Tây du @ ký - Phần 04 chương 2
Lai lịch của Ngọc Hoàng
Phật Tổ Như Lai dẫn theo A Nan[7] và
Ca Diếp (chính là ngài Ca Diếp trong câu chuyện Phật Tổ nhặt 2 h oa Ca Diếp
cười) để làm cố vấn, họ cùng xuất hiện ở bên ngoài điện Linh Tiêu. Đến nơi
họ chỉ thấy 36 vị tôi tướng xung quanh Vương Linh Quan đang cùng nghênh chiến
với Tôn Ngộ Không, tiếng gào thét, tiếng đấm đá vang cả một góc trời. Phật Tổ
Như Lai liền nói:
- Các vị tôi tướng xin hãy dừng tay, ta muốn hỏi tên Tề
Thiên Đại Thánh kia, y dựa vào cái gì mà dám làm loạn ở nơi đây.
Các vị tôi tướng tuân mệnh lui lại, Tôn Ngộ Không mất hứng,
liền lớn tiếng quát rằng:
- Ngươi là ai mà dám đến đây quấy rối ta!
Như Lai cười nói:
- Ta là Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Tây phương cực lạc. Nghe nói
người đã nhiều lần gây khó khăn cho Ngọc Hoàng, lẽ nào Ngọc Hoàng đắc tội với
người hay sao? Tại sao người phải đại náo thiên cung làm gì?
Tôn Ngộ Không liền nói:
- Bảo tòa của Ngọc Hoàng đương nhiên là nơi của kẻ mạnh
ngồi. Vừa rồi ta đây cũng chán cảnh nhân gian quá nhỏ bé, cho nên ta
muốn được cùng tranh cao thấp với Ngọc Hoàng.
Phật Tổ nghe nói như vậy thì cười lớn mà nói:
Tên khốn kiếp kia, Ngọc Hoàng là người tốt, tại sao ngươi
lại muốn gây khó dễ với ngài ấy chứ?
Hóa ra, Ngọc Hoàng hoàn toàn không phải là trời sinh ra, mà
ngài cũng có nguồn gốc là con người.
Tương truyền rằng, sau khi Bàn Cổ[8] khai
thiên lập địa thì giữa đất trời là một bầu không khí trong lành. Thế nhưng,
cảnh vui ngắn ngủi, do các vị thần tiên tranh hùng xưng bá nên giữa đất trời
náo loạn như một nồi cháo. Thái Bạch Kim Tinh quyết định tìm một người tài đức
vẹn toàn, thông qua quản lý hữu hiệu để xoay chuyển lại cục diện này. Do đó,
ngài đã hóa trang thành một kẻ hành khất, đi khắp nơi tìm kiếm, về sau ngài đến
Trương Gia Loan và cuối cùng đã phát hiện ra Trương Hữu Nhân. Trương Gia Loan
là một đại sơn trại có mấy vạn người, mà Trương Hữu Nhân chính là trại chủ của
sơn trại này. Người đàn ông cai quản tốt một gia đình nhỏ mà vẫn còn khó, thế
nhưng Trương Hữu Nhân có thể cai quản một trại to lớn như thế mà ai ai cũng
khiêm tốn, lễ độ, xóm giềng hòa mục, giúp đỡ lẫn nhau. Hỏi ông ấy có cách gì
cao siêu thì ông ấy chỉ cười rồi nói, không gì ngoài một chữ “nhẫn”. “Nhẫn” là
sự kiên nhẫn, nhẫn nhịn vậy. Do Trương Hữu Nhân từ bi đại độ, bách nhẫn vi
thượng, cho nên mọi người đã gọi ông là “Trương Bách Nhẫn”, bởi vì ông có thể
bao dung tất cả, lấy tấm lòng khoan dung độ lượng để đối đãi với mọi người, tấm
lòng ông mênh mông như biển cả. Thái Bạch Kim Tinh cho rằng Trương Hữu
Nhân chính là nhân tài quản lý rất lý tưởng, nên ngài mời Trương Hữu Nhân lên
trời. Về sau, các vị thần tiên cũng đã nhất trí đồng ý cho Trương Hữu Nhân cai
quản thiên đình, làm Ngọc Hoàng.
Ấy thế mà Tôn Ngộ Không vẫn bỉu môi mà nói:
Tuy ông ta có tu dưỡng như vậy, nhưng cũng không nên để cho
ông ta giữ bảo tòa Ngọc Hoàng lâu như vậy được. Người ta thường nói: “Hoàng đế
thay nhau làm, năm nay đến nhà ta”. Chỉ cần ông ta bỏ đi, đem thiên cung để cho
ta thì ta sẽ thôi không quấy phá nữa. Còn nếu không nhường cho ta thì nhất định
ta sẽ phá nát tất cả, vĩnh viễn không cho ông ta được yên bình!
Lời Tôn Ngộ Không nói nghe thật quen, bởi vì trong lịch sử
Trung Quốc có nhiều người nói những “lời lẽ oai hùng” như vậy. Năm xưa khi
nhà Tần mới thôn tính lục quốc, thiên hạ mới được yên định, Tần Thủy Hoàng đi
tuần ở phương Nam,
oai phong lẫm liệt. Thế mà Lưu Bang nói: “Đại trượng phu sinh ra đáng được như
vậy.” Hạng Vũ cũng nói: “Y có thể giết đi, để (ta) thay thế.” Mấy nghìn năm
nay, những người muốn làm Hoàng đế thật nhiều vô kể.
[7] A
Nan: là cách gọi ngắn của A Nan Đà, một trong
Thập đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni
[8] Bàn
Cổ: được coi là vị thần khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoại
Trung Quốc. Đây cũng là vị thần đầu tiên trong Tam Thanh của Đạo Giáo.
Bàn tay của Phật Tổ Như Lai
Phật Tổ hỏi rằng:
Ngươi có bản lĩnh gì mà muốn chiếm bảo tòa của Ngọc
Hoàng?
Tôn Ngộ Không huênh hoang nói:
Ta có rất nhiều phép thuật! Ta có 72 chiêu biến hóa, vạn
kiếp trường sinh bất lão. Ta cưỡi cân đẩu vân, một cú lộn nhào xa tới mười vạn
tám nghìn dặm. Cớ gì mà ta không ngồi được vào ngôi báu đó?
Phật Tổ cười nói:
Ta đánh cược với ngươi: Nếu ngươi có bản lĩnh nhảy ra khỏi
bàn tay của ta thì người sẽ thắng, ta sẽ nói Ngọc Hoàng đến Tây Phương ở, đem
thiên cung dâng cho ngươi; còn nếu ngươi không nhảy được ra khỏi bàn tay ta thì
ngươi hãy về Hoa Quả Sơn mà làm hầu vương.
Tôn Ngộ Không nghe nói như vậy thì cười thầm mà nghĩ: “Tên
Như Lai thật là ngốc! Lão Tôn ta nhảy một cái xa tới mười vạn tám nghìn dặm. Chu vi bàn tay của ông ta không đầy một thước, có gì mà
nhảy không ra?” Y tự cho rằng phần thắng sẽ nắm chắc trong tay mình, y sợ Phật
Tổ hối hận nên vội vàng hỏi:
Nhà ngươi có làm chủ được mình không đấy?
Phật Tổ cười vang gật đầu rồi đáp:
Làm được! Làm được!
Nói dứt lời ngài bèn duỗi bàn tay phải ra, trông tựa như một
lá sen. Tôn Ngộ Không cất gậy Như Ý, phấn chấn tinh thần, y bèn tung người, lập
tức đã đứng trong lòng bàn tay của Phật Tổ, rồi y nói:
“Ta đi đây!” Rồi một vệt mây sáng chói vụt lên, và y biến
mất trong vô ảnh vô hình.
Giữa lúc đó, bỗng nhiên Tôn Ngộ Không thấy một chiếc cột có
những mạch máu đỏ. Y cho rằng đã đến cuối trời thì bèn nhổ một sợi lông biến
thành một cây bút rồi viết lên giữa cây cột đó: “Tề Thiên Đại Thánh đã đến
đây chơi.” Viết xong, y còn đái xuống dưới cây cột đó. Sau đó, lại một cú nhào
lộn nữa y lại bay về lòng bày tay, rồi nói:
Như Lai, ta đi rồi quay lại, ngài bảo Ngọc Hoàng đem thiên
cung nhường cho ta đi chứ!
Phật Như Lai quát lên:
Con khỉ thối kia! Ngươi rời khỏi bàn tay của ta lúc nào
thế?
Tôn Ngộ Không nói:
- Ta nhào mọi cái đến cùng trời cuối đất ở đó ta còn viết
lại vài chữ, ngài dám cùng ta đi đến đó xem không?
Phật Như Lai nói:
- Không cần phải đi, người hãy cúi đầu mà nhìn cho rõ xem đó
là cái gì đi.
Tôn Ngộ Không trừng mắt lên nhìn, hóa ra chiếc cột mà y đã
viết chữ chính là ngón tay trỏ của Phật Tổ. Ngay chỗ giáp giữa ngón cái
và ngón trỏ vẫn còn mùi hôi tanh do y tè ra.
Tôn Ngộ Không giật mình sợ hãi. Y liền nói:
Sao lại có việc như vậy chứ! Điều này thật là kỳ lạ! Ta phải
đi xem lại xem thế nào.
Y lại tung người nhảy đi, tức thì bị Phật Tổ lật ngửa bàn
tay ra, đẩy y rơi ra khỏi ngoài cửa trời, năm ngón tay của Phật tổ hóa thành
năm tòa liên sơn Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, còn gọi là “Ngũ Hành Sơn”, bao nhiêu
đất đá của năm tòa núi đè lên người Tôn Ngộ Không.
Từ Thác Tháp Lý Thiên Vương đến Nhị Lang thần, từ Vương Linh
Quan đến Phật Như Lai, nguồn sức mạnh của chính nghĩa ầm ầm bủa vây lấy Tôn Ngộ
Không, y to gan làm càn cuối cùng đã không thể nào thoát khỏi bàn tay của Phật
Tổ.
Tại sao Tôn Ngộ Không lại không thể nhảy ra khỏi bàn tay
của Phật Tổ Như Lai?
Thôi thế là hết! Ngũ Hành Sơn đã đè lên lòng người, câu
chuyện đại náo thiên cung đến đây kết thúc. Thế nhưng, có bao nhiêu người vẫn
không biết rằng: Tại sao Tôn Ngộ Không bản lĩnh cao cường như vậy mà lại không
nhảy ra được khỏi bàn tay của Phật Tổ? Tại sao Ngũ Hành Sơn lại có thể đè
bẹp được Tề Thiên Đại Thánh có sức mạnh vô song như vậy?
Phật Giáo cho rằng, sinh mệnh hữu tình trong vũ trụ có mười
pháp giới, trong đó bao gồm cả lục đạo luân hồi pháp giới và bốn loại giải
thoát pháp giới. Mà trong mười pháp giới đó. Phật Tổ ở vào cảnh giới tối cao,
đó là Phật pháp giới. Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không tuy cũng có phép thần
thông quảng đại, nhưng suy cho cùng thì y cũng chỉ thuộc vào loại A Tu La [9]chuyên
tranh đấu với thiên thần. Giữa Phật pháp giới và A Tu La pháp giới, cái trước
là pháp giới giải thoát, mà cái sau lại thuộc vào pháp giới lục đạo luân hồi.
Trong pháp giới giải thoát, không chỉ không có sự phiền não, mà hơn nữa còn có
trí tuệ và sức mạnh không bao giờ hết, dùng mãi không bao giờ cạn, vì thế mà nó
có thể xử lý được như ý mọi việc ở nhân gian. Còn ở pháp giới luân hồi, cho dù
có thần thông quảng đại đến mức nào thì cũng chỉ là tầm thường vì thiếu đi một
yếu tố nào đó về trí tuệ (như tự cho mình là thông minh, theo đuổi hư vinh, tự
cao tự đại...) nên khó tránh khỏi những sơ suất. Chính vì vậy, từng có một Tề
Thiên Đại Thánh không ai bì nổi đã phải thua Phật Tổ, đó cũng là việc hợp tình,
hợp lý đấy thôi!
Nhìn từ góc độ quản lý học, có nhân tài thôi thì chưa đủ, mà
còn cần phải có quản lý khoa học. Ngay cả nhân tài như Tôn Ngộ Không cũng phải
tuân thủ theo hành vi quy phạm của tổ chức, tạo nên sự phát triển ổn
định của tổ chức. Cố nhân đã nói: “Hào kiệt cúi đầu thì quốc gia có thể trường
tồn” là ý nói về điều này vậy. Ở đây, Phật Tổ tượng trưng cho lực tác dụng của
văn hóa tổ chức. Ngũ Hành Sơn đè lên Tôn Ngộ Không là tượng trưng cho năm tầng
quản lý nguồn nhân lực. Năm tầng đó bao gồm: Kim - phúc lợi công sở, Mộc -
cuộc sống nghề nghiệp, Thủy - năng lực công tác, Hỏa - chế độ quản
lý, Thổ - môi trường công tác.
[9] A
Tu La: A Tu La tiếng Phạn là Asura. Theo từ điển Phật Học Huệ Quang, quyển 1,
trang 48 giải thích: “A Tu La là 1 trong 6 đường, 1 trong 8 bộ chúng, 1 trong
10 giới, 1 trong những vị thần xưa nhất ở Ấn Độ”.
Năm yếu tố trong quản lý nhân lực
Từ xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã biết dùng năm loại vật
chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để thuyết minh
2. Ngũ hành tương khắc trong việc quản lý nguồn nhân lực
Kim khắc Mộc: Chế độ phúc lợi công sở không hợp lý sẽ gây ra
ảnh hưởng xấu đối với cuộc sống nghề nghiệp của nhân viên.
Mộc khắc Thổ: Khi nhân viên thiếu lòng tin đối với tương lai
nghề nghiệp thì môi trường làm việc của công ty sẽ đi vào bế tắc.
Thổ khắc Thủy: Môi trường công tác khắc nghiệt sẽ khiến cho
hiệu suất công việc của nhân viên giảm thiểu rất nhiều.
Thủy khắc Hỏa: Trong một môi trường mà hiệu quả công việc
thấp thì hệ thống quy định cũng thường bị nhân viên bỏ ngoài tai.
Hỏa khắc Kim: Chế độ quản lý giống như một cây gậy lớn, nó
quan sát biểu hiện công việc của nhân viên, và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phúc
lợi công sở của nhân viên.
Chính vì vậy mà việc quản lý nguồn nhân lực giỏi sẽ giống
như bàn tay của Phật Tổ. Có thể thông qua sự tương sinh của năm tầng Kim, Mộc,
Thủy, Hòa, Thổ để khiến cho tổ chức luôn luôn phát triển đi lên.
Hãy ghi nhớ sứ mệnh của bạn
Để áp dụng ngũ hành trong tương sinh trong quản lý nguồn
nhân lực thì việc quan trọng trước tiên là xây dựng nguyên tắc của tổ chức.
Đồng thời, thông qua sự phát triển liên tục của tổ chức để tăng ý thức sứ mệnh
của mỗi nhân viên. Có như vậy thì khi một nhân viên nào đó có hành vi xung đột
với sự quản lý của công ty thì ý thức sứ mệnh sẽ khiến bản thân nhân viên đó tự
giác điều chỉnh thái độ của mình.
Ngọc Hoàng đã mở tiệc ăn mừng sau khi thu phục được Tôn Ngộ
Không. Tiệc vừa tan thì có một vị quan tuần tra đến báo cáo:
Bẩm Ngọc Hoàng, tên Tôn Ngộ Không đó đã chui được đầu ra
khỏi Ngũ Hành Sơn rồi!
Phật Như Lai cười nói:
Đừng lo, đừng lo.
Ngài bèn rút từ trong túi áo ra một tấm vải có viết sáu chữ
vàng: “Ma, ni, ba, mi, ma, ni” đưa cho A Nan. A Nan
đem tấm thiếp đó dán lên một khối đá tứ phương trên đỉnh núi Ngũ Hành Sơn. Tòa
núi đó lập tức sinh căn bén rễ, khiến Tôn Ngộ Không không thể nào thoát ra
được.
“Ma, ni, ba, mi, ma, ni” là sáu chữ chân ngôn mà tín đồ Phật
Giáo thường xuyên tụng niệm. Nó cũng có nhiều hàm ý phong phú như câu tụng niệm
A Di Đà Phật. Nói “A Di Đà Phật” khi gặp mặt thì cũng giống như lời hỏi thăm
“anh khỏe không?” Nói “A Di Đà Phật” khi chia tay thì cũng giống như lời chào
“tạm biệt!” Nói “A Di Đà Phật!” khi làm đau người khác thì cũng giống như lời
“xin lỗi!” Nói “A Di Đà Phật!” khi nhận quà từ người khác thì cũng giống như
lời “cảm ơn”. Vậy cho nên, “A Di Đà Phật” luôn là một câu nói vạn năng.
Vậy thì sáu chữ chân ngôn “ma, ni, ba, mi, ma, ni” mang ý
nghĩa gì? Điều này rất khó giải thích, bởi vì ý nghĩa bên trong thật là quá
phong phú. Đại ý là: Để chúng ta giống như hoa sen mọc trong bùn mà
không hôi tanh mùi bùn, chúng ta vẫn luôn giữ được một tâm hồn thuần
khiết. Thế nhưng, ở từng trường hợp cụ thể thì ý nghĩa lại có sự vi diệu khác
nhau.
Điều đó rất giống với tuyên ngôn sứ mạng của mỗi cá nhân hay
tổ chức của chúng ta. Khi chúng ta gặp phải khó khăn thì hãy nhớ đến tuyên ngôn
sứ mạng của mình để bản thân mình càng thêm dũng khí. Khi chúng ta đạt được
thành công mà nhớ tuyên ngôn sứ mạng thì chúng ta càng thêm động lực phấn đấu.
Khi chúng ta đối mặt với thất bại thì hãy nhớ tuyên ngôn sứ mạng của mình để
chúng ta hối cải. Khi chúng ta có điều gì nghi hoặc hãy nhớ đến tuyên ngôn sứ
mạng của mình để luôn kiên định lòng tin.
Tôn Ngộ Không bị Phật Tổ Như Lai áp chế dưới Ngũ Hành Sơn,
kỳ thực đó chính là ý niệm về sự tản mạn, buông thả của chúng ta. Lời chú trong
tấm bùa của Phật Như Lai như đánh thức mỗi chúng ta: “Không nên buông thả,
ngông cuồng nữa, bạn hãy nên biết rõ cuộc đời này phải làm gì!” Công việc mà
mỗi chúng ta phải làm trong cuộc đời chính là sứ mệnh nhân sinh của mỗi cá nhân
chúng ta.

