Sự Trung Thực Của Xác Chết - Chương 04
Sự khác biệt sau khi chết
Con người sau khi chết sẽ thế nào?
Giả dụ bây giờ bạn đã chết.
Liệu bạn đã bao giờ thử tưởng tượng sau khi chết, thân thể bạn sẽ thay đổi ra sao chưa?
“Chết” cũng là lúc “trái tim ngừng đập”. Khi đó, đương nhiên máu sẽ ngừng chảy đến khắp toàn thân. Dòng máu không còn được tuần hoàn đó dưới tác động của trọng lực sẽ theo mạch máu chảy về vùng thấp của thân thể.
Ví dụ, nếu bạn chết trong trạng thái nằm ngửa, máu sẽ tập trung đọng lại ở phía sau lưng. Bạn có thể tưởng tượng nó giống như một vết bầm lớn ẩn dưới da không thể nhận biết được bằng mắt. Khoảng một tiếng sau khi chết, màu sắc của khối máu tụ này có thể nhận biết rõ ràng khi nhìn từ ngoài da. Đây chính là “hồ máu tử thi”.
Khoảng 4, 5 tiếng sau khi chết, máu sẽ thấm ra ngoài mạch máu khiến sắc đỏ của máu chìm xuống các tế bào dưới biểu bì như các mô mỡ nơi các hồ máu tử thi xuất hiện khiến sắc tố trên da được cố định. Khoảng 8-12 tiếng sau khi chết, sắc đỏ sẽ hoàn toàn chìm xuống các tế bào dưới biểu bì và màu sắc đã được cố định sẽ không thể thay đổi được nữa.
Khi giải phẫu thi thể, chúng tôi sẽ dùng “ngón tay” để xác định xem màu của hồ máu tử thi đã được cố định tại điểm đó hay chưa.
Nếu là mới chết, khi dùng ngón tay ấn xuống, màu sắc của hồ máu tử thi tại khu vực đó sẽ biến mất. Đó là do máu trong các mạch máu ấy vẫn chảy được nên khi dùng ngón tay ấn xuống sẽ tạo áp lực khiến máu tại khu vực đó di chuyển. Tuy nhiên, nếu sắc đỏ trong máu chìm xuống các tế bào bên ngoài mạch máu, cho dù có dùng tay ấn xuống thì màu sắc của hồ máu tử thi cũng không mất đi. Sau nhiều năm công tác, chỉ cần dùng ngón tay ấn vào hồ máu tử thi và quan sát sự thay đổi màu sắc là tôi có thể phán đoán đoán được đại khái thời gian tử vong của người đó.
Ví dụ trường hợp trên thi thể xuất hiện hồ máu tử thi ở cả phía sau lưng lẫn phía ngực. Ta biết rằng hồ máu tử thi không thể chảy ngược trọng lực để xuất hiện ở phía trên được nên chứng tỏ người này đã chết được vài giờ rồi, các sắc tố bắt đầu chìm xuống các tế bào dưới biểu bì bên ngoài mạch máu và vẫn còn khả năng di chuyển. Thi thể chắc chắn đã bị lật lại.
Giả sử đây là một vụ án giết người, vậy có thể giữa chừng, thi thể đã bị thủ phạm lật lại. Đây chính là những thông tin mà chỉ có thủ phạm mới biết được. Nếu lời khai của hung thủ là đã thay đổi tư thế thi thể nạn nhân một lần khoảng 5-7 tiếng sau khi nạn nhân chết thì đây sẽ trở thành một chứng cứ quan trọng trong vụ án.
Tình trạng xuất hiện hồ máu tử thi ở cả hai phía của thân thể như vậy chúng tôi gọi là “hồ máu tử thi hai mặt”.
Đây chính là chi tiết quan trọng chứng tỏ có những thay đổi tại thời điểm người đó tử vong hay tại thời điểm phát hiện thi thể, ví dụ tại thời điểm tử vong, người đó trong tình trạng nằm úp sấp, nhưng sau khi chết khoảng 5-7 tiếng, vì một nguyên nhân nào đó mà thi thể lại chuyển thành nằm ngửa. Cũng có khi gia đình phát hiện người thân mất trong tình trạng nằm sấp tại nhà nên đã lật người để thi thể nằm ngửa đúng vào khoảng thời gian đó nên xuất hiện hồ máu tử thi cả ở phía bụng lẫn lưng. Xuất hiện hồ máu tử thi hai mặt cũng là trường hợp có thể xác định khá chính xác thời gian tử vong của người đó.
Ngoài ra, dựa vào màu sắc của hồ máu tử thi cũng có thể suy đoán được nguyên nhân dẫn đến tử vong.
Trong những trường hợp như “ngộ độc xyanua” hay “ngộ độc cacbon monoxit”, màu sắc của máu có đặc trưng là đỏ tươi hơn bình thường nên màu sắc của hồ máu tử thi sẽ thiên về màu đỏ. Trong khi đó, với những trường hợp “ngộ độc hydro sunfua” thường xuất hiện rất nhiều trong các thi thể người tự sát vào khoảng 10 năm về trước thì màu sắc của hồ máu tử thi lại gần với màu xanh lục. Màu sắc của hồ máu tử thi, hay thực chất là màu sắc của máu, sẽ thay đổi tùy vào việc huyết sắc tố hemoglobin có trong hồng cầu đã kết hợp với hợp chất hóa học nào. Hemoglobin kết hợp với cacbon monoxit hay xyanua sẽ tạo thành màu đỏ tươi, kết hợp với sunfua cho ra màu gần với màu xanh lục.
Như vậy, hồ máu tử thi vốn rất quan trọng trong việc xác định nguyên nhân tử vong. Tuy nhiên, tôi cũng đã gặp khó khăn trong nhiều lần xác định như thế này. Đó là khi tôi giải phẫu thi thể của những người xăm hình toàn thân hay thi thể của những du học sinh người da đen.
Với xăm hình, đặc biệt là xăm hình truyền thống Nhật Bản, hồ máu tử thi rất dễ lẫn với hình xăm nên khó có thể xác định được hồ máu nằm ở đâu, có màu sắc như thế nào. Còn với thi thể của những du học sinh người da đen, do ẩn dưới một lớp da sẫm màu nên nếu chỉ nhìn qua thì khó có thể xác định có xuất hiện hồ máu tử thi hay không. Những điều như vậy cũng không được đề cập trong những tài liệu về pháp y mà tôi đã đọc từ trước tới nay. Qua đây tôi hy vọng các bạn hiểu được tầm quan trọng của việc thực hành.
Trong chương này tôi sẽ tập trung đề cập tới những vấn đề “sau khi chết”. Tất nhiên, trong đó cũng sẽ tồn tại những “khác biệt” mà tôi sẽ dần giải thích thêm.
Xác định thời gian tử vong
Một trong những thay đổi tiêu biểu của thi thể sau khi chết chính là “co cứng tử thi”.
Con người sau khi chết, các khớp thường khó cử động do sự biến đổi hóa học xảy ra trong cơ thịt. Đương nhiên, việc cử động các cơ khớp ở đây không phải là bản thân người chết mà là các bác sĩ giải phẫu pháp y chúng tôi. Mặc dù cơ thể đã chết nhưng quá trình co cứng này thông thường sẽ diễn ra dần dần với tất cả các khớp trong cơ thể, từ trên xuống dưới, từ cằm, cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, ngón tay, hông, đầu gối, cổ chân, ngón chân. Sau khoảng nửa ngày, tất cả các khớp trên cơ thể đều sẽ căng cứng lại. Một người 80kg như tôi dù dùng hết sức để duỗi khớp khuỷu tay của thi thể nhưng cũng chẳng thể xê xích được gì.
Với pháp y, việc ghi chép lại thông tin chi tiết về tình trạng co cứng của các khớp, xem tình trạng co cứng tử thi đã xảy ra tới phần nào có thể giúp xác định thời gian tử vong một cách tương đối. Khi tử thi xuất hiện tình trạng co cứng mạnh tới khớp khuỷu tay nhưng các khớp ngón tay lại chưa hoàn toàn co cứng, vẫn có thể co duỗi được một phần thì ta có thể dự đoán là người đó mới chết khoảng 6 tiếng hoặc chưa tới nửa ngày…
Khi tử thi hoàn toàn co cứng, tức là khoảng một ngày sau khi chết, thi thể sẽ bắt đầu mềm trở lại (trạng thái “thư giãn”). Khoảng 3,4 ngày sau khi chết, thi thể lại trở về trạng thái mềm nhũn.
Tuy nhiên, sự thay đổi trạng thái ấy là do những phản ứng hóa học trong các cơ thịt gây ra nên người có nhiều cơ thịt sẽ diễn ra sự co cứng mạnh. Ngược lại, người cao tuổi ít các cơ thịt lại tương đối mềm. Ngoài ra, nếu người chết vào thời điểm mùa hè, nhiệt độ cao sẽ khiến các phản ứng hóa học xảy ra nhanh hơn nên tình trạng co cứng cũng xuất hiện sớm hơn, còn trường hợp chết vào mùa đông sẽ ngược lại. Nếu người đó đột tử trong lúc đang vận động, các cơ bắp trong tình trạng đang hoạt động nên cũng nhanh chóng xảy ra phản ứng co cứng.
Nói cách khác, tình trạng co cứng tử thi bị chi phối rất lớn bởi thể chất từng người cũng như môi trường xung quanh. Vậy nên việc xác định thời gian tử vong dựa vào tình trạng co cứng tử thi cũng chỉ có thể dừng lại ở mức “tương đối”.
Mặt khác, so với hồ máu tử thi hay co cứng tử thi thì sự thay đổi thân nhiệt sau khi chết lại ít bị các yếu tố tác động nên xác định sớm sự thay đổi thân nhiệt sẽ giúp ích nhất cho việc xác định thời gian tử vong.
Như đã đề cập đến trong Chương 2, sau khi chết, cơ thể sẽ ngừng sinh nhiệt nên nhiệt độ cơ thể của tử thi sẽ hạ dần xuống mức bằng với nhiệt độ môi trường ngoài. Ví dụ, nhiệt độ bên ngoài là 22 độ C, nếu nhiệt độ trực tràng của thi thể là 23 độ C tức là thi thể này gần như đã giảm nhiệt hoàn toàn.
Tất nhiên, tốc độ giảm thân nhiệt cũng phụ thuộc vào môi trường đặt thi thể hay các yếu tố thân thể của từng người, tuy nhiên nếu theo điều kiện tiêu chuẩn, thông thường cứ cách một tiếng thì thi thể sẽ giảm xuống 1 độ C. Mặc dù cũng cần cân nhắc đến vấn đề thay đổi nhiệt độ theo từng mùa nhưng về cơ bản trước khi thi thể hạ nhiệt hoàn toàn ta có thể xác định được tương đối thời điểm tử vong.
“Hồ máu tử thi”, “co cứng tử thi” và “mát lạnh tử thi” trong pháp y được gọi là các “hiện tượng biến đổi tử thi giai đoạn đầu”, những hiện tượng này đều xuất hiện trên thi thể trong khoảng thời gian tương đối sớm sau khi tử vong và đóng vai trò quan trọng trong công tác điều tra.
Từng có trường hợp một người lặng lẽ ra đi trong căn phòng của mình. Phía sau lưng người đó xuất hiện hồ máu tử thi, khi dùng ngón tay ấn vào, hồ máu hầu như không di chuyển. Nhiệt độ phòng khi đó là 15 độ C trong khi nhiệt độ trực tràng của thi thể lại là 25 độ C. Tình trạng co cứng đang diễn ra mạnh và lan đến khớp ngón tay. Từ những hiện tượng biến đổi tử thi giai đoạn đầu này, chúng ta có thể suy đoán người này chết trong tư thế nằm ngửa và đã chết được khoảng nửa ngày.
Trong khi đó, những hiện tượng “nhìn là biết” như “phân hủy”, “hóa xác ướp”, “hóa xương trắng” đã được đề cập trong Chương 2, Chương 3 lại được gọi là các “hiện biến đổi tử thi giai đoạn sau”. Những hiện tượng này cần phải nắm bắt chặt chẽ nhiều yếu tố bên ngoài khác như nhiệt độ, độ ẩm, thông gió… nên người giám định chỉ có thể nhìn trực tiếp tình trạng tổn thương của thi thể và phán đoán dựa vào những kinh nghiệm lầu năm của bản thân. Do đó, không gì có thể quan trọng hơn việc phát hiện sớm thi thể sau khi chết. Bởi nếu được phát hiện trong tình trạng đang diễn ra các hiện tượng biến đổi tử thi giai đoạn đầu thì sẽ dễ dàng xác định được nguyên nhân tử vong cũng như thời gian tử vong của thi thể.
Việc phải đối diện, xử lý những thay đổi trên thân thể con người sau khi chết và nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân tử vong chính là “nghiệp vụ hằng ngày” của những người làm ngành pháp y chúng tôi.
Thực trạng “giải phẫu pháp y” của Nhật Bản
Nếu gói gọn trong một câu thì những thi thể được giải phẫu tại các Phòng Pháp y chính là thuộc loại “thi thể dị trạng”. Đó là những thi thể dị thường, chết do những nguyên nhân ngoài nguyên nhân “chết bệnh” như bác sĩ vẫn kết luận ngay sau khi họ trút hơi thở cuối cùng hay thi thể không xác định được nguyên nhân, trạng thái tử vong. Ví dụ, cho dù một người chết trong bệnh viện nhưng nếu được kết luận là tử vong bất thường, tùy theo từng trường hợp mà bác sĩ sẽ phải làm báo cáo tử vong bất thường cho trường hợp ấy. Cảnh sát sau khi nhận được thông báo trước hết sẽ tiến hành kiểm tra thi thể hay nói cách khác là giám định tình trạng tử thi và quyết định có giải phẫu hay không.
Ở Nhật, ví dụ trong năm 2013, cảnh sát đã nhận được trình báo về việc phát hiện 169.047 thi thể dị trạng (loại trừ những trường hợp chết do liên quan đến tai nạn giao thông hay chết trong thảm họa động đất, sóng thần Tohoku). Trong đó, 514 thi thể thuộc về “thi thể hình sự” đã được xác nhận là tử vong do bị sát hại và 20.339 trường hợp thuộc về “thi thể đáng ngờ” do có “nghi vấn” liên quan đến án mạng hình sự (theo thống kê của Cơ quan cảnh sát Quốc gia). Với những trường hợp có tính hình sự hay có nghi ngờ liên quan đến vụ án hình sự, trong trường hợp phía cảnh sát cần khám nghiệm tử thi, cảnh sát sẽ gửi thư yêu cầu “giải phẫu tư pháp” tới Phòng Pháp y của trường đại học.
Ngành pháp y thường được cho là chỉ xử lý những trường hợp giải phẫu tư pháp như vậy, tuy nhiên, thực tế trong số những thi thể chúng tôi tiếp nhận lại không có nhiều thi thể bị nghi ngờ liên quan đến vụ án hình sự ngay từ lúc phát hiện. Cụ thể, các báo cáo cũng chỉ ra rằng những thi thể được trình báo với cảnh sát trong năm 2013 hầu hết đều là thi thể thuộc nhóm không rõ nguyên nhân tử vong, thân phận và “không mang tính hình sự”. Có 148.194 trường hợp như vậy.
Với những thi thể ấy, khi được xác định cần giải phẫu, phía cảnh sát sẽ gửi yêu cầu “giải phẫu điều tra” hay “giải phẫu chấp thuận” tới Phòng Pháp y của các trường đại học của các khu vực thụ lý. Tại một số khu vực (23 quận ở Tokyo, Osaka, Kobe) việc giải phẫu tử thi còn được tiến hành với vai trò là “giải phẫu giám định pháp y” do cơ quan “giám định pháp y” thực hiện.
Có lẽ vì hiện nay, cụm từ “bác sĩ giám định pháp y” thường hay xuất hiện trên tivi, phim ảnh nên nhiều người thường nhầm lẫn những người này với những người hoạt động tại Phòng Pháp y của các trường đại học, tuy nhiên về nguyên tắc, cơ quan giám định pháp y không tiến hành giải phẫu các thi thể nghi ngờ mang tính hình sự. Đây là cơ quan được thành lập với mục đích nâng cao ý thức “sức khỏe cộng đồng” thông qua việc thực hiện giải phẫu và làm sáng tỏ nguyên nhân tử vong của các thi thể được nghi ngờ là chết do các bệnh truyền nhiễm, trúng độc hay do thiên tai hoặc các thi thể dị trạng không có tính hình sự.
Thực tế, các trường đại học vẫn có thể tiến hành giải phẫu ngoài phòng pháp y. Trong phần này, tôi muốn giới thiệu tới các bạn về phân loại giải phẫu được thực hiện ở các trường đại học. Giải phẫu ở các trường đại học được chia thành ba loại như dưới đây.
1. Giải phẫu thống kê: phục vụ cho học tập môn giải phẫu học của sinh viên do Tổ bộ môn Giải phẫu học tiến hành.
2. Giải phẫu bệnh lý: để chứng nhận chẩn đoán, điều tra tác dụng điều trị của những người đã mất tại bệnh viện do Tổ bộ môn Bệnh lý học tiến hành.
3. Giải phẫu pháp y: nhằm điều tra tội phạm hay tìm hiểu nguyên nhân tử vong do Phòng Pháp y tiến hành.
Trong ba loại trên, chúng tôi vẫn thường thực hiện loại 3, giải phẫu pháp y.
Đối với hơn 160 nghìn thi thể được trình báo mỗi năm, cảnh sát sẽ dựa theo tình hình cụ thể để yêu cầu thực hiện một trong bốn loại giải phẫu pháp y là “giải phẫu tư pháp”, “giải phẫu điều tra”, “giải phẫu giám định”, “giải phẫu chấp thuận”, từ đó cố gắng tìm ra nguyên nhân tử vong cho từng trường hợp. Tuy nhiên, tỷ lệ giải phẫu này không thể nói là đủ để đáp ứng tình hình hiện nay.
Theo Cơ quan cảnh sát Quốc gia, số thi thể được phía cảnh sát tiếp thu xử lý năm 2015 là 162.881 thi thể. Trong đó, số thi thể được giải phẫu tư pháp là 8.424 thi thể, giải phẫu điều tra là 2.395 thi thể và giải phẫu chấp thuận cùng giải phẫu giám định là 9.302 thi thể, tổng cộng mới có 20.121. Như vậy, tỷ lệ thi thể được giải phẫu chỉ chiếm 12,4%. So với tỷ lệ giải phẫu 11,7% của năm trước cho thấy tỷ lệ thi thể được giải phẫu có tăng lên đôi chút nhưng vẫn còn khá thấp nếu so với các nước phát triển khác.
Mặc dù không xảy ra trong khu vực tiếp nhận giải phẫu của trường đại học chúng tôi, nhưng trước kia ở khu vực Kansai từng xảy ra trường hợp bỏ sót tội phạm giết người liên quan đến tiền bảo hiểm.
Thời điểm phát hiện, thi thể của nạn nhân đã không được giải phẫu mà mãi sau này, nhờ công tác điều tra người ta mới phát giác là một vụ án giết người. Số trường hợp “bỏ sót tội phạm” như vậy theo những số liệu thống kê của Cơ quan cảnh sát Quốc gia là 45 trường hợp từ sau năm 1998. Trong đó có 41 trường hợp thi thể nạn nhân không được giải phẫu mà chỉ dựa vào giám định tình trạng tử thi hay điều tra hiện trường để đưa ra phán đoán sai lầm về nguyên nhân tử vong hay tính chất hình sự của vụ án (ngoài ra, có 12 trường hợp nếu sau đó có tiến hành điều tra xác nhận tiền bảo hiểm cũng có khả năng phát giác ra vụ án hình sự giết người). Xét đến số vụ án bỏ sót tội phạm mà Cơ quan cảnh sát Quốc gia chưa thống kê được nhiều đến mức nào, nếu cân nhắc đến tỷ lệ giải phẫu tử thi chỉ chiếm 12% như trên, có lẽ mọi người sẽ phải lạnh sống lưng nếu nói không có “vụ án bị che giấu” nào cả.
Trong những năm gần đây, số ca giải phẫu pháp y đang tăng nhanh ở bất cứ phòng pháp y nào của Nhật. Và như tôi đã đề cập nhiều lần trong các phần trước, nguyên nhân của tình trạng này được cho là có liên hệ lớn tới vấn đề gia tăng các thi thể dị trạng tại thời điểm tử vong do sự gia tăng số người sống một mình trong xã hội. Trong thực tế, ngay tại Phòng Pháp y chúng tôi, số ca giải phẫu pháp y trong năm đã tăng gấp hai lần so với 10 năm trước, cụ thể ngay trong năm 2015 chúng tôi đã giải phẫu 320 thi thể, hay nói cách khác gần như là ngày nào chúng tôi cũng tiến hành giải phẫu tử thi.
“Chênh lệch” về tỷ lệ giải phẫu
Mặc dù vậy, cho dù yêu cầu giải phẫu có tăng lên thì số bác sĩ đạt chứng nhận tiến hành giải phẫu pháp y lại không tăng thêm. Trên cả nước hiện tại có khoảng 80 phòng pháp y và các bác sĩ đạt chứng nhận chuyên ngành pháp y đang làm việc tại các phòng pháp y này vào khoảng 150 người. Con số này thực không khác gì với số lượng cá thể ước tính của loài “mèo Iriomote”, loài động vật quý hiếm cấp quốc gia và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Nghe nói, nếu so sánh với bác sĩ chuyên khoa về tim mạch hay tiêu hóa thì tỷ lệ chỉ có 1 phần 100.
Chính từ tình trạng thiếu nhân lực như vậy mà không ít tỉnh thành chỉ có một trường đại học đảm nhiệm việc giải phẫu và trong trường cũng chỉ có một bác sĩ giải phẫu phụ trách công việc. Kết quả là tỷ lệ giải phẫu ở Nhật Bản không thể tăng lên.
Thực tế, mặc dù số ca giải phẫu thi thể có tăng lên nhưng tùy theo tình hình của từng tỉnh thành mà tỷ lệ giải phẫu lại có “chênh lệch” khá lớn.
Năm 2015, trong khi tỉnh Kanagawa có tỷ lệ giải phẫu cao nhất đạt 39,2% thì tỉnh Hiroshima với tỷ lệ thấp nhất chỉ có 1,5% (Theo điều tra của Cơ quan cảnh sát Qụốc gia). Tỉnh Hyogo nơi trường đại học chúng tôi trực thuộc có tỷ lệ giải phẫu 33,4% đứng ngay sau tỉnh Kanagawa, tuy nhiên tỷ lệ này có được phần nhiều do tỉnh có hai trường đại học tiếp nhận giải phẫu và một cơ quan giám định pháp y của thành phó Kobe, tiến hành rất nhiều ca giải phẫu mỗi ngày.
Nói cách khác, dù nhìn nhận được vấn đề tỷ lệ giải phẫu thấp nhưng thực tế, nếu không tăng được số trường đại học tiếp nhận giải phẫu hay số bác sĩ pháp y thì đây vẫn là vấn đề hạn chế về lao động.
Trong thực tế, lượng sinh viên trong các khoa y có hứng thú với pháp y lại nhiều hơn sức tưởng tượng.
Tại nhiều khoa y của các trường như trường đại học chúng tôi, các sinh viên vào thời điểm nhất định đều có cơ hội học thêm các bộ môn cơ bản khác ngoài các bộ môn lâm sàng. Khi nhận đơn đăng ký môn học, chúng tôi đều nhận được khá nhiều đơn đăng ký có nguyện vọng học pháp y.
Ở nơi tôi công tác, việc phân vào các lớp học sẽ được quyết định theo thành tích, vậy nên những sinh viên theo học pháp y đều có thành tích rất tốt. Tuy nhiên, hầu hết các sinh viên sau khi tốt nghiệp lại không đi theo con đường pháp y nữa. Đa phần mọi người thường cho rằng nội dung của bộ môn pháp y dễ nắm bắt hơn các bộ môn y học cơ bản khác, đồng thời họ cũng mang tâm trạng muốn được một lần xem giải phẫu pháp y là như thế nào khi đến với môn học này, thế nhưng cuối cùng họ vẫn lựa chọn làm bác sĩ lâm sàng. Tôi đương nhiên cũng không có bất cứ phàn nàn gì với nguyện vọng cá nhân của từng người, tuy nhiên tôi vẫn luôn đau đáu với hiện trạng không thể truyền tải được những ý nghĩa xã hội của pháp y học tới các sinh viên y khoa ngày nay.
Có lẽ rằng giải phẫu pháp y sẽ thay đổi trong tương lai, thế nhưng tôi tin là nó sẽ không bị đào thải như một thứ không còn cần thiết cho xã hội. Bởi với những vụ án mang tính hình sự hay những trường hợp tìm hiểu nguyên nhân cái chết, tình trạng vết thương của những thi thể dị trạng, nếu không có những phán đoán của các chuyên gia có am hiểu và kiến thức về pháp y thì xã hội mà chúng ta đang sống này không thể nào vận hành tốt được. Cũng bởi lẽ đó, việc bồi dưỡng những y bác sĩ trẻ có đam mê với pháp y đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Thi thể được ủy thác theo yêu cầu của cảnh sát
Ngày hôm đó, chúng tôi được cảnh sát yêu cầu giải phẫu thi thể một phụ nữ khoảng 30 tuổi. Đây là ủy thác yêu cầu giải phẫu chấp thuận nên chúng tôi cũng cảm thấy thoải mái hơn một chút. Khác với giải phẫu tư pháp, giải phẫu chấp thuận đều là các thi thể không bị nghi ngờ tính hình sự, chỉ cần chú trọng tới vấn đề tìm hiểu nguyên nhân tử vong. Thêm vào đó, giải phẫu chấp thuận là giải phẫu được sự chấp thuận của gia đình người đã mất nên những thông tin liên quan như thân thế nạn nhân đều đã được xác định phần nào.
Người phụ nữ ấy qua đời 2 tuần sau khi tổ chức lễ cưới, tức là không lâu sau tuần trăng mật của cô. Người này đã đột tử tại nhà sau khi quay về từ chuyến du lịch 1 ngày.
Theo lời kể của người chồng, cô ấy không xuất hiện tình trạng gì khác lạ. Buổi sáng hôm đó, sau khi tỉnh giấc, anh ta đã thấy vợ mình nằm bất động ở ngoài hành lang.
Người phụ nữ này nghe nói từng có tiền sử bệnh cao huyết áp. Thế nhưng người ta vẫn chưa tìm được nguyên nhân tại sao cô ấy lại không chết trong phòng ngủ mà lại chết ở ngoài hành lang… Từ chuyện có tiền sử mắc bệnh cao huyết áp, phía cảnh sát cũng có suy đoán phải chăng người phụ nữ này chết vì phát tác bệnh nào đó; vậy nên theo sự chấp thuận của người chồng; phía cảnh sát đã gửi yêu cầu giải phẫu thi thể người phụ nữ này.
Lúc bước vào phòng giải phẫu, nhìn thấy thi thể người phụ nữ trên bàn, tôi cảm giác có điều gì đó là lạ mặc dù tôi không thể diễn tả được thành lời.
Sau đầu thi thể có một vết bầm nhỏ, ngoài ra không ghi nhận được các vết thương đặc biệt khác. Điều đáng chú ý ở đây chính là hai vết xước nhỏ ở giữa gáy.
Tôi nhìn lại gương mặt người phụ nữ một lần nữa.
Là vậy sao…
Giờ thì tôi đã hiểu cảm giác là lạ ban đầu là gì. Đó là gương mặt người phụ nữ này đỏ ửng khác thường. Phần đầu và phần mặt của thi thể có máu đọng, hay chắc chắn là bị sung huyết. Khi kiểm tra kết mạc (phần bên trong mi mắt) tôi cũng nhận thấy có các chấm đỏ ở đó. Các chấm này gọi là chấm xuất huyết, là tình trạng xuất huyết thành các đốm hay xuất hiện trên da hay niêm mạc của những người chết đột tử như treo cổ…
Tiếp tục, tôi rạch mở lớp da từ cổ xuống ngực, đi xuống bụng và kiểm tra các cơ quan dưới biểu bì, xác nhận phía trước các cơ ở hai bên cổ cũng có các chấm xuất huyết cỡ hạt đậu đỏ.
Tại thời điểm này, tôi ngừng việc giải phẫu, bởi tôi xác định không thể tiếp tục làm giải phẫu chấp thuận trong trường hợp này. Tôi trao đổi với cảnh sát tham gia giám sát về việc thực hiện thủ tục yêu cầu giải phẫu tư pháp.
Khi thực hiện giải phẫu tư pháp, chúng tôi cần có giấy phép thẩm định hay còn gọi là lệnh giải phẫu do tòa án cấp. Tờ lệnh này cũng tương tự với lệnh khám xét dùng khi cảnh sát cần khám nhà, một cảnh hay xuất hiện trong các bộ phim hình sự. Trong trường hợp xác định có tính hình sự, cụ thể là trong trường hợp này, thi thể người chết chính là một loại “chứng cứ” nên chúng tôi cần giấy phép để giải phẫu chứng cứ này. Đồng thời chúng tôi cũng cần có giấy ủy thác thẩm định từ phía cảnh sát. Nội dung của giấy tờ này là yêu cầu chúng tôi tiến hành điều tra các yếu tố khác ngoài nguyên nhân tử vong hay thời gian sau tử vong như ước tính độ tuổi, có uống thuốc độc hay không…
Nói tóm lại, tại thời điểm xác nhận các chấm xuất huyết cỡ hạt đậu đỏ phía trước các cơ ở cổ, tôi đã xác định “đây là vụ án giết người” hay “ít nhất đây cũng là trường hợp cần phải nghi ngờ điều đó”. Nếu vậy, mọi chuyện sẽ không hợp lý nếu tôi tiếp tục tạo ra các vết thương trên thi thể mà không có giấy phép của tòa án. Bởi lẽ thi thể này chính là bằng chứng của một vụ giết người.
Người chồng xuống tay với vợ
Trước hết, tôi xin nói trước kết quả của vụ án này. Người phụ nữ ấy đã bị bóp cổ và chết vì ngạt thở.
Tạo áp lực lên vùng cổ là phương pháp giết người phổ biến nhất ở Nhật Bản. Chính vì thế, khi học pháp y, chúng tôi đều được học rất chi tiết về các đặc trưng trên thi thể người chết vì ngạt thở do tạo áp lực lên vùng cổ. Và trên thi thể người phụ nữ này cũng để lại những đặc trưng như thế.
Gương mặt xung huyết, niêm mạc nhiều chấm xuất huyết, tổ chức dưới biểu bì ở vùng cổ bị xuất huyết… Nếu chỉ có gương mặt ửng đỏ và niêm mạc xuất hiện chấm xung huyết thì khó có thể kết luận liệu người đó có chết do bị tạo áp lực lên vùng cổ hay không do vẫn còn nhiều bệnh khác gây đột tử dẫn đến các dấu hiệu tương tự. Tuy nhiên, với trường hợp của người phụ nữ này, do xác định được cả dấu vết xuất huyết ở các tổ chức dưới biểu bì vùng cổ, thậm chí là ở cả vùng gốc lưỡi vốn là dấu vết từ việc tạo áp lực lên cổ nên tôi chỉ đưa đến một kết luận này.
Thông thường, cho dù một người có ý định tự bóp cổ để tự sát thì giữa chừng do mất đi ý thức mà không thể duy trì áp lực đó nên trên thực tế cách làm này không có khả năng xảy ra. Tiếp đến, ở sau gáy của người phụ nữ ấy có hai vết xước, hai vết xước này được suy đoán là vết thương do ngón tay hoặc móng tay tạo thành khi hung thủ dùng tay bóp cổ nạn nhân. Với trường hợp này, không thể nghi ngờ khi xác định đây là vụ án giết người hoặc ít nhất cũng là nghi ngờ có yếu tố giết người.
Vậy rốt cuộc ai lại có thể ra tay sát hại một người phụ nữ vừa mới kết hôn được chứ. Sau khi tiến hành điều tra, thật khó tin, hung thủ lại được xác định chính là người chồng, người đã đồng ý làm giải phẫu thi thể nạn nhân ban đầu. Nghe nói tối hôm đó vì một vài chuyện vụn vặt mà hai vợ chồng cãi nhau và trong lúc nóng giận, anh ta đã bóp cổ vợ mình.
Cảnh sát cũng không tìm được dấu vết của kẻ đột nhập từ bên ngoài vào và cũng chẳng thể ngờ được là thực sự người chồng đã tự tay giết chết người vợ vừa mới cưới của mình nên đã phán đoán đây là trường hợp chết bất đắc kỳ tử khi gia đình còn đang mặn nồng hạnh phúc. Do đó, họ mới đưa ra yêu cầu giải phẫu chấp thuận.
Tuy nhiên, nếu người chồng nạn nhân không chấp thuận giải phẫu, vậy có lẽ thi thể người vợ sẽ bị đem đi hỏa táng, được xử lý thành cái chết bất ngờ hoặc cũng có thể là chết bệnh. Và ta phải thực hiện loại giải phẫu nào mới điều tra được những điều đó. Đôi khi, tùy vào phán đoán của cảnh sát mà cũng có thể đưa đến những kết quả rất khác nhau.
Phương pháp giết người phổ biến nhất
Theo điều tra từ năm 2003 đến năm 2012 tại Phòng Pháp y chúng tôi, phương pháp giết người phổ biến nhất chính là “tạo áp lực lên cổ”. Ngay cả trong các vụ tự sát thì một phần ba trường hợp đều tự sát bằng “treo cổ”. Có thể thấy trong những “cái chết” cố ý ở Nhật, rất nhiều người vẫn nghĩ đến việc “tạo áp lực lên vùng cổ” trước tiên.
Theo pháp y, các phương pháp tạo áp lực lên vùng cổ dẫn đến cái chết được chia thành ba loại như dưới đây.
1. Thắt cổ: phương pháp lợi dụng trọng lượng của chính bản thân, treo cổ trên một sợi dây cố định.
2. Siết cổ: phương pháp giết người sử dụng các hung khí như sợi dây (các vật dài) để siết cổ nạn nhân.
3. Bóp cổ: phương pháp giết người dùng bàn tay để tạo áp lực lên cổ.
Thắt cổ thường được sử dụng để tự sát và trong trường hợp này, pháp y sẽ gọi cái chết đó là “chết vì thắt cổ” thay vì “treo cổ” như bình thường.
Trong khi đó, siết cổ hay bóp cổ hầu như đều là các phương pháp để sát hại người khác. Việc sử dụng các phương pháp này để giết người lần lượt được gọi là “siết cổ giết người”, “bóp cổ giết người” và như vụ án trên, người phụ nữ cũng bị bóp cổ tới chết.
Dù là thắt cổ, siết cổ hay bóp cổ thì đều để lại những dấu vết tạo áp lực lên vùng cổ của thi thể. Nếu dùng dây siết, vùng da ở cổ sẽ hằn lại rất rõ vết siết của dây thừng, nếu dùng tay bóp cổ, có trường hợp sẽ còn nguyên vết hằn đỏ hình ngón tay trên cổ. Và những dấu vết một khi đã tạo thành ấy dù trải qua thời gian vẫn sẽ được giữ nguyên trên thi thể. Chính những dấu vết này sẽ chỉ rõ cho chúng ta biết “hung khí” sát hại nạn nhân.
Đến đây, tôi có một câu hỏi muốn gửi tới các bạn đọc: Con người tại sao lại chết khi bị tạo áp lực lên cổ?
“Vì khi đó con người không thở được và bị ngạt”.
Câu trả lời này là chính xác.
Tuy nhiên, so với ngạt thở thì việc máu không lên được trên não lại gây tác động lớn hơn cả.
Não bộ là cơ quan rất yếu ớt nếu thiếu oxy. Chỉ cần vài phút không có oxy, các tế bào thần kinh sẽ chết. Và phương tiện vận chuyển oxy lên não bộ chính là các mạch máu “động mạch” từ tim hướng lên não. Nếu đặt thử ngón tay lên hai bên trái và phải của cổ, bạn có thể cảm nhận được nhịp đập thịch thịch vang lên đều đặn. Hai bên cổ đều có một động mạch lớn đi qua, và khi bị tạo áp lực, việc vận chuyển máu trong hai động mạch này sẽ bị tắc nghẽn dù không hoàn toàn. Chính vì vậy oxy không được vận chuyển lên não và dẫn đến tử vong.
Ngoài ra, thi thể của người chết do bị tạo áp lực đè ép lên cổ thường có phần mặt xung đỏ. Thời điểm cổ bị đè ép, lưu thông máu dễ bị đình chỉ trong tĩnh mạch hơn là trong động mạch. Thành động mạch khá dày trong khi thành tĩnh mạch lại tương đối mỏng. Chỉ cần tạo áp lực, tĩnh mạch ngay lập tức sẽ bị ép xuống khiến lưu thông máu bên trong bị ngừng trệ. Nếu muốn lưu thông trong động mạch ở hai bên cổ hoàn toàn ngừng lại ta sẽ cần một sức khá lớn. Chính vì thế, khi dùng sức đè ép lên cổ, lưu thông máu trong động mạch mặc dù không bình thường nhưng vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, cùng một lực như vậy lại gần như có thể làm ngừng trệ hoàn toàn lưu thông trong tĩnh mạch.
Khi đó, cơ thể rơi vào trạng thái lưu thông máu từ tim lên não bộ mặc dù ít nhưng vẫn được duy trì trong khi chiều lưu thông từ não bộ về tim lại bị chặn đứng hoàn toàn. Vì lẽ đó, máu bị ứ đọng ở phần não bộ khiến đầu của nạn nhân xảy ra tình trạng đỏ ửng.
Với các thi thể chết ngạt do bị tạo áp lực lên cổ, chúng tôi nhất định phải xác nhận hai dấu hiệu đặc biệt dễ nhận thấy ở “miệng” và “hậu môn” của thi thể.
Trước hết là với miệng. Khi tạo áp lực lên cổ, phần gốc lưỡi sẽ bị chèn ép mạnh nên nhiều trường hợp đầu lưỡi sẽ bị đẩy ra ngoài hàm răng. Khi giải phẫu, có lẽ bất cứ phòng pháp y nào cũng sẽ ghi chép lại về vị trí giữa đầu lưỡi và hàm răng. Trong trường hợp đầu lưỡi thò ra ngoài hàm răng, tùy theo tình trạng khi phát hiện thi thể mà phải tính đến trường hợp chết do tạo áp lực lên vùng cổ. Ngoài trường hợp này, trường hợp chết cháy hay chết bệnh do các bệnh như viêm phổi cũng dẫn đến các tình trạng tương tự như trên.
Ngoài ra, trong một vài trường hợp chết ngạt do tạo áp lực lên cổ còn có hiện tượng đại tiểu tiện hay đại tiện mất tự chủ. Hiện tượng này được cho là trong quá trình tạo áp lực lên cổ sẽ xảy ra hiện tượng co giật ở các cơ, đồng thời thần kinh giao cảm của cơ thể cũng bị kích thích khiến huyết áp tăng lên. Nhiều trường hợp phía cảnh sát sẽ cởi y phục của thi thể để giám định tình trạng tử thi trước nên khi được chuyển đến phòng giải phẫu, thi thể ở trạng thái ở trần. Do đó phía pháp y cũng cần nghe những thông tin của cảnh sát có mặt tại hiện trường phát hiện thi thể để biết có hiện tượng tiểu tiện hay đại tiện mất tự chủ hay không.
“Chênh lệch” trong điều tra chất độc
Có lẽ nhiều độc giả vẫn còn nhớ đến “Vụ án giết người hàng loạt bằng xyanua” được truyền thông đưa tin rộng rãi năm 2014. Đây là vụ án về những cái chết đáng ngờ liên tiếp xảy ra do một loại chất độc là xyanua được tiến hành điều tra dưới sự hợp tác của cảnh sát 4 tỉnh thành là Osaka, Kyoto, Hyogo và Nara, cuối cùng, một người phụ nữ sống ở Kyoto đã bị bắt giữ.
Người phụ nữ ấy bị bắt giữ do bị nghi ngờ đã dùng xyanua để đầu độc và sát hại những người đàn ông độc thân cao tuổi quen biết thông qua trung tâm mai mối hôn nhân. Vụ án này đã thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng bởi thủ đoạn của hung thủ là lợi dụng nỗi cô độc của những người đàn ông cao tuổi cô đơn vì ly dị hay mất bạn đời.
Vụ án này lần đầu được phát giác vào năm 2013. Kết quả của cuộc giải phẫu tư pháp thi thể một người đàn ông 75 tuổi sống tại Kyoto chết tại nhà đã phát hiện trong máu và dạ dày của nạn nhân có chứa một chất độc cực mạnh là xyanua với liều lượng vượt ngưỡng gây tử vong.
Quá trình điều tra sau đó đã phát hiện ra rằng có nhiều người đàn ông cao tuổi khác liên quan đến người vợ nạn nhân sống ở các khu vực như Osaka hay Hyogo cũng đều nhận phải những cái chết đáng ngờ. Truyền thông đưa tin cho biết, ít nhất cũng phải có khoảng 8 người như vậy. Thêm vào đó, hai trong số những người này đều là nam giới sống ở tỉnh Hyogo, địa phương tôi chịu trách nhiệm giải phẫu.
Thời điểm nghe được tin tức này, tôi thấy chột dạ. Bản thân tôi cho tới lúc đó không hề nhớ rằng mình đã ghi vào mục nguyên nhân tử vong của một biên bản khám nghiệm tử thi nào là “Ngộ độc xyanua”. Khi đó, tôi đã nghĩ rằng phải chăng dù có giải phẫu thi thể của những người đàn ông chết đáng ngờ như vậy tôi cũng không nhận ra được vấn đề ngộ độc xyanua, do đó dẫn đến những phán đoán sai lầm.
Ngày hôm sau, tôi đến trường đại học và vội vàng lật lại những ghi chép giải phẫu tôi đã làm, thế nhưng lại không thấy bất cứ một ghi chép nào về việc đã giải phẫu thi thể người bị hại trong một vụ án nào đó. Hay nói cách khác, hai người bị hại trong phạm vi khu vực tiếp nhận giải phẫu của tôi ngay từ đầu đã không được phía cảnh sát yêu cầu giải phẫu pháp y.
Có lẽ dựa vào tình trạng qua đời tại thời điểm phát hiện thi thể, phía cảnh sát đã xác định không có tính chất hình sự và xử lý thành trường hợp “chết bệnh”. Và khi đó, những bằng chứng về chất độc xyanua nếu vẫn còn lưu lại bên trong thi thể thì cũng biến mất do hỏa táng.
“Nếu nạn nhân đầu tiên (năm 1994) được giải phẫu và được xác định là ngộ độc xyanua thì có lẽ sẽ không xuất hiện những nạn nhân sau này nữa.”
Suy nghĩ ấy chợt hiện lên trong đầu tôi. Thế nhưng sau đó tôi cũng đã nghĩ lại, nếu thi thể ấy được đưa đến chỗ tôi, liệu rằng tôi có thể nhận ra là người đó bị ngộ độc xyanua hay không?
Trong giải phẫu pháp y, có khá nhiều trường hợp được kiểm tra chất độc. Cụ thể, ở trường hợp giải phẫu tư pháp thường sẽ có một mục là “nồng độ độc dược” trong danh sách các mục được ủy thác điều tra từ phía cảnh sát.
Trong các trường hợp chết do trúng độc hay do tác dụng phụ của thuốc, ví dụ như trên thi thể người “chết do ngộ độc phốt pho hữu cơ” sẽ có đặc điểm là đồng tử thu nhỏ (co đồng tử), tuy nhiên thông thường rất ít khi phát hiện được các đặc trưng giải phẫu với các trường hợp trúng độc. Không thể xác định được người chết do uống thuốc độc hay không nếu chỉ dựa vào vẻ ngoài hay quan sát các cơ quan nội tạng. Nếu không làm các phân tích máu, nước tiểu và phát hiện độc tố thì rất khó để có thể kết luận một người chết do trúng độc.
Kết quả phân tích của các trường hợp tử vong do trúng độc cho biết nồng độ tử vong của nhiều loại độc dược trong máu. Nếu thời điểm tiến hành giải phẫu có chích máu làm phân tích thì có thể điều tra được trong người nạn nhân có loại thuốc độc gì, với nồng độ là bao nhiêu. Và thông qua việc so sánh nồng độ ấy với nồng độ tử vong, ta có thể xác định loại thuốc độc này có liên quan đến nguyên nhân tử vong của nạn nhân hay không.
Mặc dù vậy, việc đưa ra kết luận “trúng độc xyanua” lại vô cùng khó. Thông thường, việc kiểm tra chất độc để phát hiện có xyanua trong thi thể nạn nhân là loại kiểm tra cực kỳ đặc thù và chỉ được tiến hành khi có nghi ngờ rõ ràng. Nghe nói cho đến giữa thời Showa*, người dân vẫn có thể dễ dàng lấy được hợp chất xyanua dùng cho công nghiệp nên đầy được coi là một phương pháp tự sát phổ biến thời đó. Tuy nhiên, đến thời hiện đại ngày nay, xyanua hầu như không còn được dùng để tự sát nữa, bản thân tôi trước kia cũng chưa một lần giải phẫu thi thể chết vì trúng độc xyanua. Thực trạng hiện nay chính là nếu không có nghi ngờ và điều tra “đặc biệt” thì không thể xác định được trúng độc xyanua.
Thông thường, trong trường hợp có nghi ngờ về trúng độc, chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra máu, nước tiểu và những thứ còn lại trong dạ dày của thi thể. Trong thời gian gần đây, người ta thường dùng một thiết bị gọi là khối phổ kế*, đây là một thiết bị chuyên dụng có giá hơn 10 triệu yên, để phân tích máu, nước tiểu…, xác định xem thi thể chứa các thành phần gì với hàm lượng, nồng độ bao nhiêu. Tùy theo loại độc dược mà có trường hợp không cần dùng đến khối phổ kế mà sẽ sử dụng hệ thống sắc ký khí (thiết bị phân tích được dùng để xác định chủng loại hay nồng độ của các hợp chất hóa học dễ bay hơi) để phân tích.
Ở Nhật Bản, khối phổ kế thường được dùng để phân tích thành phần các loại thuốc như thuốc kích thích, thuốc an thần… Tuy nhiên, do có giá thành cao nên không phải phòng pháp y nào cũng được đầu tư thiết bị này.
Tại Phòng pháp y chúng tôi, thiết bị này cũng chỉ mới được trang bị từ vài năm trước. Hiện tại, chúng tôi đều sử dụng thiết bị này để tiến hành kiểm tra chất độc với tất cả trường hợp giải phẫu tư pháp, tuy nhiên, với các loại giải phẫu khác, vì lý do chi phí hay chuyên viên phân tích nên không thể tiến hành với tất cả trường hợp.
Với trường hợp ở Kyoto, có lẽ khi ấy các chuyên viên ở đó đã phát hiện “thứ gì đó” khiến họ nghi ngờ tới chất độc xyanua này. Ví dụ, thông thường bên trong dạ dày chắc chắn sẽ có tính axit do axit dạ dày tiết ra, tuy nhiên hợp chất xyanua trong dung dịch nước lại cho tính kiềm mạnh. Chính vì vậy, trong những thứ như dịch nôn của nạn nhân sẽ cho tính kiềm mạnh. Ngoài ra, các huyết sắc tố hemoglobin trong máu của nạn nhân sẽ kết hợp rất chặt chẽ với các nhóm xyano trong hợp chất xyanua khiến máu của người bị trúng độc có màu đỏ tươi tương tự với trường hợp chết cóng. Và các bác sĩ cũng có thể sẽ bỏ sót những “khả năng” như vậy.
Dù khả năng trúng độc xyanua có thể bị bỏ qua đi chăng nữa nhưng nếu tiến hành giải phẫu tử thi, nhiều trường đại học tiếp nhận giải phẫu vẫn sẽ lưu giữ mẫu máu của thi thể lấy được trong quá trình giải phẫu.
“Theo thông tin nhận được từ cơ quan điều tra cho biết, đã phát hiện phản ứng xyanua từ dịch trong dạ dày của người đàn ông đã tử vong trong thời gian xác định quan hệ với nghi phạm X (68 tuổi). Nghi phạm này hiện đã bị tạm giam do bị tình nghi là hung thủ giết người trong vụ án giết người hàng loạt bằng chất độc xyanua. Khoang miệng và thực quản của nạn nhân không có hiện tượng phân hủy do xyanua. Người đàn ông này được cho là đã ngã quỵ sau vài phút lái xe máy và có khả năng cao đã uống viên con nhộng có chứa xyanua. Cảnh sát Osaka hiện đang nghiêng về giả thuyết người đàn ông này đã uống xyanua vài phút trước khi ngã.
Cũng theo cơ quan điều tra, một người đàn ông thất nghiệp tên là Y (71 tuổi) từng xác định có quan hệ với nghi phạm, sống ở thành phố Kaizuka, Osaka vào chiều ngày 9/3/2013 đã đột ngột ngã quỵ khi đang lái xe máy trong thành phố Izumisano, Osaka, và đã qua đời tại bệnh viện. Từ mẫu máu được lưu trữ tại trường đại học nơi tiếp nhận giải phẫu pháp y đã phát hiện có lượng xyanua gấp đôi liều lượng gây tử vong. Trong dịch dạ dày của nạn nhân cũng phát hiện có xyanua”. (Theo báo Mainichi Shimbun, số ngày 31/1/2015.)
Người đàn ông nghi bị người phụ nữ kia sát hại năm 2012 đã được đưa đi giải phẫu và được kết luận là ‘chết bệnh do tim ngừng đập đột ngột”. Tuy nhiên, từ những kết quả điều tra trong vụ án ở Kyoto, phía cảnh sát đã lật lại hồ sơ, tái kiểm tra mẫu máu được lưu giữ tại trường đại học tiếp nhận giải phẫu và kết quả cho thấy trong máu của nạn nhân có chứa chất độc xyanua với liều lượng gấp đôi liều lượng gây tử vong. Chỉ cần lưu giữ được mẫu máu thì vẫn có khả năng tiếp tục điều tra dù đã trải qua thời gian dài sau khi giải phẫu thi thể.
Tuy nhiên, với những thi thể không được giải phẫu như hai trường hợp trong khu vực tiếp nhận giải phẫu của tôi, do không lưu lại được cả mẫu máu nên không thể làm
Sự khác biệt sau khi chết kiểm tra chất độc và xác định nạn nhân tử vong do trúng độc xyanua.
Cuối cùng, người phụ nữ đó chỉ bị khởi tố với cáo buộc sát hại bốn người đàn ông, còn với bốn người còn lại, phía cảnh sát đi đến kết luận “Về nguyên nhân đã được cho là chết bệnh trước đó, chúng tôi đã điều tra lại các ghi chép tại thời điểm đó nhưng không có đủ bằng chứng chứng tỏ người chết bị trúng độc” (Theo báo Yomuiri Online số ngày 6/11/2015). Theo đó, cảnh sát không đủ bằng chứng để khởi tố kẻ tình nghi với tội danh sát hại bốn người đàn ông còn lại và kết thúc điều tra.
Cũng vào tháng 11 năm 2015, tất cả các tờ báo đều đăng tải tin tức rằng sau vụ án giết người hàng loạt bằng xyanua xảy ra tại Kyoto, Osaka này, Cơ quan cảnh sát Quốc gia đã ra chỉ thị từ năm 2016, hầu hết các thi thể được cảnh sát tiếp nhận xử lý đều phải tiến hành kiểm tra chất độc. Hiện tại, các cơ quan cảnh sát trên toàn quốc đã được triển khai bộ dụng cụ xét nghiệm để tiến hành kiểm tra thành phần độc tố như xyanua trong mẫu máu thu được trên các thi thể.
Những trường hợp “đầu tiên” như vậy bao giờ cũng là những trường hợp khó khăn nhất. Nhưng chúng sẽ trở thành trường hợp tham khảo chung cho các trường hợp sau này, và đôi khi, ngay cả hệ thống giải phẫu cũng sẽ thay đổi theo.
Những điều nhận ra được từ hỗn hợp trong dạ dày
Tôi cũng muốn giới thiệu qua với các bạn về công tác kiểm tra những thứ trong dạ dày khi giải phẫu pháp y.
Nếu bạn cảm thấy “bụng dạ khó chịu” và đi đến bệnh viện, thông thường, các bác sĩ sẽ kiểm tra niêm mạc dạ dày bằng phương pháp nội soi để xem bạn có bị viêm loét hay ung thư dạ dày hay không.
Các bác sĩ pháp y chúng tôi cũng sẽ kiểm tra lớp niêm mạc dạ dày này. Tôi từng có kinh nghiệm giải phẫu cho thi thể chết vì xuất huyết niêm mạc dạ dày cấp tính sau khi uống thuốc giảm đau. Khi đó, các mạch máu trên niêm mạc đã xuất hiện tình trạng xuất huyết. Ngoài ra, các thi thể chết cóng cũng vậy. Tình trạng xuất huyết này trông không khác gì “vân báo” và là đặc trưng gần như không tìm thấy ở thi thể nào khác ngoài thi thể chết cóng. Cũng có trường hợp, việc kiểm tra, quan sát niêm mạc dạ dày như vậy giúp ích cho việc phán đoán nguyên nhân tử vong của thi thể.
Tuy nhiên, đối tượng mà chúng tôi chú ý hơn cả lại không phải là niêm mạc dạ dày mà là những thứ được đưa vào dạ dày hay nói cách khác là hỗn hợp các chất trong dạ dày. Người này đã đưa vào cơ thể những gì, liều lượng ra sao, nếu là đồ ăn thì là đồ ăn như thế nào, đang được tiêu hóa ở mức độ ra sao. Dựa vào việc điều tra những yếu tố này chúng tôi có thể xác định người này tử vong cách thời gian ăn bữa ăn cuối cùng là bao lâu.
Nói đến mức độ tiêu hóa thức ăn trong dạ dày thì hạt gạo là thứ dễ nhận biết nhất. Ít nhất thì ở một mức độ nhất định, các biên bản giải phẫu đều ít nhiều đề cập đến phần cơm đang được tiêu hóa như thế nào.
Trong quá trình giải phẫu, chúng tôi sẽ không cắt rời dạ dày với tá tràng, tụy mà sẽ lôi tất cả ra khỏi cơ thể, đặt trên bàn giải phẫu, dùng kéo cắt một đoạn dạ dày và chụp ảnh lại. Tiếp đến, chúng tôi sẽ lấy hỗn hợp trong dạ dày vào một dụng cụ như một chiếc muôi kim loại và chuyển vào cốc becher để đo dung tích. Thông thường, hỗn hợp này đạt khoảng 700ml là khá nhiều.
Với người uống thuốc liều lượng lớn để tự tử, có trường hợp sẽ phát hiện nhiều viên nén vẫn còn trong dạ dày của thi thể. Tùy từng loại thuốc sẽ dẫn đến các tình trạng khác nhau, nhưng thông thường, nhiều loại thuốc được kê cho người bệnh nếu không uống với liều lượng tương đối lớn sẽ không dẫn đến tình trạng ngộ độc. Cũng từng có trường hợp trong dạ dày thi thể phát hiện còn hơn 100 viên thuốc dạng nén hay các loại bột trắng chất thành một đống lớn cỡ nắm tay. Phân tích hỗn hợp có trong dạ dày giúp xác định các thông tin như người chết trước đó đã uống loại thuốc gì, loại thuốc đó có phải là nguyên nhân dẫn đến tử vong hay không và người này làm sao có được loại thuốc đó…
Trước kia, tôi từng gặp trường hợp trong dạ dày của thi thể có cả vỏ thuốc PTP rỗng (lớp bọc thuốc viên làm bằng nhôm và nhựa). Tôi nhớ trường hợp này là thi thể của một người đàn ông cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ và đã uống cả thuốc lẫn vỉ thuốc.
Nếu vỉ thuốc PTP này cứ thế được đào thải ra ngoài cơ thể thì chuyện nhầm lẫn chỉ kết thúc ở đây. Tuy nhiên, trong khoang ngực của thi thể lại xuất hiện “áp xe”. Áp xe hay nói cách khác chính là ổ tụ mủ. Có vẻ như phần góc cạnh nào đó của vỏ thuốc đã đâm vào niêm mạc thực quản. Do đó, trong quá trình ăn uống, có thể những co bóp đã tác động khiến đầu cạnh này rạch một lỗ hổng trên niêm mạc thực quản.
Phía trong thực quản (phía có niêm mạc) được nối liền với khoang miệng. Hay nói cách khác, thực quản có một đầu có thể thông ra với bên ngoài cơ thể và thực sự nơi đây tràn ngập các vi khuẩn. Mặt khác, phía bên ngoài của thực quản lại là khoang ngực nơi chứa các cơ quan khác như tim, phổi. Lồng ngực vốn dĩ là một khoảng không vô khuẩn, tuy nhiên nếu thực quản bị hổng một lỗ vì một lý do nào đó, các vi khuẩn có thể tràn vào khoảng không này.
Với trường hợp của người đàn ông trên, ông ấy đã mắc một bệnh truyền nhiễm nặng dẫn đến tử vong. Rất có khả năng vỏ thuốc PTP tìm thấy trong quá trình giải phẫu đã làm tổn thương niêm mạc thực quản và khiến vi khuẩn xâm nhập được vào khoang ngực của ông ấy. Chỉ là để một ổ áp xe có thể phát triển nặng tới mức gây mất mạng cũng cần phải có quá trình diễn ra đến vài ngày. Cũng có thể từ trước đó, người đàn ông này đã uống cả vỏ thuốc và khiến niêm mạc thực quản bị tổn thương từ lâu nên chúng tôi không thể kết luận chắc chắn được.
Mặc dù dạ dày cũng là một cơ quan nội tạng nhưng nơi đây lại ẩn giấu rất nhiều “ký hiệu” như vậy. Công việc của chúng tôi chính là giải đáp từng ký hiệu ấy để tìm ra nguyên nhân tử vong của những thi thể này.

