Tư Duy Nhanh Và Chậm - Chương 38
Nghĩ về cuộc sống
Hình 16 được lập nên từ Andrew Clark, Ed Diener và Yannis Georgellis thuộc Hội đồng Kinh tế Xã hội Đức. Thí nghiệm cùng một thời điểm hỏi tất cả mọi người về sự thỏa mãn của họ về cuộc sống trong một năm qua. Những người tham gia cũng đã đưa ra những thay đổi chính trong các tình huống đã xảy ra với họ trong suốt một năm trước đó. Biểu đồ biểu thị mức độ thỏa mãn được báo cáo trong khoảng thời gian những người này kết hôn.
Biểu đồ này chắc hẳn gợi ra tiếng cười sảng khoái cho người xem và có thể cả những bồn chồn rằng: Sau tất cả, những người quyết định kết hôn làm vậy bởi họ mong đợi nó sẽ khiến họ hạnh phúc hơn hoặc bởi họ hy vọng tạo ra một ràng buộc lâu dài sẽ duy trì trạng thái đang hạnh phúc. Với thuật ngữ hữu ích được đưa ra bởi Daniel Gilbert và Timothy Wilson, cho rằng quyết định kết hôn phản ánh rằng đối với nhiều người, một lỗi hệ thống của Cảnh báo cảm xúc. Vào ngày cưới, cô dâu và chú rể biết rằng tỷ lệ ly hôn là cao và rằng tỷ lệ rơi vào trạng thái thất vọng về hôn nhân thậm chí còn cao hơn, nhưng họ không tin rằng những số liệu thống kê này ứng vào họ.
Thông tin đáng ngạc nhiên của hình 16 là sự suy giảm nghiêm trọng sự thỏa mãn cuộc sống. Đồ thị này thường được hiểu là việc phác họa một quá trình thích ứng, trong đó những niềm vui ban đầu của việc kết hôn nhanh chóng biến mất khi các trải nghiệm của cuộc hôn nhân này trở thành thói quen. Tuy nhiên, một cách tiếp cận khác là điều có thể, nó tập trung vào những phỏng đoán về sự đánh giá. Ở đây chúng ta hỏi điều gì xảy ra trong đầu mọi người khi họ được đề nghị đánh giá cuộc đời họ. Câu hỏi "Nói chung, bạn đã thỏa mãn với đời sống của mình như thế nào?" và "Bạn hạnh phúc trong những ngày này ra sao?" không hề đơn giản như "Số điện thoại của bạn là gì? Làm cách nào để những người tham gia vào cuộc điều tra xoay xở để trả lời những câu hỏi kiểu như vậy trong một vài giây, như tất cả đã diễn ra? Nó sẽ hữu ích cho việc suy nghĩ về điều này như một sự đánh giá khác. Dường như đây cũng là tình huống cho các câu hỏi khác, một số người có thể có sẵn câu trả lời, thứ họ đã tạo ra vào dịp khác, trong đó họ đã đánh giá cuộc đời mình. Những người khác, hẳn là số đông, không dễ tìm ra một sự hồi đáp cho câu hỏi chính xác mà họ đã được hỏi và tự động biến nhiệm vụ của họ trở nên dễ dàng hơn bằng việc thay thế câu trả lời cho một câu hỏi khác. Hệ thống 1 đang vận hành. Khi chúng ta nhìn vào hình 16 theo quan niệm này, nó mang một nghĩa hoàn toàn khác.
Những câu trả lời cho nhiều câu hỏi đơn giản có thể được thay thế cho một sự đánh giá toàn diện về cuộc sống. Bạn nhớ lại nghiên cứu trong đó các sinh viên chỉ được hỏi có bao nhiêu ngày mà họ đã có trong tháng trước được báo cáo về "niềm hạnh phúc trong những ngày này" của họ như thể việc hẹn hò là thực tế quan trọng duy nhất trong đời họ. Trong một thí nghiệm nổi tiếng khác tương tự như vậy, Norbert Schwarz và các đồng nghiệp của mình đã mời những người tham gia thí nghiệm tới phòng thí nghiệm để hoàn thành một bảng câu hỏi về sự thỏa mãn cuộc sống. Tuy nhiên, trước khi họ bắt đầu nhiệm vụ này ông đã đề nghị họ sao chép một tờ giấy giúp ông. Một nửa số người tham gia đã phát hiện ra một hào trong máy phô tô, được các nhà thực nghiệm để lại đó. Tình huống may mắn nhỏ bất ngờ đã dẫn tới một sự cải thiện đáng kể trong sự thỏa mãn về cuộc đời của họ như một tổng thể được báo cáo lại! Phỏng đoán là một cách để trả lời các câu hỏi thỏa mãn trong cuộc sống.
Khảo sát hẹn hò và thí nghiệm đồng tiền xu trên máy đã chứng minh rằng: Những hồi đáp cho các câu hỏi về cảm xúc hạnh phúc nói chung nên được tiến hành với một thái độ bán tín bán nghi. Nhưng dĩ nhiên, tâm trạng hiện thời của bạn không hề là đánh giá về toàn bộ cuộc đời bạn. Bạn có thể được nhắc nhở về những biến cố quan trọng trong thời gian đã qua gần đây hoặc tương lai gần, về những mối quan tâm trở đi trở lại, ví dụ như sự hạnh phúc của một cặp vợ chồng hoặc về các đồng nghiệp xấu tính mà bà còn nhớ được từ hồi còn là thanh niên; về những thành tựu quan trọng và những thất bại đau đớn. Một vài ý niệm mà có liên quan tới câu hỏi sẽ xảy đến với bạn; rất nhiều thứ khác thì sẽ không. Ngay cả khi nó không bị tác động bởi sự ngẫu nhiên, mục tiêu mà bạn nhanh chóng đặt ra cho cuộc đời mình được xác định bởi một ví dụ nhỏ về các ý niệm tốt sẵn có, chứ không phải bởi một ảnh hưởng cẩn trọng của các lĩnh vực trong đời sống của bạn.
Những người đã kết hôn gần đây, hoặc đang mong đợi kết hôn trong tương lai gần, có thể khắc phục được thực tế đó khi được hỏi một câu hỏi phổ biến về cuộc đời họ. Do hôn nhân gần như luôn luôn là tự nguyện tại nước Mỹ, gần như hầu hết mọi người được nhắc nhở về hôn lễ vừa diễn ra hoặc sắp diễn ra của anh ta hoặc cô ta sẽ cảm thấy hạnh phúc với điều ý nghĩ này. Sự quan tâm là chìa khóa cho bài toán này. Bảng 16 có thể được hiểu như là một đồ thị về khả năng mà người ta sẽ nghĩ về hôn lễ vừa mới diễn ra hoặc sắp diễn ra khi được hỏi về cuộc đời của họ. Điểm nổi bật của tư tưởng này nhất định sẽ giảm với sự trôi chảy của thời gian, như là những suy giảm tính mới lạ của nó.
HÌnh này chỉ ra một mức độ cao khác thường về sự thỏa mãn đời sống duy trì trong hai hoặc ba năm gần thời điểm kết hôn. Tuy nhiên, nếu sự tăng lên rõ ràng này phản ánh diễn tiến thời gian của một phỏng đoán dành cho việc trả lời câu hỏi, đó là chút ít mà chúng ta có thể lĩnh hội được từ nó về hoặc niềm hạnh phúc hoặc về quá trình thích ứng với hôn nhân. Chúng ta không thể suy ra từ nó rằng một cơn thủy triều hạnh phúc kéo dài trong vài năm và đang dần rút xuống. Ngay cả những người đang hạnh phúc được làm cho nhớ về hôn lễ của họ khi được hỏi một câu hỏi đề cập tới việc đời sống của họ không nhất thiết phải hạnh phúc hơn quãng đời còn lại. Trừ khi họ nghĩ những suy nghĩ hạnh phúc về cuộc hôn nhân của mình trong phần lớn cuộc đời của họ, điều đó sẽ không chi phối trực tiếp đến hạnh phúc của họ. Ngay cả những cặp vợ chồng son, những người đủ may mắn để tận hưởng một trạng thái lo âu hạnh phúc với tình yêu của họ, sau cùng sẽ trở lại với thực tế và niềm hạnh phúc được trải nghiệm của họ một lần nữa, như nó đã xảy ra trong số chúng ta, phụ thuộc vào môi trường và các phạm vi của thời điểm hiện tại.
Trong các nghiên cứu DRM, không hề có sự khác biệt toàn diện trong niềm hạnh phúc được trải nghiệm giữa các phụ nữ đã sống cùng một người chồng và những phụ nữ không như vậy. Những chi tiết về cách hai nhóm này sử dụng thời gian của họ đã lý giải phát kiến này. Những người phụ nữ có chồng có ít thời gian một mình hơn, điều đó thật tuyệt, nhưng cũng dành nhiều thời gian cho việc nhà, chuẩn bị thức ăn và chăm sóc con cái hơn, tất cả những hoạt động tương đối không phổ biến. Và dĩ nhiên, số lượng lớn thời gian của những người phụ nữ đã kết hôn chung sống với chồng đối với một số người có nhiều niềm vui hơn so với số khác. Niềm hạnh phúc được trải nghiệm trung bình không bị ảnh hưởng bởi hôn nhân, không phải bởi hôn nhân không tạo ra sự khác biệt cho hạnh phúc mà bởi nó thay đổi một số khía cạnh của đời sống theo hướng tốt hơn và số khác thì tệ đi.
Một lý do cho những mối tương quan lỏng lẻo giữa những tình huống của các cá nhân với sự thỏa mãn với đời sống của họ, đó là cả niềm hạnh phúc được trải nghiệm lẫn sự thỏa mãn cuộc sống đều được xác định trên quy mô lớn bởi các gen di truyền tính cách. Tính khí hạnh phúc có thể được di truyền như chiều cao hoặc trí thông minh, như đã được chứng minh bởi các nghiên cứu về các cặp song sinh bị chia tách ngay từ lúc mới sinh. Những người xem chừng may mắn ngang nhau có khác biệt lớn trong việc họ hạnh phúc ra sao. Trong một số trường hợp, như trong trường hợp về hôn nhân, các mối tương quan với cảm nhận hạnh phúc là thấp bởi các hiệu ứng cân bằng. Trường hợp tương tự có thể tốt đối với một vài người và xấu đối với những người khác và các tình huống mới có cả những lợi ích lẫn chi phí. Trong một vài trường hợp khác, ví dụ như thu nhập cao, các tác động lên sự thỏa mãn cuộc sống thường là tích cực, nhưng sự việc này bị làm cho phức tạp, bởi sự thực là một số người quan tâm quá mức tới tiền bạc hơn những người khác.
Một nghiên cứu trên quy mô rộng về tác động của nền giáo dục cao hơn, được tiến hành vì một chủ đích khác nữa, đã khai phá ra một căn cứ đáng chú ý của những tác động trọn đời về những mục tiêu mà người trẻ tuổi đặt ra cho bản thân mình. Số liệu có liên quan đã được đưa ra từ những bảng câu hỏi được thu thập từ năm 1995 - 1997 từ xấp xỉ 12.000 người mà đã khởi đầu khối tri thức cao hơn của mình tại các trường ưu tú vào năm 1976. Khi đó họ mới 17 hoặc 18 tuổi, những người tham gia đã điền vào một bảng câu hỏi trong đó họ đã xếp hạng mục tiêu "trở nên vô cùng dư dả về tài chính" trên thang điểm 4 xếp hạng từ "không quan trọng" tới "thiết yếu". Bảng câu hỏi mà họ đã hoàn thiện 20 năm sau đó bao gồm cả những thước đo về mức thu nhập của họ vào năm 1995, cũng như là một thước đo tổng thể về sự thỏa mãn cuộc sống.
Các mục tiêu tạo ra một sự khác biệt lớn. 19 năm sau đó, họ đã tuyên bố về những tham vọng tài chính của mình, nhiều người trong số những người muốn một mức thu nhập cao đã đạt được điều đó. Ví dụ, trong số 597 bác sĩ và các chuyên gia y tế khác trong mẫu điều tra, từng điểm cộng thêm trên thang điểm tầm quan trọng của tiền đã được liên hệ với mức giá dựa trên 14.000 đô-la đối với mức thu nhập nghề nghiệp theo thời giá đô-la năm 1995! Những người phụ nữ đã kết hôn không làm việc cũng đã có thể được thỏa mãn những tham vọng tài chính của họ. Từng điểm trên mức điểm này đã chuyển sang thành hơn 12.000 đô-la đối với mức thu nhập hộ gia đình được cộng thêm dành cho những người phụ nữ này, hiển nhiên là thông qua các khoản thu nhập của chồng họ.
Điều quan trọng là những người mà đã trói buộc với mức thu nhập ở lứa tuổi 18 cũng đã lường trước được sự thỏa mãn với mức thu nhập của mình ở lứa tuổi trưởng thành. Chúng tôi đã so sánh sự thỏa mãn đời sống trong một nhóm thu nhập cao (thu nhập hộ gia đình cao hơn 200.000 đô-la) với một nhóm thu nhập từ thấp tới trung bình (ít hơn 50.000 đô-la). Tác động của mức thu nhập lên sự thỏa mãn đời sống là lớn hơn đối với những ai đã từng liệt việc trở nên sung túc về tài chính như là một mục tiêu thiết yếu: 57 điểm trên một thang điểm 5. Sự khác biệt tương ứng đối với những ai đã cho rằng tiền bạc không hề quan trọng đã chỉ được 12 điểm. Những người đã mong muốn có được tiền bạc và đã không có được nó đều bất mãn ghê gớm. Cùng một nguyên tắc được áp dụng cho các mục tiêu khác - một công thức dành cho một tuổi trưởng thành đầy thất vọng là việc thiết lập những mục tiêu đặc biệt khó để có thể hoàn thành. Được đo lường bởi sự thỏa mãn đời sống 20 năm sau đó, mục tiêu hứa hẹn nhỏ nhất mà một người trẻ tuổi có thể có được đó là "trở nên hoàn thiện trong một môn nghệ thuật biểu diễn." Các mục tiêu của lứa tuổi thanh niên ảnh hưởng tới điều xảy ra với họ, điểm họ dừng lại và họ được thỏa mãn ra sao.
Một phần là bởi những phát hiện mà tôi có đã thay đổi suy nghĩ của tôi về định nghĩa của từ hạnh phúc. Các mục tiêu mà người ta đặt ra cho chính bản thân mình quá quan trọng đến điều họ đang làm và cảm nhận họ có về nó đến nỗi một trọng tâm riêng biệt lên cảm nhận hạnh phúc được trải nghiệm là không thể đứng vững được. Chúng ta không thể bảo vệ một ý niệm về cảm nhận hạnh phúc mà bỏ qua điều con người mong muốn. Mặt khác, cũng hoàn toàn đúng khi một khái niệm về cảm nhận hạnh phúc lại bỏ qua việc mọi người cảm nhận như thế nào khi họ nghĩ về đời sống của mình thì cũng không thể chấp nhận được. Chúng ta cần phải chấp nhận những phức tạp của một quan điểm lai tạp, ở đó cảm nhận hạnh phúc của cả hai bản thể đều được xem xét.
ẢO TƯỞNG TẬP TRUNG
Chúng ta có thể suy ra từ sự may mắn mà theo đó người ta trả lời các câu hỏi về đời sống của họ và từ những tác động của tâm trạng hiện tại lên các câu trả lời của họ, mà họ không bị lôi kéo tham gia vào một bài kiểm tra kỹ lưỡng khi họ đánh giá về đời sống của mình. Họ chắc hẳn đang sử dụng các phỏng đoán, đó là các ví dụ về cả phép thế lẫn WYSIATI. Mặc dù quan điểm của họ về đời sống của bản thân bị chi phối bởi một câu hỏi về việc hẹn hò hoặc bởi một đồng xu trên máy phô-tô, những người tham gia trong các nghiên cứu này đã không quên rằng còn có nhiều điều khác trong cuộc sống hơn là việc hẹn hò hoặc cảm giác may mắn. Khái niệm về hạnh phúc không bị thay đổi đột ngột bởi việc tìm ra một hào, nhưng Hệ thống 1 luôn sẵn sàng thay thế một phần nhỏ trong tổng thể của khái niệm này. Bất cứ khía cạnh nào của đời sống mà theo đó sự chú ý được hướng tới sẽ hiển thị rõ ràng trong một đánh giá tổng thể. Đây chính là bản chất của ảo tưởng tập trung, thứ có thể được miêu tả trong một câu đơn giản sau:
Không điều gì trong đời sống quan trọng bằng việc bạn nghĩ là nó quan trọng khi nghĩ về nó.
Khởi nguyên của ý niệm này là một cuộc tranh luận trong gia đình về việc chuyển từ California tới Princeton, trong đó vợ tôi đã quả quyết rằng những người sống tại California sẽ hạnh phúc hơn so với những người sống tại bờ Đông. Tôi đã lập luận rằng khí hậu rõ ràng không thể là yếu tố quyết định quan trọng tới cảm nhận hạnh phúc, các nước thuộc Scandinavi hẳn là những nước hạnh phúc nhất trên thế giới này. Tôi đã từng nhận xét rằng các hoàn cảnh sống lâu dài có ít tác động lên cảm nhận hạnh phúc và đã cố gắng trong vô vọng nhằm thuyết phục vợ tôi rằng những trực giác của cô ấy về sự hạnh phúc của những người California là một lỗi dự đoán cảm tính.
Một thời gian ngắn sau đó, vụ tranh cãi này vẫn còn lởn vởn trong đầu tôi, tôi đã tham gia vào một buổi hội thảo khoa học bàn về sự nóng lên toàn cầu. Một đồng nghiệp đã đưa ra một tham luận mà được dựa trên quan điểm của ông đối với cảm nhận hạnh phúc của cư dân trái đất trong thế kỷ tới. Tôi đã tranh luận rằng thật ngớ ngẩn khi đi dự đoán mọi việc rồi sẽ ra sao khi sống trên một hành tinh đang nóng lên khi chúng ta thậm chí đã không biết sống ở California thì sẽ như thế nào. Ngay sau cuộc trao đổi này, đồng nghiệp David Schkade và tôi đã nhận được từ các quỹ hỗ trợ nghiên cứu hai câu hỏi: Có phải những người sống ở California hạnh phúc hơn những người khác? Và dân chúng tin tưởng vào hạnh phúc tương đối của người dân California như thế nào?
Chúng tôi đã tập hợp các mẫu lớn các sinh viên theo học tại các trường đại học thuộc các bang lớn tại California, Ohio và Michigan. Từ một số người trong số họ, chúng tôi đã thu được một bản báo cáo tường tận về sự thỏa mãn của họ với các khía cạnh khác nhau về đời sống của họ. Từ một số khác chúng tôi đã thu được một sự dự báo về việc một số người "với các lợi ích và giá trị của bạn" đã sống ở một nơi nào khác sẽ hoàn thiện bảng câu hỏi tương tự.
Khi chúng tôi phân tích dữ liệu, mọi thứ trở nên rõ ràng rằng tôi đã thắng trong cuộc tranh luận gia đình. Như dự tính, các sinh viên ở hai vùng khác nhau rất nhiều trong thái độ của họ đối với vùng khí hậu của họ: Những người California đã tận hưởng bầu khí hậu của họ và những người vùng Trung - Tây xem thường bầu khí hậu của họ. Nhưng khí hậu không phải là một yếu tố quyết định quan trọng về sự cảm nhận hạnh phúc. Thực vậy, không hề có sự khác biệt nào giữa sự thỏa mãn đời sống của các sinh viên tại California và sinh viên tại Trung - Tây. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng vợ tôi không phải là người duy nhất có niềm tin rằng những người California tận hưởng niềm hạnh phúc nhiều hơn những người khác. Các sinh viên tại cả hai vùng đã có cùng chung quan điểm sai lầm đó, và chúng tôi có thể truy nguyên lỗi của họ từ một niềm tin quá mức vào tầm quan trọng của khí hậu. Chúng tôi đã mô tả lỗi này như là một ảo tưởng tập trung.
Bản chất của ảo tưởng tập trung chính là WYSIATI, quá đặt nặng vấn đề khí hậu và đặt quá ít vai trò của tất cả các yếu tố quyết định khác đối với sự cảm nhận hạnh phúc. Để hiểu rõ sức mạnh của ảo tưởng này là như thế nào, hãy bỏ ra vài giây để xem xét câu hỏi sau:
Bạn nhận được bao nhiêu sự thoải mái từ chiếc xe hơi của mình?
Một câu trả lời xuất hiện trong đầu bạn ngay tức thì và bạn biết được bạn thích và hài lòng với chiếc xe của mình bao nhiêu. Giờ hãy nghiên cứu một câu hỏi khác: "Khi nào thì bạn cảm nhận được sự thoải mái từ chiếc xe của mình?" Câu trả lời cho câu hỏi này có thể làm bạn ngạc nhiên, nhưng thật dễ hiểu: Bạn thấy thỏa mãn (hoặc không thỏa mãn) với chiếc xe của mình khi bạn nghĩ tới nó, điều mà chắc hẳn là không thường xuyên lắm. Dưới các hoàn cảnh thông thường, bạn không dành quá nhiều thời gian để nghĩ về chiếc xe của bạn khi bạn đang vận hành nó. Bạn nghĩ về những thứ khác khi bạn lái xe, và tâm trạng của bạn được xác định bởi thứ mà bạn nghĩ về. Ở đây thêm một lần nữa, khi bạn đã nỗ lực để đánh giá việc bạn hài lòng với chiếc xe của mình bao nhiêu, bạn thực sự đã trả lời một câu hỏi hẹp hơn rất nhiều: "Bạn cảm thấy thoải mái với chiếc xe của mình bao nhiêu khi bạn nghĩ về nó?" Sự thay thế này đã khiến bạn bỏ qua sự thực rằng: Bạn hiếm khi nghĩ về chiếc xe của mình, một dạng thức của sự bỏ qua thời gian diễn ra. Kết quả cuối cùng là một sự ảo tưởng tập trung. Nếu bạn thích chiếc xe của mình, bạn có thể cường điệu sự thoải mái mà bạn nhận được từ nó, thứ mà sẽ làm bạn hiểu sai khi bạn nghĩ về những ưu điểm của phương tiện di chuyển hiện tại của bạn cũng như là khi bạn cân nhắc việc mua một chiếc xe mới.
Một khuynh hướng tương tự bóp méo các phán quyết về niềm hạnh phúc của người dân California. Khi được hỏi về niềm hạnh phúc của người dân California, chắc hẳn bạn sẽ nhớ đến một hình ảnh về một số người đang tham gia vào một khía cạnh đặc biệt của sự trải nghiệm California, ví dụ như đi bộ đường dài vào mùa hè hoặc ngưỡng vọng thời tiết giữa đông. Ảo tưởng tập trung xuất hiện bởi những người dân California thực sự dành ít thời gian cho việc tham gia vào những khía cạnh cuộc sống này của họ. Hơn thế nữa, những người dân California về lâu dài không chắc đã được đả động gì tới khí hậu khi được hỏi về một sự đánh giá toàn diện về đời sống của họ. Nếu bạn sống ở đây trong suốt cuộc đời mình và không đi du lịch quá nhiều, việc sinh sống ở California như thể được ủng hộ bằng cả hai tay: Đẹp, nhưng đó không phải là một số điều mà một số người nghĩ tới quá nhiều. Những ý nghĩ về bất kể khía cạnh nào của đời sống có nhiều khả năng trở nên nổi bật nếu một sự chọn lựa loại trừ tương phản luôn có sẵn.
Những người mới chuyển tới California gần đây sẽ phản ứng khác hẳn. Hãy xem xét một người mạnh dạn bỏ Ohio để tìm kiếm hạnh phúc ở một vùng khí hậu tốt hơn. Trong một vài năm sau việc di chuyển, môt câu hỏi về sự thỏa mãn của anh ta với đời sống hẳn sẽ gợi nhắc anh ta về cuộc di chuyển và cũng gợi ra những suy nghĩ về những kiểu khí hậu tương phản ở hai bang. Sự so sánh chắc chắn sẽ thiên về California, và sự quan tâm tới khía cạnh này của đời sống có thể bóp méo sức ảnh hưởng thực sự của nó trong sự trải nghiệm. Tuy nhiên, ảo tưởng tập trung có thể cũng mang tới sự thoải mái. Dù có hay không có cá nhân thực sự hạnh phúc hơn sau khi di chuyển, anh ta sẽ báo cáo với chính bản thân mình trạng thái hạnh phúc hơn, bởi suy nghĩ về kiểu khí hậu sẽ khiến anh ra tin rằng mình đang hạnh phúc hơn. Ảo tưởng tập trung có thể khiến con người ta trở nên sai lầm với trạng thái hạnh phúc hiện tại của họ cũng như là về niềm hạnh phúc của những người khác, và về hạnh phúc cá nhân của họ trong tương lai.
Vào thời điểm nào trong ngày thì những người liệt hai chi dưới trải qua tâm trạng tồi tệ?
Câu hỏi này gần như chắc chắn khiến bạn nghĩ về một người liệt hai chân dưới, người mà hiện đang nghĩ về một số trạng thái của anh ta. Sự phỏng đoán của bạn về tâm trạng của một người bị liệt hai chi dưới do vậy mà có thể trở nên chính xác vào những ngày đầu tiên sau một vụ tai nạn gây tàn tật xảy ra; đôi khi sau biến cố, các nạn nhân của vụ tai nạn không nghĩ gì nhiều. Nhưng thời gian trôi đi, với một vài biệt lệ, sự chú ý được rút ra từ một tình thế mới khi nó trở nên quen thuộc hơn. Các biệt lệ chính là cơn đau kinh niên, liên tục tiếp xúc với tiếng ồn ào và trầm cảm nghiêm trọng. Cơn đau và tiếng ồn về mặt sinh học được tạo ra để làm các tín hiệu thu hút sự chú ý và trầm cảm có liên quan tới một chu trình tự củng cố về những suy nghĩ đáng thương. Do vậy ở đâu không có sự tương thích với những trạng thái này. Liệt hai chi dưới, tuy vậy, không phải là một trong những ngoại lệ: Những quan sát chi tiết đã cho thấy rằng những người bị liệt hai chi dưới có tâm trạng khá tốt so với một nửa khoảng thời gian giống như một tháng đầu sau vụ tai nạn của họ, mặc dù tâm trạng của họ chắc chắn là ủ rũ hơn khi họ nghĩ về tình trạng của mình. Phần lớn thời gian, tuy nhiên, những người liệt hai chi dưới làm việc, đọc sách, tận hưởng những trò gây cười, kết bạn và nổi giận khi họ đọc các thông tin về đời sống chính trị trên báo. Khi họ được tham gia vào bất cứ những hoạt động này, họ không mấy khác biệt với bất cứ ai khác, và chúng ta có thể mong đợi cảm nhận hạnh phúc được trải nghiệm của những người liệt hai chi này gần với đời thường phần lớn thời gian. Sự thích ứng với tình trạng mới, dù tốt hay xấu, cốt ở phần lớn của việc suy nghĩ càng ít càng tốt về vấn đề đó. Trong trường hợp này, hầu hết các hoàn cảnh sống về dài hạn, bao gồm cả người bị liệt hai chi và người kết hôn, là những trạng thái bán thời gian mà ai đó ở vào chỉ khi ai đó chú tâm tới chúng.
Một trong những đặc quyền của việc giảng dạy tại Princeton đó là cơ hội được dẫn dắt những sinh viên sáng lạn sắp tốt nghiệp qua một luận án nghiên cứu. Và một trong những sự trải nghiệm yêu thích của tôi trong đặc trưng này, đó là một dự án trong đó Beruria Cohn đã thu thập và phân tích số liệu từ một hãng khảo sát đã đề nghị những người tham gia đánh giá tỷ lệ thời gian mà những người bị liệt hai chi dưới lâm vào một tâm trạng tồi tệ. Bà đã tách những người tham ra thành hai nhóm: Một số được nói rằng vụ tai nạn gây thương tật đã xảy ra một tháng trước đó, một số được nói rằng một năm trước đó. Ngoài ra, từng người tham gia đã làm hiệu cho biết liệu rằng bản thân anh ta hoặc cô ta đã từng biết một người liệt hai chi dưới hay không. Hai nhóm này đã trùng khít với nhau trong phán đoán của họ về những người bị liệt hai chi dưới gần đây: Những người mà từng biết một người bị liệt hai chi dưới đã ước tính 75% ở tâm trạng tồi tệ; những người mà phải hình dung ra một người bị liệt hai chi dưới cho là 70%. Ngược lại, hai nhóm này đã khác biệt một cách rõ nét trong các ước tính của mình về tâm trạng của những người liệt hai chi dưới một năm sau các vụ tai nạn: Những người từng biết một người bị liệt hai chi đã đưa ra con số 41% như là ước tính của họ về khoảng thời gian mà tại đó tâm trạng là tồi tệ. Các ước tính của những người mà chưa từng quen biết với một người bị liệt hai chi dưới đã tính trung bình là 68%. Rõ ràng, những ai đã từng biết một người liệt hai chi dưới đã quan sát thấy sự thuyên giảm dần dần đối với sự chú ý khỏi tình trạng đó, nhưng những người khác đã không đoán được rằng sự thích nghi này có thể xảy ra. Các đoán định về tâm trạng của những người trúng vé số một tháng và một năm sau biến cố đã chỉ ra đích xác cùng một mẫu hình như vậy.
Chúng ta có thể dự tính sự thỏa mãn đời sống của những người liệt hai chi dưới và những ai đau buồn vì những trạng thái mãn tính và phiền toái được liên kết lỏng lẻo với cảm nhận hạnh phúc được trải nghiệm của họ, bởi nhu cầu đánh giá cuộc sống của họ chắc sẽ gợi nhắc họ về đời sống của những người khác và về đời sống mà họ đã từng trải qua. Kiên định với ý niệm này, các nghiên cứu gần đây về các bệnh nhân làm phẫu thuật hậu môn giả đã sản sinh ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa cảm nhận hạnh phúc được trải nghiệm của các bệnh nhân và những đánh giá của họ về cuộc sống của mình. Sự trải nghiệm chọn mẫu chỉ ra không hề có sự khác biệt nào trong niềm hạnh phúc được trải nghiệm giữa những bệnh nhân này và một nhóm người khỏe mạnh. Lại thêm các bệnh nhân làm phẫu thuật hậu môn giả có thể sẽ sẵn lòng đánh đổi một vài năm tuổi đời của mình lấy một cuộc đời ngắn ngủi hơn mà không phải làm phẫu thuật hậu môn giả. Hơn thế nữa, những bệnh nhân có hậu môn giả đã từng đánh đổi này nhớ lại quãng thời gian của họ trong trạng thái ấy như thể điều ghê sợ và họ sẽ từ bỏ thậm chí nhiều hơn thời gian sống còn lại của mình để không phải quay lại với nó. Ở đây cho thấy bản thể đang hồi tưởng là chủ thể cho một ảo tưởng tập trung ồ ạt về đời sống mà bản thể đang trải nghiệm kéo dài khá lâu.
Daniel Gilbert và Timothy Wilson đã giới thiệu từ Lỗi ham muốn để miêu tả những chọn lựa tồi nảy sinh từ các lỗi của việc dự báo cảm tính. Từ này đáng được dùng trong ngôn ngữ hàng ngày. Ảo tưởng tập trung (mà Gilbert và Wilson gọi là Khu biệt hóa) là một nguồn phong phú cho Lỗi ham muốn. Cụ thể, nó khiến chúng ta có thiên hướng thổi phồng tác động của những lực đẩy quan trọng hoặc thay đổi các tình huống với cảm nhận hạnh phúc trong tương lai. So sánh hai điều ràng buộc mà sẽ thay đổi một số khía cạnh đời sống của bạn: Việc mua một chiếc xe mới tiện nghi và việc tham gia vào một nhóm gặp mặt hàng tuần, có thể là một câu lạc bộ chơi poker hoặc câu lạc bộ sách. Cả hai sự trải nghiệm này đều sẽ thú vị và kích thích tại thời điểm khởi đầu. Sự khác biệt cốt yếu đó là rốt cuộc bạn sẽ ít chú ý tới chiếc xe khi bạn lái nhưng bạn sẽ luôn chú tâm tới sự tương tác xã hội mà theo đó bạn đã tự ràng buộc bản thân mình. Qua WYSIATI, bạn có thể thổi phồng những lợi ích dài hạn của chiếc xe, nhưng bạn không bao giờ phạm phải sai lầm đối với một cuộc hội họp xã hội hoặc đối với các hoạt động vốn đã đòi hỏi khắt khe sự chú tâm, ví dụ như việc chơi tennis hoặc học chơi cello. Ảo tưởng tập trung tạo ra một khuynh hướng thiên về những điều tốt đẹp và những trải nghiệm thú vị vào lúc đầu, dù cho sau cùng chúng sẽ mất đi sức hấp dẫn của mình. Khoảng thời gian đã bị bỏ qua, dẫn tới những trải nghiệm mà sẽ giữ lại giá trị chú ý của họ về dài hạn được đánh giá cao, ít hơn so với chúng đáng được hưởng.
THỜI GIAN Và LẠI THỜI GIAN
Vai trò của thời gian đã là một điệp khúc trong phần này của cuốn sách. Nó thật hợp lý để mô tả đời sống của bản thể đang trải nghiệm như thể một chuỗi các khoảnh khắc, mỗi khoảnh khắc có một giá trị. Giá trị của một tình huống, tôi đã gọi đó là một niềm vui - đơn giản là tổng các giá trị của các khoảnh khắc cuộc đời. Nhưng đây không phải là cách mà trí não miêu tả các tình huống. Bản thể đang hồi tưởng, như tôi đã từng mô tả, cũng kể những câu chuyện và đưa ra các chọn lựa, và không phải những câu chuyện lẫn các chọn lựa miêu tả một cách hợp thức về thời gian. Trong hình mẫu người kể chuyện, một tình huống được hình dung ra bởi một vài khoảnh khắc quyết định, đặc biệt là đoạn mở đầu, cao trào và kết thúc. Thời gian diễn ra bị bỏ qua. Chúng tôi đã thấy được sự tập trung này lên các khoảnh khắc riêng lẻ cả ở tình huống can đảm lẫn ở câu chuyện của Violetta.
Chúng tôi đã thấy một dạng thức khác biệt của sự bỏ qua thời gian diễn ra trong lý thuyết triển vọng, trong đó một trạng thái được miêu tả bởi bước chuyển tiếp. Việc trúng một giải xổ số mang lại một trạng thái mới về tài sản mà sẽ tồn tại trong vài ba khoảng thời gian, nhưng độ thỏa dụng quyết định tương đương với cường độ đánh giá quá cao của phản ứng trước tin tức người nào đó đã trúng số. Việc thoái lui sự chú ý và những thích nghi khác với trạng thái mới đều bị bỏ qua, khi mà chỉ có lát cắt thời gian mỏng manh là được để mắt tới. Sự tập trung tương tự lên sự chuyển dịch sang trạng thái mới và việc bỏ qua thời gian tương tự và sự thích nghi được phát hiện trong các dự báo về phản ứng trước các chứng bệnh kinh niên và dĩ nhiên trong sự ảo tưởng tập trung. Sai lầm mà mọi người mắc phải trong ảo tưởng tập trung bao gồm cả sự chú tâm tới các khoảnh khắc được lựa chọn và sự bỏ qua điều xảy ra tại các khoảng thời gian khác. Trí não thỏa mãn với những câu chuyện, nhưng nó có vẻ không được hợp lý đối với tiến trình thời gian.
Trong suốt 10 năm qua, chúng ta đã lĩnh hội được nhiều sự thực mới về niềm hạnh phúc. Nhưng chúng ta cũng đã học được rằng từ hạnh phúc không mang một ý nghĩa giản đơn và nó không nên được sử dụng như thể nó đang được dùng. Đôi khi tiến bộ khoa học khiến cho chúng ta bối rối hơn chúng ta nghĩ.
HỒI KẾT
Tôi bắt đầu viết cuốn sách này bằng việc giới thiệu hai nhân vật hư cấu, đồng thời cũng tập trung vào việc tranh luận về hai hệ thống và kết lại với hai bản thể. Hai nhân vật đó là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. Trong đó, Hệ thống 1 thuộc về trực giác, nó thực hiện việc tư duy nhanh, còn Hệ thống 2 tượng trưng cho sự nỗ lực và thực hiện nhiệm vụ chậm hơn. Thêm vào đó, Hệ thống 2 còn thực hiện việc tư duy chậm, giúp điều chỉnh Hệ thống 1 và duy trì sự kiểm soát tốt nhất có thể trong giới hạn các nguồn lực bị hạn chế của nó. Hai hình thái này thể hiện cho con người kinh tế hư cấu, sống trên mảnh đất lý thuyết và con người, hành động trên thế giới thực tại. Hai bản thể là bản thể đang trải nghiệm - thứ thực thi việc sinh tồn và bản thể hồi tưởng - thứ lưu giữ mục tiêu và tạo ra các chọn lựa. Trong chương cuối cùng này tôi xem xét tới một số ứng dụng của ba sự khác biệt này, bàn luận về chúng theo một trật tự đảo nghịch.
HAI BẢN THỂ
Khả năng xảy ra các xung đột giữa bản thể đang hồi tưởng và các lợi ích của bản thể đang trải nghiệm thực tế lại phát sinh nhiều khó khăn hơn so với suy nghĩ ban đầu của tôi. Trong một thí nghiệm trước đó, nghiên cứu can đảm, sự kết hợp giữa bỏ qua thời gian diễn ra và quy tắc "đỉnh-đáy" dẫn tới các chọn lựa rõ ràng là vô lý. Tại sao người ta có thể sẵn lòng đặt bản thân họ vào nỗi đau không cần thiết? Các chủ thể của chúng tôi phó mặc sự lựa chọn cho bản thể đang hồi tưởng của họ, thích được lặp lại thử nghiệm để lại ký ức tốt đẹp hơn, mặc dù nó kéo theo nỗi đau đớn hơn. Việc lựa chọn thông qua đặc trưng của ký ức có thể được biện minh trong các trường hợp cực đoan, ví dụ khi trạng thái căng thẳng sau chấn thương là một sự kiện có thể xảy ra nhưng sự trải nghiệm can đảm không phải là chấn thương. Một người quan sát khách quan đưa ra sự chọn lựa dành cho ai đó khác có thể chắc chắn lựa chọn sự tổn thất ngắn hạn, có lợi cho bản thể đang trải nghiệm của người bị thiệt hại. Các lựa chọn mà người ta lập ra vì lợi ích của chính mình được mô tả một cách công bằng như là những sai lầm. Sự bỏ qua khoảng thời gian và quy tắc "đỉnh-đáy" trong sự đánh giá về các câu chuyện, cả ở vở opera lẫn trong các đoán định về cuộc đời của Jen, đều không thể biện bạch tương tự như nhau. Nó không có ý nghĩa để đánh giá một đời sống toàn diện bằng những khoảnh khắc cuối cùng của mình, hoặc không đặt nặng vào khoảng thời gian diễn ra để quyết định xem cuộc đời nào đáng ao ước hơn.
Bản thể đang trải nghiệm là một sự giải thích cho Hệ thống 2. Tuy nhiên, các đặc trưng để phân biệt cách thức nó đánh giá các tình huống và cuộc sống là những nét tiêu biểu cho ký ức của chúng ta. Sự bỏ qua khoảng thời gian diễn ra và quy tắc "đỉnh - đáy" khởi nguồn từ Hệ thống 1 và không nhất thiết phải tương ứng với các giá trị của Hệ thống 2. Chúng ta tin rằng, khoảng thời gian diễn ra là quan trọng nhưng ký ức phản ánh về chúng ta lại không hẳn thế. Các quy tắc chi phối sự đánh giá về quá khứ là những chỉ dẫn nghèo nàn đối với việc ra quyết định, bởi thời gian là yếu tố chính quyết định ở đây. Thực tế quan trọng về sự tồn tại của chúng ta đó là thời gian là niềm an ủi hạn chế cuối cùng nhưng bản thể đang hồi tưởng bỏ qua thực tế đó. Việc bỏ qua thời gian được kết hợp với quy tắc "đỉnh - đáy" dẫn tới một khuynh hướng thiên về một khoảng thời gian cực kỳ vui vẻ ngắn ngủi qua một khoảng thời gian hạnh phúc vừa phải lâu dài. Hình ảnh phản chiếu về khuynh hướng tương tự khiến chúng ta lo ngại một khoảng thời gian gây tổn thương nghiêm trọng nhưng có thể chịu đựng được ngắn ngủi hơn so với việc chúng ta lo ngại một khoảng thời gian đau đớn và phải kéo dài lâu hơn. Khoảng thời gian bị bỏ qua cũng khiến chúng ta có thiên hướng chấp nhận một khoảng thời gian khó chịu vừa phải, bởi kết cục sẽ trở nên tốt đẹp hơn và nó có lợi cho việc từ bỏ một cơ hội cho một khoảng thời gian dài hạnh phúc nếu nó có một cái kết nhàm chán. Để hướng ý niệm tương tự này tới ngưỡng lo lắng, hãy xem xét lời cảnh báo phổ biến sau: "Đừng làm điều đó, bạn sẽ hối hận đấy." Lời khuyên này nghe có vẻ sáng Suốt, bởi sự hối tiếc được dự báo trước là nhận định của bản thể đang hồi tưởng và chúng ta có khuynh hướng chấp nhận những phán đoán dứt khoát và thường ra quyết định như vậy. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng triển vọng của bản thể đang hồi tưởng không phải lúc nào cũng đúng. Một người theo dõi khách quan mô tả sơ lược máy đo niềm hoan lạc, với những lợi ích của bản thể đang trải nghiệm trong đầu, có thể mang lại lời khuyên khác biệt hợp lý. Sự bỏ qua thời gian diễn ra của bản thể đang hồi tưởng, tầm quan trọng được đánh giá quá mức của nó lên những cao trào và kết thúc và sự "nhận thức muộn" của nó kết hợp với lợi ích đã bóp méo những phản ánh về sự trải nghiệm thực tế của chúng ta.
Ngược lại, định nghĩa coi trọng khoảng thời gian cảm nhận hạnh phúc diễn ra xem xét tất cả các khoảnh khắc của đời sống tương tự như nhau, có thể quên hoặc không thể quên. Một số khoảnh khắc cuối cùng đã được coi trọng hơn so với những khoảnh khắc khác, do chúng không thể quên được hoặc do chúng là quan trọng. Khoảng thời gian mà người ta dành để chú tâm vào một khoảnh khắc đáng nhớ nên bao gồm cả khoảng thời gian diễn ra nó. Một khoảnh khắc cũng có thể đạt tới tầm quan trọng bởi sự thay đổi trải nghiệm của những khoảnh khắc xảy ra sau đó. Ví dụ, bỏ ra một giờ tập luyện đàn violin có thể làm tăng sự trải nghiệm của nhiều giờ chơi hoặc nghe nhạc nhiều năm sau đó. Tương tự như vậy, một biến cố khủng khiếp gây ra PTSD sẽ được đặt nặng bởi tổng lượng thời gian xảy ra nỗi đau về dài hạn mà nó gây ra. Trong triển vọng thời gian diễn ra được coi trọng, chúng ta có thể xác định được chỉ sau khi thực tế mà một khoảnh khắc là đáng nhớ hoặc có ý nghĩa. Những tuyên bố "tôi sẽ luôn ghi nhớ…" hoặc "đây quả là một khoảnh khắc đáng nhớ" nên được hiểu là điều hứa hẹn hoặc các dự báo, thứ có thể sai và thường là như vậy, ngay cả khi được bày tỏ với sự chân thật tuyệt đối. Sẽ là một lời dự đoán khôn ngoan rằng rất nhiều điều chúng ta nói rằng chúng ta sẽ luôn ghi nhớ trong một thời gian dài sẽ bị quên lãng 10 năm sau đó.
Sự hợp lý của việc coi trọng khoảng thời gian diễn ra thật thuyết phục, nhưng nó không thể được nhìn nhận là một lý thuyết hoàn chỉnh về cảm nhận hạnh phúc bởi các cá nhân gắn bó chặt chẽ với bản thể đang hồi tưởng của họ và quan tâm tới câu chuyện của họ. Một lý thuyết về cảm nhận hạnh phúc không thể duy trì nếu mà bỏ qua điều người ta mong muốn. Mặt khác, một lý thuyết mà bỏ qua điều đang thực sự diễn ra trong cuộc sống của mọi người và khác biệt với điều họ nghĩ về đời sống của mình thì cũng không tồn tại mãi được. Bản thể đang hồi tưởng và bản thể đang trải nghiệm cần phải được xem xét cùng lúc, bởi những lợi ích của chúng không phải luôn xảy ra đồng thời. Các nhà triết học có thể đã đấu tranh với những câu hỏi này trong một khoảng thời gian dài.
Vấn đề tranh cãi về việc cái nào trong số hai bản thể có tầm quan trọng hơn không phải là một câu hỏi chỉ dành cho các triết gia, nó còn có hàm ý đối với các chính sách trong một vài lĩnh vực, đáng chú ý là y tế và phúc lợi xã hội. Hãy xem xét sự đầu tư mà nên được lập ra trong việc điều trị các tình trạng bệnh khác nhau, bao gồm cả mù, điếc hoặc suy thận. Những đầu tư này có nên được xác định bởi việc người ta lo sợ những tình trạng này nhiều như thế nào? Những đầu tư có nên được dẫn dắt bởi sự đau đớn mà các bệnh nhân trải nghiệm thực tế? Hoặc có nên tuân theo mức độ mong muốn của các bệnh nhân để được giải thoát khỏi tình trạng của họ và bởi những đánh đổi mà họ sẽ sẵn lòng tạo ra nhằm đạt tới sự khuây khỏa đó? Thứ hạng của các tình trạng mù, điếc, hoặc phẫu thuật lắp hậu môn giả và lọc máu, có thể khác biệt một cách rõ nét, tùy thuộc vào cách xử trí thương tổn nghiêm trọng được sử dụng. Không hề có giải pháp dễ dàng nào nằm trong tầm ngắm nhưng vấn đề tranh cãi này vô cùng quan trọng để có thể bỏ qua.
Khả năng có thể sử dụng các thước đo hạnh phúc như là các dụng cụ đo lường để hướng dẫn các chính sách của Chính phủ đã thu hút được sự quan tâm đáng kể gần đây, cả trong giới học thuật lẫn một vài Chính phủ tại châu âu. Một vài năm trước, nó đã không được thừa nhận, cho đến gần đây nó mới có thể hiểu được rằng một chỉ số về một lượng thương tổn trong xã hội một ngày nào đó sẽ được bao hàm trong các số liệu thống kê quốc gia, cùng với các thước đo về thất nghiệp, khuyết tật thể chất và mức thu nhập. Dự án này đã đạt được một bước tiến lớn.
KINH TẾ Và CON NGƯỜI
Trong lời nói hàng ngày, chúng tôi kêu gọi mọi người biết suy nghĩ khi tranh luận, nếu những niềm tin của họ hòa hợp với thực tế và nếu những ưu tiên của họ trùng với những lợi ích và giá trị của họ. Từ lý trí truyền đạt một hình ảnh của sự cẩn trọng hết mức, tính toán nhiều hơn và ít nóng vội, nhưng trong ngôn ngữ phổ thông, một con người có lý trí chắc chắn lại là người biết suy nghĩ. Đối với các nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu lý thuyết quyết định, tính từ "lý trí" này có một ý nghĩa khác biệt hoàn toàn. Thử thách duy nhất về tính hợp lý không phải là liệu rằng những niềm tin và sở thích của một người có hợp lý hay không, mà chúng có nhất quán nội tại trong con người hay không. Một con người có lý trí có thể tin vào những hồn ma, miễn là tất cả các niềm tin khác của cô ta nhất quán với sự tồn tại của các hồn ma. Một con người có lý trí có thể thích bị ghét bỏ hơn là được yêu mến, miễn là các sở thích của anh ta nhất quán. Tính hợp lý là sự cố kết hợp logic hợp lý hay không hợp lý. Kinh tế học duy lý trí bởi chính sự nhờ định nghĩa này, nhưng đó là căn cứ vượt trội mà con người không thể có. Kinh tế học có thể không dễ mắc phải sự cứng nhắc như WYSIATI, cấu trúc hẹp, cái nhìn bên trong, hoặc những đảo lộn ưu tiên, thứ mà con người trước sau cũng không thể tránh khỏi.
Định nghĩa về tính hợp lý như là sự cố kết thì không thể bị hạn chế, nó đòi hỏi sự tuân thủ các quy tắc logic mà một ý nghĩ hạn chế không thể thực hiện được. Con người biết suy nghĩ không thể được định nghĩa không có lý trí nhưng họ không nên bị quy cho là không có lý trí bởi định nghĩa này. Phi lý trí là một từ hàm xúc, trong đó nó bao hàm tính bốc đồng, đa cảm và một sự kháng cự ngoan cố trước lập luận hợp lý. Tôi thường né tránh khi nghiên cứu của tôi cùng với Amos được cho là các chọn lựa của con người là phi lý trí, khi mà trong thực tế nghiên cứu của chúng tôi chỉ cho thấy rằng con người không được mô tả đúng bởi hình mẫu tác nhân có lý trí.
Mặc dù con người không phải là phi lý trí, họ thường cần tới sự hỗ trợ để đưa ra các dự đoán hoặc các quyết định tốt hơn, và trong một số trường hợp, các chính sách và các thể chế có thể mang lại sự hỗ trợ đó. Những khẳng định này có thể là vô thưởng vô phạt nhưng chúng lại gây tranh cãi trong thực tế. Như đã được làm sáng tỏ bởi trường phái Kinh tế học Chicago có uy tín, đức tin trong lý tính của con người được gắn kết chặt chẽ với một ý thức hệ, trong đó, nó không nhất thiết và thậm chí là trái thông lệ khi bảo vệ con người trước những chọn lựa của họ. Những người có lý trí nên được tự do và họ nên có nghĩa vụ quan tâm tới chính bản thân mình. Milton Friedman, nhân vật đứng đầu tại trường, đã diễn giải quan điểm này dưới một nhan đề của một trong những cuốn sách nổi tiếng của ông là: Tự do lựa chọn.
Sự giả định mà các tác nhân có lý trí cung cấp nền móng trí tuệ cho người theo chủ nghĩa tự do tiếp cận được với các chính sách công: Không gây trở ngại cho quyền lựa chọn của cá nhân, trừ khi các chọn lựa này gây hại cho những người khác. Các chính sách ủng hộ tự do được hậu thuẫn nhiều hơn bởi sự cảm phục trước hiệu lực của các thị trường trong việc phân phối hàng hóa tới người dân, những người luôn sẵn sàng chi trả nhiều nhất cho họ. Một ví dụ nổi tiếng về cách tiếp cận Chicago có nhan đề Một lý thuyết về ham mê có lý trí; nó lý giải cách mà một tác nhân có lý trí với một sở thích dành cho sự thỏa mãn trực tiếp và mạnh mẽ có thể đưa ra quyết định có lý trí để chấp nhận sự ham mê trong tương lai như là một hệ quả. Một lần tôi đã nghe Gary Becker, một trong những tác giả của bài báo trên, đây cũng là một người được nhận giải Nobel của trường phái Chicago, tranh cãi theo lối không quan trọng, nhưng không hoàn toàn như là một trò đùa bỡn rằng: Chúng ta nên xem xét khả năng lý giải chứng bệnh gọi là béo phì bằng niềm tin của con người mà một liều thuốc chữa bệnh đái tháo đường sẽ sớm trở nên công hiệu. ông đã và đang tạo ra một điểm có giá trị: Khi chúng ta quan sát những người hành động theo những cách xem chừng là kỳ cục, chúng ta trước tiên nên nghiên cứu xác suất mà họ có một lý do đúng đắn để làm điều mà họ muốn. Những giải thích về tâm lý chỉ nên được viện dẫn khi các lý do này trở nên không hợp lý, sự giải thích của Becker về bệnh béo phì hẳn là vậy.
Trong một đất nước phát triển, chính phủ nên để nền kinh tế vận hành theo quy luật tự nhiên mà không nên can thiệp quá sâu, miễn là sự vận hành ấy không gây hại cho nền kinh tế khác. Để có quyền điều khiển xe máy mà không đội mũ bảo hiểm. Các công dân biết được họ đang làm gì, ngay cả khi họ lựa chọn không tiết kiệm tiền cho tuổi già của họ, hoặc khi họ quá ham mê một số thứ. Đôi khi có một tình huống đối lập với lập luận này: Những người già không tiết kiệm tiền để trang trải cho cuộc sống khi về hưu nhận được nhiều cảm thông hơn so với một số người hay phàn nàn về các loại hóa đơn sau khi ngốn hết một bữa đại tiệc tại một nhà hàng. Bởi vậy phần lớn những lập luận này đang phải đối diện trong cuộc tranh cãi giữa trường phái Chicago và các nhà kinh tế học hành vi, những người bác bỏ dạng thức cực đoan về hình mẫu tác nhân có lý trí. Sự tự do không phải là một giá trị được tranh cãi, và tất cả những người tham gia vào cuộc tranh luận đều ủng hộ lập luận này. Nhưng cuộc sống đối với các nhà kinh tế học hành vi phức tạp hơn so với những người tin vào tính hợp lý của con người. Không một nhà Kinh tế học Hành vi nào lại cũng hộ một Chính phủ cưỡng ép các cư dân của mình thực hiện chế độ ăn khoa học và chỉ xem chương trình vô tuyến có lợi cho tâm hồn. Tuy nhiên, đối với các nhà kinh tế học hành vi, sự tự do có một cái giá, mà do cá nhân mà đã đưa ra những lựa chọn tồi và một xã hội có nghĩa vụ phải giúp đỡ họ. Quyết định về việc liệu có hay không có việc bảo vệ các cá nhân chống lại những sai lầm của mình, do đó đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan dành cho các nhà kinh tế học Hành vi. Các nhà kinh tế học của trường phái Chicago không đối mặt với vấn đề này, bởi các tác nhân có lý trí không phạm phải những sai lầm. Đối với những người ủng hộ trường phái này, sự tự do là phải được miễn trách nhiệm.
Vào năm 2008, nhà kinh tế học Richard Thaler và nhà luật học Cass Sunstein đã cùng hợp sức để viết một cuốn sách có tên là Cú hích, cuốn sách này nhanh chóng trở thành một cuốn sách bán chạy và được các nhà kinh tế học hành vi coi là cuốn kinh thánh của họ. Cuốn sách của họ đã đưa một vài từ mới vào ngôn ngữ, bao gồm cả Kinh tế học và con người. Nó cũng đưa ra một chuỗi các giải pháp cho tình thế tiến thoái lưỡng nan về việc làm cách nào để hỗ trợ người dân đưa ra các quyết định đúng mà không tước đi sự tự do của họ. Thaler và Sunstein tán thành quan điểm của chính sách Chính phủ theo hướng tự do chủ nghĩa, trong đó nhà nước và các thể chế cho phép hích người dân đưa ra các quyết định phục vụ cho các lợi ích lâu dài của chính bản thân họ. Định rõ việc tham gia vào một kế hoạch trợ cấp như là phương án ngầm định là một ví dụ về một cú hích. Thật khó để lập luận rằng sự tự do của bất cứ ai bị thu hẹp bởi được chiêu nạp một cách tự động vào kế hoạch, khi họ chỉ đơn thuần đánh dấu vào một ô trống để lựa chọn. Như chúng ta đã thấy trước đó, cấu trúc của quyết định của cá nhân mà Thaler và Sunstein gọi đó là cấu trúc lựa chọn, có một tác động rất lớn lên kết quả. Cú hích này được dựa trên hệ tâm lý có căn cứ, mà tôi đã mô tả trước đó. Phương án ngầm định được nhận biết một cách tự nhiên như là sự lựa chọn phổ thông. Việc chệch hướng khỏi sự lựa chọn phổ thông là một hành động vi phạm, nó đòi hỏi một nỗ lực cẩn trọng nhiều hơn, lãnh nhiều trách nhiệm hơn và nhiều khả năng gợi ra sự hối tiếc hơn là không làm gì cả. Đó là những áp lực mạnh mẽ mà có thể dẫn dắt quyết định của một số người mà mặt khác không tự tin vào điều cần làm.
Con người, còn hơn cả nhà kinh tế học, cũng cần tới sự bảo vệ từ những người khác, họ khai thác một cách cẩn trọng sự yếu kém của mình và đặc biệt là những thói quen của Hệ thống 1 và sự biếng nhác của Hệ thống 2. Các tác nhân có lý trí được cho là tạo ra các quyết định quan trọng một cách cẩn thận và sử dụng tất cả thông tin được cung cấp cho chúng. Một người có tư duy kinh tế sẽ đọc và hiểu một bản hợp đồng trước khi ký vào nhưng con người thường không làm như vậy. Một doanh nghiệp không có đạo đức lập ra các bản hợp đồng để mà các khách hàng sẽ ký theo thói quen mà không nghiên cứu khi nhiều vấn đề pháp lý quan trọng, được trình bày ẩn đi thông tin quan trọng với cái nhìn đơn giản không dễ gì phát hiện ra được. Một sự dính líu nguy hại tới hình mẫu tác nhân có lý trí với hình thái cực đoan của nó đó là các khách hàng bị cho rằng không cần tới sự bảo vệ ngoại trừ việc bảo đảm rằng thông tin liên quan được vạch rõ.
Khổ in và sự phức tạp của ngôn ngữ trong sự phơi bày này không được xem xét thích đáng - một tư duy kinh tế biết được rằng làm cách nào để xử lý một phản in chữ nhỏ khi nó là vấn đề. Ngược lại, những gợi ý Cú hích đòi hỏi các doanh nghiệp phải đưa ra các bản hợp đồng đơn giản để với tư duy bình thường của con người có thể dễ dàng hiểu được. Những lời gợi ý này đã gặp phải sự chống đối đáng kể từ các doanh nghiệp có thể bị tổn hại nếu những khách hàng của họ hiểu được thông tin tốt hơn. Một thế giới mà trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh bằng việc đưa ra các sản phẩm tốt, hơn là giỏi trong việc làm một số thứ khác và gây hoang mang cho người tiêu dùng.
Một đặc trưng đáng chú ý của chính sách theo hướng tự do chủ nghĩa, đó là sự hấp dẫn của nó trên một quang phổ chính trị rộng rãi. Ví dụ hàng đầu về chính sách hành vi, được gọi là Tiết kiệm nhiều hơn cho Ngày mai, được đỡ đầu tại Quốc hội bởi một liên minh khác thường bao gồm Đảng bảo thủ cực đoan cũng như là Đảng tự do. Tiết kiệm Nhiều hơn cho ngày mai là một kế hoạch tài chính mà các doanh nghiệp có thể mang lại cho người lao động của họ. Những người lao động cho phép chủ lao động tăng sự đóng góp của họ tới kế hoạch tiết kiệm của mình bởi một tỷ lệ cố định bất cứ khi nào họ được tăng lương. Tỷ lệ tiết kiệm gia tăng được thực hiện đầy đủ một cách tự động cho tới khi người lao động thông báo rằng cô ta không muốn tham gia vào kế hoạch này nữa. Sự đổi mới khác thường này, được đệ trình bởi Richard Thaler và Shlôm Benartzi vào năm 2003, giờ đây đã cải thiện được tỷ lệ các khoản tiết kiệm và đã thắp sáng các viễn cảnh trong tương lai của hàng triệu công nhân. Nó được đặt nền tảng vững chắc trên các nguyên tắc Tâm lý học mà các độc giả của cuốn sách này sẽ nhận ra. Nó tránh được sự phản kháng trước một tổn thất tức thì bằng cách yêu cầu không có sự thay đổi ngay lập tức; bằng cách bắt buộc phải tăng khoản tiết kiệm để tăng lương, nó chuyển thất bại thành những chiến thắng đã được định trước, điều này dễ chịu hơn rất nhiều và đặc trưng của hệ thống tự động hướng sự biếng nhác của Hệ thống 2 vào những lợi ích dài hạn dành cho những người công nhân. Tất cả những điều này, dĩ nhiên, không hề bắt buộc bất cứ ai phải làm bất cứ điều gì mà anh ta không mong muốn làm và không hề có bất cứ luận điệu ru ngủ nào hoặc thủ đoạn ở đây.
Sức lôi cuốn của chính sách tự do chủ nghĩa của chính phủ đã vào đang được chấp thuận ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Vương quốc Anh và Hàn Quốc, bởi các nhà chính trị gia thuộc nhiều Đảng phái, bao gồm Đảng Bảo thủ và chính quyền Dân chủ của Tổng thống Obama. Thực vậy, Chính phủ Anh đã tạo ra một đơn vị mới có quy mô nhỏ có sứ mệnh là ứng dụng các nguyên tắc của khoa học hành vi vào để hỗ trợ Chính phủ hoàn thành các mục tiêu tốt hơn. Tên gọi chính thức của nhóm này đó là Behavioural Insight Team nhưng nó được biết tới cả trong và ngoài Chính phủ theo một cách đơn giản như là một Đơn vị thúc đẩy. Thaler là một cố vấn cho đơn vị này.
Trong một cuốn sách tiếp theo cuốn Cú hích, Sunstein đã nhận được yêu cầu bởi đích thân Tổng thống Obama để phụng sự với tư cách là một Chánh văn phòng Thông tin và Quy định nội bộ, một vị trí mà đã mang lại cho ông cơ hội đáng kể để khích lệ việc sử dụng các bài học về Tâm lý học và Kinh tế học hành vi trong các cơ quan Chính phủ. Sứ mệnh này được miêu tả trong Báo cáo năm 2010 của văn phòng Quản lý và Ngân sách. Các độc giả của cuốn sách này sẽ hiểu rõ được giá trị logic đằng sau những khuyến nghị cụ thể này, bao gồm cả việc khuyến khích "những sự phơi bày minh bạch, đơn giản, nổi bật và có ý nghĩa." Họ cũng sẽ nhận ra những phát biểu cơ sở kiểu như "sự trình bày là rất quan trọng, ví dụ, nếu một kết quả tiềm năng được cấu trúc như là một tổn thất, nó có thể có nhiều tác động hơn nếu nó được trình bày như là một lợi ích."
Ví dụ về một sự điều chỉnh cấu trúc hé lộ có liên quan đến mức tiêu thụ nhiên liệu đã được đề cập tới trước đó. Các ứng dụng cộng thêm mà đã được thi hành gồm cả sự kết nạp tự động trong bảo hiểm y tế, một dạng thức mới của những chỉ dẫn về chế độ ăn thay thế cho Tháp Lương thực khó hiểu với hình ảnh biểu đạt về một Đĩa lương thực được truyền tải một chế độ ăn cân bằng, và một quy tắc được tính toán bởi USDA (Bộ Nông nghiệp Mỹ) cho phép việc bao gồm các thông điệp như "90% chất béo bị khử" trên nhãn mác của các sản phẩm thịt, đã đưa ra lời tuyên bố "10% chất béo" cũng được hiển thị "ngay cạnh, chữ được in cùng màu, kích cỡ và kiểu dáng như nhau, và trên một nền màu thống nhất, thông báo về tỷ lệ nạc." Con người không giống như kinh tế, cần tới sự hỗ trợ để đưa ra các lựa chọn sáng suốt và đây là những cách thức hệ thống nhất nhằm cung cấp sự hỗ trợ ấy.
HAI BẢN THỂ
Cuốn sách này đã mô tả những cách thức vận hành của trí não như như là một sự tương tác phiền toái giữa hai nhân vật hư cấu mà tôi đã đặt tên là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. Bạn giờ đây khá quen thuộc với các tính cách của hai hệ thống và có thể đoán được chúng có thể phản ứng trong các tình huống khác nhau ra sao. Và dĩ nhiên, bạn cũng nhớ được rằng hai hệ thống này không thực sự tồn tại trong não hoặc ở đâu đó. "Hệ thống 1 làm việc X" là một biểu tượng tắt của "X xảy ra một cách tự động." Và "Hệ thống 2 được vận hành để làm việc Y" là một biểu tượng tắt của "tăng cường sự thức tỉnh, làm giãn đồng tử, sự chú tâm được tập trung và hoạt động Y được thực thi." Tôi hy vọng rằng bạn thấy được ngôn ngữ của các hệ thống này hữu dụng như là tôi đã thấy và rằng bạn đã tiếp thu được một khả năng phán đoán thuộc về trực giác vận hành như thế nào mà không bị bối rối bởi câu hỏi: Liệu rằng chúng có tồn tại thực sự hay không. Bày tỏ được cảnh báo cần thiết này, tôi sẽ tiếp tục sử dụng thứ ngôn ngữ này để lại cuốn sách.
Hệ thống 2 thận trọng là cách mà cá nhân chúng ta nghĩ mình thuộc về. Hệ thống 2 nói rõ những phán quyết và đưa ra những sự chọn lựa, nhưng nó thường tán thành hoặc giải thích duy lý những ý niệm và cảm xúc đã được sinh ra bởi Hệ thống 1. Bạn có thể không biết được rằng bạn đang nghĩ lạc quan về một dự án vì người đứng đầu dự án đó làm cho bạn nhớ về người chị gái yêu mến của mình, hoặc bạn không thích một người mà trông hao hao giống nha sĩ của bạn. Tuy nhiên, nếu được đề nghị đưa ra một sự lý giải, bạn sẽ tìm kiếm trong ký ức của bạn những lý do có thể đưa ra được và chắc chắn bạn sẽ tìm được một vài điều. Hơn thế nữa, bạn sẽ tin vào câu chuyện mà bạn tô vẽ. Nhưng Hệ thống 2 không chỉ đơn thuần vận hành để biện giải cho Hệ thống 1; nó cũng ngăn ngừa rất nhiều những suy nghĩ ngớ ngẩn và những cơn bốc đồng không thích đáng. Sự đầu tư chú ý đã cải thiện thành tích trong các hoạt động, nghĩ về các rủi ro của việc lái xe qua một khoảng đường hẹp trong khi trí não của bạn đang thơ thẩn và cần thiết thực hiện một số nhiệm vụ, bao gồm sự so sánh, lựa chọn và lập luận có trật tự. Tuy nhiên, Hệ thống 2 không phải là một mẫu mực về tính hợp lý. Những năng lực của nó bị giới hạn và cũng tương tự như vậy với tri thức mà nó truy cập vào. Chúng ta ít suy nghĩ thẳng thắn khi chúng ta biện bạch và các lỗi không phải lúc nào cũng do những khả năng trực giác bừa bãi và sai lầm gây ra. Thông thường chúng ta mắc lỗi bởi chúng ta (Hệ thống 2 của chúng ta) không biết được bất cứ điều gì tốt hơn.
Tôi đã dành nhiều thời gian hơn cho việc mô tả Hệ thống 1 và đã dành ra nhiều trang cho những lỗi phán đoán qua trực giác và sự chọn lựa. Tuy nhiên, có liên quan là một chất thử nghèo nàn về sự cân bằng giữa những điều kỳ diệu với những sai lầm về tư duy trực giác. Hệ thống 1 thực sự là căn nguyên của nhiều thứ chúng ta đã làm sai nhưng nó cũng là khởi nguyên của hầu hết những việc chúng ta làm đúng. Những suy nghĩ của chúng ta về những hành động được chỉ dẫn theo thói quen bởi Hệ thống 1 và nói chung là trên sự biểu hiện. Một trong những điều kỳ diệu, đó là hình mẫu phong phú và chi tiết về thế giới của chúng ta được duy trì trong hồi ức liên tưởng: Nó nhận ra điều kinh ngạc từ những biến cố thông thường trong một phần nhỏ của giây, ngay lập tức sản sinh ra một ý niệm về điều đã được dự tính thay vì một sự ngạc nhiên và tìm kiếm một cách tự động một vài sự giải thích nhân quả về những điều ngạc nhiên và về những biến cố khi chúng diễn ra.
Ký ức cũng lưu giữ kho kỹ năng rộng lớn mà chúng ta đã thu được trong cuộc sống và trải nghiệm, nó sản sinh ra một cách tự động các giải pháp tương xứng cho những thách thức khi chúng xuất hiện, từ việc đi vòng quanh một tảng đá lớn trên đường cho tới việc ngăn chặn cơn giận dữ đang manh nha của một khách hàng. Sự thu nhận các kỹ năng phụ thuộc vào một môi trường thường xuyên, một cơ hội tương xứng để tập luyện, và sự phản hồi nhanh chóng và rõ ràng về sự chính xác của những suy nghĩ và hành động. Khi những điều kiện này được đáp ứng đầy đủ, cuối cùng kỹ năng được phát triển, những phán đoán trực giác và những chọn lựa nhanh chóng xuất hiện trong đầu sẽ gần như là xác đáng. Tất thảy đều là công việc của Hệ thống 1, nghĩa là nó xảy ra tự động và nhanh chóng. Một dấu hiệu của sự biểu hiện có kỹ năng là khả năng giải quyết những số lượng lớn thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Khi một thử thách được đặt ra bất thình lình, theo đó một sự phản ứng có kỹ năng đã có sẵn, câu trả lời sẽ được đưa ra. Điều gì xảy ra trong sự thiếu vắng kỹ năng? Đôi lúc, như trong bài toán 17 x 24 = ?, nó cần phải có một câu trả lời rõ ràng, rõ ràng ngay lập tức Hệ thống 2 cần phải được gọi ra. Nhưng hiếm khi Hệ thống 1 bị làm cho chết lặng đi. Hệ thống 1 không bị làm cho bối rối bởi những giới hạn khả năng thu nhận và sự khoáng đạt trong những ước tính của nó. Khi bị cuốn vào việc tìm kiếm một câu trả lời cho một câu hỏi, nó đồng thời đưa ra các câu trả lời cho những câu hỏi có liên quan, thay thế bằng một câu trả lời dễ dàng hơn xuất hiện trong đầu cho câu hỏi mà đã được đặt ra. Trong quan niệm về những phỏng đoán này, câu trả lời phỏng đoán không nhất thiết phải đơn giản hơn hoặc căn cơ nhiều hơn so với câu hỏi ban đầu, nó chỉ có thể được sử dụng nhiều hơn, được tính toán nhanh chóng và dễ dàng hơn. Các câu trả lời phỏng đoán không phải là ngẫu nhiên, chúng thường gần đúng và đôi lúc chúng hoàn toàn sai.
Hệ thống 1 nhận ra dễ dàng kinh nghiệm mà cùng với đó nó xử lý thông tin nhưng nó không tạo ra một tín hiệu cảnh báo khi nó trở nên không đáng tin cậy. Những câu trả lời mang tính trực giác xuất hiện trong đầu nhanh chóng và tự tin, cho dù chúng khởi nguồn từ những kỹ năng hay những phỏng đoán. Không hề có cách thức đơn giản nào cho Hệ thống 2 để phân biệt giữa một câu trả lời có kỹ năng với một câu trả lời phỏng đoán. Cứu cánh duy nhất của nó là làm chậm lại và cố gắng xây dựng một câu trả lời của riêng nó, việc mà nó không muốn làm bởi nó lười biếng. Nhiều sự gợi ý của Hệ thống 1 được xác nhận ngẫu nhiên với sự hạn chế tối thiểu, như trong vấn đề "chày và bóng". Đây chính là cách mà Hệ thống 1 mắc phải tiếng xấu của mình như là nguồn gốc của sự sai lầm và các thành kiến. Các đặc trưng có ý nghĩa của nó, bao gồm cả WYSIATI, cường độ cân xứng, và sự cố kết liên tưởng, giữa những thứ khác nhau, mang tới căn nguyên cho những khuynh hướng có thể dự đoán và cho những ảo tưởng về nhận thức, ví dụ như sự tin cậy, những dự đoán không có xu hướng thoái lui, quá tự tin, và hàng hà sa thứ khác.
Chúng ta có thể làm gì với những khuynh hướng này? Chúng ta có thể cải thiện những phán đoán và quyết định, cả bản thân chúng ta và những thứ thuộc về các thể chế mà chúng ta phụng sự và phụng sự chúng ta như thế nào? Câu trả lời ngắn gọn đó là ít có thể đạt được chúng mà không có một sự đầu tư đáng kể nỗ lực. Như tôi được biết từ sự trải nghiệm: Hệ thống 1 không dễ mà rèn luyện được. Ngoại trừ một số hiệu ứng mà phần lớn tôi cho là do tuổi tác, suy nghĩ thuộc về trực giác của tôi chỉ có ý thiên về sự quá tự tin, những dự đoán cực đoan, và sai lầm dự kiến như trước đây tôi đã từng thực hiện một nghiên cứu về những vấn đề này. Tôi đã chỉ được mở mang khả năng nhận diện các tình huống của mình trong đó các lỗi có thể xảy ra là: "Con số này sẽ là một nguồn tin cậy …" hay "Quyết định này đã có thể thay đổi nếu vấn đề được tái cấu trúc…" Và tôi đã đạt được tiến bộ trong việc nhận ra những lỗi sai của người khác nhiều hơn chính bản thân tôi.
Cách để ngăn chặn những lỗi sai khởi nguồn từ Hệ thống 1 thực đơn giản trong nguyên tắc: nhận diện các dấu hiệu cho thấy bạn đang ở trong một bãi mìn nhận thức, làm chậm lại, và yêu cầu sự tăng cường từ Hệ thống 2. Đây là cách mà bạn sẽ tiến hành khi bạn gặp phải ảo giác Müller-Lyer. Khi bạn thấy các đường thẳng với những cạnh bên chỉ các hướng khác nhau, bạn sẽ nhận diện tình huống đó như là một điều mà trong đó bạn không nên tin vào những ấn tượng của bạn về độ dài. Thật không may, trình tự hợp lý này ít có khả năng được áp dụng khi nó được cần tới nhất. Chúng ta có thể đều muốn có một hồi chuông cảnh báo vang lên bất cứ khi nào chúng ta chuẩn bị phạm phải một lỗi trầm trọng, nhưng chẳng có hồi chuông nào như thế hiện hữu, và những ảo tưởng về nhận thức thường khó nhận ra nhiều hơn so với những ảo ảnh về tri giác. Tiếng nói của lý trí có thể yếu ớt hơn nhiều so với tiếng nói to và rõ của một trực giác sai lầm, và việc đặt câu hỏi cho những trực giác của bạn trở nên khó chịu khi bạn đối mặt với sự căng thẳng về một quyết định lớn. Lưỡng lự nhiều hơn là điều cuối cùng bạn muốn khi bạn đang gặp rắc rối. Kết quả cuối cùng là để nhận biết một bãi mìn khi bạn quan sát những người khác đang thơ thẩn lại gần là dễ dàng hơn nhiều so với lúc bạn đang làm như vậy. Khán giả bận rộn trí óc ít hơn và cởi mở trước thông tin nhiều hơn so với các diễn viên. Đó chính là lý do của tôi để viết một cuốn sách mà được hướng tới các nhà phê bình và những người buôn chuyện hơn là cho những người ra quyết định.
Các tổ chức làm tốt hơn các cá nhân khi đi đến việc né tránh những lỗi sai, bởi họ cố nhiên suy nghĩ chậm hơn và có khả năng áp đặt những quy trình theo trật tự. Các tổ chức có thể bắt đầu và tuân theo sự áp dụng của các bản liệt kê các mục cần kiểm tra hữu ích, cũng như là tỉ mỉ nhiều hơn những bài luyện tập, ví dụ như việc dự báo lớp tham chiếu và sự mô phỏng. Chí ít một phần bằng việc cung cấp một chủ đề đặc biệt, các tổ chức cũng có thể khuyến khích một văn hóa trong đó nhiều người coi chừng cho một người khác khi họ tiếp cận những bãi mìn. Bất cứ thứ gì khác mà nó sản sinh ra, một tổ chức là một nhà máy sản xuất ra những phán quyết và quyết định. Mỗi một nhà máy cần phải có những phương thức để đảm bảo chất lượng cho các sản phẩm của nó theo như thiết kế ban đầu, theo cấu tạo, và theo những sự kiểm duyệt cuối cùng. Các bước tương ứng trong việc sản xuất ra các quyết định là cấu trúc của bài toán cần được giải quyết, sự thu thập thông tin có liên quan dẫn tới một quyết định và sự phản ánh và suy tính lại. Một tổ chức mưu cầu cải thiện sản phẩm quyết định của mình nên tìm kiếm theo thói quen những sự cải tiến hiệu quả tại từng bước này. Khái niệm đang vận hành là thói thường. Sự kiểm soát chất lượng liên tục là một sự lựa chọn thay thế cho những đánh giá hàng loạt về các phương pháp mà các tổ chức này thường được thực hiện dưới sự trỗi dậy của các tai họa. Có nhiều việc cần phải làm để cải thiện việc ra quyết định. Một ví dụ trong số đó là sự thiếu vắng đáng kể của việc đào tạo có hệ thống kỹ năng thiết yếu để việc tiến hành các cuộc gặp có hiệu quả.
Cuối cùng, một ngôn ngữ phong phú hơn là cần thiết cho kỹ năng phê bình xây dựng. Phần lớn giống như y khoa, việc nhận dạng các phán quyết sai lầm là một công việc chẩn đoán, nó đòi hỏi một chủ đề chính xác. Tên gọi của một thảm họa là một cạm bẫy, theo đó tất cả những gì được biết về thảm họa bị trói buộc, bao gồm các yếu điểm, các nhân tố về môi trường, các triệu chứng, các chẩn đoán, và sự thận trọng. Tương tự như vậy, những nhãn như "các hiệu ứng nguồn tin cậy" , "cấu trúc hẹp" hoặc "sự cố kết quá mức" gom lại trong ký ức mọi thứ mà chúng ta đã biết về một khuynh hướng, căn nguyên của nó, các hiệu ứng của nó và điều có thể làm cho nó.
Đây là một liên kết trực tiếp từ việc buôn chuyện chính xác hơn tới những quyết định tốt hơn. Những người ra quyết định đôi lúc có khả năng hình dung ra âm điệu của những kẻ buôn chuyện hiện tại và những nhà phê bình trong tương lai tốt hơn là nghe được tiếng nói do dự về những nghi ngờ của chính bản thân họ. Họ sẽ đưa ra những lựa chọn tốt hơn khi họ tín nhiệm những phê bình của mình để làm cho vấn đề trở nên rắc rối và có vẻ đúng, và khi họ dự tính sự quyết định của mình để được xét đoán bởi bằng cách nào nó được thực hiện, chứ không chỉ bởi bằng cách nào nó được sinh ra.

