Trí Thông Minh Thực Dụng - Phần 2

Phần II

THẾ GIỚI NỘI TÂM

5

TỰ NHẬN THỨC XÚC CẢM

“Nguyên tắc đầu tiên là bạn không được tự lừa dối và bạn là người có thể dễ bị lừa dối mình nhất.”

– RICHARD FEYMAN, NHÀ VẬT LÝ MỸ ĐỌAT GIẢI NOBEL –

“Một người trào phúng là người phát hiện ra những điều khó chịu về chính bản thân mình và nói với người khác về điều đó.”

– PETER MCARTHUR, NHÀ VĂN –

Nghiên cứu cho thấy, càng có nhiều trí tuệ xúc cảm thì cuộc sống sẽ càng viên mãn và thành đạt, và hành trình này bắt đầu từ chính bản thân mỗi chúng ta. Nếu chúng ta không đã tự làm điều này ngay từ đầu, chúng ta sẽ bị hạn chế trong việc áp dụng điều này cho đến cuối cuộc đời. Tri thức về thế giới bên trong mỗi chúng ta sẽ giúp chúng ta nhìn nhận một cách thực tế cách chúng ta ứng xử với những người khác và với môi trường xung quanh. Một hiểu biết nhất định và khả năng quản lý xúc cảm là cần thiết để chúng ta có thể thay đổi một cách có hiệu quả những lĩnh vực khác của đời sống.

Lượng công việc chúng ta sẽ phải làm, và nỗ lực cần để thay đổi tận bên trong chúng ta tùy thuộc vào chúng ta xuất phát từ đâu. Tất nhiên, môi trường nuôi dạy quyết định phần lớn cách thức chúng ta tự nhìn nhận mình và thế giới xung quanh. Những người lớn lên trong những gia đình bất ổn sẽ phát triển cơ chế đối mặt. Điều này sẽ không có lợi cho họ trong thế giới rộng lớn. Họ sẽ cần nhiều thời gian để chấp nhận những xúc cảm của mình và để học cách giải quyết những xúc cảm đó hơn những người được nuôi dạy trong một môi trường lành mạnh.

Nhận thức về xúc cảm của bản thân

Trước khi làm bất kỳ điều gì với xúc cảm của bản thân, chúng ta cần nhận thức được sự tồn tại của nó. Một số cảm xúc – ví dụ như sự tức giận hoặc nỗi sợ hãi – rõ ràng hơn, đặc biệt nếu chúng ta trải nghiệm những xúc cảm này ở mức độ mạnh. Những cảm xúc khác khó nắm bắt hơn, và có thể chúng ta không nhận biết được chúng. Ví dụ, sự xấu hổ và mặc cảm tội lỗi đôi khi giống nhau đến nỗi, chúng ta khó có thể phân biệt chính xác. Khả năng nhận biết xúc cảm của bản thân cũng phụ thuộc vào cách xử lý mà chúng ta được dạy. Nếu chúng ta được dạy phải tin rằng xúc cảm là xấu và lúc nào cũng phải che đậy thì có thể chúng ta đã chôn giấu chúng quá sâu đến nỗi khó khăn trong việc tiếp cận những xúc cảm đó. Nhưng tiếp cận là điều chúng ta phải làm. Trong trường hợp này, vấn đề không phải là điều chúng ta không biết sẽ không làm tổn thương chúng ta. Những xúc cảm bị đè nén đã và sẽ tiếp tục làm tổn thương chúng ta, trừ phi ta nhận thức được và giải quyết chúng.

Anthony Robins, trong cuốn Awaken the Giant Within (Tạm dịch: Đánh thức con người phi thường trong bạn), nói về việc xúc cảm có lợi cho chúng ta như thế nào:

Cách duy nhất để sử dụng có hiệu quả xúc cảm của bạn là hiểu rằng, tất cả chúng đều có ích cho bạn. Bạn phải học từ xúc cảm của mình và sử dụng chúng để tạo ra chất lượng sống cao hơn. Những xúc cảm bạn từng nghĩ là xấu, đơn giản chỉ là thông điệp kêu gọi hành động. Khi đã quen với từng tín hiệu và thông điệp của nó, xúc cảm của bạn sẽ không còn là kẻ thù mà sẽ trở thành đồng minh của bạn. Xúc cảm sẽ trở thành bạn bè, người dẫn đường, người chỉ bảo cho bạn; xúc cảm dẫn bạn vượt qua những giây phút thăng trầm nhất của cuộc đời.

Có một số kỹ thuật chúng ta có thể sử dụng để giúp chúng ta liên hệ được với xúc cảm của mình. Tôi sẽ đưa ra một số kỹ thuật ở cuối chương này. Tuy nhiên, đôi khi nếu xúc cảm của chúng ta bị đè nén tới một mức độ nào đó hoặc là kết quả của một trải nghiệm đau thương nào đó thì có thể chúng ta phải cần đến sự trợ giúp chuyên nghiệp để có thể giải quyết. Trong trường hợp này có thể chúng ta phải cần đến sự giúp đỡ của một chuyên gia trị liệu hoặc một nhóm trợ giúp. Ví dụ, hai nhóm quốc tế, Mankind Project và Women Within, đã hoạt động rất hiệu quả trong việc giúp các thành viên của mình vượt qua được các xúc cảm của họ. Các nhà tâm lý học biết tới hai tổ chức này thường giới thiệu cho các khách hàng của mình và tin tưởng hoạt động của hai tổ chức này và khả năng tạo ra môi trường an toàn cho việc tiếp cận, khám phá và giải tỏa cảm xúc của họ.

Đi tới nguồn cội xúc cảm của bản thân

Khi chúng ta đã nhìn ra và nhận biết được xúc cảm của mình, chúng ta có thể đi tới được điểm bắt đầu của nó. Khi chúng ta có phản ứng trước một tình huống nào đó thì thường không phải chúng ta đang phản ứng với bản thân tình huống đó. Sự kiện chỉ đóng vai trò như chiếc cò súng, mang tới những xúc cảm chúng ta đã từng trải nghiệm trước đó. Ví dụ, nếu bạn đang ở trong một căn phòng có mười người và một người gọi cả nhóm là một lũ ngu ngốc thì tất cả các bạn sẽ có những phản ứng xúc cảm khác nhau. Ai hay bị bố chửi rủa là đồ ngu khi đang trong tuổi lớn, thậm chí có thể nổi điên lên. Một người khác có thể chỉ thấy hơi tức giận một chút, nhưng không thể bằng người có bố hay chửi mắng con. Nhưng một người khác chưa từng trải nghiệm việc bị chửi mắng, có thể sẽ không có chút phản ứng xúc cảm mạnh mẽ nào và tự hỏi điều gì khiến người kia lại nói như thế.

Hầu hết chúng ta đều sống quá nhiều bằng đầu và quá ít bằng tim. Chúng ta cần thường xuyên theo dõi cảm giác của mình để xem, liệu có phải chúng ta đang sống cuộc sống theo ý mình muốn hay đang sống cuộc sống do người khác định hướng. Trong cuốn Notes to Myself: My Struggle to Become a Person (Tạm dịch: Ghi chép về tôi: Cuộc đấu tranh để thành người), Hugh Prather viết: “Trong ngày, tôi càng lắng nghe xúc cảm bản thân mình để xem liệu có phải tôi đang làm những điều tôi muốn hay không, thì tới cuối ngày, tôi lại càng ít có cảm giác rằng mình đã lãng phí thời gian.”

Cảm giác của chúng ta không biết nói dối. Con người chúng ta có một năng lực tự đánh lừa bản thân thật vô hạn. Tuy nhiên, trí tuệ của chúng ta không thể cao hơn cảm giác. Cảm giác luôn để lộ bản thân ta và chỉ ra những mâu thuẫn trong cuộc sống. Thay vì lờ đi xúc cảm, chúng ta cần phải liên hệ nhiều với nó hơn nữa. Để sống một cuộc sống thực, thỏa nguyện và viên mãn, chúng ta phải sử dụng cả trí tuệ và cảm giác.

“Hãy trở thành điều thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế giới.”

– MOHANDAS GANDHI –

“Ai cũng nghĩ tới việc thay đổi thế giới, nhưng không ai nghĩ tới việc tự thay đổi chính mình.”

– LEO TOLSTOY, NHÀ VĂN NGA –

Câu chuyện của Brad

Bước vào tuổi 40, Brad gặp khủng hoảng. Không hài lòng với công việc của mình, anh tin chắc điều mình cần là thay đổi nghề nghiệp. Anh mệt mỏi liên miên, cảm giác như mình bị ngập sâu trong vũng bùn và không thể nào thoát ra được. Brad phàn nàn với bất cứ ai chịu lắng nghe anh về công việc của mình. Anh tin rằng chỉ cần anh có thể tìm được công việc có ý nghĩa và thỏa mãn hơn thì cuộc đời anh sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chán việc nghe anh phàn nàn, nhiều đồng nghiệp tìm cách tránh né anh.

Với các đồng nghiệp và người giám sát, nhìn bề ngoài, Brad có vẻ dễ chịu và có cách ứng xử nhẹ nhàng. Anh không bao giờ thể hiện bất kỳ dấu hiệu nào của sự bực tức và có vẻ xử lý stress trong công việc rất dễ dàng. Nhưng bên dưới vẻ bề ngoài điềm tĩnh đó là giận dữ và bực dọc bị dồn nén, gặp dịp nó sẽ sôi trào. Ví dụ, một đồng nghiệp đã gửi email yêu cầu Brad làm công việc của mình theo một cách nhất định. Tức giận vì bị một người không có quyền quản lý mình nói phải làm việc như thế nào, Brad viết thư trả lời, trong đó có những lời tục tĩu. Nhân viên giám sát của Brad gọi anh tới và hỏi về hành động đó. Ông chủ của Brad nói rằng, ông ta không thể hiểu vì sao một người thông minh như anh lại hành động theo cách đó. Điều này chỉ khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn, Brad bắt đầu nhận thấy mình đang tự tách mình xa hơn khỏi tập thể tại nơi làm việc. Nhiều bạn đồng nghiệp tránh né anh. Brad đặc biệt gặp rắc rối với người giám sát trực tiếp, vô cùng bực mình mỗi lần ông ta yêu cầu anh làm gì đó. Người giám sát chỉ là nhân vật cuối cùng trong danh sách dài những nhân vật quản lý anh gặp rắc rối.

Cuối cùng, Brad nhận ra mình đang bị trầm cảm và đã trầm cảm như thế từ trước đến giờ. Khi Brad nhận thức được căn bệnh của mình, anh liền tìm đến các chuyên gia. Nhờ họ tư vấn, anh bắt đầu đào sâu suy nghĩ về những cảm giác mà nhiều năm nay anh tránh né. Anh nhận ra nguyên nhân trầm cảm chính là mối quan hệ với cha đẻ của mình. Với cha, anh chưa bao giờ đủ tốt. Ông thường xuyên gọi anh là kẻ ngu dốt. Ngay cả khi Brad đã ngoài 30 tuổi, bố anh vẫn tiếp tục coi thường anh trước mặt mọi người. Brad cảm thấy cha mình là một người quá thông minh, phải chịu cay đắng vì không bao giờ có cơ hội sử dụng hết các khả năng của mình mà vẫn phải làm công cho đến hết đời. Khi khả năng tự nhận thức của Brad tăng lên, anh nhận ra rằng anh đang sống lại đúng cuộc đời của cha mình.

Trong quá trình tư vấn, Brad bắt đầu nhìn ra tất cả các lĩnh vực của cuộc đời mình bị ảnh hưởng do sự thiếu nhận thức về cảm giác bản thân. Anh nhận ra rằng, do không học cách quản lý xúc cảm, anh đã phá hỏng cuộc đời mình. Ngoài việc thường xuyên gặp gỡ một chuyên gia tư vấn, anh còn tham gia các buổi gặp mặt trị liệu nhóm trong một thời gian dài. Khi Brad tìm được cách giải tỏa nỗi giận dữ, anh đã nói với những người gần gũi mình rằng, lần đầu tiên trong đời anh thật sự thấy có hy vọng.

Nhiếp ảnh, vốn vẫn luôn là một sở thích nghiêm túc trong đời Brad, nay phát triển thành niềm đam mê. Nỗi sợ hãi bị từ chối đã khiến anh không dám gửi ảnh dự thi cho dù một vài nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp có khuyên anh làm điều đó. Kể từ khi tham gia, anh đã giành được một số giải thưởng cho những bức ảnh phong cảnh. Vào thứ Bảy hàng tuần, anh bán những bức ảnh chụp được tại một chợ địa phương và rất thỏa mãn khi mọi người ghi nhận tài năng của mình. Thỉnh thoảng anh vẫn thấy khó chấp nhận việc mọi người sẵn sàng trả tiền để được treo những bức ảnh của anh trong nhà.

Brad vẫn tiếp tục làm công việc của mình nhưng mọi chuyện không còn nhiều rắc rối như trước. Khi anh đã bớt phàn nàn về công việc, anh thấy rằng các đồng nghiệp không tránh mình nữa và lần đầu tiên anh được một số đồng nghiệp mời tới dự tiệc. Anh trở nên thân thiện hơn và có vẻ đã tìm được niềm hứng thú mới với những người cùng làm.

Mặc dù công việc đang làm không phải là công việc anh mơ ước nhưng Brad đã nhận ra rằng, dù sao đó cũng không phải là công việc tồi tệ nhất và anh phát hiện ra có một số phần việc anh cũng thật sự thích. Biết rằng những vấn đề gặp phải với lãnh đạo bắt nguồn từ việc giận cha mình, Brad đã nỗ lực xây dựng/phát triển những mối quan hệ tôn kính trong công việc với người giám sát và quản lý của mình.

Brad đã bật cười khi lần đầu nhận ra người giám sát của mình chính là nguyên nhân làm bùng nổ cơn thù địch của mình do gợi nhớ tới hình ảnh cha mình. Nhận thức này bước đầu hàn gắn mối quan hệ của anh với những người quản lý. Anh đã nỗ lực xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn với họ. Trong khi trước đây anh tìm ra những khác biệt chia cách với họ thì giờ đây anh bình tĩnh nỗ lực tìm ra những điểm chung với họ.

Bằng cách thành thực nhìn nhận và tự cam kết sẽ đối mặt với những cảm giác của mình, Brad đã thay đổi quan điểm. Giờ đây anh đã có thể tận hưởng cuộc đời mình.

“Bạn cần phải rời bỏ thành phố tiện nghi và bước vào thế giới hoang dã của trực giác. Những gì bạn khám phá được sẽ rất tuyệt vời.

Những gì bạn khám phá được sẽ là chính bạn.”

– ALAN ALDA, DIỄN VIÊN –

Kỹ thuật tăng cường khả năng tự nhận thức xúc cảm của bản thân

Ø Dành 10 phút mỗi ngày. Tìm một nơi riêng tư bạn cảm thấy thoải mái. Nhắm mắt lại và tập trung vào cảm giác của mình. Hãy cảm nhận sự căng thẳng trong cơ thể bạn. Tái hiện các sự kiện trong ngày để tạo ra một vài cảm xúc mạnh. Cố gắng tái tạo những cảm xúc đó bằng cách nhớ lại các sự kiện. Cuối mỗi lần, hãy viết lại những xúc cảm khác nhau mà bạn vừa xác định được vào một cuốn sổ được dành riêng cho mục đích này. Sau một vài tuần, để ý xem bạn có tiến bộ trong việc xác định xúc cảm hay không bằng cách nhìn vào số cảm xúc bạn có thể tái tạo.

Ø Nếu bạn gặp khó khăn trong việc liên hệ với các xúc cảm của mình hoặc gặp rắc rối trong việc phân biệt các loại cảm xúc, hãy tới gặp một nhà trị liệu hoặc tham gia một nhóm đặc biệt có khả năng khuyến khích bạn bày tỏ những cảm xúc này. Đôi khi, chứng kiến người khác can đảm chia sẻ xúc cảm của họ cũng sẽ làm chúng ta nảy sinh mong muốn làm điều tương tự.

Ø Vào cuối ngày, nếu cảm xúc tiêu cực mạnh mẽ - ví dụ sợ hãi, tức giận hoặc buồn chán – xuất hiện, hãy cố tìm nguồn gốc ban đầu. Ví dụ, nếu ai đó làm bạn tức giận, hãy tự hỏi mình có phải người đó gợi nhớ cho bạn tới ai đó làm bạn tức giận trong quá khứ hay không. Hãy nghĩ lại lần đầu tiên bạn nhận ra mình đã trải qua kiểu tức giận đó.

Ø Khi bạn thấy mình đang sắp tức giận, hãy tự buộc mình không được phản ứng gì trong ít nhất 10 giây. Chuẩn bị sẵn một ý nghĩ – một kỷ niệm dễ chịu hoặc một điều gì đó vẫn đánh đố bạn – để nghĩ trong khoảng thời gian 10 giây đó. Bạn phải làm bất kỳ điều gì có tác dụng, để buộc tâm trí mình nghĩ về một điều gì đó khác trừ việc tức giận.

Ø Nếu bạn thấy mình giận dữ, sợ hãi, xấu hổ hay mặc cảm tội lỗi, sau đó hãy tự hỏi xem liệu mình có thể phản ứng theo cách khác không. Sau khi bạn đã tìm ra cách xử lý tình huống tốt hơn, hãy tập trung vào giải pháp đó trong 30 giây. Hãy tự nói với mình rằng, lần sau bạn sẽ xử lý sự việc theo cách mới này.

Ø Mỗi ngày hãy tìm cơ hội chia sẻ ít nhất một xúc cảm tích cực. Hãy nói cho ai đó biết nếu điều họ làm khiến bạn cảm thấy thích.

6

SỰ QUẢ QUYẾT

“Hãy cân nhắc thận trọng, nhưng khi quyết định là phải hành động hoặc nhường nhịn khoan dung, hoặc kiên quyết chống lại.”

– CHARLESCOLTON, GIÁO SỸ VÀ NHÀ VĂN ANH –

Quả quyết là khả năng duy trì các giới hạn và diễn đạt các nhu cầu của bản thân rõ ràng, thẳng thắn. Điều này bao gồm việc có thể diễn tả những xúc cảm người đó đang cảm thấy và đưa ra những ý kiến có thể gặp sự phản đối hoặc đi ngược lại với “ý kiến đám đông”. Dù quả quyết có nghĩa là yêu cầu những gì chúng ta muốn, nhưng nó cũng không có nghĩa là chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta yêu cầu. Tính quả quyết bị coi là xấu ở một số lĩnh vực xã hội vì nó thường bị nhầm với tính hung hăng.

Những người quả quyết theo nghĩa tích cực, trong khi rất rõ ràng về mong ước của mình thì vẫn rất tôn trọng quyền của người khác. Những người quả quyết duy trì các giới hạn của mình như thế nào thì cũng tôn trọng các ranh giới của người khác như thế. Tính quả quyết cho phép có sự khác biệt về quan điểm mà không cần phải cố gắng đánh bại, khiến người khác phải phục tùng hoặc buộc họ phải thay đổi suy nghĩ. Nó cho phép tồn tại tình huống trong đó cả hai bên đều là người chiến thắng. Đây là điều mà sự hung hăng không thể làm được. Hai người quả quyết có thể duy trì một tình bạn thân thiết và tôn trọng lẫn nhau trong khi vẫn bất đồng với nhau. Thông thường, những người đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình được kính trọng và được người khác đánh giá cao hơn vì hành động của họ. Tuy nhiên, vì ranh giới giữa tính quả quyết và hung hăng thường rất mong manh nên những người được tôn trọng rất cố gắng để tôn trọng ranh giới của người khác.

Sự hung hăng

Tính hung hăng, đòi hỏi phải có người thắng – kẻ bại. Những người hung hăng không tôn trọng các giới hạn và muốn áp đặt ý chí của mình lên đối phương. Dù sự hung hăng có thể đạt được mục đích trước mắt nhưng nó để lại những vết hằn xấu xí luôn đi theo những kẻ hung hăng đó. Nạn nhân của tính hung hăng thường cảm thấy bị bắt nạt, căm thù và tức giận trước kết quả và sẽ thường tìm cơ hội phá hoại và “trả đũa” kẻ hung hăng kia. Đó là lý do vì sao những người hung hăng thường bị ghét và có ít bạn thân. Dù có vẻ là họ được tôn trọng, đặc biệt nếu họ ở vị trí quyền lực và có quyền chỉ đạo người khác, nhưng thái độ tôn trọng ấy rất mong manh. Những con dao sẽ chìa ra nếu họ rời khỏi vị trí quyền lực đó.

Tính thụ động

Trong khi hung hăng đứng ở đầu này của thang đo mức độ bảo vệ bản thân thì thụ động đứng ở đầu bên kia. Những người thụ động được ví như những chiếc thảm chùi chân, ai muốn bước qua cũng được. Cho dù vì bất kỳ lý do gì, những người thụ động cũng không nói lên nhu cầu và mong muốn của mình và thường bị người khác áp đặt. Những người này trở thành nạn nhân của xã hội. Tính hung hăng – thụ động lại là một lĩnh vực khác không ăn khớp trên bậc thang đo mức độ tự vệ.

Tất cả chúng ta đều biết những người hung hăng-thụ động. Họ có vẻ kín tiếng và không thích bị làm phiền. Dù nhìn bề ngoài, có vẻ họ hòa hợp với mọi thứ và không gì có thể làm họ thấy phiền, nhưng bên trong đang sục sôi, cảm giác như có rất nhiều mũi kim châm vào lòng mỗi khi họ cảm thấy người ta đang chĩa mũi sự bất công vào mình. Cuối cùng, khi họ không thể chịu đựng thêm chút nào nữa là họ bùng nổ cơn tức giận. Sự hung hăng thụ động thường là cơ chế được biết đến ở những người ở vào những hoàn cảnh dễ bị tổn thương và từng bị trừng phạt do nói ra những xúc cảm và ý kiến của mình. Thông thường, hành vi này được biết đến vào thời thơ ấu khi trẻ con học được bài học rằng, sẽ không ổn nếu chúng thể hiện sự giận dữ hoặc một số loại xúc cảm khác và ý kiến của chúng không có ý nghĩa gì. Nếu đứa trẻ không nhận được sự giúp đỡ thì nó sẽ mang theo tính hung hăng – thụ động đó cho tới khi trưởng thành và sử dụng tính đó với người bạn đời, với cấp trên, bạn bè và những người khác.

Người lớn cũng vậy, họ có thể học cách chôn giấu xúc cảm và suy nghĩ của mình khi thấy không có cách nào khác hoặc khi họ liên tiếp bị tổn thương do nói ra những xúc cảm và suy nghĩ của mình. Những người có ông chủ hoặc có bạn đời độc đoán có thể học được cách giữ kín những suy nghĩ và cảm giác của mình. Khi cơn giận dữ của những người hung hăng – thụ động bùng lên, nó có thể gây ra rất nhiều tổn hại. Những cơn giận dữ bùng phát thường có kết quả là những mối quan hệ bị phá hỏng, cũng như mất đi tình bạn và công việc. Các cơ hội nghề nghiệp bị tổn hại nghiêm trọng hoặc mất hoàn toàn do một ai đó trải qua cơn giận không thể kiểm soát được. Điều quan trọng là những người hung hăng – thụ động cần phải học cách quả quyết, nói ra sớm hơn mức họ cảm thấy cần. Đây là hành vi có thể vừa học vừa thực hành.

Sự quả quyết tích cực

Có nhiều cách hiệu quả để trở nên quả quyết, nhiều như số lượng tính cách của con người vậy. Trong khi cách nhìn của chúng ta về một người hung hăng là một kẻ to mồm và đáng ghét, thì một người kín tiếng và nhẹ nhàng vẫn có thể đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình, giống như một người sống thoải mái và thích giao du. Câu nói của Teddy Roosevelt “tẩm ngầm tầm ngầm mà đánh chết voi” làm rõ một điều rằng, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa sự im lặng với việc thiếu kiên định và mục đích. Sự quả quyết đòi hỏi phải có nhận thức về cảm giác và mức độ tự trọng khá. Chúng ta cần tin rằng ý kiến và cảm giác của bản thân là quan trọng trước khi chúng ta sẵn sàng và dễ dàng nói lên những điều đó.

Sự độc lập cũng quan trọng. Càng ít phụ thuộc vào sự ủng hộ của người khác, chúng ta càng ít sợ sẽ xúc phạm họ khi chúng ta cởi mở, trung thực và nói lên những điều mong muốn. Khi ai đó nói ra những điều trái ngược với niềm tin và giá trị chúng ta vẫn tin tưởng mạnh mẽ bấy lâu nay, chúng ta thường không thể thốt ra điều đầu tiên xuất hiện trong đầu, nên biện pháp kiểm soát tốt cơn bốc đồng sẽ có tác dụng; nếu không, chúng ta có thể sẽ tức giận hoặc nói điều gì đó sau này phải hối tiếc. Người có thể giữ bình tĩnh trong cơn tức giận và trong tình huống căng thẳng cuối cùng sẽ là người chiến thắng.

Thế giới có đầy những người lợi dụng ta và vượt qua các ranh giới của ta nếu chúng ta cho phép họ. Để tìm ra con đường riêng cho mình và nhận được những gì mong muốn, chúng ta cần phải có khả năng duy trì vững chắc ranh giới của mình.

“Mục đích kiên định là một trong những nguồn sức mạnh cần thiết nhất của tính cách, và là một trong những công cụ tốt nhất dẫn đến thành công. Không có nó, các thiên tài sẽ lãng phí nỗ lực của mình trong một mê cung bất định.”

– PHILIP DORMER CHESTERFIELD, CHÍNH KHÁCH ANH –

Câu chuyện của Don

Chủ đề của hội thảo là “Ảnh hưởng đối với công việc”. Hơn 40 người đã tới tham dự nghe diễn giả, một chuyên gia hàng đầu về cách gây chú ý và thăng tiến tại công sở, nói chuyện. Những khả năng của vị diễn giả này thật ấn tượng. Don Maxwell đã thuyết trình trước các tập đoàn lớn, các chính phủ và các nhà giáo dục trên khắp cả nước. Ông còn là khách mời của các chương trình thuyết trình trên truyền hình được yêu thích và thu hút được nhiều người tham gia ở bất kỳ nơi nào ông đến.

Bài nói của Don với nhóm 40 người này thật trôi chảy và tinh tế. Ông luôn dừng đúng lúc để đưa quan điểm của mình vào và nhấn mạnh những lĩnh vực quan trọng. Don cao lớn đứng đó, mang tới cho khán giả một bài thuyết trình tràn đầy năng lượng, sự nhiệt tình và tự tin. Ông lần lượt nhìn vào những người tham gia và đảm bảo rằng tất cả họ đều cảm thấy như ông đang nói với một mình họ vậy. Quần áo được may cầu kỳ, phong cách và thái độ của ông, tất cả đều toát lên ông là người tự tin và thành đạt. Nếu khán giả được yêu cầu tưởng tượng ra nền giáo dục ông được hưởng, rất có thể họ sẽ hình dung ra một cậu bé sáng sủa có thành tích học tập xuất sắc, giỏi thể thao, được nhiều bạn gái mến mộ và được bố mẹ nuôi nấng trong yêu thương.

Bức tranh của họ về quá khứ của Don khác xa thực tế. Trước khi hoàn thành bài thuyết trình của mình, Don đã yêu cầu các khán giả của mình cố gắng tưởng tượng thời thơ ấu và thời kỳ đầu trưởng thành của ông như thế nào, dựa trên những gì họ vừa được nhìn và nghe. Vào cuối buổi thuyết trình, Don tóm tắt cho các khán giả nghe về cuộc đời của mình. Hồi bé, ông là một đứa trẻ gầy gò, vụng về và hay xấu hổ. Cha của ông, một thương nhân, nghiện rượu rất nặng và mãi sau này, Don mới biết điều đó. Dù không ngược đãi vợ con nhưng ông hoàn toàn chìm đắm vào những rắc rối của mình và không làm được gì nhiều cho Don và người anh trai Jason của Don. Mẹ ông phải chịu đựng những đợt trầm cảm. Khi sức khỏe khá hơn, bà có thể thể hiện tình yêu thương của mình với hai cậu con trai, nhưng sau đó bà lại thu mình vào thế giới riêng của mình. Don nhớ lại cảm giác cô đơn, sợ hãi và bất lực khi trong gia đình không có ai là trụ cột, trừ người anh trai hơn ông có hai tuổi.

Có một người mà hai anh em có thể trông cậy – đó là chú Chuck đằng bố. Chú Chuck là anh hùng thời chiến và kinh doanh khá thành đạt sau khi chiến tranh kết thúc. Dù ông chỉ cao có khoảng 1m60 nhưng với hai anh em ông phải cao đến 2m10. Thấy hai đứa cháu của mình bị thiếu sự dạy dỗ của cha mẹ, chú Chuck đã che chở cho chúng. Cảm thấy sự thiếu tự tin ở Don, ông ghi tên cho cậu tham gia lớp judo khi cậu bảy tuổi.

Đứa học sinh đầu gấu ở trường Don vẫn thường bắt nạt Don và những đứa trẻ nhỏ con hơn khác. Được sự khuyến khích, huấn luyện của chú Chuck và tập luyện judo, cuối cùng Don cũng đủ can đảm để đánh trả. Ông nhớ rõ ngày hôm đó. Khi cậu bé Don đang đi dọc hành lang thì đứa bé kia xuất hiện từ phía sau và đánh đổ túi đựng bữa trưa khỏi tay cậu, thức ăn đổ hết ra đất. Thằng bé bảo, Don làm gì được nó nào. Không suy nghĩ nhiều, Don sấn tới và hất đám sách vở khỏi tay thằng bé rơi la liệt dưới đất. Có tiếng cười đằng sau hai đứa bé. Thằng bé kia, choáng váng và tức giận, vung cú đấm hướng về Don. Don đoán được ý thằng bé liền chộp lấy cánh tay và quật nó xuống đất. Bàng hoàng và đau đớn, trông có vẻ sững sờ và khá xấu hổ, thằng bé ngồi dậy và cúi mặt bỏ đi. Nó không còn dám làm phiền Don nữa.

Tiếng đồn lan nhanh và cậu bé hay xấu hổ và bị bắt nạt ngày nào nhanh chóng trở thành người hùng, được cả bạn bè lẫn thầy cô giáo kính nể. Trong khi Don đã giành được sự tự tin khi tự vệ thì việc phải nói trước đám đông lại là một vấn đề khác. Bất kỳ khi nào thầy cô giáo đặt câu hỏi, Don đều chết lặng, hầu như chỉ có thể mấp máy trả lời bằng một giọng yếu ớt và nhút nhát. Khi Don nói cho chú về vấn đề này của mình, chú Chuck đưa ra một kế hoạch. Ông bảo Don hãy hình dung lại việc quật ngã đứa hay bắt nạt cậu bất kỳ khi nào cậu phải nói trước đám đông. Cậu phải hình dung chắc chắn trong đầu mình hình ảnh mạnh mẽ, tự tin và chắc chắn vào bản thân trước khi bắt đầu nói.

Lần đầu thử điều này, thầy cô giáo và những bạn học khác trong lớp đều lặng đi trong chốc lát, ngạc nhiên trước giọng nói mạnh mẽ và tự tin của cậu. Càng luyện cậu càng làm được dễ dàng hơn và cuối cùng cậu bé nhút nhát bắt đầu thích nói trước đám đông. Cậu đủ tự tin về khả năng của mình để có thể tranh cử chức chủ tịch hội học sinh và kết quả là cậu chỉ chịu về thứ hai, người thắng cuộc là cô bé được yêu thích nhất trường và từng giành vương miện trong cuộc thi sắc đẹp. Don tự hào về nỗ lực của mình vì biết rằng mình đã làm hết sức. Chú Chuck vẫn luôn nói với cậu rằng, thất bại không có gì đáng xấu hổ nếu mình đã cố gắng hết sức.

Don đi học đại học và trở thành một nhà tâm lý học. Dù ông thích giúp đỡ từng cá nhân nhưng niềm đam mê của ông là nói chuyện với các nhóm người. Mỗi khi có dịp, ông lại tình nguyện nói chuyện với các nhóm cộng đồng hoặc cơ quan. Dù không kiếm được chút tiền nào từ những hoạt động này nhưng ông vẫn coi đó là cơ hội để rèn luyện khả năng và có được những kinh nghiệm diễn thuyết quý báu.

Sau 20 năm tốt nghiệp đại học, hiện Don đã trở thành một diễn giả có tiếng, chuyên về các hội thảo và thảo luận phát triển nhân viên. Dù không còn phải nói chuyện miễn phí nữa nhưng ông vẫn tình nguyện nói chuyện với các nhóm trường học. Don thích kể “câu chuyện đánh bại kẻ bắt nạt” của mình và thấy lại mình trên gương mặt của nhiều đứa trẻ ít nói ngồi cuối lớp. Ông hy vọng rằng thông điệp của ông sẽ mang tới sự can đảm cần thiết cho một vài đứa trẻ đó để chúng không trở thành nạn nhân cả đời. Ông suy xét rằng, ngay cả nếu cuộc nói chuyện của ông chỉ có thể khích lệ chúng làm một điều trước đây chúng sợ không dám thử thì ông cũng đã thành công rồi. Lý thuyết của ông là, khi con người ta đã thoát ra khỏi được điểm ỳ của mình rồi thì họ không bao giờ trở lại con đường trước đây nữa.

Kỹ thuật tăng tính quyết đoán

Ø Tập đòi hỏi những điều bạn muốn. Đừng xin phép hoặc rào đón, hãy hỏi thẳng. Hãy tự nói với mình rằng thời gian và ý kiến của bạn cũng đáng giá như của bất kỳ ai khác. Ngay cả nếu bạn không thật sự tin như vậy thì cũng cứ thu hết can đảm và thực hiện. Thẳng thắn đòi hỏi ít nhất mỗi lần một ngày. Bắt đầu bằng những tình huống ít đáng sợ và tiến tới những tình huống khó khăn hơn.

Ø Chú ý tới ngôn ngữ bạn sử dụng. Tiến tới cắt bỏ sự ngập ngừng, “à”, “ừ”. Những từ chêm này khiến bạn có vẻ không quyết đoán. Nói chậm lại nếu bạn thấy cần thiết, nhưng hãy tập làm cho lời nói của mình nghe chắc chắn và mạnh mẽ.

Ø Gọi mọi người bằng tên, không dùng danh xưng trừ khi theo quy tắc thông thường, ta gọi những người đó bằng chức danh của họ (khi nói chuyện với bác sỹ). Gọi ai đó bằng chức danh khi không được yêu cầu sẽ trao cho họ vị trí quyền lực cao hơn bạn. Hãy nhìn thẳng vào mặt người đối thoại.

Ø Tạo lập thói quen lên tiếng và yêu cầu bồi thường khi bạn thấy có điều bất ổn với món hàng mình mua, cho dù đó là một bữa ăn ở nhà hàng, hay một món quần áo hay một lần sửa xe. Yêu cầu bằng chứng cho thấy người ta đã làm dịch vụ cho ô tô của bạn, ví dụ như cho xem bộ phận đã được thay thế.

Ø Đừng để các chuyên gia dọa cho không dám yêu cầu làm rõ hoặc giải thích, vì bạn nghĩ họ sẽ cho mình là dốt nát. Họ có trách nhiệm giải thích vấn đề theo hướng đơn giản hóa sao cho bạn hiểu chứ bạn không có nghĩa vụ phải học những chuyên môn của họ. Hãy cứ yêu cầu họ giải thích cho đến khi bạn cảm thấy thoải mái và hiểu hết những điều họ nói.

Ø Không bao giờ lên tiếng tự vệ khi bạn thấy mình đang bị mất kiểm soát, nếu không giọng bạn sẽ thể hiện rõ sự giận dữ. Khi bạn làm điều này tức là bạn sẽ cho người kia quyền kiểm soát bạn. Hãy chờ cho đến khi bạn có thể nói một cách bình tĩnh và dõng dạc. Hãy nhớ, không phải bạn đang tấn công đối phương mà đơn giản là bạn đang yêu cầu những gì mình muốn. Nếu bạn không nhận được thứ mình muốn, hãy tiến lên và thử lại lần nữa. Hãy tập trung vào thực tế là bạn không sợ thử và bạn đã làm hết sức.

7

LÒNG TỰ TRỌNG

“Tự tin là điều kiện tiên quyết để có thể làm được những điều vĩ đại.”

– SAMUEL JOHNSON, NHÀ VĂN ANH –

“Người nào tin vào bản thân mới giành được lòng tin của người khác.”

– DANH NGÔN CỦA NGƯỜI DO THÁI HASIDIC –

Toàn bộ ý nghĩa của tự trọng là cách chúng ta tự nhìn nhận bản thân mình. Đó là đánh giá chính xác về con người chúng ta, xét đến cả mặt mạnh lẫn mặt yếu. Khi nói tới tự trọng, hầu hết mọi người đều nghĩ nó đồng nghĩa với tự tôn. Tuy nhiên những người sáng tạo ra bài kiểm tra BarOn EQ-i đã tìm nhiều cách để phân biệt hai khái niệm này. Tự tôn là từ thông dụng từ nhiều thập kỷ nay và thiếu tự tôn được coi là vấn đề nghiêm trọng đối với tất cả những ai có bất ổn. Do đó, câu trả lời là phải nâng cao lòng tự tôn của mọi người bằng cách nói với họ rằng, họ thật tuyệt vời và xứng đáng được tôn trọng chỉ đơn giản vì họ là chính bản thân mình. Người ta cho rằng, nếu có thể nâng cao lòng tự tôn của mọi người thì họ sẽ thực hiện vai trò của mình hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, người ta phát hiện ra điều này không đúng sau khi thấy rằng, nếu chúng ta làm tăng cảm giác của một người về giá trị của người đó, cuối cùng chúng ta sẽ có một con người bất ổn. Người này cảm thấy bản thân mình rất tốt và có rất ít nhu cầu cần thay đổi vì hiện tại họ cũng đã tốt lắm rồi. Đây rõ ràng không phải là kết quả mà các nhà xã hội học nghiên cứu về khái niệm tự tôn hình dung ra. Phần quan trọng còn thiếu chính là yêu cầu phải đạt được, phải làm được điều gì đó đáng giá để được quyền cảm thấy hài lòng về bản thân.

Lúc trước tôi đã đề cập đến khả năng tự lừa dối bản thân của chúng ta là vô hạn nhưng cảm giác sẽ luôn để lộ chúng ta. Điều này có vẻ đúng với việc thổi phồng giá trị bản thân. Thẳm sâu bên trong, các cảm giác của chúng ta không hề thay đổi, điều đó làm cho hình ảnh bị thổi phồng quá mức kia trở nên giả tạo hết sức. Cuộc đời tôi là bằng chứng cho điều này. Ở trường cấp ba, tôi tập trung vào các giờ học, coi đó như là bước đầu tiên để có thể học cao hơn và có được vị trí tôi muốn trong cuộc đời này. Điểm số của tôi khá tốt, ở một vài khóa học tôi còn đạt được mức điểm dẫn đầu lớp. Vị hiệu trưởng có nói một câu mà tôi không bao giờ quên. Ông nói: “Harvey, con thật là cừ nhưng chớ để mình chếnh choáng vì điều đó.” Thành tích là thứ gì đó bạn phải tự làm, và vì thế nó sẽ không bao giờ bị lấy mất. Để làm được điều đó phải cần đến sự tận tâm, can đảm và cần cù. Đây là nguồn bồi đắp lòng tự trọng đích thực. Những thành tích này không cần phải to lớn, kinh thiên động địa mới khiến ta cảm thấy thoải mái. Hoàn thành tốt bất kỳ nhiệm vụ nào chúng ta thấy khó hoặc không chắc mình có thể làm được, sẽ cho chúng ta cảm giác về giá trị bản thân.

Xuất bản được cuốn sách đầu tiên tất nhiên đã đem lại cho tôi sức bật năng lượng to lớn. Hàng ngày, tôi đạt được những bước tiến nhỏ hơn bằng cách làm tốt những công việc thường lệ. Ví dụ, tôi cảm thấy mình hữu ích khi viết được một bức thư tay thật hay hoặc học được một chức năng máy tính nào đó. Bất kỳ khi nào tôi làm được điều gì cho ai hoặc vì thế mà nhận được lòng biết ơn chân thành, tôi đều thấy dễ chịu. Có can đảm thử làm một điều gì đó vẫn có thể khiến bạn thấy phấn khởi, ngay cả nếu kết quả không được như mong muốn. Chúng ta vẫn sẽ hài lòng khi biết rằng mình đã tự đẩy bản thân ra khỏi sức ỳ. Tôi vẫn nhớ cảm giác của mình khi sốt sắng trong chuyện hẹn hò, cố gắng gom góp can đảm để gọi điện và mời ai đó đi chơi. Mức can đảm tôi cần tỷ lệ thuận với việc tôi muốn hẹn hò với người đó thế nào thì sẽ tỷ lệ nghịch với thành công tôi dự tính như thế. Tôi thường chờ đến phút cuối mới gọi điện cho buổi hẹn vào cuối tuần, thường là thứ Tư. Bất kỳ khi nào bị từ chối, tôi lại thấy xáo trộn với nhiều cảm giác khác nhau. Một mặt tôi thất vọng vì không thành công. Mặt khác, tôi lại cảm thấy được an ủi vì mình đã có đủ can đảm để gọi. Hậu quả của việc không đủ can đảm để gọi là tôi không bao giờ biết chuyện gì có thể xảy ra. Ít nhất gọi điện cũng cho tôi có cảm giác cơ hội đã khép lại.

Thất bại thật sự duy nhất trong đời là không có can đảm thử. Bất kỳ khi nào chúng ta vượt lên được sức ỳ và tự mạo hiểm bản thân để nhận được những điều chúng ta muốn thì nền móng của lòng tự trọng của chúng ta sẽ được nâng cao. Hãy coi đó là một tài khoản ngân hàng. Thay vì tăng nguồn tiền, chúng ta đang làm tăng nguồn cung cấp giá trị bản thân. Càng tích lũy, chúng ta càng có nhiều cơ hội mở rộng cuộc sống của mình. Những người có tài khoản giá trị bản thân lành mạnh luôn tìm kiếm các cơ hội phát triển. Tài khoản này càng lớn thì chúng ta càng có nhiều cơ hội hơn.

Làm sao chúng ta biết mọi người có lòng tự trọng thật sự hay chỉ đang ra vẻ có nó? Chúng ta biết có những người, theo tiêu chuẩn xã hội, khá thành đạt, dù trong lòng họ không thấy ổn về bản thân mình chút nào. Có nhiều người thành công vì họ đủ khéo léo để điều khiển người khác trong trò chơi này. Tuy nhiên những người có mức tự trọng cao thật sự thường ủng hộ những mục tiêu của người khác và không có nhu cầu dìm người khác xuống. Họ ủng hộ ước mơ, mục tiêu của người khác và không bị đe dọa bởi những điều đó. Tiến bước trên con đường khám phá và phát triển riêng của mình, họ luôn chào đón những người bạn đồng hành.

Southwest Airlines lập chương trình trợ giúp CoHearts để giúp những người mới vào làm cảm thấy được chào đón. Nhân viên cũ tình nguyện trợ giúp nhân viên mới: thường xuyên liên lạc với những người mới, mua tặng họ những món quà nhỏ, đưa họ đi ăn trưa và giúp đỡ họ. Kết quả là sau chương trình này, nhiều mối quan hệ hỗ trợ và thân thiết đã được thiết lập. Ngày định hướng là một sự kiện lớn, một cái cớ để tổ chức liên hoan. Thông thường, những người mới được chào đón trong không khí giống một lễ hội carnival với bóng bay, pháo giấy, ca nhạc và vũ hội. Bắt đầu từ chính chủ tọa Herb Kelleher, tiếp đến là các nhóm nhân viên vừa nhảy vừa hát vừa miêu tả cho những nhân viên mới về công việc của họ. Vào cuối buổi liên hoan, bóng bay được đưa xuống khu vực chờ lên máy bay cho bọn trẻ. Điều này mang đến một thông điệp bằng hình ảnh về một công ty không chỉ thật sự biết chăm lo cho người của mình mà còn biết chăm lo cho cả khách hàng nữa.

“Người có sức mạnh là người giữ được bản thân trong quyền lực của chính mình.”

– SENECA, DIỄN GIẢ VÀ NHÀ VĂN LA MÃ –

Câu chuyện của Monica

Monica được nuôi dạy trong một gia đình nghiêm khắc. Cha cô rất cổ hủ và cho rằng, đàn bà con gái không cần phải học nhiều chỉ để nuôi con và trông nom nhà cửa. Mẹ cô sợ cha cô và cũng tin rằng phụ nữ sinh ra là để phục vụ chồng và ở nhà nuôi con. Hai anh trai của Monica được khuyến khích mở rộng học vấn. Một người sau này trở thành kỹ sư và người kia trở thành dược sỹ. Cao khoảng 1m74 và thân hình mảnh dẻ, Monica không hẹn hò nhiều trong suốt thời phổ thông. Dù khá hấp dẫn, nhưng cô bé lại cố che giấu những ưu điểm của mình bằng cách ăn mặc kín đáo và trang điểm rất ít. Điểm số của cô bé đủ cao để có thể trở thành một học sinh danh dự nhưng cô bé cố tình nhận điểm thấp nhất trong môn tôn giáo. Lúc đó, cô không hiểu sao mình lại làm vậy nhưng sau này cô nhận ra rằng đó là cách chống đối lại cha mẹ mình, đặc biệt là cha cô. Monica cũng xuất sắc trong các môn thể thao và là ngôi sao trong đội bóng rổ của trường.

Dù rõ ràng là có tài nhưng Monica không thấy ổn về bản thân mình. Thiếu sự ủng hộ từ cha mẹ, cô bé không có bất kỳ kế hoạch nào cho tương lai. Nhưng cô bé lại có một đồng minh rất mạnh, đó là dì Jennifer. Jennifer là nữ doanh nhân thành đạt, bà làm chủ tịch Phòng Thương mại địa phương. Dì đã đi công tác trên khắp thế giới và Monica kính trọng dì. Cha cô bé không thích dì, thường xuyên chỉ trích dì vì hai cuộc hôn nhân thất bại và bóng gió nói rằng dì là một người phụ nữ thất bại. Mẹ Monica không bảo vệ em mình trước mặt chồng, nhưng Monica phát hiện có chút gì đó ghen tỵ với dì Jennifer trong những lần nói chuyện với mẹ. Monica nghĩ cha mình cũng ghen tỵ với dì vì dì có nhiều tiền hơn, được giáo dục tốt hơn và tận hưởng cuộc sống nhiều hơn ông. Dù bị cha phản đối nhưng Monica bắt đầu dành nhiều thời gian hơn với người dì yêu quý của mình. Jennifer rất ủng hộ đứa cháu gái của mình. Monica học cách trang điểm và ăn mặc làm sao nổi bật nét đẹp tự nhiên của mình. Với sự khích lệ và ủng hộ tài chính của dì, cô bé ghi tên tham gia các lớp học múa. Với tài năng bẩm sinh, Monica thấy các bước di chuyển trong môn múa ngấm vào mình một cách khá dễ dàng và cô bé bắt đầu đam mê sở thích mới này. Nó giúp cô bé tăng cường các kỹ năng tương tác xã hội và sự tự tin.

Dì của Monica luôn nhắc cô bé rằng có những người cô gặp trong đời, do ghen ghét nhỏ nhen và để bù đắp cho những thất bại của họ, sẽ cố gắng lôi cô xuống cùng hàng với họ, phải tránh xa những người đó như tránh xa bệnh dịch, nhưng phải đến gần hơn với những người trân trọng cô vì chính con người cô và ủng hộ cô. Monica ghi khắc những lời khuyên đó trong tim. Khi có khó khăn ở gia đình, cô bé thường nói chuyện với huấn luyện viên bóng rổ và giáo viên tiếng Anh, cả hai người đều ủng hộ và trấn an Monica rằng cô có đủ khả năng để có thể trở thành bất kỳ điều gì cô muốn.

Khi học hết phổ thông, Monica dành ra một năm đi làm để dành dụm tiền và du lịch tới châu Âu cùng một người bạn. Cha cô, như thường lệ, lại phê phán và không ủng hộ, làm một tràng rằng đó là một sự lãng phí thời gian và tiền bạc. Tuy nhiên, dì cô thích ý tưởng này và khuyến khích Monica, nói cho cô biết du lịch giúp tăng cường cảm giác độc lập, hiểu biết và mở rộng tầm nhìn cuộc sống nhiều như thế nào.

Xuất phát từ nền tảng được bao bọc, Monica thấy ba tháng du lịch của mình, như cô mô tả, là “một sự thức tỉnh”. Cô coi đây là một trong những điều tốt đẹp nhất cô từng làm cho mình, vì nó mở rộng thế giới và sự tự tin của cô.

Khi năm này kết thúc, cô quyết định mình muốn trở thành một cô giáo, chuyên ngành giáo dục thể chất. Cô đã lựa chọn được một số trường đại học và không có vấn đề gì trong việc được nhận vào học. Trường cô chọn cách nhà khá xa. Lúc đầu, cô phải đấu tranh với nỗi buồn xa gia đình và bạn bè. Tuy nhiên, khi cô chơi thử và được nhận vào đội bóng rổ của trường, chẳng mấy chốc cô đã bận rộn với các hoạt động ngoại khóa. Cô đau lòng mỗi khi bạn bè kể về sự ủng hộ của cha mẹ mình. Cô lắng nghe khi họ nói về việc sẽ về nhà thăm cha mẹ hoặc cha mẹ họ sẽ tới thăm họ. Với Monica, những cuộc nói chuyện này dài lê thê và đau đớn, cô luôn cảm thấy như được giải thoát khi họ chuyển sang một chủ đề khác. Cha mẹ Monica không tới thăm cô và cô cũng hiếm khi về nhà, trừ vào những ngày nghỉ như Lễ Tạ Ơn, Lễ Phục Sinh, Lễ Giáng Sinh.

Cảm giác mình như một kẻ vô gia cư, cô tới gặp tư vấn viên của trường đại học. Nhân viên tư vấn yêu cầu cô bày tỏ các cảm giác của mình và cố gắng nhìn vào tình thế của mình như thể một món quà, trong đó cô sẽ biến những tranh đấu của mình thành sức mạnh. Thực tế, là cô vẫn đang đạt được thành công trong cuộc sống bất chấp những trở ngại trên đường đi. Điều đó cho thấy cô đã mạnh mẽ, quyết tâm và độc lập như thế nào. Cô có thể là một hình mẫu lý tưởng cho những người khác trong tình huống tương tự, cô sẽ rất nhạy cảm trước những đứa trẻ cô dạy, những đứa trẻ cũng đang phải trải qua những gì cô đã từng phải trải qua. Cuộc đấu tranh đã giúp cô hình thành nên tính cách, cho cô lòng quyết tâm và sự kiên nhẫn để tiến lên khi mọi thứ trở nên khó khăn. Chúng mang đến cho cô nền tảng vững chắc để xây dựng phần đời còn lại của mình.

“Người ta nghĩ là tôi ‘tự cao tự đại’, tôi không hề. Tôi chỉ tự tin vào bản thân mình. Đây là và vẫn luôn luôn là một phẩm chất không thể tha thứ đối với những người thiếu tự tin.”

– BETTE DAVIS, NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH –

Kỹ thuật gia tăng lòng tự trọng

Ø Hãy chạy xa – đừng rảo bước – khỏi những người kéo bạn xuống hoặc hạ thấp bạn bằng mọi giá. Hãy tập trung thời gian với những người bạn biết sẽ ủng hộ bạn. Đừng tự lừa dối mình rằng, bạn có thể nâng những người tiêu cực lên. Điều đó sẽ không xảy ra; thậm chí họ sẽ lôi bạn xuống.

Ø Biến việc đặt mục tiêu là một phần trong cuộc sống của bạn. Hãy viết ra và tuân thủ nghiêm ngặt những mục tiêu đó. Đặt mục tiêu cho sáu tháng, một năm và năm năm. Đặt mục tiêu sao cho có thể đạt được nhưng phải đủ khó để bạn sẽ phải nỗ lực để đạt được. Phải có kỷ luật. Tôi không quá nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt mục tiêu. Nếu bạn cần thêm động lực, ý tưởng và cảm hứng, hãy nghe những đoạn băng tạo động lực của những người như Anthony Robbins. Họ đều nói về tầm quan trọng của việc đặt mục tiêu.

Ø Giữ một cuốn sổ lưu giữ các thành tích. Hàng tuần, hãy dành một tối trước khi đi ngủ, viết vào sổ tất cả những gì bạn đã làm được trong tuần đó. Đừng quên những điều có tính chất cá nhân như mang lại nụ cười trên khuôn mặt một ai đó hoặc làm cho ai đó bật cười. Hãy nghĩ tới những điều khiến bạn cảm thấy hài lòng. Nếu bạn gặp khó khăn trong việc nhớ lại cả tuần, hãy lập một danh sách ngắn mỗi tối.

Ø Nhờ những người bạn tin tưởng và kính trọng, và là người biết rõ bạn, nói cho bạn biết, họ nhìn thấy điểm mạnh gì ở bạn. Đôi khi người khác có thể nhìn ra những ưu điểm chúng ta có mà bản thân chúng ta lại không thể nhận ra.

Ø Ăn mừng tất cả những thành tích của bạn – những thành tích nhỏ theo cách nhỏ và những thành tích lớn theo cách lớn.

Ø Tạo thói quen ghi nhận thành tích của người khác và ủng hộ việc theo đuổi thành tích của họ.

8

HIỆN THỰC HÓA LÝ TƯỞNG CỦA BẢN THÂN

“Bạn luôn phải vượt qua thất bại trên con đường tới thành công.”

– MICKEY ROONEY, HOẠT NÁO VIÊN VÀ DIỄN VIÊN ĐIỆN ẢNH MỸ ĐOẠT GIẢI EMMY

“Chỉ có một thành công duy nhất – là có thể sống theo cách của riêng bạn.”

– CHRISTOPHER MORLEY, NHÀ BÁO, NHÀ VIẾT TIỂU LUẬN VÀ NHÀ THƠ MỸ

Hiện thực hóa lý tưởng của bản thân đề cập tới những gì chúng ta đạt được trong đời so với những gì chúng ta muốn có. Khó có thể đánh giá chính xác và trung thực điều này. Nó đòi hỏi chúng ta phải đồng điệu với các cảm giác và mong muốn thật sự của mình. Nhiều người đã sống quá lâu theo quan niệm về thành công của người khác nên những mong ước của chính họ đã bị chôn sâu trong tiềm thức. Trong nền văn hóa của chúng ta, chúng ta được lập trình để quan niệm sự thành đạt theo góc độ chúng ta đã tích lũy được bao nhiêu tiền bạc của cải. Nhiều người coi việc hiện thực hóa lý tưởng của bản thân là họ làm tốt công việc hoặc sự nghiệp kinh doanh như thế nào, và họ đã quản lý tài chính của mình tốt ra sao. Thành công về tài chính có thể gia tăng rất nhiều sự tự do và các lựa chọn trong cuộc sống, cho phép chúng ta hưởng thụ và trải nghiệm một lối sống phong phú hơn nhiều. Nó cũng cho chúng ta cảm giác mạnh mẽ về thành tích và làm tăng sự tự tin của chúng ta. Tuy nhiên, thành công rộng hơn thế rất nhiều, bao trùm toàn bộ cuộc sống của chúng ta, gồm quan hệ với những người khác, các sở thích và thú vui và cấp độ phát triển bản thân. Có những người đạt được nhiều hơn so với sự trông đợi của bất kỳ ai nhưng họ vẫn khổ sở, thiếu những mối quan hệ tốt đẹp với gia đình và mọi người, và không có được cuộc sống thỏa mãn bên ngoài công việc. Họ nhanh chóng thấy rằng, không thành công nào có thể bù đắp cho sự thất bại trong gia đình.

“Đây là thời kỳ tuyệt vời nhất trong lịch sử để sống.

Đây là buổi bình minh của một thế hệ mới, những con người sáng tạo, những con người tìm kiếm sức khỏe, sự thịnh vượng, những con người tạo ra hạnh phúc và biến đổi thế giới... những con người trí tuệ nhất trên Trái đất.”

– MARIANNE WILLIAMSON, NHÀ VĂN –

Thuật ngữ hiện thực hóa lý tưởng của bản thân do Kurt Goldstein – nhà lý luận sinh thể – nghĩ ra. Ông đề cập tới thuật ngữ này với vai trò là động cơ để chúng ta có thể đạt tới các tiềm năng của mình. Khái niệm hiện thực hóa lý tưởng của bản thân thường có liên quan tới lý thuyết thang nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow. Theo lý thuyết của ông, có các cấp độ nhu cầu khác nhau, và chúng ta phải được đáp ứng các nhu cầu trong một lĩnh vực ở cấp độ này trước khi chuyển tới cấp độ tiếp theo. Ở tầng đáy là các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc và ở. Sau đó là nhu cầu được an toàn. Sau khi các nhu cầu vật chất cơ bản được đáp ứng, chúng ta chuyển tiếp tới các nhu cầu tinh thần như tình yêu và sự tôn trọng. Trên đỉnh của tháp nhu cầu là nhu cầu hiện thực hóa lý tưởng của bản thân. Đây là hiện thân của tất cả những phẩm chất cao cấp của con người như khả năng thiết lập những tình bạn sâu sắc, khiếu hài hước, sự độc lập và tự chủ. Có thể làm thay đổi môi trường thay vì chỉ cam chịu đối mặt, được coi là bước tiến cao nhất trong sự tiến hóa của loài người. Một số người cảm thấy nhân loại không bao giờ có thể đạt tới cấp độ này. Nhưng dù sao đi nữa, nó vẫn là một mục tiêu đáng phấn đấu. Nó là đỉnh cao của trải nghiệm loài người và nếu chúng ta không nỗ lực để đạt được điều này, tức là chúng ta đang tự làm cùn bản thân và yên ổn ở mức thấp hơn khả năng của chúng ta.

Hãy đưa cuộc sống tới nơi bạn muốn nó tới

Hiện thực hóa lý tưởng của bản thân sẽ dễ xác định hơn đối với những người đã có những mục tiêu sống lâu dài và có định hướng rõ ràng. Những người khác không có mục tiêu, sẽ khó khăn hơn trong việc xác định mình đã tiến được bao xa trong hành trình của họ. Chúng ta cho rằng những người giàu có và nổi tiếng là những người đang theo đuổi ước mơ của mình và cảm nhận được thành tựu trong cuộc đời họ. Những gì họ có rất hữu hình và chúng ta luôn được nhắc nhở rằng đây chính là mục tiêu của chúng ta. Những kiểu thành tích khác mờ nhạt và kín đáo hơn. Ví dụ, ai đó đã đi quá lâu trên hành trình tìm kiếm ánh sáng tinh thần có thể cảm thấy là họ đã thực hiện được mục đích đời mình. Cách duy nhất để chúng ta thật sự biết có phải mình đang sống theo cách mình muốn hay không là hãy đi vào cảm giác bên trong. Vì chúng ta có khả năng tự lừa dối bản thân vô hạn về mặt trí tuệ, trí tuệ sẽ không cho chúng ta biết chính xác về việc chúng ta đã đi được bao xa trong hành trình của mình.

Chúng ta sẽ trở thành điều mà chúng ta nghĩ. Như đã nói lúc trước, cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay là kết quả của suy nghĩ của chúng ta từ quá khứ. Cách thay đổi tương lai là chúng ta chỉ nghĩ tới những điều chúng ta muốn.

Điều thách thức ở đây là, con người có hơn 60.000 ý nghĩ mỗi ngày. Chúng ta không thể theo dõi các ý nghĩ của mình cả ngày dài để đảm bảo rằng mình đang tập trung vào những ước muốn trong đời. Có một cách đầy sức mạnh để thấu hiểu các ý nghĩ sáng tạo là theo dõi các cảm giác của chúng ta. Cảm giác đồng nhất với ý nghĩ. Chúng ta không thể có các ý nghĩ tiêu cực khi cảm thấy yên ổn và ngược lại. Do đó, nếu chúng ta trải qua các cảm giác yên ổn, các ý nghĩ của chúng ta sẽ ở đúng hướng. Nếu chúng ta đang căng thẳng, giận dữ hoặc một cảm giác khó chịu nào đó, các ý nghĩ của chúng ta sẽ tiêu cực và ám chỉ rằng chúng ta đang lạc lối.

Trong cuốn sách Flow: The Psychology of Optimal Experience (Tạm dịch: Dòng chảy – Tâm lý trải nghiệm tối ưu), Mihaly Csikszentmihalyi nói về tình trạng nhận thức chúng ta đạt được khi hoàn toàn tập trung vào những gì chúng ta đang làm. Trạng thái này, ông gọi là dòng chảy, cho phép chúng ta vượt qua những vấn đề lo lắng hàng ngày và cảm thấy rằng chúng ta đã đạt tới khả năng cao nhất. Csikszentmihalyi nói rằng chúng ta không vô tình đạt tới trạng thái cuối cùng này mà đạt tới bằng cách đảm nhiệm những nhiệm vụ có tính thách thức nhưng không được vượt quá khả năng. Hãy nghĩ về cuộc đời bạn và xem liệu đã có lúc nào bạn cảm thấy mình đã trải nghiệm dòng chảy này chưa.

Cô bạn Julia của tôi đã trải nghiệm dòng chảy này khi cô chơi môn trượt tuyết tốc độ. Khi ở vào vị trí đỉnh cao của môn thể thao này và vượt qua nhiều đối thủ sừng sỏ, cô cảm thấy như mình có thể cất cánh bay và có thể làm bất kỳ điều gì. Sự tập trung làm tinh thần cô minh mẫn, cô hoàn toàn nhập cơ thể vào bộ trượt tuyết. Bộ trượt tuyết trở thành một phần con người cô và cô trở thành bà chủ trong thế giới của mình. Ở chân dốc, trong khoảnh khắc chờ cho cú nhảy lại đưa cô lên cao, Julia cảm nhận được ánh hoàng hôn ấm áp, một cảm giác hoàn toàn thanh thản và dễ chịu thẳm sâu trong cô.

Michel làm bếp trưởng cho một nhà hàng hạng nhất ở một thành phố lớn. Các bài báo của anh được các tạp chí thực phẩm và nhà hàng lớn xuất bản. Khi sáng tạo ra một món ăn đoạt giải, Michel như rơi vào trạng thái bị thôi miên. Anh hay nói đùa rằng, có thể các nhân viên nghĩ rằng anh bị mất trí khi mọi người nói rằng trông anh xúc động đến nỗi giống một người điên vậy. Khi chế biến món ăn, anh tưởng tượng ra sự hoàn hảo và trọn vẹn hương vị mỗi lần một thực khách thưởng thức.

Hãy nghĩ về những khoảnh khắc trong cuộc đời bạn, khi bạn hoàn toàn chú tâm vào điều mình đang làm đến nỗi bạn quên mất thời gian, hoặc thậm chí quên mất mình đang ở đâu. Bạn làm gì với những điều bạn thật sự giỏi và có thể làm rất tốt? Điều gì có thể thách thức bạn một cách lôi cuốn và đòi hỏi mọi thứ bạn có? Những trải nghiệm dòng chảy này là biển chỉ dẫn trên con đường đi tới sự hiện thực hóa lý tưởng của bản thân.

Động lực bên trong

Môi trường sống có thể giúp chúng ta đạt tới khả năng nhưng cũng có thể tạo ra những rào cản và chướng ngại vật trên con đường chúng ta đi. Ngoài khả năng của chính mình, kiểu môi trường sống của chúng ta sẽ quyết định mục tiêu nào chúng ta đáng theo đuổi và mục tiêu nào thì không. Người – có cha là một doanh nhân giàu có, thành đạt – mong muốn kinh doanh thành đạt, sẽ nhận được nhiều hỗ trợ hơn so với người có cùng mong muốn tương tự, nhưng là con của một gia đình chỉ có cha hoặc mẹ và phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ. Rõ ràng là để đạt được mục tiêu mơ ước, trường hợp thứ hai phải có nhiều nguồn nội lực hơn, đòi hỏi nhiều lòng can đảm, sự kiên trì và cống hiến. Những người bỏ qua yếu tố môi trường sống để theo đuổi các mục tiêu của mình phải dựa vào cảm giác thỏa mãn bên trong để tạo động lực cho mình. Thông thường, môi trường trước đây của họ sẽ không ủng hộ bước tiến của họ, và thế giới mới của họ sẽ không hiểu và trân trọng sự phấn đấu của họ do cách người ta nhìn về môi trường trước đây của họ. Câu nói “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” không phải lúc nào cũng đúng. Trong một số trường hợp, con sãi có thể làm nhiều việc khác hơn là quét lá đa ở chùa. Sau đây là một ví dụ về một người đã tự tìm cho mình con đường ở rất xa nguồn cội.

Câu chuyện của Ted

Ted lớn lên trong một gia đình làm nông nghiệp, là con út trong gia đình có ba anh chị em. Anh trai Ted làm thương mại. Chị cậu làm cho một văn phòng tại thị trấn nhỏ gần nơi họ lớn lên. Trưởng thành, Ted lúc nào cũng coi mình khác biệt so với những người xung quanh. Cậu thường đùa rằng hẳn người ta đã đánh tráo mình với một đứa trẻ khác trong bệnh viện và kết quả là cậu được trao nhầm cho cha mẹ mình. Trong khi những đứa trẻ khác trong địa phương hứng thú với công việc của cha mẹ chúng và các hoạt động của khu vực thì Ted lại quan tâm tới các sự kiện thế giới. Cậu mua sách báo, trong khi những đứa trẻ khác ở tuổi cậu thích sửa ô tô đồ chơi. Ted dễ dàng đạt được điểm số cao ở trường mà không phải học tập nhiều. Cậu bé bẩm sinh sáng dạ, có trí nhớ tuyệt vời và nắm bắt thông tin mới rất nhanh.

Ở trường phổ thông, trong khi các cậu bạn cùng lớp dự định sẽ đảm nhiệm công việc của gia đình ở nông trại, buôn bán hoặc làm việc cho một nhà máy chế biến các sản phẩm từ sữa ở địa phương thì Ted lại suy nghĩ tới việc trở thành thầy giáo. Cậu không thật sự hứng thú với việc dạy học nhưng nghĩ rằng công việc này sẽ cho cậu một mức thu nhập tương đối và nhiều thời gian nghỉ và lúc đó cậu có thể theo đuổi các sở thích khác của mình. Lúc đó, cậu cũng không chắc chắn về điều mình muốn làm nhưng cậu đã quyết định rằng sẽ không làm công việc truyền thống.

Khi vào đại học, Ted thấy thật sự thích viết bài cho tờ báo của trường. Là một người có ý chí mạnh mẽ, Ted có ý kiến dứt khoát và không e ngại khi bày tỏ những ý kiến đó. Chủ đề càng gây tranh cãi, Ted càng thích viết. Dù Ted yêu thích những năm học đại học nhưng anh cũng nhận ra, nhờ kinh nghiệm dạy học thời sinh viên, rằng đây không phải là nghề dành cho anh. Dù vậy, anh vẫn dạy học bốn năm, đếm từng ngày cho đến kỳ nghỉ hè hai tháng để anh có thể làm những điều mình muốn. Trong hai tháng đó, anh đi du lịch, ghi lại những chuyến đi của mình, hình dung sẽ viết về đề tài du lịch trong tương lai. Lúc đầu, Ted không rõ lý do vì sao mình không thấy hạnh phúc với nghề dạy học. Anh thích dạy, yêu quý học sinh, và học sinh cũng thích phong cách cởi mở và chất vấn của anh, và anh thậm chí cũng không ngại chấm bài. Dù không giống các đồng nghiệp trong cách tiếp cận cuộc sống nhưng anh vẫn được yêu mến và kính trọng. Điều anh nhận ra là anh cần phải độc lập trong công việc, không phải trả lời ai ngoài chính bản thân mình. Lúc này anh nhận ra mình có một điểm chung với cha, người đã lựa chọn làm một người nông dân nghèo khổ nhưng độc lập chứ không làm thuê cho ai khác.

Khi đến lúc phải quay về dạy học năm thứ năm, Ted quyết định rằng mình không thể làm công việc này lâu hơn nữa. Tính toán chi ly, anh có thể tiết kiệm đủ tiền để sống tằn tiện trong một năm mà không cần làm việc. Anh quyết định bỏ ra một năm để đọc, viết và suy ngẫm về tương lai của mình. Khi đang đọc một cuốn sách nổi tiếng về stress, nghĩ rằng cuốn sách này quá nhàm chán và không sáng tạo, Ted quyết định mình có thể viết một cuốn sách về cách đối phó với stress hay hơn. Ted viết cuốn sách của mình mất sáu tháng. Khi gửi ý tưởng của mình tới các nhà xuất bản, anh nhận lại những bức thư từ chối, hết lần này đến lần khác. Không nhà xuất bản nào muốn đặt cược vào một tác giả vô danh, cho dù một số có viết lại là họ thấy các ý tưởng của anh khá thú vị. Một người bạn đại học vẫn luôn muốn viết sách nhưng không có khả năng nảy ra một ý. Anh ta sẽ cho Ted vay tiền nếu Ted muốn tự xuất bản. Ted quảng bá cho cuốn sách rất rầm rộ, tự đưa mình lên các chương trình talk show và thực hiện phỏng vấn với báo chí. Doanh số bán sách bắt đầu tăng và trong vòng sáu tháng người bạn của Ted đã nhận lại được số tiền của mình cộng thêm một khoản nho nhỏ vì đã đặt niềm tin vào khả năng của Ted.

Cùng lúc đó, Ted tiếp tục dùng mỗi phút của mình để quảng cáo và lập kế hoạch cho cuốn sách tiếp theo. Với doanh số bán khá lớn đối với một tác giả lần đầu xuất bản, cuối cùng anh cũng tìm được một nhà xuất bản quan tâm. Cuốn sách đầu tiên của anh đã trở nên khá nổi tiếng. Bị thu hút bởi văn phong hóm hỉnh và dễ hiểu của anh, các tổ chức và hiệp hội bắt đầu đề nghị anh thuyết trình trước các nhân viên của họ. Trong một vài năm sau đó, Ted rất bận rộn với việc viết và thuyết trình. Được đà từ cuốn sách thứ nhất, cuốn sách kế tiếp của Ted cũng có doanh số bán rất lớn.

Mười năm sau, Ted vẫn tiếp tục viết và thuyết trình. Giờ đây anh đã xuất bản được bảy cuốn sách, năm cuốn được xuất bản ở nhiều nước khác nhau và Bắc Mỹ. Những bài giảng đã đưa anh đi khắp Bắc Mỹ và tới châu Âu vài lần. Trong những lúc ít bận rộn hơn, giữa các bài giảng và việc hoàn thành một cuốn sách mới, Ted dành thời gian tại một trong những địa điểm yêu thích của mình như Bali hoặc Mexico. Nhiều người anh biết ghen tỵ với thành công và phong cách của anh. Trong khi thừa nhận rằng mình có một chút may mắn trên đường đời, anh cảm thấy rằng thành công đến là do niềm tin của anh vào chính mình, không ngừng tập trung và làm việc để tiến tới những mục tiêu của mình. Mục tiêu tiếp theo của anh là có một cuốn sách nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của tạp chí New York Times. Theo Ted, có những ngày, anh như đang được sống một chương của Hòn Đảo Thần Tiên. Cuộc sống vẫn chưa hoàn hảo và anh cũng không trông đợi là nó sẽ hoàn hảo. Hiện thực hóa lý tưởng của bản thân, với Ted là một con đường, không phải một đích đến. Với anh, bản chất của cuộc sống là đặt mục tiêu và nỗ lực để đạt những mục tiêu đó. Anh triết lý rằng, nếu chúng ta đạt được tất cả những mục tiêu của mình, cuộc sống sẽ mất đi hương vị và năng lượng của nó, và không còn giá trị nữa.

“Tiền là gì? Một người thành công là người thức dậy vào buổi sáng, đi ngủ vào buổi tối và giữa hai thời điểm đó, anh ta được làm những gì mình muốn.”

– BOB DYLAN, NHẠC SỸ –

“Nếu thành công không cùng nhịp đập với bạn, dù nó có vẻ tốt đẹp với cả thế giới nhưng trái tim bạn không cảm thấy ổn, thì nó không phải là thành công chút nào cả.”

– ANNA QUINDLEN, NHÀ VĂN –

“Hình phạt của thành công là khiến những kẻ trước đây khinh rẻ bạn thấy chán.”

– NANCY ASTOR, NỮ NGHỊ SĨ HẠ VIỆN ĐẦU TIÊN CỦA ANH –

“Thành công thường đến với những ai quá bận rộn tìm kiếm nó.”

– HENRY DAVID THOREAU, NHÀ VĂN, NHÀ TỰ NHIÊN HỌC VÀ TRIẾT HỌC MỸ –

Kỹ thuật tăng cường khả năng hiện thực hóa lý tưởng của bản thân

Ø Hãy nghĩ về những điều quan trọng nhất trong cuộc đời bạn. Đó có thể là công việc, gia đình, giải trí, sở thích hoặc cuộc sống tinh thần. Có thể bạn phải nghĩ kỹ để tìm ra những điều này. Phải tuyệt đối trung thực với bản thân mình: Bạn thật sự muốn gì? (không phải những gì ai khác trông đợi ở bạn). Lập danh sách ba điều quan trọng nhất.

Ø Lập mục tiêu xung quanh ba điều quan trọng nhất trong đời bạn. Có phải bạn muốn đạt tới một cấp bậc nào đó trong công việc của mình? Bạn muốn có mối quan hệ gần gũi hơn với người bạn đời và những đứa con của bạn? Bạn muốn đi du lịch thế giới? Hãy đặt các mục tiêu cụ thể, vừa phải quanh ba lĩnh vực đó. Đặt mục tiêu cho một tháng, sáu tháng, một năm và năm năm. Dành ra một khoảng thời gian nhất định để xem xét lại những mục tiêu đó. Tôi xem xét lại các mục tiêu của mình vào mỗi mùa xuân và mùa thu trong chuyến đi lên núi được sắp xếp đặc biệt dành cho mục đích này.

Ø Đánh dấu vào lịch hàng ngày hoặc theo cách bạn theo dõi các hoạt động hàng ngày của mình, mỗi ngày dành 5 phút không làm gì ngoài việc nghĩ về các mục tiêu của mình.

Ø Lắng nghe các cuốn băng có tác dụng tạo động lực mỗi khi có dịp, ví dụ trên đường tới chỗ làm hoặc trong lúc rảnh rỗi.

Ø Nhờ ai đó thân thiết định kỳ nhắc nhở bạn về các mục tiêu và phản hồi cho bạn xem bạn đã tiến bộ được

bao nhiêu.

Ø Không bao giờ chia sẻ mục tiêu của mình với bất kỳ ai không ủng hộ hoặc ngay cả những người bạn nghĩ sẽ không ủng hộ bạn. Chỉ chia sẻ những mục tiêu mạnh mẽ và tương lai xa với những người thân thiết gần gũi và hoàn toàn ủng hộ bạn.

9

ĐỘC LẬP

“Tự lực là con đường duy nhất đi đến tự do thật sự, và phần thưởng cuối cùng là được làm chủ chính mình.”

– PATRICIA SÍMPON, NHÀ VĂN –

Những người độc lập luôn nỗ lực để làm chủ số phận của mình. Họ thích tự nghĩ và tự mình đưa ra quyết định hơn là đi theo cách nghĩ phổ biến và cho phép người khác quyết định thay họ. Họ có xem xét ý kiến của người khác và lưu ý đến những thông tin họ nhận được. Nhưng cuối cùng họ vẫn lựa chọn điều tốt nhất cho họ. Những người độc lập đôi khi có thể bị hiểu nhầm và bị kết tội là ngạo mạn, hoặc không phải là thành viên tốt của nhóm. Nhưng không phải như vậy; họ chỉ đi theo nhịp điệu của riêng họ. Những người độc lập ở mức cao không bị phụ thuộc về xúc cảm. Họ sẽ không duy trì lâu mối quan hệ hay tiếp tục công việc không đáp ứng các nhu cầu của họ.

Cá nhân và cộng đồng

Chúng ta có nhu cầu cố hữu vừa là chính mình và đồng thời là một phần của điều gì đó lớn hơn - một cộng đồng. Hai nhu cầu thường đối lập nhau này là mối quan hệ hai mặt của cuộc sống mà tất cả chúng ta phải chiến đấu. Những cá nhân lành mạnh, thực hiện tốt chức năng của mình đã tìm ra sự cân bằng giữa việc duy trì cảm giác mạnh mẽ về việc họ là ai và cống hiến mình vì xã hội tốt đẹp.

Tất cả các mối quan hệ đều đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau. Có một mâu thuẫn cố hữu giữa việc mỗi người là chính mình và là một phần của mối quan hệ hai mặt. Trong những mối quan hệ lành mạnh, mâu thuẫn này được giải quyết cởi mở và trung thực, cả hai bên đều học cách tăng cường sự hòa hợp trong mối quan hệ của họ trong khi vẫn duy trì và phát triển cá tính của mình. Về bản chất, vì mỗi người trưởng thành với tư cách một cá nhân nên người đó có nhiều điều hơn để đóng góp vào mối quan hệ đó. Khi mỗi người lớn lên, mối quan hệ cũng lớn lên. Điều này được gọi là sự phụ thuộc lẫn nhau.

Tại nơi làm việc cũng như tại gia đình, sự phụ thuộc lẫn nhau là bí quyết cho một mối quan hệ thành công. Giống như bất kỳ quan hệ gia đình nào, luôn tồn tại cố hữu một cuộc đấu tranh diễn ra giữa điều gì tốt cho nhân viên và điều gì tốt cho tổ chức. Những nhân viên cảm thấy mình có thể tự phát triển trong môi trường kinh doanh sẽ mang lại điều tốt cho tổ chức nhiều hơn. Những kỹ năng mới và sự tự tin của họ sẽ bù lại cho công ty bằng năng suất lao động tăng và lòng trung thành với tổ chức. Southwest Airlines đã tạo ra được một môi trường làm việc có lợi cho sự phụ thuộc lẫn nhau. Các nhân viên được khuyến khích giữ lại và phát triển cá tính đồng thời gia tăng lòng trung thành và giá trị của mình với công ty. Cuối cùng, điều đó tạo ra tình huống mà cả hai bên đều có lợi và nhờ thế mà các cá nhân có thể đạt hết khả năng của mình, đồng thời vẫn thuộc về và đóng góp cho một cộng đồng, biết thông cảm và giúp đỡ lẫn nhau.

Những người độc lập không có cùng sự thúc đẩy để phù hợp hoặc được yêu thích như những người ít tính độc lập hơn. Họ đi theo những động lực bên trong hơn là sự trông đợi của xã hội hoặc những người xung quanh. Độc lập đòi hỏi phải có mức độ tự trọng và can đảm, đòi hỏi chấp nhận mạo hiểm và sống chung với những kết quả không như mong đợi. Đây là cái giá phải trả cho việc tự tạo dựng lối đi cho mình. Nó cũng là một phần của quá trình học hỏi của những người tự chủ, vì họ học từ lỗi lầm của mình, tự tha thứ cho bản thân và tiến bộ. Tin vào chính mình là điều kiện tiên quyết cần thiết cho tính độc lập, vì sẽ có những lúc phải quyết định mà không có nhiều sự ủng hộ và giúp đỡ từ những người khác.

Có nhiều ví dụ về những cá nhân vẫn kiên trì dù gặp phải nhiều trở ngại trước khi họ đạt được mục tiêu của mình. Abraham Lincoln không trở thành tổng thống chỉ sau một đêm. Ông đã cố gắng và thất bại nhiều lần khi tranh cử trước khi đạt tới thành công cao nhất. Thomas Edison thất bại hàng nghìn lần trong nỗ lực phát minh bóng điện. Báo chí thời bấy giờ cho đăng những bài báo chế nhạo dự án của ông, gọi đó là điều xuẩn ngốc, khuyên ông nên từ bỏ và thừa nhận thất bại. Một phóng viên trẻ đã hỏi ông vì sao ông vẫn kiên quyết tiếp tục công trình tốn kém nhưng vô ích này khi rõ ràng là mọi việc không đi tới đâu cả. Ông nói rằng ông không hiểu khái niệm thất bại. Thất bại không phải là điều mọi người vẫn nhìn thấy mà đó là cái giá phải trả để thành công. Edison nói tiếp, mỗi lần thất bại ông lại có thể loại trừ một phương án sai, đưa ông tiến gần thêm một bước tới cách làm đúng. Rõ ràng, Lincoln và Edison phải có nhiều nội lực và rất biết giá trị bản thân để có thể đứng vững trước những nhận xét và áp lực bên ngoài.

Tính độc lập cũng đòi hỏi một mức độ quả quyết nhất định. Những người độc lập không sợ phải yêu cầu những gì mình muốn và không từ bỏ nếu họ không nhận được ngay những gì mong muốn. Họ thường không sợ phải thử những cái mới và theo đuổi nhiều sở thích khác nhau. Để hạnh phúc và thỏa mãn, những cá nhân có thiên hướng độc lập cần tìm các đối tác và nơi làm việc phục vụ và hỗ trợ các nhu cầu của họ. Nhiều người làm chủ hoặc ở những vị trí cho phép họ được linh hoạt trong vai trò của họ. Những người độc lập nhận ra rằng họ phải tìm, hoặc là một môi trường trong đó họ có thể đạt hết khả năng của của mình, hoặc là phải tự tạo cho mình một môi trường như thế. Họ không sợ phải rời bỏ ông chủ không cho họ cơ hội sử dụng hết tài năng của mình. Trong cuốn Successful Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ thành đạt), Robert Sternberg nói về nhu cầu để mọi người được thể hiện hết những gì họ có.

Có một câu chuyện kể về một người đàn ông chết đi và được đi thẳng tới thiên đường. Thánh Peter đưa ông đi tham quan các nơi và chỉ cho ông ta xem một người, nói rằng đó là nhà thơ vĩ đại nhất vào thời người đàn ông đó. Người đàn ông nhìn Thánh Peter, nghi hoặc. “Xin lỗi Ngài,” ông nói, “nhưng con biết người đàn ông đó. Ông ta chỉ là một người thợ đóng giày khiêm tốn, không hơn không kém. Ông ta chưa bao giờ đi học và không biết viết.” “Chính xác là như vậy,” Thánh Peter trả lời. Không có cơ hội phát triển kỹ năng viết, tài năng thiên bẩm của người đàn ông này dần bị bỏ phí. Câu chuyện sẽ còn buồn cười hơn nếu nó không đúng với rất nhiều người.

Những người thông minh và thành đạt nhận ra rằng môi trường sống có thể khiến họ có hoặc không thể sử dụng được hết tài năng của mình. Họ tích cực tìm kiếm một môi trường, nơi họ không chỉ làm những công việc đòi hỏi khả năng mà còn có thể tạo ra sự khác biệt. Họ tự tạo cơ hội chứ không để cơ hội bị giới hạn bởi tác động ngoại cảnh.

“Đừng phụ thuộc vào người khác, hãy dựa vào chính mình. Hạnh phúc thật sự sinh ra từ tự lực.”

– LUẬT MANU –

Câu chuyện của Laura

Tốt nghiệp phổ thông, Laura nhận được việc làm điều phối hoạt động cho một công ty du lịch ở Alaska vào mùa hè. Không khí của Alaska – không gian thoáng rộng và tinh thần độc lập của những người sống ở đây – hợp với cô. Công việc không dễ. Cô phải hướng dẫn một nhóm nam nhân viên lái xe buýt. Phần lớn họ đều nhiều tuổi hơn cô và có người đã làm cho công ty nhiều năm. Dù một số nhân viên không thích cô nhưng những người khác lại ngưỡng mộ cô vì cô rất độc lập. Dù Laura thích tính cách đó của mình nhưng cô cũng phải trả giá cho điều đó. Đôi khi cô thấy mình bị gạt ra khỏi những buổi tụ tập mà phần lớn các đồng nghiệp của cô được mời. Cô chợt thấy rằng mình đã quá độc lập và không hợp với các đồng nghiệp của mình. Tất cả họ đều tỏ ra cần sự giúp đỡ hơn cô. Đôi khi cô cảm thấy cô đơn và không có chỗ dựa. Để chống lại cảm giác này, cô bắt đầu xin thêm lời khuyên từ các đồng nghiệp và cảm ơn họ cho dù chỉ thỉnh thoảng cô mới làm theo. Qua thời gian, cô thấy các đồng nghiệp trở nên cởi mở và thân tình hơn. Đôi lúc cô ước mình bớt độc lập và giống những người khác hơn. Tuy nhiên, cô chấp nhận là cuộc đời phải có những đánh đổi và có thể việc không là một phần của đám đông chính là cái giá mà những người độc lập như cô phải trả. Ông chủ đánh giá cao khả năng suy nghĩ, hành động độc lập của cô và tin vào đánh giá của cô để đưa ra những quyết định sáng suốt. Công việc kinh doanh tiến triển rất nhanh, các quyết định phải được đưa ra nhanh chóng, và ông cần những người như vậy. Ngoài tính độc lập, Laura cũng giải quyết vấn đề rất tốt và có thể tự mình suy nghĩ. Cô tự tin vào khả năng thấu cảm tốt của mình. Cô sử dụng các kỹ năng về con người của mình để xoa dịu những khách hàng cáu kỉnh.

Laura hiểu các thế mạnh của mình và khuyến khích Dan, ông chủ của cô, cho phép cô chịu nhiều trách nhiệm hơn trong những lĩnh vực cô yêu thích và có khả năng. Vì các chi nhánh hoạt động của ông trải rộng nên Dan đồng ý vì ông tin tưởng ở cô.

Một trong những nhân viên do Laura quản lý là Jennifer. Sự nhút nhát và thiếu tự tin của Jennifer gợi cho Laura nhớ lại chính mình vào thời trưởng thành. Laura dành thêm nhiều thời gian cho Jennifer, yêu cầu cô phải nghĩ giải pháp cho những vấn đề mà cô thường phải đến hỏi ý kiến Laura. Hầu như lần nào cũng thế, đó đều không phải là những quyết định có thể gây hậu quả nghiêm trọng nếu sai. Bất kỳ khi nào Jennifer nghĩ ra một quyết định, Laura liền bảo cô hãy tiếp tục và thực hiện. Nếu sự lựa chọn đó sai, Laura lại biến nó thành một kinh nghiệm và hỏi Jennifer sẽ làm gì tiếp. Vào cuối mỗi lần thảo luận, cô luôn nhấn mạnh rằng Jennifer đã đưa ra quyết định tốt nhất với thông tin cô có vào thời điểm đó, và mỗi quyết định sai đều là một cơ hội để trưởng thành và học hỏi.

Có lúc Laura mất kiên nhẫn và muốn hét vào mặt Jennifer. Tuy nhiên, cô thận trọng không thể hiện sự bực mình của mình khi họ ở cùng nhau, cô biết rằng nếu mình làm vậy thì những tiến bộ Jennifer đang đạt được, ngay cả những tiến bộ rất nhỏ, sẽ biến mất. Sau vài tháng, Laura để ý thấy Jennifer đã ít đến gặp mình để xin ý kiến cho các quyết định thông thường mà bản thân cô cũng có thể tự làm. Bây giờ cô tới gặp Laura thường là cần lời khuyên từ Laura sau khi đã nghiền ngẫm kỹ càng. Thay vì đơn giản quyết định giúp Jennifer, Laura trao đổi về tình huống đó, đưa ra cho Jennifer lợi ích của những thông tin cô có và hỏi Jennifer dự điịnh của cô. Laura luôn đảm bảo rằng Jennifer có một phần nào đó trong tiến trình đưa ra quyết định.

Trong công việc, Laura gặp Ed, một nhân viên điều phối hoạt động của một công ty du lịch khác. Ed và cô có sở thích giống nhau – đi bơi xuồng, đi bộ đường dài và cắm trại trên núi. Cả hai đều ưa hoạt động và giữ được cơ thể đẹp. Vì Ed cũng rất độc lập nên họ có vẻ là một cặp đôi hoàn hảo. Lần đầu tiên yêu say đắm nên cả hai kết hôn sáu tháng sau đó. Sau thời kỳ trăng mật, Laura không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng có một khía cạnh trong con người Ed mà cô có để ý thấy nhưng khi đang tràn ngập hạnh phúc, cô đã bỏ qua.

Dù bản thân Ed rất độc lập nhưng anh lại rất khó chấp nhận tính độc lập của cô. Với anh, đó là một sự đe dọa và anh phản đối tất cả những gì mới mà cô muốn thử. Cô miêu tả anh như một kẻ cuồng quyền kiểm soát muốn thống trị mọi thứ trong cuộc đời cô và một mình đưa ra tất cả những quyết định mà đáng ra phải được quyết định bởi hai người để có một mối quan hệ tốt đẹp. Đó là một khoảng thời gian khó khăn cho cô. Lần đầu tiên trong đời, cô bắt đầu nghi ngờ giá trị bản thân. Ed không ngừng nói rằng, cô thấp kém và có vấn đề. Laura bắt đầu nhận ra là mình đang ở trong một mối quan hệ vô cùng phụ thuộc. Cô càng cố củng cố mối quan hệ với Ed thì cô lại càng nhận ra mình có rất ít ảnh hưởng đối với những nỗi bất an của anh. Sau hai năm, Laura chịu đựng quá đủ và họ ly dị.

Phải mất sáu tháng, Laura mới quay trở về xuất phát điểm tự tin của mình để đi ra ngoài và tự mình làm mọi thứ. Một ngày, cô nhận ra rằng, chắc chắn việc trở lại làm con người Laura trước đây là một điều tuyệt vời. Tinh thần độc lập của cô bị thử thách nhưng đã trở lại và cô háo hức nghĩ về những triển vọng sắp tới.

“Cần nhiều can đảm để giữ gìn tự do bên trong, để tiến lên trên con đường bước vào những vùng đất mới bên trong con người bạn, hơn là hiên ngang đứng lên cho tự do bên ngoài. Làm tử sỹ thường dễ hơn làm người lính bị thương trên chiến trường.”

– ROLLO MAY, NHÀ TÂM LÝ HỌC MỸ –

Kỹ thuật làm tăng tính độc lập

Ø Vào cuối ngày, hãy viết ra một quyết định mà mình tự đưa vào một cuốn sổ được dành cho mục đích này. Bạn có thể tìm kiếm dữ liệu từ người khác để có thêm thông tin và giúp bạn quyết định nhưng đừng trông đợi người khác quyết định thay bạn.

Ø Tập nhanh chóng đưa ra những quyết định về những vấn đề nhỏ, không quan trọng. Ví dụ, khi đọc thực đơn trong nhà hàng, cho mình ba phút để quyết định. Nhờ ai đó bấm giờ hoặc bạn tự bấm. Tuân theo giới hạn thời gian đó.

Ø Mỗi tuần tự mình làm cho mình một điều gì đó. Hãy chọn thứ gì đó bạn luôn muốn làm nhưng lại sợ phải làm hoặc không muốn làm một mình. Ví dụ, bạn có muốn tới rạp chiếu phim nào đó nhưng không thể tìm ai đi cùng không? Tuần này, hãy đi một mình.

Ø Khi ở trong một nhóm, bạn có nói lên ý kiến của mình nếu nó khác ý kiến mọi người không? Nếu không, hãy làm thế vào tuần này. Buộc mình phải nói ra và nói bạn thật sự cảm thấy thế nào. Hãy nghĩ về điều đó sau đó và tự nói với mình rằng, bạn rất vui vì đã có can đảm nói ra suy nghĩ của mình ngay cả nếu những người khác không ủng hộ ý kiến của bạn. Tiếp tục làm thế vào tuần sau và tuần sau nữa.

Ø Nếu ở nơi làm việc, lúc nào bạn cũng đi ăn trưa với một nhóm người, hãy thử đi một mình một tuần một lần xem sao. Chọn nơi khác với nơi bạn thường đến. Thử một loại thức ăn mới. Hãy khám phá.

Ø Ngồi xuống và xem xét những thay đổi bạn muốn có trong đời. Hãy thành thật với bản thân. Lập một danh sách những điều bạn muốn thay đổi trong một tháng, sáu tháng và một năm. Viết ra và đưa vào những điều cụ thể bạn cần làm tới một thời điểm nhất định. Tuân thủ kế hoạch. Nếu bạn bỏ qua một bước, hãy quay lại và bắt đầu lại. Bỏ ra một khoảng thời gian nhất định để xem xét kế hoạch của mình mỗi năm. Tự thưởng cho mình vì đã đạt được các mục tiêu đã đề ra. Đặt phần thưởng phù hợp với mục tiêu. Mục tiêu lớn đi với phần thưởng lớn, ví dụ một chuyến đi chơi, bộ loa, hoặc bất kỳ điều gì khác bạn có khả năng chi trả nhưng chưa bao giờ thưởng cho mình.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.