Tây Du Ký - Chương 80: Gái ma giả dạng cầu đôi lứa Sải thánh cao tài biết phải chăng

Gái trẻ thèm chồng tìm bạn lứa

Ngộ Không giữ chú biết yêu tà

Vua tôi và dân chúng nước Tỳ Kheo đưa bốn thầy trò Đường Tăng ra khỏi thành, tới hai mươi dặm đường vẫn chưa chịu dứt về, Tam Tạng gắng gượng xuống xe, từ giã mọi người rồi lên ngựa ra đi. Những người tiễn chân đứng trông theo mãi đến khi không thấy bóng mới quay trở về.

Bốn thầy trò đi đã lâu ngày, lại gặp khi xuân tàn hạ hết, ngắm xem chẳng xiết hoa nội cây rừng, cảnh vật tươi tốt. Trước mặt lại thấy hiện ra một tòa núi cao, sườn dốc.

Tam Tạng lo sợ gọi hỏi:

- Đồ đệ, núi cao trước mặt, có lối đi hay không? Cần phải cẩn thận.

Hành Giả cười nói:

- Sư phụ nói vậy, không phải là người đi đường trường, chẳng khác gì cái bọn công tử vương tôn ngồi đáy giếng nhìn trời, xưa có câu: “Trèo núi không ngại đường, đường sẽ thông qua núi”. Sao lại nói có đường hay không có đường?

Tam Tạng nói:

- Đã đành là trèo núi không ngại đường, nhưng sợ những chốn dốc cao nhiều quái vật, nơi sâu mù mịt sẵn yêu tinh.

Bát Giới nói:

- Xin yên tâm! Xin yên tâm! Chốn này cách nơi cực lạc chẳng còn bao xa, hẳn là thái bình vô sự.

Thầy trò vừa đi vừa trò chuyện, thoắt đã đến dưới chân núi Hành Giả cầm gậy Như Ý đi lên trên núi, đến nơi sườn đá gọi bảo:

- Sư phụ ạ, đường núi đến chỗ này phải rẽ, rảo bước lên, đi mau! Đi mau!

Tam Tạng yên tâm giục ngựa.

Sa Tăng bảo:

- Anh hai ơi, anh hãy gánh đỡ tôi một vai.

Bát Giới vội đỡ lấy gánh quẩy đi. Sa Tăng khoác lấy cương ngựa, sư phụ ngồi vững trên yên theo Hành Giả đi lên đường cái trên núi. Nhìn lên thấy núi ấy:

Mây mù lồng đỉnh núi, róc rách nước khe trong. Trăm hoa hương khắp chốn, muôn hốc kín như bưng. Mơ xanh, mận trắng, liễu lục, đào hồng. Cuốc kêu khắc khoải, mùa xuân hết; yến hót líu lo, tế xã xong. Đá lởm chởm, thông xòe rung. Long lanh lồi lõm; đường núi trập trùng. Sườn dốc như vách dựng, lau lách quấn lung tung. Nghìn chòm đá mọc đầy gươm giáo, muôn dài khe tuôn sóng bập bùng.

Sư phụ ngắm nhìn cảnh núi chợt nghe có tiếng chim kêu, lại động niềm lữ thứ, nhớ đến quê nhà, dừng ngựa lại gọi:

Đồ đệ!

Từ thuở thiên bài truyền chỉ xuống

Cẩm bình phong nọ nhận quan văn.

Quan đăng thập ngũ, rời Đông Thổ

Cùng với vua Đường thiên địa phân.

Mới hay long hổ phong vân hội

Giờ lại thầy trò ảo mã quân.

Đi hết vu sơn phong thập nhị

Bao giờ đối tử thấy đường kim[71]

Hành Giả nói:

- Sư phụ thường hay nhớ nhà như thế không phải là người xuất gia, xin cứ yên tâm mà đi, đừng lo nghĩ gì hết! Xưa có câu: “Muốn cầu sinh phú quí, phải dụng tử công phu”.

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ ạ, con nói tuy phải lẽ, nhưng đường sang Tây Thiên không biết còn xa đến đâu?

Bát Giới nói:

- Sư phụ ạ, đức phật Như Lai không dứt bỏ được bộ kinh Tam Tạng, biết chúng mình muốn lấy đi, nên mới làm ra như thế, nếu không thì làm sao mãi không thấy đến!

Sa Tăng nói:

- Đừng tán nhảm, hãy theo anh cả mà đi, có công đi mãi thế nào cũng có ngày đến!

Thầy trò đương chuyện vãn, lại trông thấy một cánh rừng thông lớn tối mù.

Đường Tăng sợ hãi, lại gọi bảo:

- Ngộ Không, chúng mình vừa mới vượt qua đường núi gập ghềnh, làm sao lại gặp ngay rừng thông đen tối thế kia? Phải nên để ý.

Hành Giả nói:

- Không sợ gì!

Tam Tạng nói:

- Con nói chi thế! “Không tin cái thẳng trong việc phải thẳng, nên phòng điều bất nhân của người nhân”. Ta và con đã đi qua biết bao rừng thông, chưa từng thấy khu rừng nào sâu thẳm thế này. Con hãy xem kìa:

Đông tây kín mít tận khung xanh, nam bắc thành hàng liền khói biếc. Chung quanh gai góc lua tua kết, trên dưới song mây quấn quýt cành. Mây chằng bụi sắn, khó đường cho khách bộ hành. Sắn quấn dây mây, nghẽn lối những người buôn bán. Trong rừng ấy, ở nửa năm nào thấy trăng, trời; đi mấy dặm có đâu tinh tú. Kìa chỗ âm u nhiều cảnh trí, nọ nơi sáng sủa lắm hoa thơm. Lại có những: hòe nghìn năm, trắc năm tuổi, thông chịu rét, quả sơn đào, hoa thược dược, phù dùng cạn, lố nhố từng chòm từng đống, bút thần tiên khó vẽ nên tranh. Lại ríu rít: quẹt mách lẻo, cuốc kêu hè, vẹt xám chuyền cành, quạ đen mớm mẹ, oanh vàng múa khéo, chim khiếu hót hay, tu hú kêu, yến tập nói, chú sáo non học người nói chuyện, cậu họa mi cũng biết xem kinh. Lại thấy cả: Hùm già giương vuốt, báo lớn vẫy đuôi, cáo trắng lâu đời trang gái đẹp, sói vàng nhiều tuổi thét rừng sâu. Dù là Tháp Tháp thiên vương đến chăng nữa, có tài hàng quái cũng mê hồn.

Tôn đại thánh ngang nhiên không sợ, cầm gậy sắt tiến lên mở một lối rộng, dẫn Đường Tăng đi vào rừng sâu, ung dùng thơ thẩn, đi bộ nửa ngày chưa thấy lối ra khỏi rừng.

Đường Tăng gọi bảo:

- Đồ đệ, từ khi sang Tây, biết bao nhiêu núi rừng hiểm trở, may có chốn này u nhã, đường lối phẳng phiu, trong rừng cỏ lạ hoa thơm, thực là vừa lòng hợp ý: Ta muốn ngồi đây một lát, một là cho ngựa nghỉ, hai là trong bụng đã đói, con đi nơi nào xin một tí cơm về cho ta ăn.

Hành Giả nói:

- Mời sư phụ xuống ngựa, để lão Tôn đi xin cơm.

Trưởng lão nghe lời xuống ngựa, Bát Giới dắt ngựa buộc vào gốc cây, Sa Tăng đặt hành lý xuống, lấy bát tộ ra, đưa cho Hành Giả.

Hành Giả nói:

- Sư phụ cứ ngồi yên đấy, không sợ gì cả, con đi sẽ về ngay.

Tam Tạng trang nghiêm ngồi dưới bóng cây thông, Bát Giới, Sa Tăng cùng đi tìm hoa kiếm quả chơi đùa.

Hành Giả lộn người đi, nhảy lên trên không, đứng giữa đám mây, ngoảnh nhìn bốn phía, chỉ thấy ở giữa rừng thông mây lành lấp lánh. Bỗng nhiên buột miệng kêu lên:

- Tốt thay! Tốt thay!

Tại sao đại thánh lại kêu tốt như vậy? Số là để khen ngợi Đường Tăng, nói rõ người là Kim Thuyền trưởng lão thác sinh, một người tốt mười đời tu hành, cho nên mới có mây lành ánh đẹp che trên đầu.

Y tự nhủ: như lão Tôn đây, năm trăm năm trước, cái hồi đại thiên cung, ngao du góc bể, phóng khoáng bên trời, họp yêu tinh, tự xưng Tề Thiên đại thánh, hàng long phục hổ, tiêu hủy sổ tử, đầu đội chiếc mũ vàng ba cấp kim quang, mình mặc bộ áo giáp hoàng kim, tay cầm cây gậy bịt vàng, chân dận đôi giày bộ vân lý, thủ hạ có bốn vạn bảy nghìn đàn yêu, đều tôn mình là đại thánh gia gia, cũng thực đã nên người. Ngày nay thoát khỏi thiên tai, làm việc hèn mọn, theo thầy làm đồ đệ nghĩ tới thầy trên đầu có mây lành ánh đẹp che trùm, trở về Đông Thổ, hẳn là được tốt đẹp, lão Tôn cũng nhất định được thành chính quả.

Đương lúc tự nhủ như thế, chợt nhìn thấy ở phía nam rừng có một đám khí đen, đương ngùn ngụt bốc thẳng lên cao Hành Giả sợ nói:

- Trong khí đen tất có yêu tà; Bát Giới, Sa Tăng nhà mình không biết làm ra khí đen ấy đâu.

Đại thánh ở trên không trung, nhìn xét chưa ra.

Lại nói Tam Tạng ngồi ở trong rừng, sáng lòng rõ tính, đang tụng kinh chợt nghe lanh lảnh có tiếng kêu “cứu tôi với!”

Tam Tạng sợ hãi nói:

- Lạ quá! Lạ quá! Trong rừng sâu thế này, sao lại có tiếng người kêu? Có lẽ người nào vì sợ lang trùng hổ báo mà ngã chăng, để ta đến xem.

Trưởng lão đứng dậy dời gót luồn qua cây trắc nghìn năm lách khỏi gốc thông muôn tuổi, bám sắn níu dây, đến gần xem xét, thấy có một người con gái bị trói ở gốc cây to, nửa trên mình bị dây sắn trói vào thân cây, nửa bên dưới bị chôn xuống đất.

Trưởng lão đứng vững chân hỏi:

- Nữ bồ tát, vì việc gì lại bị trói ở đây?

Ôi! Tên này rõ ràng là yêu quái, Đường Tăng người trần mắt thịt không nhìn ra được.

Thấy Đường Tăng đến hỏi, yêu quái nước mắt ràn ra như suối, má đào lệ nhỏ, vẻ người càng cá lặn chim sa; mắt phượng ngậm thương, nét mặt thêm hoa nhường nguyệt thẹn. Đường Tăng không dám đến gần, lại căn vặn hỏi thêm:

- Nữ bồ tát, đích xác có tội lỗi gì, nói thực với bần tăng mới có thể cứu!

Yêu tinh kia lại khéo trả lời:

- Thưa sư phụ, nhà tôi ở nước Bần Bà, cách đây hơn hai trăm dặm, cha mẹ hãy còn, rất thích làm việc thiện, nhất sinh hòa thuận anh em thân thích, yêu bè mến bạn. Nay gặp tiết thanh minh, hai thân mời cả họ đương cùng với già trẻ trong nhà đi tảo mộ tổ tiên, một đoàn kẻ kiệu người ngựa, ra cả nghĩa trang ngoài đồng. Đến trước mộ, sắp hàng cúng lễ, vừa mới đốt vàng mã, bỗng nghe tiếng trống giục chiêng hồi, một toán kẻ cướp xô ra, cầm dao vác gậy, hò hét xốc tới, chúng tôi đều cuống cuồng sợ hãi, phách lạc hồn xiêu. Cha mẹ họ đương, ai có ngựa có kiệu đều bỏ trốn thoát thân, còn tôi yếu ớt, chạy không được, ngã lăn ra đất, bị bọn kẻ cướp khiêng về trong núi, đại vương lớn muốn lập làm phu nhân, đại vương hai muốn lấy làm vợ cả, tên thứ ba, tên thứ tư đều yêu tôi có nhan sắc, bảy tám người tranh nhau lộn bậy, đều sinh ra tức tối, vì thế bắt tôi đem trói ra ngoài rừng, bọn chúng chia nhau của cải rồi bỏ đi cả. Nay đã năm ngày đêm, sức lực tôi đã kiệt, chẳng bao lâu sẽ chết. Không biết tổ tiên tích đức từ đời kiếp nào, hôm nay gặp được lão sư phụ đến đây, mong ngài phát lòng từ bi, cứu lấy mạng tôi, sau này có chết xuống vàng cũng không dám quên ơn.

Nói rồi khóc, nước mắt như mưa.

Tam Tạng là người từ tâm, không nín được phải nhỏ nước mắt, nghẹn ngào gọi:

- Đồ đệ!

Bát Giới, Sa Tăng đang tìm hoa kiếm quả ở trong rừng, thình lình nghe thấy tiếng sư phụ gọi thảm thiết. Chú ngốc bèn nói:

- Sa hòa thượng, sư phụ nhận được người họ ở đấy rồi.

Sa Tăng cười nói:

- Anh hai nói liều, chúng mình đi từ nãy đến giờ, cũng còn chưa gặp một ma nào, người họ ở đâu đến?

Bát Giới nói:

- Không phải người họ thì sao sư phụ lại khóc với người ta ở đấy? Tôi với chú lại xem nào.

Sa Tăng vội vã quay về lối cũ, dắt cương ngựa, quẩy hành lý đến tận nơi gọi:

- Sư phụ, người gọi gì thế?

Đường Tăng lấy tay trỏ vào gốc cây bảo:

- Bát Giới, cởi trói cho vị nữ bồ tát kia, cứu mạng người ta với!

Chú ngốc không biết hay dở, liền đi làm ngay.

Lại nói đại thánh ở trên không trung, nhìn thấy đám khí đen dày đặc, trùm kín hết mây lành sáng, liền nói:

- Sợ có khi yêu tà hại sư phụ mình. Xin cơm chỉ là việc nhỏ, hãy về xem sư phụ ra sao đã!

Liền quay mây trở lại, nhảy xuống giữa rừng, nhìn thấy Bát Giới đương cởi dây trói, Hành Giả bèn chạy ngay tới, cầm lấy hai tai Bát Giới lôi một cái ngã vật xuống đất. Chú ngốc ngẩng đầu nhìn thấy, nhoài người dậy nói:

- Sư phụ bảo tôi cứu người ta, cớ sao anh cậy sức khỏe kéo giật tôi ngã lăn xuống?

Hành Giả cười nói:

- Chú em, đừng cởi trói cho nó, nó là giống yêu tinh, giả vờ ra để lừa chúng mình đấy!

Tam Tạng quát mắng:

- Con khỉ khốn kiếp này, lại đến đây nói hồ đồ: một người con gái thế kia, cớ sao mi lại bảo là yêu tinh?

Hành Giả nói:

- Số là sư phụ không biết, những trò ma mãnh ấy, lão Tôn đã làm qua cả rồi. Cái giống ăn thịt người ấy thầy biết làm sao được!

Bát Giới chẩu mỏ ra nói:

- Sư phụ chớ tin, lão Bật Mã Ôn lừa thầy đấy! Người con gái này đúng là con nhà tử tế. Chúng mình mãi từ Đông Thổ tới đây, chưa hề so sánh, lại không phải họ đương, làm sao biết y là yêu tinh. Anh ấy muốn dồn cho chúng mình phải bỏ mà đi, rồi sẽ hóa phép lộn cân đẩu vân trở lại, để tằng tịu nọ kia với cô ta, miếng ngon kề miệng mà!

Hành Giả quát mắng:

- Đồ bị thịt, đừng nói láo! Lão Tôn này từ khi sang Tây, đã có tai tiếng gì ở đâu chưa? Không như cái giống ăn cám cặn bã nhà chú, thấy lợi quên ơn, chẳng biết hay dở, đến nỗi phải lừa kén làm con rể, bị treo lên trên cây ấy!

Tam Tạng nói:

- Thôi vậy, thôi vậy! Bát Giới ạ, sư huynh con ngày thường xét đoán không sai, y đã nói vậy, để mặc quách nó, chúng mình đi thôi!

Hành Giả rất mừng nói:

- Tốt lắm, sư phụ còn tính mạng rồi! mời thầy lên ngựa, ra ngoài rặng thông, đâu có nhà ở, tôi sẽ xin cơm chay thầy xơi.

Bốn người đều cùng nhau ra đi, bỏ yêu quái lại đó.

Yêu quái bị trói ở trên cây, nghiến răng nghiến lợi nói:

- Mấy năm nay mình nghe người ta nói Tôn Ngộ Không thần thông quảng đại, bây giờ mới thấy, quả nhiên lời nói không sai. Đường Tăng tu hành từ thuở nhỏ, hãy còn chay tịnh, ta đang muốn bắt y lấy làm chồng, thành Thái Ất kim tiên, không ngờ bị con khỉ này biết phép phá ta, cứu y đi mất. Nếu mà y cởi dây ra, để ta xuống dưới, ta thuận tay bắt mang đi, chẳng phải Đường Tăng đã là người của mình rồi sao? Nay bị y nói thiên thẹo một hồi rồi mang đi mất, chẳng hóa ra ta nhọc mình mà chẳng nên công trạng gì! Để ta gọi y lần nữa, xem sao?

Yêu tinh để nguyên dây trói, thổi một cơn gió thuận đưa những lời nói ngon nói ngọt lọt vào tai Đường Tăng:

- Sư phụ ơi, người nỡ bỏ tính mạng người sống không cứu vớt, dối lòng bái Phật lấy kinh làm gì?

Đường Tăng ở trên ngựa nghe thấy tiếng y kêu gọi như vậy bèn dứng ngựa nói:

- Ngộ Không, con đi cứu người con gái ấy lại đây.

Hành Giả nói:

- Sư phụ đi đường, sao vẫn còn tơ tưởng đến nó mãi?

Tam Tạng nói:

- Nó vẫn ở nơi đó kêu gọi.

Hành Giả hỏi:

- Bát Giới, chú có nghe thấy gì không?

Bát Giới nói:

- Tai to che lấp kín, chẳng nghe thấy gì cả.

Lại hỏi:

- Sa Tăng chú có nghe thấy gì không?

Sa Tăng nói:

- Tôi quẩy gánh đi trước, không để ý, cũng chẳng nghe thấy gì.

Hành Giả nói:

- Lão Tôn cũng chẳng nghe thấy gì. Sư phụ, nó gọi cái gì? Sao lại chỉ có thầy nghe tiếng?

Tam Tạng nói:

- Nó bảo rằng “Tính mạng người sống không cứu vớt, dối lòng bái Phật lấy kinh làm gì”. “Cứu một mạng người, hơn dựng bảy từng bảo tháp”. Đi ngay cứu người ta xuống, còn hơn bái Phật cầu kinh!

Hành Giả cười nói:

- Sư phụ muốn đi làm điều thiện lại không có thuốc. Thầy thấy từ khi rời khỏi Đông Thổ đi sang phương Tây, trải qua biết bao nhiêu là núi rừng, đã gặp rất nhiều yêu quái, chúng thường bắt thầy đưa vào động, lão Tôn đến cứu thầy, cầm gậy sắt, thường đánh chết hàng nghìn hàng vạn; ngày nay tính mạng một con yêu tinh, sao không dứt được, lại muốn đi cứu nó ư?

Đường Tăng nói:

- Đồ đệ ạ, xưa có câu: “Chớ bảo thiện nhỏ mà không làm, chớ bảo ác nhỏ mà cứ làm”, nên trở lại cứu họ!

Hành Giả nói:

- Sư phụ đã muốn như vậy thì chỉ còn cách vác thôi, lão Tôn vác thì không được. Thầy muốn cứu nó, tôi cũng không dám cố giữ, khuyên thầy một lúc, thầy lại sinh giận, thôi thì mặc thầy đi mà cứu!

Đường Tăng nói:

- Con khỉ đừng lắm mồm, cứ ngồi đấy, để ta và Bát Giới đi cứu nó.

Đường Tăng vào đến trong rừng, sai Bát Giới cởi dây trói ở nửa trên mình, dùng đinh ba cuốc đất chôn nửa mình dưới, yêu quái rút chân lên, thắt quần lại, hớn hở theo Đường Tăng ra khỏi rừng thông, đến gặp Hành Giả.

Hành Giả chỉ cười nhạt không ngớt.

Đường Tăng quát mắng:

- Con khỉ khốn kiếp, mi cười cái gì?

Hành Giả nói:

- Con cười thầy “Lúc may gặp bạn tốt, vận xúi được người xinh”.

Tam Tạng lại mắng:

- Nói láo! Từ khi lọt lòng mẹ, ta đã đi tu rồi, ngày nay vâng chỉ sang Tây, giốc lòng lễ Phật cầu kinh, không phải là phường cầu lợi, còn vận xúi cái gì?

Hành Giả cười nói:

- Sư phụ tuy đi tu từ thuở nhỏ, nhưng chỉ biết tụng kinh niệm Phật, chứ không biết pháp luật nhà vua. Cô gái này là người tuổi trẻ tốt tươi, tôi và thầy là kẻ xuất gia, cùng đi một lối với gái, thảng hoặc gặp kẻ xấu bụng, bắt chúng mình giải đến cửa quan, chẳng kể lấy kinh bái Phật gì hết, cứ cho là việc gian tình, mặc dù không có thế, vẫn buộc mình vào tội đưa con nhà người ta đi. Sư phụ sẽ bị thu mất độ điệp, đánh cho chết dở, Bát Giới sẽ bị bắt đi sung quân, Sa Tăng giam hầu ở trạm, lão Tôn này cũng chẳng được yên lành, dù có môi mép, chiếc biện thế nào, cũng bị khép vào tội bất ưng.

Tam Tạng quát mắng:

- Đừng nói láo, không có lẽ, ta cứu tính mạng người ta, người ta còn để lụy cho ta thế! Cứ đưa người ta đi, có việc gì ta sẽ chịu hết cả.

Hành Giả nói:

- Sư phụ tuy bảo mọi việc ở thầy, nhưng biết đâu lại không phải thầy cứu người ta, mà lại là hại người ta.

Tam Tạng nói:

- Ta cứu họ ra khỏi rừng, đã thoát khỏi chết, sao lại còn hại họ?

Hành Giả nói:

- Trước kia nó bị trói ở trong rừng, hoặc dăm ba ngày, mười ngày, nửa tháng, không có gì ăn, bị chết đói, còn được hoàn toàn thân thể về âm phủ; bây giờ mang nó đi cùng, thầy thì cưỡi con ngựa tốt chạy đi như gió, chúng con tất phải theo thầy, cô gái đó chân yếu, lê không nổi gót, làm sao mà theo kịp? Bấy giờ đành phải bỏ lại, nếu gặp lang sói, hùm beo, ăn thịt đi mất, chẳng hóa ra hại đời người ta ư?

Tam Tạng nói:

- Đúng thế đấy, việc này phải nhờ con nghĩ giúp, nên xử trí thế nào?

Hành Giả cười nói:

- Ôm người ta lên mình ngựa, cùng cưỡi đi với thầy.

Tam Tạng ngẫm nghĩ nói:

- Lẽ đâu để cùng ngồi ngựa với ta được!...

Hành Giả nói:

- Vậy thì đi theo làm sao?

Tam Tạng nói:

- Để Bát Giới cõng vậy!

Hành Giả cười nói:

- Chú ngốc may mắn đến nơi rồi!

Bát Giới nói:

- “Đường xa phải gánh nặng”, bắt tôi cõng người, còn may mắn gì?

Hành Giả nói:

- Mồm chú thì dài, khi cõng nó, chú ngoái mồm trở lại, tha hồ mà tình tự, chẳng tiện lợi ư?

Bát Giới nghe câu ấy, tức lên đến cổ nói:

- Không được! Không được! Sư phụ có đánh con mấy roi, con xin chịu đau, chứ cõng nó quyết không được sạch sẽ, sư huynh hay chơi đòn ngầm lắm, con không cõng đâu!

Tam Tạng nói:

- Thôi được, thôi được! Ta còn có thể đi bộ được chốc lát, để ta xuống ngựa đi thong thả, bảo Bát Giới dắt ngựa đi không.

Hành Giả cười to nói:

- Chú ngốc lại càng béo bở, sư phụ chiếu cố cho chú dắt ngựa đấy.

Tam Tạng nói:

- Con khỉ cứ nói nhảm! Xưa có câu: “Ngựa đi nghìn dặm, không có người không thể tự đi được”. Giả như ta có đi chậm, chúng con có thể bỏ ta mà đi được không? Ta đi chậm, chúng con cũng đi chậm, mọi người cùng cô gái đó đi ra khỏi khu rừng, đến nơi am quán chùa chiền, hoặc nhà người nào đó, sẽ để cô ta ở lại đấy, như thế cũng là chúng mình đã cứu được người ta.

Hành Giả nói:

- Sư phụ nói chí lý, xin mời người đi cho!

Tam Tạng đi lên trước, Sa Tăng quẩy gánh, Bát Giới dắt ngựa không, dẫn người con gái, Hành Giả cầm gậy sắt cùng đi. Đi được hai, ba mươi dặm, trời đã chiều, lại thấy một tòa lâu đài, điện các.

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ, đằng kia hẳn là am quán tự viện, hãy đến đấy xin ngủ trọ, sáng mai đi sớm.

Hành Giả nói:

- Sư phụ nói phải đấy, mọi người đi nhanh lên!

Lát sau đã đến ngoài cửa, Tam Tạng dặn dò bảo:

- Mọi người đứng ra cả ngoài xa, mình ta đến trước hỏi trọ, nếu được, sẽ cho người gọi cả vào.

Mọi người đều đứng cả ở dưới bóng cây liễu, duy có Hành Giả cầm gậy sắt đứng sát cạnh người con gái.

Trưởng lão rảo bước đến gần nhìn thấy ngoài cửa đổ xiêu dổ vẹo, mỗi nơi một mảnh, mở cửa nhòm vào, thấy quang cảng rất thê thảm không nỡ nhìn, nhà phòng vắng vẻ, chùa điện tiêu điều, rêu mọc đầy sân, cỏ lan mặt đất, như đèn đom đóm lập lờ, ếch kêu thay giọt đồng hồ điểm canh. Trưởng lão ngậm ngùi, hai hàng lệ nhỏ. Trông thấy cảnh:

Điện miếu điêu linh đổ nát, nhà phòng vắng vẻ xẹo xiêu. Ngói tan gạch vỡ chất từng mô, cột đổ giường nghiêng xếp lắm chỗ. Sau trước cỏ lan mặt đất, bụi trùm nồi chảo rỉ han. Lầu chuông đổ sụp, trống không bưng, đèn nến pha lê vỡ nát. Kim thân Phật tổ hết mầu: La Hán đổ ngã ngổn ngang, Quan Âm lấm bùn be bét. Bình dương liễu lăn ra đất, suốt ngày không một bóng sư. Cáo thỏ đêm đêm lẩn lút, chỉ nghe tiếng gió thét vi vu. Bốn bể tường vách đổ xiêu, đều là chổ ẩn thân hổ báo.

Có thơ làm chứng. Thơ rằng:

Lâu năm chùa cổ chẳng ai tu,

Xơ xác, điêu tàn đã mấy thu?

Lở mặt Già Lam làn gió lạnh,

Vỡ đầu Phật tổ trận mưa to.

Kim Cương đổ sụp mưa dầm dãi,

Thổ địa ngồi trơ tối mịt mù.

Ngó tới hai bên càng thiểu não;

Chuông đồng chụp đất gác nơi mô

Tam Tạng đánh bạo tiến vào từng cửa thứ hai, nhìn thấy lầu chuông gác trống đổ nát, chỉ có một quả chuông đồng, nằm lăn ra đất, nửa bên trên trắng tinh như tuyết, nửa bên dưới xám ngắt như chì. Số là để năm dầu tháng dãi, nửa bên trên bị nước mưa dầm trắng bệch, nửa bên dưới bị khí đất xông lên đồng han gỉ xanh. Tam Tạng lấy tay sờ vào chuông, kêu to lên:

- Chuông ơi!

Mi: đã từng kêu ở trên lầu cao, đã từng kêu ở trên giường vẽ, đã từng báo sáng lúc gà kêu, đã từng buổi chiều giục trời tối. Không biết kẻ đạo sĩ hóa đồng đi nơi đâu? Người thợ đúc đồng cũng chẳng thấy? Có lẽ cả hai về địa phủ, họ không tung tích, chú thành câm!

Tam Tạng to tiếng than thở, không ngờ đến tai một đạo nhân khêu đèn thắp nhang. Y nghe thấy có tiếng người nói, nhỏm dậy nhặt một hòn gạch vỡ, nhằm đúng quả chuông ném tới. Tiếng chuông kêu vang lên làm cho Đường Tăng sợ ngã lăn ra, cố nhoài dậy định đi, bị vướng phải rễ cây, lại ngã lăn xuống, nằm lăn ra đất, ngẩng đầu dậy lại kêu:

Đương lúc bần tăng thương xót chú,

Boong boong bỗng có tiếng kêu inh!

Có lẽ: đường sang Tây Trúc không ai đến

Lần lữa lâu ngày hóa quái tinh!

Người đạo sĩ tiến lên, vội vàng đỡ dậy nói:

- Mời lão gia dậy, không phải chuông thành tinh đâu, vừa rồi là tôi đánh chuông kêu đấy!

Tam Tạng ngửng đầu lên, thấy y dáng người đen xấu, nói:

- Mi có phải là ma quái yêu tà không? Ta đây không phải người tầm thường. Ta từ bên Đại Đường tới đây; thủ hạ ta có những người đồ đệ có tài hàng long phục hổ. Mi mà chạm đến ta, tính mạng khó mà giữ được!

Đạo nhân quỳ xuống nói:

- Lão gia đừng sợ, tôi không phải là yêu tà, chính là đạo nhân khêu đèn thắp hương ở trong chùa này. Vừa rồi nghe thấy lão gia nói những lời từ thiện, muốn chạy ra tận nơi đón tiếp, lại sợ là tà ma gõ cửa, cho nên mới nhặt một hòn gạch vỡ, ném vào chuông cho đỡ sợ, rồi mới đi ra. Mời lão gia dậy!

Đường Tăng bấy giờ mới hoàn hồn nói:

- Thưa trụ trì, chỉ tí nữa làm tôi chết khiếp, hãy đưa tôi đi.

Người đạo nhân đưa Đường Tăng đi, mãi tới bên trong ba lần cửa, thì thấy ở đây khác hẳn với bên ngoài:

Gạch xanh xây đắp bức tường hoa, ngói đỏ lợp trên tòa điện báu. Vàng mười tu tượng thánh, ngọc trắng lát sân đền. Trên điện Đại Hùng ánh sáng xanh, dưới gác Tì La không khí ngát. Đền Văn Thù điểm đỏ tô xanh, dài Luân tạng chạm hoa trổ lá. Bình vàng đắp trên nóc tam thiên, tàn tía dựng trong lầu ngũ phúc. Nghìn cây trúc biếc rung tòa Phật, muôn khóm tùng xanh rợp cửa chùa. Trên từng mây biếc phóng tia vàng, giữa đám sương mờ rờn ảnh đẹp. Sớm nghe bốn phía mùi hương thoáng, đêm suốt năm canh tiếng trống lầu. Trời sáng nhiều người ngồi vá áo, trăng thanh lắm kẻ đứng xem kinh. Nửa vách bóng đèn soi hậu viện, một hàng mây tía lóe trung đình.

Tam Tạng thấy thế không dám đi vào, hỏi:

- Đạo nhân, tôi thấy mé trước xiêu vẹo quá, đằng sau lại tề chỉnh thế này, tại sao vậy?

Đạo nhân cười nói:

- Lão gia ạ, trong núi này, có nhiều yêu tà trộm cướp, khi nào trời sáng chúng đi rong núi ăn cướp, ẩm trời thì về náu trong chùa, tượng Phật kê làm chỗ ngồi, gỗ lạt đốt làm đồ sưởi. Sư bản tự hèn yếu, không dám giảng giải với chúng, vì thế đành phải để mấy gian nhà nát đằng trước cho bọn kẻ cướp làm chỗ nghỉ chân, rồi lại đi khuyên giáo các nhà thí chủ, xây lên ngôi chùa mới này. Nhà chùa kẻ cướp ở lẫn, đó là sự tình ở Tây phương đấy.

Tam Tạng nói:

- À ra là thế!

Đương đi, lại trông thấy trên cửa chùa, có năm chữ đại tự “Trấn hải thuyền lâm tự”. Tam Tạng vừa cất bước rẽ vào mé trong, chợt trông thấy một vị hòa thượng đi tới. Người ấy:

Đầu đội mũ nhung lệch sang tả,

Vòng đồng đeo chảy sệ tai ra.

Hai con mắt trắng sáng như bạc,

Mình mặc sênh sang tấm áo là.

Miệng đọc kinh Phiên nghe chẳng rõ.

Tay cầm một cái trống bằng da.

Tam Tạng thực ra chưa nhận biết

Đường sang Tây Trúc sư Lạt Ma.

Lạt Ma hòa thượng đi ra ngoài cửa, nhìn thấy Tam Tạng mặt mày rạng rỡ, trán má phẳng phiu, tai chấm vai, tay quá gối, chẳng khác gì La Hán lâm phàm, rất là tuấn tú. Y chạy tới níu lấy khách, vuốt chân vuốt tay, sờ tận lên mũi, mó cả vào tai, để tỏ vẻ thân cận rồi dắt tay khách đến phương trượng, làm lễ xong mới hỏi:

- Lão sư phụ ở đâu tới?

Tam Tạng nói:

- Đệ tử là người nước Đại Đường bên Đông Thổ khâm sai sang chùa Đại Lôi Âm nước Thiên Trúc bên Tây phương bái Phật, cầu kinh, đi đến bảo phương, trời đã chiều, mới tới chùa ta đây xin trọ một tối, sáng mai đi sớm, mong ngày mở đường phương tiện giúp cho.

Hòa thượng cười nói:

- Không đáng là con người! Không đáng là con người! Chúng mình không phải định bụng xuất gia, chỉ vì cha mẹ đẻ ra, mệnh phạm sao Hoa Cái, nuôi ở nhà không được, đành phải bỏ đi tu, đã là đệ tử của Phật, không nên nói những câu không có.

Tam Tạng nói:

- Những điều tôi nói là thực cả.

Hòa thượng nói:

- Từ Đông Thổ đến Tây Thiên, đường lối xa biết bao: dọc đường có núi, trong núi có động, trong động có yêu tinh. Một mình lẻ loi như thế, người lại mảnh giẻ, trông người không giống người lấy kinh chút nào cả!

Tam Tạng nói:

- Viện chủ nói rất đúng. Một mình bần tăng, đến đây thế nào được! Tôi có ba người đồ đệ, trèo non mở lối, qua suối bắc cầu, bảo vệ đệ tử, nên mới tới được quí xứ đây.

Hòa thượng nói:

- Ba vị cao đồ ở đâu?

Tam Tạng nói:

- Hiện đứng đợi cả ngoài cửa chùa.

Hòa thượng phát sợ nói:

- Sư phụ không biết ở chúng tôi có hổ lang, yêu tặc, quỷ quái hại người, giữa ban ngày còn không dám đi, chưa nhá nhem đã phải đóng cửa. Trời đã gần tối còn để các vị ấy ở bên ngoài ư?

Liền gọi:

- Đồ đệ, ra ngay mời các vị vào!

Hai Lạt Ma nhỏ bèn chạy ra bên ngoài, trông thấy Hành Giả, sợ ngã lăn ra, trông thấy Bát Giới, lại ngã cái nữa, rồi cố nhổm được người dậy, chạy biến trở vào nói:

- Gia gia ạ, vô phúc rồi! không thấy các đồ đệ người đâu hết, chỉ có ba bốn đứa yêu quái đứng ở ngoài cửa thôi.

Tam Tạng vội hỏi:

- Hình dáng thế nào?

Tiểu hòa thượng nói:

- Một người mồm lôi công, một người mồm chày loét ra, một người mặt xanh rằng khườu, bên cạnh lại có một cô con gái môi son má phấn.

Tam Tạng cười nói:

- Chú không nhận ra, ba người xấu xí ấy là đồ đệ tôi, còn người con gái kia là người tôi đã cứu ở trong rừng thông ra.

Lạt Ma nói:

- Cha mẹ ơi, sư phụ thì tuấn tú thế kia, làm sao lại có những đồ đệ xấu xí thế?

Tam Tạng nói:

- Xấu thì xấu thực, nhưng đều hữu dụng, chú đi gọi ngay bọn họ vào, nếu cứ để dùi dắng, cái người mồm lôi công có tính gây vạ, hắn không phải là người bố mẹ đẻ ra, sẽ đánh xông ngay vào đấy.

Tiểu hòa thượng liền vội vàng chạy ra, run cầm cập quỳ xuống nói:

- Thưa các vị lão gia, Đường lão gia mới các vị vào!

Bát Giới cười nói:

- Anh ạ, họ mời thì cứ mời, sao lại run lập cập thế vậy?

Hành Giả nói:

- Trông thấy chúng mình xấu xí, họ sợ đấy.

Bát Giới nói:

- Nhưng mà làm thế nào được, trời sinh chúng mình ra thế, ai muốn xấu làm gì!

Hành Giả nói:

- Những cái xấu xí chú hãy tạm thu bớt lại!

Chú ngốc quả đã giấu mồm vào trong ngực, cúi đầu xuống, dắt ngựa đi, Sa Tăng gánh hành lý, Hành Giả ở đằng sau, cầm gậy sắt, đi sát bên người con gái, cùng tiến vào chùa.

Đi xuyên qua những ngôi nhà đổ nát, vào đến trong từng cửa thứ ba, buộc ngựa lại, buông gánh xuống, cả bọn vào trong phương trượng, chào hỏi sư Lạt Ma rồi chia ngôi thứ ngồi xuống.

Vị hòa thượng đi vào bên trong, đến bảy tám mươi người tiểu Lạt Ma ra, chào hỏi, rồi sửa soạn làm cơm thết đãi. Chính là:

Lòng từ bi tu công tích đức

Đạo Phật khi nên, sư trọng sư.

Chưa biết Tam Tạng làm thế nào ra khỏi chùa, xem đến hồi sau sẽ rõ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.