anh đi vòng quanh bàn, nắm cánh tay Isabelle và dẫn nàng ra khỏi tòa nhà.

Nàng dành chút ít thời gian để thưởng thức vẻ đẹp của bờ biển San Sebastián, tản bộ trên con đường nhỏ bên trên những con sóng bạc đầu đập ầm ầm và tận hưởng những tòa nhà không treo cờ chữ thập ngoặc, nhưng những khoảnh khắc thư giãn đầu óc như thế là một thứ xa xỉ với cuộc sống thường ngày, và nàng không thể cho phép mình kéo dài. Nàng gửi Paul một bức thư qua người đưa tin:

Bác kính mến,

Cháu hy vọng thư này sẽ làm bác vui.

Cháu đang ở nơi ưa thích của chúng ta bên bờ biển.

Các bạn của chúng ta đã tới nơi an toàn.

Ngày mai cháu sẽ đến thăm bà nội ở Paris lúc ba giờ.

Luôn yêu quý bác,

Juliette

Isabelle trở về Paris theo đường vòng, dừng lại ở từng nơi trú ngụ an toàn - ở Carriveau, Brantôme, Pau và Poitiers - để trả tiền cho những người giúp đỡ. Nuôi ăn và cấp quần áo cho các phi công đang ẩn trốn là công việc không hề nhỏ nhoi, và từ khi những người đàn ông, đàn bà, trẻ em (phần lớn là phụ nữ) đã liều cả mạng sống của họ để duy trì con đường trốn thoát, mạng lưới cũng cố gắng để không bị phá sản về tài chính.

Núp kín dưới áo choàng và mũ trùm đầu, chưa lần nào đi qua các con phố ở Carriveau mà Isabelle không nghĩ đến chị mình. Gần đây, nàng bắt đầu nhớ Vianne và Sophie. Hồi ức về những đêm chơi bài hoặc chơi cờ bên lò sưởi, Vianne dạy Sophie đan (hoặc cố dạy), và tiếng cười của Sophie như tráng một lớp men bóng ấm áp. Đôi khi nàng tưởng tượng Vianne sẽ mang đến cho nàng một thứ mà trước kia nàng chưa bao giờ thấy: một gia đình.

Nhưng bây giờ đã quá muộn. Isabelle không thể liều lĩnh đặt Vianne vào tình cảnh nguy hiểm bằng cách xuất hiện ở Le Jardin. Chắc chắn Beck sẽ hỏi nàng làm gì ở Paris mà lâu thế. Có khi anh ta muốn biết chỉ để kiểm tra.

Ở Paris, nàng xuống tàu giữa đám đông dân chúng mắt mờ đục, quần áo sẫm màu trông như trong một bức tranh của Edvard Munch* . Lúc đi qua mái vòm dát vàng lấp lánh của cung Invalides, làn sương mù nhẹ bay qua đường phố làm mờ màu sắc cây cối. Hầu hết các hiệu cà phê đã đóng cửa, bàn ghế xếp chồng lên nhau dưới các mái hiên che vải bạt rách. Bên kia đường là căn hộ mà nàng gọi là nhà trong cả tháng qua, một tầng áp mái nhỏ, tối tăm, bẩn thỉu và hiu quạnh ở bên trên một cửa hàng bán thịt lợn bị bỏ hoang. Các bức tường vẫn phảng phất mùi thịt lợn và các loại gia vị.

Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ Na Uy, có những bức tranh và tác phẩm đồ họa miêu tả trạng thái trầm tư hoặc đau khổ của con người.

Nàng nghe thấy tiếng quát Đứng lại! Nhiều tiếng còi rít lên, dân chúng la hét. Vài tên lính Wehrmacht* cùng cảnh sát Pháp vây quanh một nhóm nhỏ, họ khuỵu gối và giơ tay lên tức thì. Nàng trông thấy những ngôi sao màu vàng trên ngực họ.

Quân đội Đức Quốc xã thời kỳ 1935 -1945.

Isabelle đi chậm lại.

Anouk xuất hiện cạnh nàng, khoác tay nàng. "Xin chào" chị nói bằng giọng thân mật, báo động cho Isabelle biết họ đang bị theo dõi. Hoặc ít ra Anouk lo thế.

- Cái kiểu chị xuất hiện và biến mất giống y như một trong các nhân vật ở truyện tranh Mỹ vậy. Cứ như là Cái Bóng.

Anouk mỉm cười.

- Còn kỳ nghỉ gần đây trên núi của cô ra sao?

- Bình thường.

Anouk ngả người gần hơn.

- Chúng tôi nghe tin có một kế hoạch gì đó. Bọn Đức đang tuyển phụ nữ làm công việc văn phòng vào tối Chủ nhật. Trả lương gấp đôi. Mọi chuyện còn bí mật.

Isabelle lấy cái phong bì đầy những giấy bạc franc từ túi mình ra và đưa cho Anouk, chị thả nó vào trong xắc.

- Công việc ban đêm? Việc văn phòng ư?

- Paul đã kiếm một chỗ cho cô, - Anouk nói. - Bắt đầu lúc chín giờ. Xong việc, cô hãy về căn hộ của cha cô. Ông ấy đang đợi cô.

- Vâng.

- Việc này có thể gặp nguy hiểm.

Isabelle nhún vai:

- Có việc gì mà không nguy hiểm?

+++++

Đêm hôm ấy, Isabelle đi bộ xuyên thành phố tới nơi làm việc của cảnh sát quận. Có tiếng rền vang trên vỉa hè dưới chân nàng, âm thanh của xe cộ đang di chuyển ở đâu đó gần đấy. Nhiều xe.

- Cô kia!

Isabelle dừng lại. Nhoẻn cười.

Một tên Đức đi tới, súng trường ở tư thế sẵn sàng. Cái nhìn chòng chọc của hắn xoáy vào ngực nàng, tìm tòi một ngôi sao màu vàng.

- Tôi đi làm đêm nay, - nàng nói và chỉ vào tòa nhà của cảnh sát quận ngay trước mặt. Mặc dù các cửa sổ đều bị che tối, nơi đó đang náo nhiệt. Có nhiều sĩ quan Đức Quốc xã và hiến binh Pháp đi thơ thẩn, ra vào tòa nhà, tạo nên vẻ khác thường trong giờ khuya khoắt này. Trong sân, một dãy dài xe buýt đậu từ đầu này tới đầu kia. Những tài xế túm tụm với nhau, hút thuốc và chuyện gẫu.

Tên cảnh sát hất đầu:

- Đi.

Isabelle giữ chặt cổ chiếc áo choàng màu nâu tẻ ngắt của mình. Mặc dù trời đã ấm lên, tối nay nàng vẫn không muốn bị để ý. Một trong những cách tốt nhất để biến mất là mặc toàn màu nâu, nâu và nâu sẫm. Nàng giấu mái tóc vàng hoe của mình bằng chiếc khăn quàng đen, thắt theo kiểu turban với một cái nơ lớn ở đằng trước, không trang điểm, kể cả tô son môi.

Nàng cúi đầu xuống lúc đi qua đám đàn ông mặc cảnh phục Pháp. Vào hẳn trong tòa nhà, nàng dừng lại.

Đây là một sảnh rộng mênh mông, phía nào cũng có cầu thang và cách mấy bước chân lại có một cửa phòng làm việc, nhưng tối nay trông nó như một công xưởng với hàng trăm phụ nữ ngồi sau những cái bàn kê sát nhau. Điện thoại reo không ngừng và các cảnh sát Pháp đi lại vội vã.

- Cô đến đây giúp việc phân loại phải không? - Một hiến binh Pháp vẻ chán chường ngồi ở cái bàn gần cửa nhất hỏi.

- Vâng.

- Tôi sẽ tìm cho cô một chỗ. Đi với tôi. - Anh ta dẫn nàng đi vòng quanh.

Các bàn làm việc kê xít nhau đến mức Isabelle phải nghiêng người mới lách qua được lối đi chật hẹp tới một cái bàn trống được chỉ. Khi đã yên vị, nàng ngồi khuỷu-sát-khuỷu với những người phụ nữ ở hai bên. Mặt bàn của nàng để kín những hộp đựng thẻ.

Nàng mở hộp thứ nhất và thấy bên trong đầy những thẻ. Rút cái thẻ đầu tiên, nàng chăm chú đọc.

STERNHOLZ, ISSAC

12 phố Rast

Quận 4

Thợ làm guốc

Tiếp đến là danh sách vợ và các con ông ta.

- Cô tách những người Do Thái sinh ở nước khác ra, - một hiến binh nói, nàng không để ý anh ta vẫn theo nàng.

- Gì kia ạ? - Nàng hỏi và rút một thẻ khác. Thẻ này ghi “Berr, Simone”.

- Hộp kia kìa. Cái hộp rỗng ấy. Tách những người Do Thái sinh ở Pháp ra khỏi những người sinh ở các nước khác. Chúng tôi chỉ quan tâm đến bọn Do Thái có nguồn gốc nước ngoài. Đàn ông, đàn bà và trẻ em.

- Tại sao?

- Họ là người Do Thái. Ai cần đến họ? Bây giờ làm việc đi.

Isabelle quay lại chỗ ngồi. Hàng trăm tấm thẻ trước mặt nàng, và trong phòng có ít nhất một trăm phụ nữ. Quy mô của công việc này thật không thể hiểu nổi. Nó có thể có ý nghĩa gì nhỉ?

- Chị ở đây bao lâu rồi? - Nàng hỏi người phụ nữ ngồi bên cạnh.

- Nhiều ngày, - chị ta vừa nói vừa mở một hộp khác. - Lần đầu tiên trong nhiều ngày nay, tối qua các con tôi không bị đói.

- Chúng ta làm gì vậy?

Người đó nhún vai.

- Tôi nghe họ nói gì đó về Chiến dịch Gió xuân.

- Nó có nghĩa là gì?

- Tôi không muốn biết.

Isabelle lật qua những cái thẻ trong hộp. Một cái ở gần cuối khiến nàng khựng lại.

LÉVY, PAUL

61 phố Blandine, nhà C

Quận 7

Giáo sư văn học

Nàng đứng dậy nhanh đến nỗi đụng phải người ngồi cạnh, chị ta nguyền rủa vì bị gián đoạn. Những cái thẻ trên bàn nàng trượt ào ào xuống sàn. Ngay lập tức Isabelle quỳ xuống và thu nhặt chúng, nàng liều lĩnh nhét thẻ của ông Lévy vào tay áo.

Lúc nàng đứng dậy, một người nào đó tóm cánh tay nàng và kéo xuống lối đi chật hẹp. Nàng va phải tất cả những người phụ nữ cùng dãy.

Trong khoảng trống cạnh tường, nàng bị vặn hết bên này sang bên khác và đẩy mạnh đến nỗi đập vào tường.

- Tất cả chuyện lộn xộn này là thế nào, hả? - Viên cảnh sát Pháp gầm ghè, nắm cánh tay nàng chặt đến mức để lại một vết tím bầm.

Hắn có thể cảm thấy tấm phiếu dưới tay áo nàng không?

- Tôi xin lỗi. Rất xin lỗi. Tôi cần phải làm việc, nhưng tôi ốm, ông thấy đấy. Bị cúm. - Nàng ho dữ dội hết mức có thể.

Isabelle đi qua hắn và rời khỏi tòa nhà. Ra ngoài, nàng vẫn ho cho đến lúc tới chỗ rẽ. Rồi nàng bắt đầu chạy.

+++++

- Nó có thể có ý nghĩa gì nhỉ?

Isabelle ngó qua tấm che cửa sổ ở căn hộ và chăm chú nhìn xuống đại lộ. Cha nàng ngồi bên bàn ăn, bồn chồn gõ những ngón tay đầy vết mực lên mặt gỗ. Được ở đây lần nữa sau nhiều tháng xa cách thật dễ chịu, nhưng nàng quá bối rối nên không thể thư giãn và tận hưởng cảm giác quen thuộc của căn nhà.

- Chắc con nhầm, Isabelle, - cha nàng nói, ông đã uống cốc brandy thứ hai từ lúc nàng về. - Con nói có hàng ngàn tấm phiếu. Đó là tất cả số người Do Thái ở Paris. Chắc chắn là...

- Ba hãy nghĩ đến ý nghĩa của việc đó, thay vì nghi ngờ tính xác thực của nó. - Nàng trả lời. - Bọn Đức đang thu thập tên, địa chỉ của từng người Do Thái ở Paris sinh tại nước ngoài. Đàn ông, đàn bà và trẻ em.

- Nhưng tại sao? Paul Lévy nguồn gốc Ba Lan, đó là sự thật, nhưng ông ấy đã sinh sống ở đây nhiều thập kỷ. Ông ấy đã chiến đấu cho nước Pháp trong Thế chiến I, em trai ông ấy đã hy sinh vì nước Pháp. Chính phủ Vichy đã quả quyết với chúng ta rằng những cựu chiến binh được che chở khỏi bọn Đức Quốc xã.

- Vianne đã bị yêu cầu lập một danh sách, - Isabelle kể. - Chị ấy bị yêu cầu ghi tên từng giáo viên ở trường là người Do Thái, đảng viên cộng sản và là hội viên Tam điểm. Sau đó tất cả đều bị sa thải.

- Bọn chúng không thể sa thải họ hai lần. - Ông uống cạn cốc và rót cốc nữa. - Và đây là cảnh sát Pháp thu thập tên của họ. Nếu đây là bọn Đức, sự việc sẽ khác.

Isabelle không biết trả lời ra sao. Họ đã nói chuyện này ít nhất ba giờ rồi.

Lúc này đã sắp hai giờ sáng, vẫn không ai phát hiện ra lý do xác đáng về việc chính phủ Vichy và cảnh sát Pháp thu thập tên và địa chỉ của những người Do Thái có nguồn gốc nước ngoài đang sống tại Paris.

Isabelle nhìn thấy một tia sáng lóe bên ngoài. Vén cái mành cao hơn một chút, nàng chăm chú nhìn xuống đường phố tối tăm.

Một dãy xe buýt chạy xuống đại lộ, đèn pha sơn màu tắt hết, trông như một con rết đang di chuyển chầm chậm, duỗi dài qua các khối nhà.

Nàng đã trông thấy những chiếc xe buýt ở bên ngoài trụ sở cảnh sát quận, hàng chục chiếc đỗ trong sân.

- Ba ơi... - Chưa kịp nói hết câu, nàng đã nghe thấy tiếng chân đi lên cầu thang bên ngoài căn hộ.

Một tờ truyền đơn được nhét dưới khe cửa.

Cha nàng rời bàn và cúi nhặt nó lên. Ông mang đến bàn và ngồi xuống cạnh cây nến.

Isabelle đứng sau ông.

Cha nàng ngước lên nhìn nàng.

- Đây là một cảnh báo. Cảnh sát sắp vây bắt tất cả những người Do Thái có nguồn gốc nước ngoài và tống họ đến các trại tập trung ở Đức.

- Chúng ta đang nói đến khi nào cần hành động, - Isabelle nói. - Chúng ta cần che giấu các bạn bè trong tòa nhà.

- Thế thì được ít lắm, - cha nàng đáp. Bàn tay ông run run. Nó đột ngột làm nàng tự hỏi có phải vì những gì ông đã nhìn thấy trong Thế chiến I, những điều ông đã biết còn nàng thì chưa.

- Đó là việc chúng ta có thể làm, - Isabelle nói. - Chúng ta có thể làm cho một số người an toàn. Ít nhất là đêm nay.

- An toàn ở đâu vậy, Isabelle? Nếu cảnh sát Pháp đang tiến hành việc này, chúng ta sẽ mất hết.

Isabelle không trả lời.

Không nói thêm lời nào, họ rời căn hộ.

Bước rón rén thật khó khăn trong một tòa nhà cũ như thế này, và người cha đang đi trước nàng chưa bao giờ biết nhẹ chân. Brandy khiến ông loạng choạng hơn lúc ông dẫn nàng xuống cầu thang hẹp và xoắn, tới căn hộ ngay dưới căn hộ của họ. Vấp hai lần, ông nguyền rủa vì mất thăng bằng. Ông gõ vào cánh cửa.

Ông đợi, đếm đến mười rồi lại gõ. Lần này mạnh hơn.

Rất chậm, cánh cửa từ từ xoay, ban đầu chỉ hơi he hé, rồi sau đó mở hẳn.

- Ồ, Julien, ra là ông, - Ruth Friedman nói. Chị khoác chiếc áo choàng của đàn ông ra ngoài, dài quét đất, bàn chân đi đất thò ra bên dưới. Tóc chị cuốn lô và trùm khăn.

- Chị có thấy tờ truyền đơn đó không?

- Tôi có nhận được một tờ. Là thật sao? - Chị thì thào.

- Tôi không biết, - cha nàng nói. - Nhiều xe buýt đỗ ở đằng trước và xe tải chạy qua ầm ầm suốt đêm. Tối nay Isabelle đã ở trụ sở cảnh sát quận, bọn chúng đang thu thập tên và địa chỉ của những người Do Thái sinh ra ở nước ngoài. Chúng tôi nghĩ chị nên đưa bọn trẻ đến nhà tôi ngay bây giờ. Chúng tôi có chỗ ẩn nấp.

- Nhưng... chồng tôi là tù binh. Chính phủ Vichy đã hứa bảo vệ chúng tôi.

- Em không chắc là chúng ta có thể tin vào chính phủ Vichy, - Isabelle nói với người phụ nữ. - Nhanh lên. Chỉ trốn bây giờ thôi.

Ruth đứng đó một lát, mắt chị mở to. Ngôi sao vàng trên áo khoác là một lời nhắc nhở khắc nghiệt rằng thế giới đã thay đổi. Isabelle nhìn thấy khi chị quyết định. Chị quay gót và ra khỏi phòng. Chưa đầy một phút sau, chị dẫn hai đứa con gái tới cửa.

- Chúng tôi mang theo gì không?

- Không gì hết, - Isabelle nói. Nàng lùa cả nhà Friedman lên cầu thang. Khi họ đã tới căn hộ an toàn, cha nàng dẫn họ vào căn phòng bí mật sau phòng ngủ và đóng cửa lại.

- Con sẽ đến nhà Vizniak, - Isabelle nói. - Đừng để tủ đứng vào chỗ cũ vội.

- Bọn chúng đang ở tầng ba rồi, Isabelle. Con sẽ không bao giờ...

- Khóa cửa trước lại khi con ra khỏi đây. Ba đừng mở, trừ khi nghe thấy tiếng con.

- Isabelle, không...

Nàng đã chạy xuống cầu thang, chỉ vừa chạm tới thành cầu thang trong lúc vội vã. Lúc gần tới chiếu nghỉ tầng ba, nàng nghe thấy nhiều tiếng nói bên dưới.

Bọn chúng đang lên cầu thang.

Đã quá muộn. Nàng vội cúi người, trốn cạnh thang máy.

Hai cảnh sát Pháp bước lên đầu cầu thang. Tên trẻ hơn gõ hai lần vào cửa nhà Vizniak, đợi một chút rồi đá bung cửa. Bên trong, một phụ nữ kêu thét lên.

Isabelle bò gần hơn, lắng nghe.

- ... là bà Vizniak? - Tên cảnh sát bên trái hỏi. - Chồng bà là Emile và các con bà là Anton và Hélène?

Isabelle nhòm qua góc tường.

Bà Vizniak là một phụ nữ đẹp, nước da mịn như kem tươi, mái tóc lộng lẫy chưa bao giờ bù xù hơn lúc này. Bà mặc chiếc áo ngủ bằng lụa tơ tằm mỏng tang viền đăng ten, khi mua chắc nó phải đáng giá cả một gia tài. Bà kéo con trai và con gái lại gần, mắt chúng mở to.

- Gói ghém đồ đạc. Chỉ những thứ cần thiết. Các người phải di chuyển, - Tên cảnh sát già hơn nói, lúc liếc qua danh sách.

- Nhưng... chồng tôi đang bị bắt giam gần Pithiviers. Làm thế nào anh ấy tìm ra chúng tôi?

- Sau chiến tranh, các người sẽ trở về.

- Ồ. - Bà Vizniak cau mày, sục một bàn tay vào mớ tóc rối bù.

- Các con bà là công dân sinh ra tại Pháp, - viên cảnh sát nói. - Bà có thể để chúng lại đây. Chúng không có trong danh sách.

Isabelle không thể trốn được nữa. Nàng đứng dậy và xuống cầu thang tới chiếu nghỉ.

- Tôi sẽ trông nom các cháu thay bà, Lily, - nàng nói, cố giữ cho tiếng mình bình tĩnh.

- Không! - Bọn trẻ đồng thanh hét lên, chúng bám chặt lấy mẹ. Các cảnh sát Pháp quay sang nàng.

- Cô tên gì? - Một tên hỏi.

Nàng lạnh cứng người. Nên nói tên nào đây?

- Rossignol, - cuối cùng nàng nói, mặc dù không có giấy tờ tương ứng, là một lựa chọn nguy hiểm. Song nếu xưng tên Gervaise có thể làm bọn chúng nghi ngờ tại sao nàng lại ở trong nhà này vào lúc gần ba giờ sáng, thò mũi vào việc nhà hàng xóm?

Viên cảnh sát kiểm tra bản danh sách và xua nàng:

- Đi đi. Đêm nay cô không liên quan gì tới tôi.

Isabelle nhìn qua chúng tới Lily Vizniak.

- Tôi sẽ chăm sóc các cháu. Lily dường như không hiểu.

- Cô tưởng tôi sẽ để các con lại chắc?

- Tôi nghĩ...

- Đủ rồi, - viên cảnh sát già hơn quát và dộng báng súng xuống sàn. Hắn nói với Isabelle, - Còn cô, ra ngoài. Đây không phải việc của cô.

- Thưa bà, xin bà, - Isabelle năn nỉ. - Tôi bảo đảm các cháu sẽ an toàn.

- An toàn? - Lily cau mày. - Nhưng với cảnh sát Pháp, chúng tôi được an toàn mà. Chúng tôi đã được cam đoan thế. Một người mẹ không thể để các con mình lại. Có ngày cô sẽ hiểu. - Bà dồn sự chú ý vào bọn trẻ. - Gói ghém vài thứ đi.

22

Từ nhà Vizniak về, Isabelle châm ngọn đèn dầu rồi vào phòng khách, nàng thấy cha mình đã ngủ thiếp bên chiếc bàn ăn, đầu dựa vào lớp gỗ cứng như thể đã qua đời. Cạnh ông là chai brandy đã vơi một nửa, lúc trước hãy còn đầy nguyên. Nàng nhặt cái chai và xếp vào tủ ly, hy vọng sáng ra nó sẽ không trong tầm tay cũng như trong ý nghĩ của cha nàng.

Nàng muốn vươn tay chạm vào ông, vuốt mái tóc hoa râm che phủ mặt ông, hay vết hói hình trái xoan lộ ra trong giấc ngủ. Nàng muốn tiếp xúc với ông theo cách ấy, an ủi, yêu thương và như bạn bè.

Thay vào đó, nàng vào bếp pha một bình cà phê làm bằng quả đấu, màu đen, đắng ngắt và tìm thấy một ổ bánh mì màu xám, chẳng có mùi vị gì, đó là tất cả những thứ mà dân Paris có thể mua được. Nàng bẻ một mẩu (liệu bà Dufour sẽ nói gì nhỉ? Ăn trong lúc đang đi), và nhai chầm chậm.

- Mùi cà phê như cứt, - cha nàng nói, mắt nhòe nhoẹt, và nhấc đầu lên lúc nàng vào phòng.

Nàng đưa ông một tách.

- Vị nó còn tệ hơn, ba ạ.

Isabelle rót một tách cà phê khác cho mình, và ngồi xuống cạnh cha. Ánh đèn làm nổi bật gương mặt như cái bản đồ chỉ đường của ông, đào sâu thêm những hốc và nếp nhăn, làm da thịt dưới mắt ông như bằng sáp ong và sưng phồng.

Nàng đợi ông nói gì đó, nhưng ông chỉ trừng trừng nhìn nàng. Nàng uống cạn tách cà phê dưới cái nhìn sắc sảo của ông (nàng cần nó để nuốt trôi miếng bánh mì khô khốc, kinh khủng kia) và đẩy cái tách rỗng ra. Isabelle vẫn ở đó cho đến khi cha nàng lại ngủ thiếp đi, nàng mới vào phòng mình. Nhưng nàng không sao ngủ được. Nàng nằm đó nhiều giờ liền, băn khoăn và lo lắng. Cuối cùng, nàng không thể chịu nổi nữa. Nàng xuống giường và vào phòng khách.

- Con sẽ ra ngoài xem sao, - nàng tuyên bố.

- Đừng, - ông nói và vẫn ngồi bên bàn.

- Con không làm gì ngu xuẩn đâu.

Nàng quay về phòng ngủ và thay chiếc váy màu xanh lơ mặc hè, chiếc áo trắng cộc tay. Nàng quàng chiếc khăn lụa màu xanh nhạt che mớ tóc rối bù, thắt lại dưới cằm và ra khỏi căn hộ.

Ở tầng ba, nàng thấy căn hộ nhà Vizniak mở toang. Nàng nhìn vào trong.

Căn phòng vừa qua một trận cướp bóc. Chỉ còn lại những đồ gỗ cồng kềnh nhất và những ngăn kéo của cái tủ đồ sộ màu đen mở toang hoác. Quần áo, những món trang sức rẻ tiền vung vãi khắp sàn. Những vết sẫm màu hình chữ nhật trên tường cho thấy những tác phẩm hội họa bị mất.

Nàng khép cánh cửa lại sau mình. Trong hành lang, nàng chỉ dừng lại đủ lâu để trấn tĩnh rồi mở cửa. Nhiều xe buýt chạy xuống phố, cái nọ tiếp cái kia. Qua những ô kính cáu bẩn, nàng trông thấy những gương mặt trẻ em, mũi chúng ép vào kính, mẹ chúng ngồi bên cạnh. Các vỉa hè vắng ngắt một cách kỳ lạ.

Isabelle thấy một cảnh sát Pháp đứng ở góc phố và nàng tiến đến chỗ hắn.

- Họ đi đâu thế?

- Trường đua xe đạp mùa Đông.

- Tại sao?

- Cô không có việc gì ở đây. Đi đi hoặc tôi sẽ tống cô lên một chiếc xe buýt và cô sẽ kết thúc cùng với họ.

- Có lẽ tôi sẽ làm thế. Có khi...

Viên cảnh sát ngả người gần hơn, thì thào:

- Đi đi. - Hắn nắm cánh tay nàng và kéo nàng đến bên lề đường. - Mệnh lệnh của chúng tôi là bắn bất cứ người nào cố trốn thoát. Nghe rõ chưa?

- Anh sẽ bắn họ? Phụ nữ và trẻ em?

Trông viên cảnh sát trẻ khổ sở:

- Đi đi.

Isabelle biết việc khôn ngoan nhất nàng nên làm là ở lại đây. Nhưng nàng có thể đi bộ đến trường đua xe đạp nhanh gần bằng xe buýt. Chỉ cách mấy khối nhà. Có lẽ lúc đó nàng sẽ biết xảy ra chuyện gì.

Lần đầu tiên trong nhiều tháng, rào chắn ở các phố ngang của Paris không có người gác. Nàng chúi đầu đi vòng qua một rào chắn và chạy xuống phố, tới dòng sông, qua các cửa hàng đóng kín và các quán cà phê vắng tanh. Chỉ cách vài khối nhà, nhưng lúc đứng bên kia đường đối diện trường đua, nàng thở không ra hơi. Một dòng bất tận các xe buýt lèn chặt người đỗ dọc công trình kiến trúc đồ sộ và nhả ra các hành khách. Sau đó, các cánh cửa vo vo đóng lại, rồi đoàn xe buýt chạy đi, những xe khác chạy đến thế chỗ. Nàng trông thấy một biển những ngôi sao màu vàng.

Hàng ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ em Do Thái, trông họ bối rối, ngơ ngác và tuyệt vọng, bị lùa vào trong tòa nhà. Hầu hết mặc nhiều lớp quần áo - quá nhiều trong cái nóng tháng Bảy. Cảnh sát đi tuần ở vòng ngoài giống như các cao bồi Mỹ lùa gia súc, huýt còi, ra lệnh, cưỡng ép những người Do Thái tiến lên trước, đi vào sân vận động hoặc lên các xe buýt khác.

Nhiều gia đình.

Nàng trông thấy một cảnh sát quật một phụ nữ bằng dùi cui, mạnh đến nỗi chị ta quỵ gối. Hắn đánh chị lần nữa làm chị ngã xuống và loạng choạng đứng lên, dò dẫm với tay tìm đứa con trai nhỏ bên cạnh, dùng thân mình che cho con lúc lê bước tới lối vào.

Nhìn thấy một cảnh sát Pháp trẻ, nàng cố len qua đám đông đến chỗ hắn.

- Có chuyện gì thế? - Nàng hỏi.

- Không phải việc của cô. Đi đi.

Isabelle ngoảnh nhìn trường đua xe đạp đồ sộ. Nàng chỉ thấy toàn người là người, những thân hình ép vào nhau, các gia đình cố nắm lấy nhau giữa đám đông hỗn loạn. Cảnh sát quát tháo, đẩy họ vào sân, lôi bọn trẻ và mẹ chúng đứng dậy khi họ ngã. Nàng nghe thấy tiếng trẻ con khóc. Một phụ nữ mang thai quỵ trên đầu gối, lắc lư tới lui, ôm lấy cái bụng to tướng.

- Nhưng... ở kia có quá nhiều người rồi... - Isabelle nói.

- Họ sẽ được chuyển đi ngay thôi.

- Đi đâu?

Hắn ta nhún vai.

- Tôi không biết gì hết.

- Ông phải biết gì đó chứ.

- Các trại cải tạo lao động. - Hắn lẩm bẩm. - Ở Đức. Tôi chỉ biết thế.

- Nhưng... họ là phụ nữ và trẻ em.

Hắn lại nhún vai.

Isabelle không sao hiểu nổi. Sao các hiến binh Pháp lại làm việc này với các công dân Paris? Với phụ nữ và trẻ em?

- Trẻ em không thể làm việc được, thưa ông. Đằng kia có đến hàng ngàn trẻ em, và nhiều phụ nữ có mang. Tại sao...

- Cô có thấy cấp bậc trên người tôi không? Trông tôi có giống người nghĩ ra việc này không? Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh. Họ bảo tôi bắt giữ những người Do Thái sinh tại nước ngoài đang ở Paris, thì tôi làm thế. Họ muốn tách đám đông - đàn ông độc thân đi Drancy, các gia đình tới Trường đua xe đạp mùa Đông. Thế đấy! Thế là xong. Chĩa súng vào họ và sẵn sàng bắn. Chính phủ muốn tống tất cả những người Do Thái có nguồn gốc nước ngoài ở Pháp đến các trại cải tạo lao động ở phía Đông, và chúng tôi bắt đầu ở đây.

Toàn bộ nước Pháp ư? Isabelle cảm thấy không khí rút hết khỏi phổi. Chiến dịch Gió xuân.

- Ý ông là việc này không chỉ diễn ra ở Paris ?

- Không. Đây chỉ là khởi đầu.

+++++

Vianne đứng xếp hàng suốt ngày, trong cái nóng hè ngột ngạt, để chỉ được lạng rưỡi pho mát khô và một ổ bánh mì tệ hại ư?

- Mẹ ơi, hôm nay chúng ta có thể ăn ít mứt dâu tây không? Nó đỡ mùi bánh mì.

Lúc hai mẹ con rời cửa hàng, Vianne kéo Sophie lại gần chị, nắm lấy hông nó như thể nó bé hơn nhiều.

- Có lẽ chỉ một tí thôi, nhưng chúng ta không thể phung phí được. Con có nhớ mùa đông khủng khiếp đến thế nào không? Một mùa đông nữa sắp đến.

Vianne trông thấy một toán lính đi tới đường của họ, súng trường sáng loáng trong nắng. Chúng đi đều bước, xe tăng theo sau, ầm ầm nghiến trên đường phố lát đá cuội.

- Hôm nay chắc sẽ có nhiều chuyện xảy ra ở đây, - Sophie nói.

Vianne nghĩ y như thế. Con đường đầy cảnh sát, hiến binh Pháp, từng đàn từng lũ đang vào thành phố.

Vianne nhẹ cả người khi bước vào mảnh sân yên tĩnh, chăm chút cẩn thận của Rachel. Chị rất mong chờ những lần đến thăm bạn. Đó thực sự là thời gian duy nhất chị cảm thấy lại được là mình.

Nghe tiếng gõ cửa, Rachel nghi ngờ ngó ra, chị nhìn thấy Vianne và mỉm cười, mở rộng cửa để nắng trời ùa vào căn nhà trơ trụi.

- Vianne! Sophie! Vào đi, vào đi.

- Sophie! - Sarah reo lên.

Hai cô bé ôm chầm lấy nhau như thể chúng đã xa cách nhiều tuần lễ chứ không phải nhiều ngày. Cả hai bị cách ly trong khi Sophie ốm. Sarah cầm tay Sophie và kéo bạn ra sân trước, chúng ngồi dưới một cây táo.

Rachel để cửa mở để có thể nghe thấy tiếng bọn trẻ. Vianne cởi chiếc khăn quàng in hoa trên đầu và nhét vào túi váy.

- Mình mang cho cậu tí chút.

- Không, Vianne. Chúng mình đã nói về việc này rồi, - Rachel nói. Chị mặc hai cái áo khoác may bằng rèm cũ trong buồng tắm. Cái áo ngắn tay mùa hè của chị - trước kia màu trắng nay xám xịt vì giặt quá nhiều và mặc quá nhiều - vắt trên lưng ghế. Từ đây, Vianne có thể nhìn thấy hai ngôi sao màu vàng đính trên áo.

Vianne đến quầy bếp và mở ngăn kéo đựng đồ bạc. Gần như chẳng còn lại gì trong đó - trong hai năm chiếm đóng, họ không còn đếm được bao nhiêu lần bọn Đức đi hết nhà này sang nhà khác “trưng dụng” những thứ chúng cần. Biết bao lần bọn Đức xông vào nhà ban đêm, lấy đi bất cứ thứ gì chúng muốn? Tất cả của nả ấy xếp hết lên các chuyến tàu chạy về hướng Đông.

Giờ đây, phần lớn các ngăn kéo, phòng kho, hòm rương đều rỗng tuếch. Rachel chỉ còn lại vài cái nĩa, thìa và một con dao cắt bánh mì duy nhất. Vianne mang con dao đến bàn. Rút ổ bánh mì và pho mát trong làn ra, chị cẩn thận cắt cả hai thứ ra làm đôi và cất phần mình vào làn. Lúc chị ngước lên, mắt Rachel đã ngân ngấn nước.

- Mình muốn nói với cậu đừng cho chúng mình như thế nữa. Cậu cần nó mà.

- Cậu cũng cần chứ.

- Lẽ ra mình nên rứt ngôi sao khốn kiếp ấy đi. Ít nhất mình cũng được phép xếp hàng mua thực phẩm khi vẫn còn có thứ để mua. Những hạn chế mới không ngừng áp đặt cho người Do Thái: họ không được phép sở hữu xe đạp, bị cấm đến các nơi công cộng, ngoại trừ từ ba đến bốn giờ chiều, họ mới được phép đến các cửa hàng. Mà giờ ấy chẳng còn lại tí gì.

Vianne chưa kịp trả lời, chị nghe thấy tiếng mô tô chạy trên đường. Chị nhận ra âm thanh đó và đến đứng trên ngưỡng cửa.

Rachel len đến cạnh chị:

- Anh ta làm gì ở đây?

- Mình sẽ xem sao, - Vianne nói.

- Mình đi cùng cậu.

Vianne xuyên qua vườn quả, qua một con chim ruồi lượn trên các bông hồng tới cổng. Mở cổng, chị bước ra lề đường, còn Rachel đi ngay sau chị. Đằng sau họ, cái cổng kêu một tiếng cách khẽ, giống tiếng một cái xương gãy.

- Chào các chị - Beck nói, bỏ cái mũ quân đội và cắp vào dưới nách. - Tôi xin lỗi đã quấy quả thời gian của các chị, nhưng tôi có việc phải nói với chị, chị Mauriac. - Anh ta hơi nhấn mạnh từ chị, như thể họ đang chia sẻ những bí mật.

- Ồ? Là gì vậy, ngài Đại úy? - Vianne hỏi.

Anh ta liếc sang trái rồi sang phải, rồi hơi ngả người tới Vianne:

- Bà de Champlain không nên ở nhà vào sáng ngày mai, - Beck nói khẽ.

Vianne ngỡ anh ta diễn đạt sai ý.

- Gì kia ạ?

- Bà de Champlain không nên ở nhà vào ngày mai, - anh ta nhắc lại.

- Vợ chồng tôi sở hữu ngôi nhà này, - Rachel nói. - Tại sao tôi phải ra đi?

- Việc sở hữu nhà không có ý nghĩa gì hết. Không phải ngày mai.

- Các con tôi... - Rachel cất lời.

Cuối cùng, Beck nhìn Rachel.

- Chúng tôi không quan tâm đến các con của bà. Chúng sinh ra ở Pháp. Chúng không có trong danh sách.

Danh sách.

Một từ đáng sợ lúc này. Vianne hỏi khẽ:

- Anh đang nói gì với chúng tôi?

- Tôi nói rằng nếu chị ấy ở đây ngày mai, thì sẽ không ở đây ngày kia.

- Nhưng...

- Nếu chị ấy là bạn tôi, tôi sẽ tìm ra cách che giấu chị ấy trong một ngày.

- Chỉ một ngày thôi ư? - Vianne hỏi và săm soi anh ta kỹ càng.

- Đó là tất cả những gì tôi tới để nói, và tôi không nên làm việc này. Tôi sẽ bị... trừng phạt nếu để lộ ra. Sau này, nếu các chị bị thẩm vấn, xin đừng nhắc tới chuyến thăm của tôi. - Anh ta rập gót giày, xoay người và bỏ đi.

Rachel nhìn Vianne. Họ đã nghe nhiều tin đồn về các cuộc vây bắt ở Paris - đàn bà và trẻ em bị trục xuất - nhưng không ai tin. Sao có thể vậy? Những lời đồn đại điên rồ, không thể xảy ra - hàng chục ngàn người bị cảnh sát Pháp lôi ra khỏi nhà lúc nửa đêm. Một cách đột ngột. Không thể là sự thật.

- Cậu tin anh ta không?

Vianne ngẫm nghĩ câu hỏi. Chị sửng sốt thấy mình đáp:

- Có.

- Vậy mình phải làm gì?

- Đưa bọn trẻ ra Vùng Tự do. Tối nay. - Vianne không thể tin mình nghĩ thế, chưa kể đến nói ra.

- Tuần trước bà Durant đã cố vượt qua biên giới và bị bắn, còn các con bà thì bị trục xuất.

Ở địa vị Rachel, Vianne sẽ nói tương tự. Phụ nữ bỏ chạy một mình là một việc, còn bất chấp mạng sống của các con mình lại là việc khác. Nhưng nếu họ liều mạng bỏ chúng lại thì sẽ thế nào?

- Cậu nói đúng. Việc ấy quá nguy hiểm. Nhưng mình nghĩ nên làm theo lời khuyên của Beck. Ẩn náu. Chỉ một ngày thôi. Rồi có lẽ chúng ta sẽ biết nhiều hơn.

- Ở đâu?

- Isabelle đã chuẩn bị cho việc này và mình nghĩ nó ngu. - Chị thở dài. - Trong nhà kho có một tầng hầm.

- Cậu có biết là nếu cậu bị bắt vì che giấu mình...

- Có, - Vianne đáp, ngắn gọn. Chị không muốn nghe câu đó thành lời. Có thể bị xử tử. - Mình biết.

+++++

Vianne rót một chút thuốc ngủ vào cốc nước chanh của Sophie và đặt con bé vào giường sớm. (Không phải là việc mà một người mẹ tốt làm, nhưng tối nay không thể đưa Sophie đi cùng họ và cũng không thể để con bé thức một mình. Toàn những lựa chọn tồi tệ. Không còn lựa chọn nào khác). Trong lúc đợi con gái ngủ say, Vianne đi tới đi lui. Chị nghe thấy tiếng gió đập vào các cánh chớp lách cách, tiếng cót két của các thanh gỗ tạo nên ngôi nhà cổ này. Hơn sáu giờ một chút, chị mặc bộ đồ làm vườn cũ và xuống dưới nhà.

Chị thấy Beck đang ngồi trên đi văng của chị, ngọn đèn dầu đặt cạnh anh ta. Anh ta đang cầm một bức ảnh nhỏ, đóng khung của gia đình mình. Vianne biết vợ anh ta là Hilda, các con là Gisela và Wilhelm.

Lúc chị tới, Beck ngước nhìn nhưng không đứng dậy.

Vianne không biết làm gì. Chị muốn lúc này anh ta trở thành vô hình, ẩn sau cánh cửa khép chặt của phòng mình, anh ta là người chị hoàn toàn không tính đến. Anh ta đã liều cả sự nghiệp để giúp Rachel. Sao chị có thể quên điều đó?

- Nhiều việc rất tệ đang diễn ra, chị Mauriac ạ. Những sự việc không thể tưởng tượng. Tôi được đào tạo để thành một người lính, chiến đấu vì đất nước tôi và làm cho gia đình tôi tự hào. Đây là một lựa chọn đúng đắn và hợp đạo lý. Mọi người sẽ nghĩ gì về chúng tôi khi chúng tôi trở về? Sẽ nghĩ gì về tôi?

Chị ngồi xuống cạnh anh ta.

- Tôi cũng rất lo về việc Antoine sẽ nghĩ gì về tôi. Tôi không nên cho anh bản danh sách đó. Lẽ ra tôi nên chi tiêu tằn tiện hơn với tiền nong của mình. Tôi nên làm việc chăm chỉ hơn để giữ được việc làm. Có lẽ tôi nên lắng nghe Isabelle nhiều hơn.

- Chị không nên trách mình. Tôi tin chắc chồng chị sẽ tán thành. Đàn ông chúng tôi có lẽ đã cầm súng quá nhanh chóng.

Beck hơi quay lại, cái nhìn chăm chú của anh ta đọng lại trên trang phục của chị.

Chị mặc bộ áo liền quần và áo len dài tay màu đen. Chiếc khăn quàng đen trùm lên mái tóc. Trông chị như một điệp viên đội lốt nội trợ.

- Chị ấy chạy trốn sẽ rất nguy hiểm, - anh ta nói.

- Và hình như ở lại cũng thế.

- Đúng vậy, - Beck đáp. - Thật là tiến thoái lưỡng nan.

- Tôi không biết đằng nào thì nguy hiểm hơn? - Vianne hỏi.

Chị không đợi câu trả lời và sửng sốt thấy Beck nói:

- Ở lại, tôi nghĩ thế.

Vianne gật đầu.

- Chị không nên đi, - anh ta nói.

- Tôi không thể để chị ấy ra đi một mình.

Beck ngẫm nghĩ. Cuối cùng, anh ta nói:

- Chị có biết mảnh đất chăn bò của ông Frette không?

- Có. Nhưng...

- Đằng sau nhà kho có một đường mòn cho gia súc. Nó dẫn đến chốt kiểm soát ít lính gác nhất. Đường đi khá dài, nhưng người ta có thể đến được chốt kiểm soát trước giờ giới nghiêm. Biết đâu có người đang phân vân điều đó. Nói vậy chứ tôi không biết người đó là ai đâu.

- Cha tôi là Julien Rossignol, sống ở Paris, nhà số 57 đại lộ La Bourdonnais. Nếu tôi... một ngày nữa không trở về...

- Tôi sẽ trông nom cho con gái chị tới được Paris.

Anh ta đứng dậy, cầm tấm ảnh theo.

- Tôi đi nằm đây.

- Tôi sợ phải tin anh.

- Tôi còn sợ hơn nếu không thế.

Lúc này họ gần nhau hơn, ánh sáng leo lét quây họ lại với nhau.

- Anh là một người tốt chứ, Đại úy?

- Tôi từng nghĩ thế.

- Cảm ơn anh, - Vianne nói.

- Đừng cảm ơn tôi vội.

Beck để chị ở lại và trở về phòng mình, kiên quyết khép chặt cánh cửa lại.

Vianne ngồi xuống đợi. Bảy giờ rưỡi, chị lấy chiếc khăn quàng nặng trên cái mắc bên cửa bếp.

Can đảm lên, chị nghĩ. Chỉ một lần này thôi.

Chị trùm khăn kín đầu và vai rồi bước ra ngoài.

Rachel và các con đang đợi chị ở sau nhà kho. Một xe cút kít ở cạnh họ, trong xe là Ari quấn trong nhiều lớp chăn đang ngủ say. Nhét quanh bé là vài thứ đồ dùng Rachel đã chọn mang đi cùng.

- Cậu có giấy tờ giả chưa?

Rachel gật đầu.

- Mình không biết chúng phù hợp đến thế nào, mình phải đổi cái nhẫn cưới đấy. - Chị nhìn Vianne. Họ cảm thông với nhau mọi điều không cần nói ra lời.

Cậu có chắc là muốn đi cùng mẹ con mình không?

Mình chắc chắn.

- Tại sao chúng ta phải đi? - Sarah hỏi, nom cô bé hoảng sợ.

Rachel đặt bàn tay lên đầu Sarah và đăm đăm nhìn xuống con gái

- Mẹ cần con mạnh mẽ thay mẹ, Sarah. Con nhớ cuộc nói chuyện của mẹ con mình không?

Sarah chậm rãi gật đầu.

- Vì Ari và bố.

Họ băng qua con đường đất và theo con đường qua đồng cỏ tới bãi cây nhỏ xa xa. Khi đã ở trong rừng cây khẳng khiu, Vianne cảm thấy an toàn hơn, dù sao cũng được che chở. Lúc họ tới cơ ngơi nhà Frette, màn đêm đã buông. Họ tìm ra con đường mòn dành cho gia súc, dẫn tới cánh rừng sâu hơn, nơi những rễ cây dày, quấn quýt trong đất khô, khiến Rachel phải đẩy rất vất vả, cái xe cút kít mới chuyển động. Thỉnh thoảng vấp phải một cái rễ, nó nảy lên rồi lại đập xuống đất cành cạch. Ari rên rỉ trong giấc ngủ và mút ngón tay cái chùn chụt. Vianne cảm thấy mồ hôi chảy dọc xuống lưng.

- Mình cần phải tập luyện, - Rachel nói và thở nặng nề.

- Còn mình thích một lối đi bằng phẳng xuyên qua rừng, - Vianne đáp. - Thế nào Sarah, cháu có thấy cuộc phiêu lưu của chúng ta thú vị không?

- Cháu không đeo cái ngôi sao ngớ ngẩn kia, - Sarah nói. - Sao Sophie không đi cùng ạ? Bạn ấy thích rừng mà. Cô có nhớ trò săn tìm đồ vật mà chúng ta hay chơi không ạ? Sophie tìm ra mọi thứ trước tiên.

Qua một kẽ hở trong đám cây cối đằng trước, Vianne trông thấy một ánh đèn pin và những cột mốc trắng-đen của lối đi qua biên giới.

Cái cổng được những ngọn đèn chiếu sáng rực, chỉ quân thù mới dám dùng hoặc có khả năng chi trả. Một lính Đức đứng gác, khẩu súng trường lấp lánh ánh bạc trong ánh sáng quái đản. Một hàng người đang đợi qua. Nếu giấy tờ hợp lệ mới được chấp thuận. Nếu giấy tờ giả của Rachel không có tác dụng, chị và các con sẽ bị bắt giữ.

Đây là việc thực sự bất ngờ. Vianne dừng lại. Chị phải đứng đây quan sát họ qua biên giới.

- Mình sẽ viết thư nếu có thể, - Rachel nói.

Cổ Vianne tắc nghẹn. Dù điều tốt đẹp nhất xảy ra, có thể chị sẽ không biết tin tức gì của bạn trong nhiều năm. Hoặc mãi mãi. Trong cái thế giới mới này, chẳng có cách gì chắc chắn để liên lạc với người ta thương yêu.

- Đừng có tặng mình vẻ mặt ấy đi, - Rachel nói. - Bọn mình sẽ gặp lại nhau sớm thôi, cùng uống champagne và khiêu vũ theo nhạc jazz mà cậu ưa thích.

Vianne quệt nước mắt.

- Cậu biết là mình sẽ không muốn bị trông thấy đi cùng cậu khi cậu bắt đầu nhảy mà.

Sarah giật cánh tay áo chị.

- Cô nói với Sophie là cháu tạm biệt nhé.

Vianne quỳ xuống và ôm ghì Sarah. Chị có thể ôm con bé mãi mãi thay vì buông ra.

Chị bắt đầu vươn tay tới Rachel, nhưng bạn chị đã quay đi.

- Nếu ôm cậu mình sẽ khóc mất, mà mình không được khóc.

Cánh tay Vianne nặng nề buông thõng xuống bên sườn.

Rachel nắm lấy cái xe cút kít. Ba mẹ con theo đoạn đường mòn cuối cùng tới cuối cánh rừng, cái xe cút kít vấp và nẩy lên cho đến khi họ ra khỏi những lùm cây và nhập vào hàng người ở trạm kiểm soát. Một người đàn ông đạp xe qua và cứ đi, rồi lính gác vẫy tay ra hiệu cho một bà già đẩy một cái xe chở hoa. Rachel sắp đến đầu hàng thì có tiếng còi rít lên và ai đó quát bằng tiếng Đức. Tên lính gác quay khẩu súng máy vào đám đông và nổ súng.

Những đốm nhỏ màu đỏ như sao sa trong bóng tối.

Tạch-tạch-tạch-tạch-tạch.

Một người đàn bà hét lên lúc người đàn ông bên cạnh đổ sụp xuống đất. Hàng người lập tức rối loạn, mọi người chạy về mọi ngả.

Việc xảy ra nhanh đến mức Vianne không kịp phản ứng. Chị nhìn thấy Rachel và Sarah chạy tới chỗ chị, trở lại rừng cây, Sarah chạy trước, Rachel chạy sau đẩy cái xe cút kít.

- Đây! - Vianne gọi, tiếng chị chìm trong tiếng súng.

Sarah khụy gối trên cỏ.

- Sarah! - Rachel hét lên.

Vianne nhào tới trước, kéo giật Sarah vào tay mình. Chị bế nó vào cánh rừng và đặt con bé nằm trên mặt đất, cởi khuy áo khoác của nó.

Ngực con bé bị bắn thủng nhiều lỗ. Bọt máu tràn ra, chảy ri rỉ.

- Nó thế nào rồi? - Rachel hỏi, thở không ra hơi tới đứng cạnh chị. - Là máu ư? - Rachel đổ sụp xuống cỏ cạnh con gái. Trong xe, Ari bắt đầu khóc ré lên.

Đèn sáng rực ở trạm kiểm soát, bọn lính tập hợp. Chó bắt đầu sủa.

- Chúng ta phải đi thôi, Rachel, - Vianne nói. - Ngay bây giờ. - Chị đứng lên trong lớp cỏ trơn nhẫy máu và bế Ari khỏi xe, đưa nó cho Rachel lúc này đang đờ đẫn người. Vianne ném mọi thứ trong xe ra, và cẩn thận hết mức có thể, chị đặt Sarah vào cái xe han gỉ, cùng cái chăn của Ari lót dưới đầu con bé. Nắm chặt tay cầm trong đôi bàn tay đẫm máu, chị nhấc phía sau xe lên và bắt đầu đẩy.

- Đi thôi, - chị bảo Rachel. - Chúng mình phải cứu con bé.

Rachel đờ đẫn gật đầu.

Vianne đẩy cái xe cút kít tới trước, qua những rễ cây dày đặc và bẩn thỉu. Tim chị đập thình thịch, nỗi sợ khiến miệng chị chua loét, nhưng chị không dừng hoặc ngoảnh lại. Chị biết Rachel ở đằng sau mình - Ari đang gào khóc - và nếu có ai đó đi theo họ, chị cũng không muốn biết.

Lúc họ đến gần Le Jardin, Vianne ráng sức đẩy cái xe cút kít nặng trịch qua con mương ven đường và lên đồi, tới nhà kho. Cuối cùng lúc chị dừng lại, cái xe cút kít đập mạnh xuống đất và Sarah rên lên vì đau.

Rachel đặt Ari xuống. Rồi chị nhấc Sarah ra khỏi xe và dịu dàng đặt con gái lên cỏ. Ari khóc nhai nhải và giơ tay đòi bế.

Rachel quỳ cạnh Sarah và nhìn thấy bộ ngực bị tàn phá khủng khiếp của con bé. Chị ngước nhìn Vianne, vẻ mặt chị đau đớn và mất mát đến nỗi Vianne không thở nổi. Rồi Rachel lại nhìn xuống và đặt bàn tay lên gò má nhợt nhạt của con gái.

Sarah hơi ngẩng đầu:

- Chúng ta qua biên giới rồi à? - Máu từ đôi môi không còn màu sắc sủi tăm và rót xuống cằm con bé.

- Chúng ta qua rồi, - Rachel nói. - Qua rồi con ạ. Bây giờ tất cả chúng ta đã an toàn.

- Con đã dũng cảm, phải không ạ? - Sarah nói.

- Đúng thế, - Rachel nói, đứt quãng. - Rất dũng cảm.

- Con rét, - Sarah lẩm bầm. Con bé rùng mình.

Sarah run rẩy hít một hơi, rồi thở ra chầm chậm.

- Bây giờ chúng ta sẽ có kẹo. Và bánh macaron. Mẹ yêu con, Sarah. Cả bố cũng yêu con. Con là ngôi sao của bố mẹ. - Giọng Rachel nghẹn ngào. Lúc này chị đang khóc. - Là trái tim của chúng ta. Con biết không?

- Nói với Sophie là con... - Mí mắt Sarah rung rinh khép lại. Con bé hít một hơi cuối cùng, run run rồi im lìm. Môi nó he hé, nhưng không hơi thở nào thoát ra nữa.

Vianne quỳ xuống cạnh Sarah. Chị bắt mạch và không thấy gì. Sự im lặng trở thành chua loét, dày đặc, Vianne chỉ nghĩ đến tiếng cười của đứa trẻ này và thế giới sẽ trống vắng biết bao nếu thiếu nó. Chị đã biết về cái chết, về nỗi tiếc thương rứt ta thành nhiều mảnh và để ta lại, tan vỡ vĩnh viễn. Chị không thể hình dung sao Rachel vẫn thở nổi. Nếu là bất kỳ lúc nào khác, Vianne sẽ ngồi xuống cạnh Rachel, cầm tay chị và để bạn khóc thỏa thích. Hoặc ôm lấy bạn. Hoặc trò chuyện. Hoặc không nói gì hết. Rachel cần bất cứ thứ gì, Vianne sẽ đi khắp cùng trời cuối đất để kiếm bằng được. Nhưng bấy giờ chị không thể làm thế. Đây là ngón đòn khủng khiếp nhất trong mọi thứ: Họ không có thời gian để tiếc thương.

Vianne cần phải mạnh mẽ thay Rachel.

- Chúng ta cần chôn cất con bé, - Vianne nói, dịu dàng hết mức có thể.

- Nó ghét bóng tối.

- Mẹ mình sẽ ở cùng con bé, - Vianne nói. - Cả mẹ cậu nữa. Cậu và Ari phải vào ngay tầng hầm. Trốn đi. Mình sẽ lo chuyện Sarah.

- Bằng cách nào?

Vianne hiểu Rachel không hỏi cách trốn trong nhà kho, mà hỏi sẽ sống ra sao sau tổn thất như thế này, sao lại chọn một đứa con và để đứa kia ra đi, làm thế nào vẫn thở sau khi thì thầm câu “Vĩnh biệt”.

- Mình không thể xa con bé.

- Cậu phải thế. Vì Ari. - Vianne từ từ đứng lên và đợi.

Rachel hít một hơi giòn như thủy tinh vỡ và cúi xuống, hôn lên má Sarah.

- Mẹ sẽ luôn yêu con, - chị thì thầm.

Rốt cuộc, Rachel đứng dậy, bế Ari lên, chị ôm nó thật chặt lúc thằng bé bắt đầu khóc.

Vianne nắm bàn tay Rachel và dẫn bạn vào nhà kho rồi xuống tầng hầm.

- Mình sẽ đến tìm cậu ngay khi mọi sự an toàn.

- An toàn, - Rachel vừa thẫn thờ nói, vừa chằm chằm nhìn qua cánh cửa nhà kho đã mở.

Vianne đẩy chiếc ô tô và mở cánh cửa sập.

- Dưới đó có một cái đèn xách. Và đồ ăn.

Bế Ari, Rachel trèo xuống thang và biến vào bóng tối. Vianne đóng cửa và đẩy lại chiếc ô tô vào chỗ cũ, rồi tới bụi tử đinh hương mẹ chị trồng từ ba mươi năm trước. Nó cao vút và xòe rộng hết bức tường. Đằng sau nó, gần như mất hút giữa những cây xanh mùa hè, là ba cây thánh giá nhỏ màu trắng. Hai cái là hai lần chị bị sẩy thai và một cái dành cho đứa con trai sống chưa đầy một tuần lễ.

Rachel đã đứng ở đây, bên cạnh chị lúc chôn từng đứa con. Bây giờ, Vianne ở đây để chôn cất đứa con gái người bạn thân nhất của mình. Con gái của người bạn thân nhất. Chúa Trời nhân từ nào lại có thể cho phép một việc như thế này xảy ra?

Báo cáo nội dung xấu