Sự Trung Thực Của Xác Chết - Chương 01
Chết vì nghèo đói
Kết cục của cái lạnh khó vượt qua
Đó là một ngày tháng 2 lạnh giá cực điểm của một năm nọ, trước hôm đó còn có một trận tuyết rơi. Như mọi ngày cảnh sát chuyển thi thể tới Phòng Pháp y chúng tôi từ buổi sáng.
Người chết là đàn ông, đoán chừng 50 tuổi. Người ta phát hiện ông ta chết trong tình trạng nằm sấp ngay trước phòng vệ sinh trong nhà.
Phía cảnh sát đã tiến hành điều tra nhưng do không xác định được nguyên nhân tử vong nên đã nhờ chúng tôi giải phẫu.
Thay xong trang phục làm việc, tôi mở cửa tiến vào phòng giải phẫu thì đã thấy người của bên cảnh sát và nhân viên kỹ thuật của Phòng Pháp y đang bắt đầu chuẩn bị.
Phòng giải phẫu không có cửa sổ; bốn bức tường đều ốp gạch men trắng toát. Bàn giải phẫu làm bằng kim loại láng bóng, không một chút hoen gỉ, phản xạ chút ánh sáng trầm ở giữa căn phòng. Thi thể của người đàn ông đang đặt trên đó.
Trước mặt tôi khi ấy là một cái xác không còn mạch đập…
Với tôi, đó chính là “khung cảnh ngày thường” mà tôi vẫn nhìn thấy gần như suốt 20 năm qua.
Trước tiên, khi mở cửa bước vào phòng, tôi sẽ từ xa quan sát thi thể trên bàn giải phẫu. Ở vị trí này nhìn vào cũng đã xác định được các vấn đề như thi thể có bộ phận nào chịu tổn thương không, tình trạng ứ máu trên mặt ra sao. Bởi một khi đã bắt đầu đi vào giải phẫu, tôi chỉ tập trung vào một bộ phận của thi thể ngay trước mắt mình, vậy nên rất dễ có nguy cơ phá hỏng các ấn tượng tổng thể ban đầu hay bỏ sót chi tiết hoặc gây ra các hiểu nhầm nào đó.
Sau khi nhìn tổng quát một lượt, tôi mới chuyển từ quan sát cẩn thận bề mặt (bên ngoài) thi thể sang giải phẫu chi tiết. Trong ngành pháp y, có không ít trường hợp bên ngoài thi thể cung cấp các thông tin như vết thương, màu sắc, vị trí, kích cỡ, số lượng của những dấu hiệu bất thường… Những thông tin ấy sẽ trở thành gợi ý quan trọng để xác định nguyên nhân tử vong cuối cùng. Nếu có vết thương do dao kiếm gây ra thì độ khớp giữa kích cỡ miệng và độ sâu của vết thương với hung khí đó đôi khi còn là yếu tố quyết định để truy bắt hung thủ.
Ngày hôm đó, sau khi tiến vào phòng giải phẫu, tôi cũng ngay lập tức lưu giữ lại những “dấu hiệu” bên ngoài thi thể. Tôi nhận thấy tại các khớp lớn như ở khuỷu tay hay đầu gối có nhiều vết lốm đốm màu đỏ kỳ lạ. Vừa thấy thế, trong đầu tôi đã hiện lên hai chữ “chết cóng”.
Thế nhưng, lúc này tôi vẫn chưa thể đưa ra “chẩn đoán” được.
Sau khi kiểm tra một lượt tình trạng bên ngoài thi thể, tôi cầm dao mổ lên và tiến hành giải phẫu. Tôi cẩn thận cắt mở tổ chức dưới da (kết cấu bên dưới lớp chân bì. Kết cấu này được cấu tạo chủ yếu từ các mô mỡ, có mạch máu và dầy thần kinh chạy qua) và lần lượt đi vào nội tạng theo trình tự đã định để kiểm tra các cơ quan như não, phổi, tim, dạ dày, gan, đường ruột…
Trong trường hợp của người đàn ông này, “điểm bất thường” bên trong cơ thể chính là màu sắc khác nhau rõ rệt của máu chảy ra từ hai bên tim. Máu ở phía bên trái có màu đỏ tươi rõ ràng hơn.
Đây cũng là đặc trưng rõ rệt nhất có thể nhìn thấy ở các thi thể chết cóng.
Có một vấn đề hơi liên quan tới chuyên môn một chút. Máu có màu đỏ sở dĩ do một chất protein tên là hemoglobin có trong hồng cầu kết hợp với oxy tạo thành. Càng kết hợp được với nhiều oxy thì máu càng có màu đỏ tươi, càng ít oxy thì máu càng thiên về màu đỏ đen.
Oxy trong không khí theo đường hô hấp được đưa vào phổi, từ đây oxy được kết hợp với hemoglobin trong máu và đi vào bên trái của tim (tâm nhĩ trái), sau đó oxy lại theo tuần hoàn máu từ tâm thất trái, theo động mạch mà được vận chuyển tới toàn thân. Máu sau khi vận chuyển oxy tới toàn thân lại theo tĩnh mạch trở về phần bên phải của tim (tâm nhĩ phải). Vậy nên vốn dĩ, máu ở phần bên trái của tim có nồng độ oxy cao hơn so với máu ở phần bên phải, do đó chắc chắn sẽ có màu đỏ hơn. Chỉ là dưới mắt thường của con người, ta không thể nhận thấy rõ ràng sự khác biệt về màu sắc ấy.
Thế nhưng, nếu nói về mức độ kết hợp của hemoglobin và oxy thì thực tế, hemoglobin có một tính chất hóa học là nhiệt độ càng giảm thì mức độ kết hợp với oxy càng cao. Trước khi bị chết cóng, con người sẽ hít một lượng không khí có nhiệt độ thấp đi vào phổi nên mức độ kết hợp giữa hemoglobin và oxy trong máu cao hơn bình thường.
Kết quả là sự khác biệt màu sắc của máu ở hai bên tim sẽ rõ ràng hơn, dễ dàng nhận thấy bằng mắt thường hơn.
Sau khi giải phẫu, chẩn đoán nguyên nhân tử vong của người đàn ông này là “chết cóng”.
Người chết cóng ngay trong khu phố
Thông thường, nói đến chết cóng là người ta sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh những người bị vùi mình trong núi tuyết, hết thức ăn, giá lạnh bủa vây, thân thể không cử động được và cứ thế đi dần đến cái chết… Cho tới nay, nhiều nhà leo núi mạo hiểm đã rơi vào tình trạng như vậy và phải đánh đổi cả tính mạng của mình.
Nhưng đây chỉ là một người đàn ông bình thường, sao ông ta lại có thể chết cóng trong căn hộ của mình ngay giữa khu phố được chứ?
Thực ra bước chân vào ngành pháp y này tôi mới thực sự biết rằng, dù trong điều kiện sinh hoạt bình thường ở thành phố thì chết cóng cũng không phải là một kiểu chết hiếm hoi gì.
Bằng chứng chính là trong số khoảng 300 thi thể được chuyển tới Phòng Pháp y của chúng tôi mỗi năm thì có khoảng 10 thi thể là do chết cóng. Trong số đó, thỉnh thoảng tôi cũng thấy vài trường hợp người chết có tình trạng dinh dưỡng kém, cơ thể khá gầy gò.
Người đàn ông này vài năm trước đã bị công ty giảm biên chế. Người vợ cũng đã bỏ đi, một mình người đàn ông thất nghiệp ấy tiếp tục sống cô độc và dần dần không trả nổi tiền nhà. Nhờ có chủ nhà thông báo rằng ông đã nợ tiền nhà nhiều tháng và không liên lạc được nên người ta mới phát hiện ra thi thể ông. Thời điểm tử vong, trong nhà người đàn ông này không có gas, không có điện nước, cũng gần như không còn chút đồ ăn hay tiền lẻ nào.
Theo thông tin bên phía cảnh sát, người chết không có vấn đề đặc biệt nào về thân thể hay tiền sử bệnh. Ngoài ra, khu nhà đó nói riêng và cả vùng nói chung cũng không giá lạnh tới mức có tuyết đọng dày. Nhiều người cũng cho rằng dù có là mùa đông giá lạnh thì chỉ cần quấn nhiều quần áo và chui vào trong chăn thì chắc chắn không thể bị chết cóng như vậy được.
Tuy nhiên, cho dù có ở trong nhà đi chăng nữa, chỉ cần hội tụ đủ các yếu tố bất lợi thì chúng ta vẫn có thể bị chết cóng. Thân nhiệt của con người luôn dao động ở mức 37 độ C, tuy nhiên nếu vì lý do nào đó mà thân nhiệt hạ xuống mức 28 độ C (đôi khi không cần phải hạ tới mức này) thì sẽ xảy ra chứng loạn nhịp tim và đi đến tử vong.
Trường hợp nhiệt độ môi trường xung quanh thấp hơn thân nhiệt, cơ thể sẽ phải tiêu tốn năng lượng để sinh nhiệt, duy trì nhiệt độ cần thiết nhằm đảm bảo sự sống. Tuy nhiên, nếu cơ thể không được hấp thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng để bổ sung năng lượng thì quá trình sinh nhiệt sẽ không được đảm bảo, lượng nhiệt tản ra không đủ, do đó nhiệt độ cơ thể nhanh chóng giảm xuống. Trong thực tế, dạ dày và đường ruột của người đàn ông ấy lại trống rỗng tới mức sạch sẽ. Ta có thể suy đoán được rằng có lẽ ông ta đã không được ăn uống đầy đủ trong một thời gian dài.
Bản thân tôi đã được chứng kiến khá nhiều “cái chết nghèo đói” giống như trường hợp người đàn ông ấy. Do thiếu thốn nên họ không thể mua thức ăn, thể lực và sức đề kháng bị hao mòn dần. Khi đó, cho dù có mặc thật nhiều áo, có quấn mình trong cả lớp chăn thì họ cũng bị cóng mà chết.
Có một điều đặc biệt là các thi thể chết cóng thường ở trạng thái đã cởi bớt quần áo. Ngay cả người đàn ông tôi đề cập ở trên cũng được phát hiện trong trạng thái đang mặc đồ lót dù là giữa mùa đông.
Theo pháp y, hiện tượng này được gọi là “hành vi cởi đồ kỳ lạ”. Bằng một cách nào đó mà ngay trước khi chết cóng, con người lại cảm thấy “nóng bức”. Ngay cả những người bị chết cóng do bị chôn vùi trong núi tuyết cũng được phát hiện trong tình trạng cởi bỏ hết quần áo ấm, chỉ giữ lại lớp áo mỏng trên người. Bộ phim điện ảnh Mount Hakkoda* cũng từng tái hiện lại một cảnh tương tự như vậy. Người ta cho rằng não bộ là trung khu điều tiết thân nhiệt cho toàn bộ cơ thể, thế nhưng trong quá trình đi tới chết cóng, dường như não bộ của con người lại xảy ra những hiện tượng dị thường nào đó.
Hiện tượng kiểm soát thân nhiệt kỳ lạ như vậy còn được gọi là “nghịch lý cởi đồ”. Rõ ràng là môi trường bên ngoài đã lạnh tới mức không chịu được nhưng vì một lý do nào đó, cơ thể lúc ấy lại cảm thấy nóng bức khó chịu. Chính vì vậy nên con người mới tự mình vứt bỏ nốt lớp phòng hộ ít ỏi cuối cùng của bản thân và gia tăng quá trình hạ thân nhiệt.
Trước đây, tôi cũng từng giải phẫu một thi thể chết cóng được phát hiện dưới sàn nhà. Nghe nói vì để trốn những người đòi nợ mà người đó đã nín thở, giấu mình trong một không gian vô cùng nhỏ hẹp. Trong vùng không gian tối tăm, rét mướt đó, thân thể họ cứ thế từ từ lạnh ngắt.
Bên trong một căn hộ giữa thành phố, một người đàn ông ôm cái bụng đói cứ thế chết đi mà không ai biết - đây chính là hiện trạng thực tế tại Nhật Bản ngày nay.
Người hưởng trợ cấp xã hội và cái chết
Ở Nhật Bản hiện nay, bất cứ ai cũng có thể cảm nhận một cách chân thực sự đảo lộn của cuộc sống chỉ vì một vài biến cố như cơ thể suy yếu hay cắt giảm biên chế.
Phòng Pháp y chúng tôi cũng phải tiếp nhận khá nhiều thi thể được cho là rơi vào cảnh nghèo khổ từ những vấp ngã nhỏ như vậy. Giống như người đàn ông chết cóng ở trên, những trường hợp chết trong tình trạng không tiền, bụng trống rỗng, nhiều ngày không được tắm rửa cũng không còn là điều hiếm gặp.
Trong vài năm trở lại đây, khi ghi chép tình trạng của các thi thể được chuyển đến, tôi lại nhận ra một vấn đề khá nhức nhối rằng ngày càng có nhiều trường hợp khi sinh thời sống hoàn toàn nhờ vào “trợ cấp xã hội”.
Theo Điều tra đối tượng hưởng trợ cấp xã hội do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi công bố tháng 4 năm 2016 , tỷ lệ hưởng trợ cấp xã hội ở Nhật là 1,71% (bao gồm cả những người đã dừng trợ cấp). Tức là Nhật Bản đang trong tình trạng cứ 100 người thì có gần 2 người hưởng trợ cấp xã hội.
Phòng Pháp y trường Đại học Y Hyogo nơi tôi công tác nằm ở thành phố Amagasaki, tỉnh Hyogo. Tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội ở đây cao gấp 2 lần trung bình cả nước. Nhìn vào tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội ở các thành phố lớn có dân số hơn 200 nghìn người, do đơn vị hỗ trợ người nghèo tự lập cuộc sống công bố trong Tư liệu hội kiến thị trưởng định kỳ tháng 8 năm 2015 sẽ thấy, tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội ở thành phố Amagasaki là 4,07%, chỉ đứng sau thành phố Hakodate với 4,64% và thành phố Higashi Osaka với 4,09% (Tính tới thời điểm tháng 4 năm 2015). Tức là ở đây, cứ 100 người sẽ có khoảng 4 người đang nhận trợ cấp xã hội.
Ở Phòng Pháp y chúng tôi, từ tháng 1 tới tháng 8 năm 2016 tổng cộng đã tiến hành giải phẫu cho 117 trường hợp, trong đó có 25 trường hợp vốn là người nhận trợ cấp xã hội, chiếm khoảng 21,4% tổng số các ca giải phẫu (số liệu chưa công bố/đang được tiến hành điều tra). Hay nói cách khác, trong 5 người chúng tôi tiến hành giải phẫu có 1 người nhận trợ cấp xã hội khi còn sống. Phải nói thêm rằng tổng con số tôi đưa ra bao gồm cả những người không rõ xuất thân, không nắm bắt được các tình trạng như có nhận trợ cấp hay không nên tỷ lệ thực tế có khả năng còn cao hơn nữa.
Ít nhất, theo điều tra giới hạn trong Phòng Pháp y chúng tôi, nếu tỷ lệ người nhận trợ cấp xã hội trên cả nước là 1,71% thì tỷ lệ này trong số các thi thể đã được chúng tôi giải phẫu lại lên tới hơn 20%. Tình trạng số người chết vì nghèo đói chiếm một tỷ lệ quá cao như vậy phải chăng là điều không bình thường?
Nói thực thì bản thân tôi cũng không ý thức gì về mối liên quan giữa các thi thể mình giải phẫu với vấn đề trợ cấp xã hội tới vậy. Mỗi ngày, người ta lại chuyển tới cho chúng tôi đủ loại thi thể với vô vàn trạng thái khác nhau từ tuổi tác, giới tính cho tới tình trạng sinh hoạt lúc còn sống. Một trong những vai trò lớn nhất của giải phẫu pháp y là tìm ra nguyên nhân tử vong của các thi thể và chúng tôi cũng không ý thức đến những vấn đề xã hội của các nạn nhân khi còn sống.
Chỉ là nếu suy nghĩ kỹ càng thì mỗi ngày, chúng tôi đều đứng trước bàn giải phẫu và đối diện với những con người không được đón nhận một “cái chết thanh thản”, không được trút hơi thở cuối cùng trong sự tiễn đưa của gia đình. Nói theo chuyên môn thì những thi thể ấy được đưa tới phòng pháp y trên danh nghĩa là những thi thể đã đón nhận sự “tử vong bất thường” hay một cái chết không thể khẳng định rõ ràng là “chết bệnh”. Một điều nực cười nữa là vấn đề “dị trạng = trạng thái bất thường” lại là điều hết sức bình thường trong giới pháp y. Vậy nên, cho tới thời gian gần đây, tôi mới bắt đầu nghĩ rằng phải chăng chúng tôi vẫn luôn qua loa với nhiều vấn đề, đôi khi là các vấn đề kinh tế mà họ đang vướng phải.
Ngoài ra, trong số những trường hợp nhận trợ cấp xã hội, có tới 84% (cứ 25 người lại có 21 người) từng sống độc thân, nhiều trường hợp do suốt thời gian dài không liên lạc được khiến người phụ trách hay chính quyền địa phương đến tìm và phát hiện họ đã chết ở nhà riêng.
Từ trước tới nay một bộ phận quần chúng vẫn luôn mạnh mẽ phê phán những người nhận trợ cấp xã hội là “lười lao động, sống ăn chơi” thế nhưng dưới góc độ quan sát trên bàn giải phẫu, tôi lại thấy mọi chuyện dường như không phải như vậy. Chắc chắn trong xã hội này vẫn còn những con người đói khát tới mức chết trong cô độc và không thể cầu cứu bất cứ ai.
Chứng nghiện rượu và cái chết
Khi giải phẫu những thi thể của người nhận trợ cấp xã hội, tôi cũng thường gặp phải những dấu hiệu ở người nghiện rượu.
Với thói quen uống nhiều rượu mỗi ngày trong thời gian dài, con người thường gặp phải các vấn đề như xơ gan hay suy gan và dẫn đến tử vong.
Vào một ngày đầu đông của tháng Mười một, thời tiết rất dễ chịu, thi thể một người đàn ông được đưa đến chỗ chúng tôi và phía cảnh sát báo rằng người này có tiền sử nghiện rượu. Có vẻ như ông ấy đã dùng gần hết số tiền trợ cấp vào những chai rượu. Cuối cùng, ông ta được người của chính quyền địa phương phát hiện trong tình trạng thổ huyết và chết cô độc trong căn hộ của mình.
Khi mở ổ bụng, chúng tôi phát hiện trong dạ dày của người đàn ông đó không phải là thức ăn mà là khoảng 1 lít máu. Nguyên nhân tử vong trực tiếp chính là “sốc mất máu”. Mạch máu (tĩnh mạch) chạy trong thực quản bị vỡ, gây ra tình trạng xuất huyết. Tại địa điểm phát hiện thi thể cũng có dấu hiệu thổ huyết, đây được cho là do xuất huyết trong thời gian dài.
Thông thường, nếu chỉ uống rượu thì không thể làm vỡ mạch máu được. Vấn đề của người đàn ông này chính là uống quá nhiều rượu dẫn đến xơ gan. Xơ gan là bệnh khi nồng độ cồn trong máu vượt qua khả năng xử lý của cơ thể và được đưa tới gan, kết quả là gây tổn hại cơ năng gan mạn tính, khiến các tế bào gan bị phá hủy, suy giảm ngày càng trầm trọng và chuyển thành xơ hóa. Cuối cùng, gan ngày càng cứng hơn, chức năng của gan cũng suy giảm nhanh chóng.
Người đàn ông này cũng rơi vào tình trạng gan quá cứng khiến máu không thể lưu thông. Gan là cơ quan đặc thù với cơ chế hấp thụ chất dinh dưỡng, nó để cho máu chứa chất dinh dưỡng hấp thụ được từ hệ tiêu hóa chảy qua. Khi máu không có chỗ để đi, nó phải kiếm các đường vòng khác như chảy ngược vào tĩnh mạch bên dưới niêm mạc thực quản. Theo đó, mạch máu ở thực quản trở nên căng cứng gây ra tình trạng giãn tĩnh mạch và chỉ cần bị một thứ gì đó tác động là có thể bị vỡ bất cứ lúc nào. Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng xuất huyết và dẫn đến cái chết.
Lúc vào phòng giải phẫu và xác nhận tình trạng bên ngoài thi thể, tôi nhận thấy xung quanh rốn của người đàn ông này có các vết lằn lồi lõm như thân giun. Đây cũng là minh chứng cho việc tĩnh mạch dưới vùng da gần rốn của anh ta đã bị giãn.
Bình thường, thời điểm cơ năng gan bị tổn hại, cơ thể chắc chắn sẽ xảy ra các thay đổi bất thường như phát sốt hay khó chịu… Tình trạng xơ gan càng phát triển thì cơ thể lại càng thấy nặng nề, mệt mỏi. Chắc chắn khi còn sống, thể trạng của người đàn ông này cũng tệ tới mức không thể sinh hoạt được.
Đáng lẽ thời điểm này, người đàn ông ấy phải được điều trị tại bệnh viện, và chắc chắn cơ thể anh ta cũng phát ra quá thừa tín hiệu cảnh báo nguy hiểm cho bản thân.
Người đàn ông ấy sống nhờ trợ cấp xã hội nên cũng là đối tượng được hưởng hỗ trợ y tế và trên nguyên tắc sẽ được miễn phí thăm khám hay điều trị. Chỉ là ngay cả việc tiếp nhận điều trị ở bệnh viện anh ta cũng lười. Đây có lẽ chính là điều đáng sợ của chứng nghiện rượu.
Cái chết đáng lẽ đã không xây ra
Trong những năm gần đây, những người thuộc tầng lớp nghèo khổ, mặc dù không phải nhận trợ cấp xã hội nhưng cũng chỉ có thể duy trì được cuộc sống trong bối cảnh chi phí mỗi ngày một gia tăng. Những người thường xuyên phải chạy ăn từng bữa như vậy thì cho dù thể trạng có suy giảm cũng sẽ chần chừ không muốn đi bệnh viện. Kết quả là tới khi đi khám mới biết bệnh tình đã chuyển biến xấu và ảnh hưởng tới cả tính mạng… Tôi cũng từng được nghe những câu chuyện buồn như vậy.
Làm trong ngành pháp y này, tôi đã gặp nhiều trường hợp chỉ vì không được đi bệnh viện mà chết.
Một ngày nọ, một người đàn ông khoảng 50 tuổi đột nhiên không đến nơi làm việc nữa. Bình thường mọi người xung quanh cũng hay bàn tán “Sức khỏe anh ấy gần đây không tốt” nên các đồng nghiệp khá lo lắng. Họ tìm đến nhà thăm hỏi thì phát hiện ra ông ấy đã nằm bất động trong phòng khách và chết từ bao giờ.
Theo điều tra từ phía cảnh sát, trường hợp tử vong của người đàn ông này là không rõ nguyên nhân. Thi thể của ông ta ngay lập tức được đưa đi giám định pháp y.
Khi giải phẫu thi thể người đàn ông ấy, chúng tôi đã phát hiện một khối u lớn ở đại tràng.
Đại tràng chủ yếu là nơi hấp thụ lại nước vào cơ thể và giả sử có bị cắt toàn bộ thì con người vẫn có thể sống được (Chỉ có điều phân cũng sẽ ở thể lỏng như nước tiểu).
Thế nhưng, người đàn ông ấy lại hoàn toàn để mặc không chữa trị khối u đó khiến nó phát triển mạnh tới mức gây tắc nghẽn bên trong. Khi bên trong đại tràng bị tắc kín bởi khối u, các chất bài tiết không thể tống ra ngoài mà bị tích tụ lại nơi đây. Khi giải phẫu thi thể, chúng tôi còn phát hiện phần ruột non bên trên đại tràng đã sưng phù do chứa đầy các khối vật chất không thể chuyển xuống đại tràng. Có thể dễ dàng tưởng tượng được khi còn sống, thể trạng của người đàn ông này cũng cực kỳ yếu ớt.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự tử vong của người đàn ông đó là “tắc ruột”, một chuyện không thể xảy ra nếu trước đó ông ta được chữa trị. Nếu như người đàn ông đó làm phẫu thuật đại tràng sớm hơn thì chắc chắn sẽ không rơi vào tình trạng tắc ruột như vậy và vẫn có thể sinh hoạt bình thường mà không bị trở ngại gì.
Vì khi đường ruột sưng lên, chắc chắn sẽ xuất hiện các triệu chứng dữ dội như nôn mửa và chính bản thân anh ta cũng cảm nhận được mình nên đi bệnh viện. Thế nhưng, theo điều tra của phía cảnh sát, người đàn ông này lại chẳng có vẻ gì là đã đến bệnh viện cả.
Có lẽ anh ta không chịu tiếp nhận thăm khám chỉ vì một lý do đơn giản là “ghét đi bệnh viện”. Ngoài ra, còn có những người dù muốn đi bệnh viện khám cũng không có tiền để đi, cuối cùng là chết vì không thể chịu đựng được những vấn đề sức khỏe của bản thân.
Bệnh nếu không chữa thì sẽ chết
Nói tới nghèo đói, có một căn bệnh mà người trong ngành pháp y như tôi khá chú ý. Đó là bệnh tiểu đường.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, số người mắc bệnh tiểu đường trên thế giới đã tăng từ 180 triệu người năm 1980 lên 422 triệu người năm 2014, tức là gấp khoảng 2,3 lần. Đồng thời cũng có số liệu chỉ ra rằng 3/4 số người mắc bệnh tiểu đường tập trung ở các nước có thu nhập trung bình, thấp (Theo Alats về đái tháo đường ấn bản lần thứ 7 của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế - IDP). Trong vài năm gần đây, thế giới cũng dần quan tâm nhiều hơn tới mối liên hệ giữa nghèo đói và bệnh tiểu đường.
Trước kia, bệnh tiểu đường được coi là “bệnh của giới nhà giàu” khi cho rằng chỉ những người thường xuyên được ăn đồ ngon, bổ thì hay bị bệnh. Thế nhưng, hiện tại cùng với sự phổ biến của các loại đồ ăn nhanh, đồ ăn vặt như mì ly, bánh kẹo… mà ngày nay, Nhật Bản cũng bắt đầu nhận thức đây là “căn bệnh của tầng lớp thu nhập thấp”.
Bệnh tiểu đường là tình trạng chỉ số đường huyết tăng cao. Chỉ số đường huyết tăng cao do việc tiết hoóc-môn làm hạ đường huyết là insulin một cách bất thường. Bệnh này một khi đã xảy ra thì người bệnh sẽ phải sống chung với nó trong suốt thời gian dài và một vài trường hợp người bệnh còn phải tiêm insulin thường xuyên nhằm hạn chế hấp thu glucose và giới hạn lượng calo mỗi ngày.
Về việc tiêm insulin này, tùy theo nội dung điều trị và thuốc được kê mà chi phí điều trị sẽ dao động khác nhau, nhưng mặt bằng chung người bệnh sẽ phải chi trả hơn 10 nghìn yên mỗi tháng (nếu là người nhận trợ cấp xã hội sẽ thuộc đối tượng được hỗ trợ điều trị y tế). Tuy nhiên, đó là mức giá trong trường hợp bạn tham gia bảo hiểm y tế, và sẽ là một khoản tiền không hề nhỏ đối với những ai không đủ điều kiện kinh tế để chi trả phí bảo hiểm.
Cái khó của việc điều trị bệnh tiểu đường là giai đoạn đầu, người bệnh thường khó nhận ra được các triệu chứng của nó nên dù có được thăm khám thì cũng không ít người để mặc vấn đề của bản thân.
Kết quả là kéo dài tình trạng đường huyết tăng cao quá mức sẽ gây tổn hại tới mạch máu hay hệ thần kinh, gây ra các biến chứng như “bệnh thần kinh tiểu đường”, “bệnh võng mạc tiểu đường” hay “bệnh thận tiểu đường”… Đồng thời do tình trạng xơ cứng động mạch phát triển mà người bệnh còn có thể mắc phải chứng nhồi máu cơ tim. Từ đây, con người phải sống với lo lắng khi cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Trước kia, tôi đã từng giải phẫu thi thể của một người đàn ông thất nghiệp khoảng 50 tuổi, mặc dù không mắc bệnh tiểu đường nhưng lại từng ăn mì ăn liền suốt 10 năm liên tục. Khi đó, những bất cập trong chế độ ăn uống ấy đều hiện ra rõ ràng dưới góc nhìn pháp y.
Nguyên nhân dẫn đến tử vong của người đàn ông đó là suy gan. Khi giải phẫu thi thể của ông ta, chúng tôi nhận ra ông ta mắc chứng gan nhiễm mỡ với hai lá gan có màu vàng trắng. Đúng hơn, người đàn ông này bị suy gan do tình trạng gan nhiễm mỡ.
Hỏi thêm thông tin về người đàn ông này, chúng tôi được biết ông ta không có công việc ổn định và luôn trong tình trạng sống lay lắt nhờ những việc làm thêm theo ngày. Phải làm sao để có thể lấp đầy bụng với số tiền ít ỏi… Có lẽ, lựa chọn cuối cùng chính là mì ăn liền. Như vậy, rõ ràng là cơ thể ông ấy không đủ cân bằng dinh dưỡng.
Làm trong ngành Pháp y này, tôi thực sự cảm thấy đau đớn khi chế độ ăn uống của con người hiện đại ngày nay đang liên hệ trực tiếp với vấn đề thu nhập của cá nhân. Ở những bệnh nhân tiểu đường, suy gan… chế độ ăn uống đều lưu lại dấu vết rõ ràng trong thân thể họ.
Cái chết của người sống ngoài đường
Phòng Pháp y chúng tôi cũng từng nhận được thi thể của những người sống ngoài đường hay còn gọi là những người vô gia cư. Khu vực tiếp nhận giải phẫu pháp y của chúng tôi vốn có một con sông tương đối lớn chảy qua, và hầu hết những thi thể người vô gia cư được chuyển tới chỗ chúng tôi đều là những người sống ở bãi đất ven con sông đó.
Xét từ góc độ pháp y, có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới cái chết của họ, và cho tới nay cũng chưa có một cuộc điều tra nào để xem liệu có căn bệnh đặc thù gì đó ở những người vô gia cư hay không.
Chỉ là, theo những kinh nghiệm từ trước tới nay, tôi nhận thấy họ đều là những người “sống một mình”. Ít nhất thì thời điểm chết đi, trong căn lều bạt xanh của họ cũng chẳng có dấu hiệu gì là có người sống chung cả.
Chính vì sống một mình nên cho dù những người vô gia cư ấy có chết cũng không được phát hiện ngay lập tức. Đa phần đều phải trải qua vài tuần hay vài tháng sau người ta mới phát hiện ra thi thể của họ. Khi ấy, có những thi thể do tiếp xúc không khí bên ngoài lầu ngày nên bắt đầu phân hủy hay đau đớn hơn là có thể bị chó hoang gặm nham nhở nữa. Đôi khi, thi thể của họ còn bị kiến, gián đục khoét hay nếu là mùa hè thì thậm chí bị cả giòi tấn công. Đặc biệt là vào mùa hè, nếu phơi bên ngoài một tháng, thi thể đó có thể bị lũ giòi do đàn ruồi đẻ trứng sinh ra ăn sạch, chỉ còn lộ xương trắng.
Với những thi thể đã phân hủy hay chỉ còn xương trắng, do các cơ quan nội tạng bên trong đã không còn hay không nguyên vẹn nên việc giải phẫu tìm nguyên nhân tử vong cũng vô cùng khó khăn. Thế nhưng, nhiều trường hợp chỉ từ những mẩu xương, răng, móng còn sót lại, chúng tôi vẫn có thể xác định các vấn đề như giới tính, chiều cao hay có bị gãy xương hay không.
Phần tiếp theo đây có lẽ sẽ hơi chuyên môn một chút, thế nhưng tôi muốn đề cập tới, đó là về các loại giải phẫu (giải phẫu pháp y) tại Phòng Pháp y. Hiện nay, việc giải phẫu pháp y được chia thành bốn nhóm lớn như sau.
1. Giải phẫu tư pháp: Giải phẫu hay khám nghiệm tử thi trong vụ án hình sự hay có nghi ngờ liên quan đến vụ án hình sự để điều tra và truy bắt tội phạm. Hoạt động này tiến hành dựa trên Luật tố tụng hình sự. Việc giải phẫu mang tính bắt buộc và không cần người thân thích của người chết chấp thuận.
2. Giải phẫu điều tra: Giải phẫu tử thi với các thi thể không rõ danh tính hay không có tính hình sự với mục đích không bỏ sót tội phạm. Hoạt động này tiến hành dựa trên Luật điều tra nguyên nhân tử vong và danh tính. Về cơ bản, việc giải phẫu tử thi này không cần người thân thích của người chết chấp thuận.
3. Giải phẫu giám định: Giải phẫu tử thi với các thi thể không có tính hình sự tại khu vực có cơ quan giám định pháp y (một vài khu vực được chỉ định ở Nhật Bản như 23 quận ở Tokyo, Osaka, Kobe) với mục đích làm sáng tỏ nguyên nhân tử vong. Hoạt động này được thực hiện bởi cơ quan giám định (do không được thực hiện tại Phòng Pháp y của trường đại học nên trong cuốn sách này cũng sẽ không đề cập tới nhóm này). Việc giải phẫu được thực hiện dựa trên Luật bảo quản và giải phẫu tử thi và về cơ bản không cần người thân thích của người chết chấp thuận.
4. Giải phẫu chấp thuận: Giải phẫu tử thi các thi thể không mang tính hình sự tại các khu vực không có hệ thống giám định pháp y, cần có sự chấp thuận của người thân thích của người chết nhằm mục đích làm sáng tỏ nguyên nhân tử vong. Hoạt động này do Phòng Pháp y của các trường đại học trên toàn quốc đảm nhiệm. Việc giải phẫu được thực hiện dựa trên Luật bảo quản và giải phẫu tử thi.
Nói một cách đơn giản, việc giải phẫu được tiến hành ở Phòng Pháp y nếu nghi ngờ có yếu tố hình sự sẽ gọi là “giải phẫu tư pháp” nếu không có tính hình sự và phải có sự chấp thuận của gia đình người chết thì là “giải phẫu chấp thuận” nếu không có tính hình sự, danh tính bất minh thì là “giải phẫu điều tra”.
Năm 2013, Luật điều tra nguyên nhân tử vong và danh tính tử thi do cảnh sát xử lý (Luật điều tra nguyên nhân tử vong và danh tính) được ban hành. Từ đó, một loại giải phẫu mới là giải phẫu điều tra (hay còn gọi là giải phẫu theo luật mới) được hình thành, cũng từ đó, việc giải phẫu thi thể của những người vô gia cư không rõ xuất thân, danh tính, giới hạn trong phạm vi không có nghi ngờ yếu tố hình sự tại khu vực tiếp nhận giải phẫu của chúng tôi phần nhiều đều là giải phẫu điều tra.
Tôi đặc biệt không thể chịu đựng được khi thấy những người vô gia cư vì một lý do nào đó mà mất công việc, nhà ở hay thậm chí mất cả gia đình, ngay cả nguyên nhân tử vong còn chưa được làm rõ đã bị đưa đi hỏa táng. Tại sao họ lại chết, liệu có khả năng họ bị cuốn vào một vụ án nào đó không… Tôi tự thấy cần phải tiến hành giải phẫu để tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề này.
Lần tắm cuối cùng
Có thể một vài người đã biết, trên đời này còn có một nghề gọi là thang quán sự*. Đây là người sẽ đưa thi hài người mất đi tắm rửa để thanh tẩy thể xác trước khi làm lễ khâm liệm. Ngoài việc tắm gội, thanh tẩy cho di hài, tùy vào trường hợp mà những người này còn hồi phục những chỗ bị tổn thương như hóa trang, trang điểm vết thương hay những chỗ hư thối rồi mới bắt đầu khâm liệm. Những người làm công việc này là những người vô cùng đáng kính trọng.
Các bác sĩ pháp y chúng tôi sau khi giải phẫu cũng sẽ trả lại các bộ phận về với nguyên trạng, khâu lại vùng da đã cắt mở và cố gắng đưa thi thể về trạng thái ban đầu. Thi thể sau đó sẽ được chuyển cho người của công ty tang lễ để khâm liệm.
Trong quá trình giải phẫu, hầu như tất cả các cơ quan trong cơ thể đều phải lấy ra ngoài để kiểm tra nên trong quá trình ấy, chúng tôi sẽ phải xử lý một lượng máu khá lớn. Thông thường, chúng tôi đều sẽ chú ý cẩn thận để máu hay các chất dịch không chảy ra ngoài thi thể hay dính vào bàn giải phẫu. Nhưng dù sao cũng không thể tránh tuyệt đối được chuyện đó. Nhiều trường hợp khi được chuyển tới phòng giải phẫu, bên ngoài thi thể đã dính đầy máu hay đất cát ở hiện trường.
Chính vì vậy, thời điểm hoàn tất giải phẫu, chúng tôi sẽ dùng thuốc tẩy, miếng bọt biển và tẩy rửa sạch sẽ toàn thân cho thi thể. Các thao tác tẩy rửa đó của chúng tôi không thể gọi là hoàn toàn giống như với các bước trong lễ mộc dục được, thế nhưng, cá nhân tôi vẫn luôn gọi đó là “lần tắm gội cuối cùng”.
Trong số các thi thể chúng tôi tiếp nhận, cũng có những thi thể mà có lẽ khi còn sống, họ từng sống độc thân, không nghề nghiệp, thậm chí suốt một thời gian dài còn không được tắm rửa. Râu tóc, móng chân móng tay của họ cứ để mặc cho dài ra, da thì ngả màu vì ghét bẩn.
Những thi thể như vậy, chỉ cần dùng miếng bọt biển với thuốc tẩy kỳ cọ là sẽ trở nên trắng sạch. Ngay cả với tóc tai của họ nữa, tồi cũng sẽ tự lẩm nhẩm “Vì là lần tắm gội cuối cùng mà” rồi chẳng ngần ngại lấy thêm bọt vào lòng bàn tay và gội đầu cho họ. Khi ấy, cho dù là thi thể nào cũng sẽ sạch sẽ, tươm tất, cứ như là một người khác vậy (hay ít nhất là tôi thấy như thế).
Trước khi qua đời, có lẽ vì lý do kinh tế mà ngay cả tắm rửa họ cũng không làm nổi. Tôi cũng chẳng thể biết được những sự tình của mỗi người, thế nhưng, cho dù là ai, trong lần cuối cùng này, tôi cũng muốn được tiễn họ trong dáng vẻ đẹp đẽ nhất.
Cái chết của trẻ sơ sinh
Trước kia, trên truyền hình từng thông báo rằng đã phát hiện thi thể của một trẻ sơ sinh trong một tủ gửi đồ khóa bằng tiền xu* ở gần ga đường sắt Sannomiya. Nghe nói người qua đường do ngửi thấy mùi hôi bất thường nên đã báo cảnh sát, sau đó cảnh sát phát hiện trong ấy có thi thể một em bé sơ sinh đã chết được một khoảng thời gian rồi. Tủ gửi đồ đó nằm ở một khu phố tấp nập ngay sát phía bắc của nhà ga Sannomiya, nơi tôi thường hay tới vào ngày nghỉ.
Ở Nhật Bản, việc “sinh thai lưu có chủ đích” (thông thường là phá thai có chủ đích) do mang thai ngoài ý muốn hay mặc dù muốn có con nhưng vì lý do kinh tế nên không thể giữ lại cũng không còn là chuyện gì hiếm lạ. Thông thường, việc sinh thai lưu có chủ đích sẽ được y tế can thiệp tại các khoa sản và tuần theo Luật hảo vệ bà mẹ và trẻ em.
Thực tế, đôi khi cũng có thi thể trẻ sơ sinh được chuyển tới chỗ chúng tôi. Và dù thật buồn khi phải nói ra điều này nhưng thực sự cũng có những trường hợp thi thể các bé sơ sinh được phát hiện trong nhà vệ sinh của các siêu thị hay trong các tủ gửi đồ gần nhà ga, giống như vụ gần nhà ga Sannomiya này. Đa phần các trường hợp ấy đều do nghèo khó, thế nhưng người ta vẫn chuyển những thi thể ấy đến chỗ chúng tôi và ủy thác giải phẫu để xác định lý do vì sao những sinh mệnh nhỏ bé ấy lại ra đi.
Khi giải phẫu thi thể trẻ sơ sinh, một điều quan trọng là cần chẩn đoán xem đứa trẻ ấy thời điểm được sinh ra có còn sống hay không. Nếu thời điểm đứa bé chết ngay khi rời khỏi cơ thể người mẹ thì được coi là “thai lưu”. Ngành pháp y gọi việc sinh một em bé còn sống là “sinh thai sống”, trái ngược với “sinh thai lưu”. Việc phán đoán đâu là “sinh thai lưu” đâu là “sinh thai sống” được giao cho chúng tôi.
Nếu em bé vẫn còn sống khi được sinh ra (sinh thai sống), người mẹ sẽ bị truy cứu vì việc chối bỏ trách nhiệm bảo hộ, chăm sóc con cái mặc dù người ta sẽ xem xét đến từng hoàn cảnh. Bởi trong trường hợp người đó biết rõ nếu để mặc như vậy thì đứa bé sẽ chết thì có thể xem xét đến cả khả năng giết người.
Khi giải phẫu thi thể em bé sơ sinh, chúng tôi trước hết sẽ lấy phổi ra, thả vào một cốc thủy tinh becher đã đựng sẵn nước. Nếu là sinh thai sống, thời điểm ra khỏi cơ thể mẹ, em bé sẽ hô hấp và trong phổi có không khí khiến phổi nổi trên mặt nước. Có thể bạn sẽ thấy khá ngạc nhiên khi thấy cách này có gì đó quen quen, nhưng phương pháp được gọi là “thí nghiệm nổi” này đã và đang được vận dụng trong ngành pháp y từ rất lâu.
Từng có một thi thể trẻ sơ sinh chuyển tới chỗ chúng tôi vào một ngày đầu mùa hạ được phát hiện trong bồn cầu tại một siêu thị. Sau khi lấy lá phổi của em bé ra và thả vào cốc nước, lá phổi ấy đã nổi lên. Vậy tức là thời điểm đến với thế giới này, em bé ấy chắc chắn còn sống.
Các thi thể trẻ sơ sinh khi được phát hiện đều không có giấy khai sinh hay sổ tay mẹ và bé* bên cạnh.
Sau khi kết thúc giải phẫu, chúng tôi nhất định phải viết “Biên bản khám nghiệm tử thi” cho thi thể. Về chi tiết của biên bản này, tôi sẽ đề cập trong Chương 5, đó là tài liệu ghi lại tên tuổi; ngày tháng năm sinh, địa điểm tử vong, nguyên nhân tử vong, loại tử vong của người đã mất.
Tương tự như vậy, khi hoàn thành giải phẫu thi thể trẻ sơ sinh, chúng tôi cũng sẽ viết “Giấy xác nhận thai lưu” hay “Biên bản khám nghiệm tử thi” như bình thường. Trong quá trình giải phẫu, nếu xác nhận đó là thai lưu thì chúng tôi sẽ viết giấy xác nhận thai lưu, trường hợp xác nhận được là thai sống thì chúng tôi sẽ viết biên bản khám nghiệm tử thi. Cột danh tính hầu như chỉ có thể viết là “không rõ”.
Tính đến nay, tôi đã viết không biết bao nhiêu biên bản khám nghiệm tử thi, lúc nào tôi cũng viết danh tính người đã mất trước tiên. Có lẽ cái tên chính là nơi gửi gắm những kỳ vọng của bố mẹ là “mong muốn nuôi con thành người”. Vậy nên, mỗi khi chứng kiến những đứa trẻ còn chưa được đặt tên đã phải rời khỏi thế gian, tôi lại thấy ngực mình đau nhói.
Mối quan hệ giữa tỷ lệ thốt nghiệp và tỷ lệ tự tử
Trong các phần trên, tôi đã kể về rất nhiều trường hợp cái chết bắt nguồn từ nghèo đói.
Hai chữ “nghèo đói” này lại trực tiếp liên quan tới vấn đề công việc. Khi bị bệnh, bị cắt giảm biên chế hay phá sản, thất nghiệp, mất đi nguồn thu nhập, con người sẽ đối mặt trực diện với nghèo đói (cho dù họ có nhận được trợ cấp xã hội thì bản chất của vấn đề vẫn không thay đổi).
Theo dữ liệu công bố của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, trong số những người tự sát năm 2015, những “người không có việc làm” gồm những người thất nghiệp hay hết tuổi lao động chiếm 59,6%. Trong đó, “vấn đề kinh tế, sinh hoạt” đứng vị trí thứ 2 trong số các động cơ tự sát. (Vị trí thứ nhất là “vấn đề sức khỏe”, so sánh giữa nam và nữ, nam giới có tỷ lệ tự sát cao hơn, đặc biệt liên quan tới những vụ tự sát của nhóm đàn ông trong độ tuổi tráng niên, lý do kinh tế lại chiếm một phần lớn. Theo Tạp chí kinh tế thần kinh học, số 111 năm 2009).
Nói đến tình trạng tự sát, nếu chỉ nhìn vào các con số ta có thể thấy trong những năm gần đây tình trạng tự sát trong xã hội đang có xu hướng giảm nhẹ, thế nhưng mỗi năm vẫn có hơn 20.000 người tự kết thúc sinh mệnh bản thân, tương đương với một ngày có hơn 50 người chết vì tự sát.
Tại các khu vực có chuyên viên giám định pháp y như Kyoto, thi thể trong các vụ tự sát đa phần đều được chuyển tới cho cơ quan giám định, còn Phòng Pháp y ở các trường đại học dường như không mấy khi nhận được từ phía cảnh sát những thi thể trong tình trạng biết rõ là chết vì tự tử (ví dụ như vẫn còn lưu lại di thư…).
Ở tỉnh Hyogo, chỉ thành phố Kobe là có hệ thống giám định nên thi thể các vụ tự sát ở ngoài khu vực này khi có bằng chứng rõ ràng hầu như đều không tiến hành giải phẫu. Thế nhưng, vẫn có những trường hợp không để lại di thư, không xác định được chắc chắn là tự sát nên thi thể sẽ được chuyển tới Phòng Pháp y.
Theo điều tra của Phòng Pháp y chúng tôi, các trường hợp tự sát chiếm 8,9% trong tổng số các trường hợp phải giải phẫu thi thể (193 trong 2179 trường hợp). Về phương thức tự sát, treo cổ chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,1% (62 trường hợp), tiếp đến là nhảy từ trên cao xuống chiếm 15,5% (30 trường hợp).
Đa phần là sau vài ngày được phát hiện, thi thể mới được giải phẫu nên thông tin tìm hiểu được về tình trạng người đã mất lúc sinh thời cũng gặp hạn chế. Chính vì vậy, có một thực tế là nếu chỉ dựa vào giải phẫu tử thi thì rất khó có thể xác định được có phải là tự sát hay không.
Ví dụ, cho dù phương thức tự sát của người Nhật đa phần đều là treo cổ, thế nhưng liệu người đó có thực sự tự sát không, hay bị ai đó sát hại bằng cách treo cổ. Chuyện đó khó lòng chỉ dựa vào giải phẫu và khẳng định được.
Ngoài ra, các trường hợp tự tử trong nước cũng rất khó phán đoán. Cho dù có giải phẫu một thi thể nổi trên mặt biển và biết nguyên nhân dẫn đến tử vong là “đuối nước” thì nhiều trường hợp cũng không thể chắc chắn được là người đó tự lao mình xuống biển hay bị trượt chân ngã hoặc là bị ai đó xô xuống. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta còn cần phải dựa vào các điều tra của cảnh sát sau đó.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp trong quá trình giải phẫu, chúng tôi sẽ phát hiện ra các vết thương do hung thủ sử dụng các vật nặng tấn công gây nên hay dấu hiệu nạn nhân bị chuốc thuốc mê, hoặc cũng có thể là dấu vết ngụy tạo thành một vụ treo cổ tự tử. Việc điều tra xem nguyên do như thế nào mà đi đến cái chết chính là công việc của pháp y.
Tính mạng con người trị giá 5 triệu yên?
Vào một chiều nọ, thi thể một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi được chuyển tới chỗ chúng tôi. Trên ngực trái của người đó có nhiều dấu vết bị đâm, và chúng tôi được yêu cầu giải phẫu tư pháp cho một vụ án mạng chưa rõ kẻ tình nghi.
Trên ngực trái nạn nhân còn lưu lại tổng cộng 5 chỗ có dấu vết bị đâm. Mỗi vết đâm dài khoảng 3-4cm, thoạt nhìn thì đây là vết thương do dao sắc. Những vết đâm ấy đều tập trung trong một phạm vi hẹp ở ngực trái, ngoài ra, trên người nạn nhân không còn vết thương nào đáng chú ý khác.
Thời điểm nhìn thấy thi thể ấy, tôi đã thầm thở phào.
“Đây có lẽ là một vụ tự sát cũng nên.”
Khi đó, tôi đã nghĩ như vậy.
Trên ngực trái của nạn nhân tổng cộng có 5 vết dao đâm với độ lớn tương tự nhau, và tất cả đều hướng thẳng tới tim. Nếu như đây không phải là một vụ tự sát mà là một vụ ám sát do kẻ nào đó gây ra thì sẽ rất khó giải thích vì sao cả 5 vết thương liên tục chỉ có ở ngực trái và còn xếp đều nhau. Bởi trong trường hợp tấn công, ắt hẳn xảy ra tranh chấp giữa thủ phạm và nạn nhân nên vết đâm chắc chắn sẽ không thể trật tự được như thế.
Chỉ trừ là nếu nạn nhân bị chuốc thuốc hay rượu và thủ phạm nhân lúc nạn nhân bất tỉnh mà đâm thì câu chuyện lại rẽ sang một hướng khác. Mới bước đầu quan sát bên ngoài thi thể nền chúng tôi không thể hoàn toàn phủ định khả năng nạn nhân bị sát hại. Điều quan trọng là chúng tôi phải thu thập chứng cứ khách quan còn lưu lại trên thi thể. Trong quá trình tác nghiệp, chúng tôi sẽ phải vừa cẩn thận để tránh suy luận sai, vừa phải thận trọng tiến hành giải phẫu.
Khi cắt mở lồng ngực trái nơi có vết dao đâm, thi thể nạn nhân hiện rõ những vết thương do dao gây ra. 5 vết dao đâm ấy có độ sâu khác nhau, có vết khá nông chỉ đến được tầng hạ bì, có vết lại dừng lại ngay trước tim.
Chỉ có duy nhất 1 vết đâm được đến tận tim. Đây chính là vết thương chí mạng.
Trong trường hợp tự sát, về cơ bản chỉ có vết thương chí mạng. Khi đã có vết thương chí mạng ấy rồi, nạn nhân rất khó có thể tự làm mình bị thương hơn nữa. Trong trường hợp có tới 5 vết dao đâm như người đàn ông này, ngoài vết thương chí mạng, còn lại hầu như đều chưa tới được tim hay dù có tới được nhưng cũng chỉ tạo ra thương tổn nhỏ cho bản thân.
Trong trường hợp đây là một vụ án mạng, chắc hẳn nạn nhân sẽ phải có nhiều vết thương tới tim, hay trên ngón tay nạn nhân phải lưu lại các “vết thương phòng vệ” trong lúc tranh chấp với hung thủ.
Nguyên nhân dẫn tới cái chết của người đàn ông này là “chết do mất máu” bởi một nhát dao đâm vào tận tim. Tôi xác định đây là một vụ “tự sát” bằng dao.
Sau khi giải phẫu xong, trong lòng tôi lại có chút gì đó nhẹ nhõm. Hy vọng các bạn đừng hiểu nhầm, thâm tâm tôi vẫn rất thương tiếc trước sự ra đi của người đàn ông này, đó là điều không thay đổi, thế nhưng, khi xác định được sự thật là không có chuyện một gã sát nhân nào đó hiện đang nhởn nhơ ở ngoài, tôi lại cảm thấy yên tâm hơn đôi chút. Giờ đây, tôi cũng dần cảm thấy bác sĩ pháp y quả là một ngành kỳ quặc.
Theo phía cảnh sát cho hay, có lẽ người đàn ông đó do nợ nần túng quẫn quá nên đã tự kết liễu bản thân. Nhà máy nơi anh ta làm việc bị đóng cửa, anh ta rơi vào cảnh thất nghiệp và có khoản nợ lên đến 5 triệu yên.
Chuyện người tự sát ôm một khoản nợ lớn cũng thường xảy ra, và theo những báo cáo từ phía cảnh sát, khoản nợ của những người như vậy thường trên dưới 5 triệu. Ít nhất theo cảm nhận của tôi, một món nợ 5 triệu yên dường như đã tạo thành gánh nặng quá lớn khiến người ta cảm thấy không thể sống nổi. Ngược lại, có lẽ nếu có 5 triệu yên thì con người cũng không phải chọn lựa cái chết.
Tính mạng con người trị giá 5 triệu yên - suy nghĩ ấy cứ không ngừng hiện lên trong đầu tôi.
“Chết vì nghèo đói”. Cho dù chỉ gói gọn trong một câu ngắn như vậy nhưng thực tế lại có rất nhiều kiểu chết khác nhau. Có người vì nghèo đói mà mắc bệnh chết, có người lại lựa chọn tự giết chết chính mình.
Đây chính là bộ mặt đời thường của xã hội Nhật Bản hiện đại, là chuyện có thể xảy ra với bắt cứ ai.

