Viết Gì Cũng Đúng - Chương 10

10. Ngụy biện

Ngụy biện là những lập luận sai lạc. Rất nhiều trong số những lập luận này quá cuốn hút, do đó trở nên quá phổ biến khiến chúng thậm chí còn có cả những cái tên riêng. Điều đó đã khiến ngụy biện trông có vẻ như một chủ đề mới và tách bạch. Tuy nhiên, thực sự thì gọi một cái gì đó là ngụy biện chỉ là một cách khác để nói rằng nó đã vi phạm một trong những nguyên tắc lập luận vững chắc. Chẳng hạn, ngụy biện về “nguyên nhân sai” đơn thuần chỉ là một kết luận đáng ngờ về nguyên nhân-hệ quả và bạn có thể xem lại giải thích ở Chương 5.

Do đó, để hiểu ngụy biện bạn phải biết chúng đã vi phạm nguyên tắc nào. Chương này bắt đầu bằng việc giải thích hai ngụy biện rất tổng quát thông qua việc tra cứu ngược lại một vài nguyên tắc trong quyển sách này. Theo sau đó là một danh sách và lý giải ngắn một số ngụy biện cụ thể bao gồm tên Latin của chúng và khi nào chúng thường được dùng.

Hai ngụy biện vĩ đại nhất

Một trong những ngụy biện cuốn hút phổ biến nhất là rút ra kết luận từ quá ít bằng chứng. Thí dụ, gặp một người Lithuanian đầu tiên có tính khí nóng nảy, tôi liền đi ngay đến kết luận tất cả người Lithuanian đều có tính khí nóng nảy. Nếu một chiếc tàu biến mất ở Tam giác Bermuda, tờ National Enquirer tuyên bố Tam giác Bermuda bị ma ám. Đây là ngụy biện của việc quy nạp từ thông tin không đầy đủ.

Hãy xem xét có bao nhiêu nguyên tắc từ Chương 2 đến Chương 6 được chỉ ra chống lại kiểu ngụy biện này. Nguyên tắc 8 yêu cầu nhiều hơn một ví dụ: Bạn không thể rút ra kết luận cho toàn bộ sinh viên cao đẳng khi chỉ dựa vào bản thân bạn hay bạn cùng phòng. Nguyên tắc 9 yêu cầu ví dụ phải có tính đại diện: Bạn không thể rút ra kết luận cho toàn bộ sinh viên cao đẳng chỉ dựa vào những người bạn sinh viên của bạn ngay cả khi bạn có rất nhiều bạn bè. Nguyên tắc 10 yêu cầu thông tin nền tảng: Nếu bạn rút ra kết luận cho toàn bộ sinh viên cao đẳng dựa vào mẫu thử 30 người, bạn cũng cần xem xét tổng thể sinh viên đó lớn như thế nào (30? 30.000?). Lập luận từ chủ thể căn cứ yêu cầu chủ thể không quá tổng quát: Anh hay cô này phải có thông tin và đáp ứng đầy đủ điều kiện để biện minh cho nhận định mà bạn trích dẫn. Nguyên tắc 19 cảnh báo chúng ta không nên cho rằng chỉ vì chúng ta tìm ra một nguyên nhân khả dĩ, do đó chúng ta đã tìm ra nguyên nhân. Vẫn có những nguyên nhân khác khả dĩ hơn.

Ngụy biện phổ biến thứ hai là coi nhẹ những lựa chọn khác. Nguyên tắc 20-23 chỉ ra rằng chỉ vì hai sự việc A và B có tương quan không có nghĩa rằng A gây ra B. B vẫn có thể gây ra A; một thứ gì đó có thể gây ra cả A và B; A có thể gây ra B và B có thể gây ra A; hoặc A và B không có liên quan gì. Những lý giải khác này có thể bị coi nhẹ nếu bạn chấp nhận lý giải đầu tiên đến với bạn. Đừng vội vàng; vẫn còn nhiều những lý giải khác hơn bạn tưởng.

Thí dụ, hãy xem xét một lập luận khác về nguyên nhân:

Một cách tốt để tránh ly hôn là quan hệ tình dục thường xuyên bởi vì số liệu cho thấy những cặp vợ chồng quan hệ tình dục thường xuyên hiếm khi ly hôn.

Quan hệ tình dục thường xuyên có tương quan với tình trạng không ly hôn và do đó nó được coi là nguyên nhân (hay một trong những nguyên nhân) của việc không ly hôn. Nhưng không ly hôn cũng có thể dẫn tới quan hệ tình dục thường xuyên. Hay một thứ gì đó khác (tình yêu và sự cuốn hút!) có thể dẫn đến cả quan hệ tình dục thường xuyên và không ly hôn. Hay cái này là nguyên nhân của cái kia. Hay cũng có thể quan hệ tình dục thường xuyên và tại hôn không có liên quan gì với nhau hết.

Chúng ta cũng thường coi nhẹ những lựa chọn khác khi đưa ra quyết định. Hai hay ba lựa chọn xuất hiện và chúng ta chỉ xem xét những lựa chọn này. Trong bài viết nổi tiếng “Thuyết sinh tồn là một chủ nghĩa nhân đạo,” triết gia Jean-Paul Sartre kể rằng một sinh viên của ông trong thời kỳ chủ nghĩa Phát xít xâm chiếm nước Pháp trong Đệ nhị thế chiến. Sinh viên này đã phải chọn đi một chuyến hành trình nguy hiểm đến Anh để chiến đấu cùng Những người Pháp tự do hoặc ở lại với mẹ mình ở Paris để trông nom bà. Sartre vẽ ra bức tranh một người thanh niên trẻ phải chọn giữa việc mạo hiểm tất cả mọi thứ trong chuyến bay đến Anh và bỏ rơi mẹ mình hoặc cam kết với bà và từ bỏ hy vọng chiến đấu với chủ nghĩa Phát xít. Nhưng chắc chắn rằng anh này cũng có thêm những chọn lựa khác. Anh có thể ở lại với mẹ mình và vẫn làm việc cho Những người Pháp tự do ở Paris; hoặc anh có thể ở với mẹ mình một năm và đảm bảo về tình trạng của bà rồi dần dần sau đó có thể ra đi. Và chúng ta có nghĩ đến người mẹ này như một người ỷ lại và keo kiệt đến tham lam, hay có thể bà này cũng có chút lòng yêu nước và có khả năng tự lo cho bản thân mình? Liệu anh này đã từng hỏi bà muốn gì chưa? Khi đó nhiều khả năng anh sinh viên này sẽ có những lựa chọn khác.

Chúng ta cũng có xu hướng coi nhẹ những lựa chọn khác trong các vấn đề đạo đức. Chúng ta nói rằng hoặc bào thai là một con người với đầy đủ quyền mà bạn và tôi có hoặc nó chỉ là một mảng tế bào không có tầm quan trọng đạo đức nào cả. Chúng ta nói rằng hoặc việc sử dụng sản phẩm làm từ động vật là sai hoặc tất cả những công dụng hiện tại đều được chấp nhận... Tuy nhiên, một lần nữa, chắc chắn là có những khả năng khác. Hãy thử nâng số lượng lựa chọn bạn có thể xem xét, đừng thu hẹp nó lại!

Một vài ngụy biện kinh điển

Công kích cá nhân (ad hominem): công kích cá nhân chủ thể căn cứ hơn là năng lực của người này. Hãy xem Nguyên tắc 17.

Ngụy biện bất khả tri (ad ignorantiam) (dựa vào sự thiếu hiểu biết): lập luận rằng một tuyên bố là đúng vì nó đã được chứng minh là không sai. Một ví dụ kinh điển là phát biểu của Thượng nghị sĩ Joseph McCathy khi được hỏi về bằng chứng cho lời buộc tội một người nào đó là Cộng sản:

Tôi không có nhiều thông tin về vấn đề này ngoại trừ một phát biểu chung của cục tình báo rằng không có hồ sơ nào bác bỏ những mối quan hệ Cộng sản của ông ấy.

Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam) (dựa vào lòng thương hại): dựa vào lòng thương hại như một lập luận để được đối xử đặc biệt.

Em biết là em đã rớt tất cả các môn thi, nhưng nếu em không qua được môn này, em sẽ phải học lại vào mùa hè. Thầy phải cho em qua!

Sự tội nghiệp không phải lúc nào cũng là một lập luận tồi nhưng rõ ràng nó không phù hợp trong trường hợp đòi hỏi những đánh giá khách quan.

Kêu gọi công luận: sử dụng cảm xúc của đám đông; đồng thời lợi dụng hình ảnh một người tuân theo đám đông. “Mọi người đều làm điều này!” Kêu gọi công luận là ví dụ tốt nhất cho một lập luận bằng phép căn cứ tồi: Không có lý do nào cho rằng “tất cả mọi người” là một nguồn đáng tin cậy và khách quan.

Khẳng định hậu thức: ngụy biện suy luận theo hình thức sau đây:

Nếu p thì q.

q.

Do đó, p.

Trong phát biểu “nếu p thì q,” p được gọi là “tiền kiện” và q là “hậu thức”. Tiền đề thứ hai của tam đoạn luận giả thuyết – một hình thức có căn cứ – xác nhận (khẳng định) có căn cứ (kiểm tra lại xem). Dù vậy, khẳng định hậu thức là một hình thức không căn cứ. Không thể đảm bảo kết luận này là đúng thậm chí với những tiền đề đúng. Thí dụ:

Khi đường sá bị đóng băng, thư từ bị chậm trễ.

Thư từ chậm trễ.

Do đó, đường sá bị đóng băng.

Dù rằng thư từ sẽ chậm trễ nếu đường sá bị đóng băng nhưng cũng có thể chậm trễ vì nhiều nguyên nhân khác. Lập luận này bỏ qua những lý giải khác.

Điệp nguyên luận (begging the question): ngầm sử dụng kết luận của bạn làm tiền đề.

Chúa tồn tại vì Kinh Thánh nói thế, mà tôi biết Kinh Thánh đúng vì rốt cuộc Chúa đã viết ra nó!

Viết lại lập luận này dưới hình thức tiền đề-kết luận, bạn sẽ có:

Kinh Thánh đúng vì Chúa viết ra nó.

Kinh Thánh nói rằng Chúa tồn tại.

Do đó, Chúa tồn tại.

Để bảo vệ tuyên bố rằng Kinh Thánh đúng, người lập luận phát biểu rằng Chúa đã viết ra nó. Nhưng hiển nhiên nếu Chúa viết ra Kinh Thánh thì Chúa tồn tại. Do đó, lập luận này chỉ ra rằng cái nó đang cố chứng minh là đúng.

Ngụy biện quanh quẩn: tương tự như Điệp nguyên luận.

Ngụy biện nghi vấn phức hợp: đưa ra một câu hỏi hay vấn đề theo hướng mà mọi người không thể đồng ý hoặc không đồng ý với bạn mà không xác nhận một tuyên bố khác mà bạn đang cố chứng minh. Một ví dụ đơn giản như sau: “Bạn có còn tự cho mình là trung tâm như hồi đó không?” Trả lời “không” hay “có” đều xác nhận rằng bạn đã từng là người tự cho mình là trung tâm. Một ví dụ tinh vi hơn như sau: “Bạn sẽ nghe theo lương tâm của mình thay vì chạy theo đồng tiền và đóng góp cho sự nghiệp này không?” Trả lời “không” bất chấp nguyên nhân thực sự cho việc đóng góp khiến mọi người cảm thấy tội lỗi; trả lời “có” bất chấp những nguyên nhân thực sự cho việc không đóng góp khiến họ trở nên cao thượng. Nếu bạn muốn một khoản quyên góp, cách trung thực nhất là cứ hỏi xin nó.

Phủ định tiền kiện: ngụy biện suy luận theo hình thức sau đây:

Nếu p thì q.

Không p.

Do đó, không q.

Trong phát biểu “Nếu p thì q,” p được gọi là “tiền kiện” và q là “hậu thức”. Tiền đề thứ hai là một nghịch đoạn luận – một hình thức có căn cứ – phủ định hậu thức (kiểm tra lại xem). Tuy nhiên, phủ định tiền kiện biến lập luận này trở nên vô căn cứ. Kết luận không được bảo đảm là đúng thậm chí nếu những tiền đề là đúng. Thí dụ:

Khi đường sá bị đóng băng, thư từ bị chậm trễ.

Đường sá không bị đóng băng.

Do đó, thư từ không bị chậm trễ.

Dù rằng thư từ sẽ chậm trễ nếu đường sá bị đóng băng nhưng cũng có thể chậm trễ vì nhiều nguyên nhân khác. Lập luận này bỏ qua những lý giải khác.

Lối nói lập lờ: xem Nguyên tắc 7.

Nguyên nhân sai: Đây là một thuật ngữ chung dành cho những kết luận đáng ngờ về nguyên nhân-hệ quả. Để tìm ra lý do cụ thể vì sao kết luận lại đáng ngờ, hãy xem lại từ Nguyên tắc 20 đến 23.

Song đoạn luận sai: Giảm những lựa chọn xuống chỉ còn hai thường thiếu công bằng và mang tính chống đối bất chính với những người mà song đoạn luận này chống lại. Thí dụ, “Người Mỹ: thích nó hay từ bỏ nó.” Sau đây là một ví dụ tinh vi hơn từ một bài viết của sinh viên: “Vì vũ trụ không thể được tạo ra từ hư không, chắc hẳn nó đã được tạo ra từ một lực lượng sống thông minh…” Liệu có phải một lực lượng sống thông minh là khả năng duy nhất hay không? Song đoạn luận sai thường kết thúc với những từ ngữ cảm tính; tất nhiên, chúng cũng bỏ qua những lựa chọn khác.

Ngôn từ cảm xúc: xem Nguyên tắc 5.

Phi logic: rút ra một kết luận mà “không tuân theo logic” là một kết luận không có sự suy luận hợp lý từ những bằng chứng. Đây là một thuật ngữ rất chung cho những lập luận tồi. Hãy cố tìm ra cụ thể cái gì đã được cho là sai với lập luận kiểu này.

Ngụy biện “người mà”: xem Nguyên tắc 10.

Định nghĩa thuyết phục: định nghĩa một thuật ngữ theo một cách có vẻ hiển nhiên nhưng thực tế thì đầy cảm tính. Thí dụ, Ambrose Bierce trong tác phẩm The Devil’s Dictionary định nghĩa “niềm tin” là “sự tin tưởng không cần bằng chứng vào điều được kể bởi những người không có kiến thức về những sự việc tương tự.” Những định nghĩa thuyết phục có thể giàu cảm xúc: thí dụ định nghĩa “bảo thủ” như “một người có cái nhìn thực tế về những giới hạn của con người.” Hãy xem phần Phụ lục cho định nghĩa.

Petition principii: từ Latin của Điệp nguyên luận.

Bỏ độc vào giếng: sử dụng ngôn từ cảm xúc làm mất uy tín một lập luận thậm chí trước khi nhắc đến nó.

Tôi tin rằng anh chưa bị thuyết phục bởi những tay đàm phán nhượng bộ, những người vẫn chưa bỏ được tật mê tín dị đoan…

Tinh vi hơn:

Không người nhạy cảm nào nghĩ rằng…

Ngụy biện nhân quả (pos hoc, ergo propter hoc) (nghĩa đen là, “sau cái này, do đó bởi vì điều đó”): xác định quan hệ nhân quả quá sớm chỉ dựa trên thứ tự thời gian. Đây một lần nữa là một thuật ngữ rất chung cho điều mà Chương 5 đã cố gắng chỉ rõ ra. Hãy lật lại Chương 5 và cố gắng tìm ra cụ thể tại sao lập luận này lại được cho là xác định quan hệ nhân quả một cách quá sớm.

Ngụy biện cá trích đỏ (red herring): giới thiệu một chủ đề không liên quan hay thứ cấp và từ đó chuyển sự chú ý từ chủ đề chính sang đây. Thường thì ngụy biện kiểu cá trích đỏ nêu ra một chủ đề mà mọi người có nhiều ý kiến mạnh mẽ đến nỗi không ai để ý rằng sự chú ý của họ đã bị chuyển hướng. Thí dụ, trong một cuộc thảo luận về sự an toàn tương đối của những cấu tạo xe khác nhau, vấn đề về những chiếc xe được chế tạo tại Mỹ là một ngụy biện cá trích đỏ.

Người rơm: chê bai một quan điểm đối lập để có thể dễ dàng bác bỏ nó; xem Nguyên tắc 5.

Ngôn ngữ chồn: thay đổi nghĩa của từ trong quá trình lập luận để có thể giữ được kết luận dù rằng nghĩa của từ này có thể bị thay đổi rất nhiều. Thường thì sự thay đổi này diễn ra dưới áp lực của một ví dụ đối lập.

A: Tất cả việc học đều là sự hành hạ.

B: Vậy còn việc học lập luận thì sao? Bạn yêu thích nó mà!

A : À, cái đó không hẳn là việc học.

Ở đây từ “học” là ngôn ngữ chồn. A đáp lại phản bác của B bằng cách thay đổi nghĩa của từ “học” thành “học là sự hành hạ.” Phát biểu đầu của A vẫn đúng nhưng chỉ với cái giá rằng nó sẽ trở nên vô giá trị (“Tất cả việc học đều là sự hành hạ.”) Hãy xem lại thảo luận về từ “ích kỷ” ở Nguyên tắc 7 và Phụ lục cho phần định nghĩa.

Phụ lục

Định nghĩa

Một vài lập luận đòi hỏi phải chú ý đến nghĩa của từ. Đôi khi chúng ta không biết được nghĩa xác định của một từ hoặc nghĩa xác định đó có thể thay đổi. Nếu kết luận của bạn là “Loài wejack là động vật ăn cỏ,” nhiệm vụ đầu tiên của bạn là định nghĩa các thuật ngữ trừ khi bạn đang nói chuyện với một nhà sinh thái học Algonquian. Nếu bạn gặp phải kết luận này ở đâu đó khác, điều đầu tiên bạn cần là một quyển từ điển.

Trong những tình huống khác, một thuật ngữ có thể được sử dụng phổ biến nhưng vẫn không rõ nghĩa. Thí dụ, chúng ta tranh luận về “tự tử có trợ giúp” nhưng không nhất thiết phải hiểu rõ nó là cái gì. Trước khi có thể tranh luận hiệu quả về nó, chúng ta cần thống nhất ý tưởng mình đang tranh luận về điều gì.

Vẫn còn một loại định nghĩa nữa cần được đưa ra khi nghĩa của từ còn được tranh cãi. Thí dụ “ma túy” là gì? Có phải rượu bia là ma túy không? Có phải thuốc lá không? Nếu đúng là nó thì sao? Chúng ta có thể tìm ra cách thức hợp lý nào để trả lời câu hỏi này không?

D1. Khi những thuật ngữ không rõ nghĩa, hãy cụ thể

Hãy bắt đầu với quyển từ điển. Một người hàng xóm của tôi nhận giấy triệu tập từ Hội đồng Lịch sử địa phương của thành phố về việc xây dựng mô hình hải đăng cao hơn một mét ở sân trước nhà cô ấy. Sắc lệnh của thành phố cấm để vật cố định trước sân trong những khu vực lịch sử. Cô này bị kéo ra trước hội đồng và yêu cầu phải tháo dỡ nó. Thông tin này trở thành một cơn sốt và được đăng lên báo chí.

Từ điển Webster đã giải quyết tình trạng này. Theo từ điển này, một “vật cố định” là cái gì đó cố định hay gắn chặt vào một tòa nhà, thí dụ như những phần phụ hay những phần cấu trúc của các căn hộ. Tuy nhiên, ngọn hải đăng có thể di chuyển được giống một món đồ trang trí bãi cỏ hơn. Do đó, nó không phải là một “vật cố định”; do đó, nó không bị cấm.

Khi những vấn đề trở nên khó khăn hơn, các quyển từ điển trở nên ít hữu dụng hơn. Các định nghĩa trong từ điển thường đưa ra từ đồng nghĩa cho một từ nào đó thực ra cũng có thể không rõ nghĩa bằng từ bạn đang cố định nghĩa. Các quyển từ điển cũng đưa ra rất nhiều định nghĩa do đó bạn phải chọn lựa định nghĩa nào phù hợp nhất. Và đôi khi những quyển từ điển sai rõ ràng. Từ điển Webster định nghĩa “nhức đầu” là “cơn đau ở đầu.” Đây là một định nghĩa quá rộng. Một vết cắn của ong hay một vết nứt ở trán hoặc mũi cũng có thể gây ra một cơn đau ở đầu nhưng đó không phải là nhức đầu.

Do đó, với một số từ, bạn cần phải đưa ra nghĩa chính xác hơn. Hãy sử dụng thuật ngữ cụ thể, rõ ràng thay vì từ ngữ mơ hồ (Nguyên tắc 4). Hãy cố gắng cụ thể nhưng không thu hẹp nghĩa của từ quá nhiều.

“Thực phẩm hữu cơ” là những thực phẩm được sản xuất mà không sử dụng nhiều phân bón hóa học hay thuốc trừ sâu.

Những định nghĩa thế này gợi lên ý niệm rõ ràng trong đầu và bạn có thể tiếp tục đánh giá và thẩm tra nó. Tất nhiên, hãy chắc rằng bạn luôn bám theo định nghĩa của mình khi đi tiếp trong phần lập luận (Nguyên tắc 7; cũng nên tham khảo ngụy biện ngôn ngữ chồn, Chương 10).

Đừng sử dụng những ngôn từ cảm xúc (Nguyên tắc 5). Một điểm hay của từ điển là nó khá trung lập. Thí dụ, từ điển Webster định nghĩa “phá thai” là “hành động dùng lực kéo bào thai non ra khỏi bụng mẹ ở động vật có vú.” Đây là một định nghĩa đích thực trung lập. Từ điển không định nghĩa liệu phá thai có là một hành động đạo đức hay không.

Hãy so sánh với một định nghĩa phổ biến đến từ một bên trong cuộc tranh luận về phá thai:

“Phá thai” nghĩa là “giết chết những đứa trẻ.”

Định nghĩa này mang tính cảm xúc. Những bào thai không giống những đứa trẻ và thuật ngữ “giết”quy chụp một cách không công bằng những toan tính xấu xa cho những người có dự định tốt (tuy nhiên người viết lại cho rằng những người này đã sai). Kết thúc cuộc sống của một bào thai được so sánh với việc kết thúc cuộc sống của một đứa trẻ là một tuyên bố đáng tranh cãi nhưng lập luận sẽ cho thấy điều đó chứ không đơn thuần chỉ thừa nhận nó đúng bằng định nghĩa. (Hãy tham khảo ngụy biện “định nghĩa thuyết phục,” Chương 10.)

Bạn có thể cần làm một vài nghiên cứu nhỏ. Thí dụ bạn có thể tìm ra rằng “tự tử có trợ giúp” có nghĩa là cho phép bác sĩ giúp những người còn tỉnh táo và minh mẫn sắp xếp và tiến hành cái chết của mình. Nó không bao gồm việc cho phép bác sĩ “rút dây” người khác mà không có sự đồng thuận của họ (đó là một hình thức khác của “phương pháp chết êm ái không tình nguyện” – một thể loại khác). Người ta có thể có những lý do tốt để phản đối tự tử có hỗ trợ như đã định nghĩa nhưng nếu định nghĩa đã được làm rõ từ ban đầu thì ít ra các bên tranh cãi cũng sẽ cùng nói về một thứ.

Đôi khi chúng ta có thể định nghĩa một thuật ngữ bằng cách chỉ định những bài kiểm tra hay những quy trình nào đó để quyết định liệu thuật ngữ đó có áp dụng được hay không. Đây gọi là định nghĩa toán tử. Thí dụ, đạo luật Wisconsin đòi hỏi tất cả những cuộc họp lập pháp phải được công khai trước công chúng. Nhưng cái gì được tính là “cuộc họp” cho mục đích của đạo luật này? Đạo luật đưa ra một kiểm tra toán tử như sau:

Một “cuộc họp” là bất cứ sự tụ họp nào đủ số những nhà lập pháp để quyết định một giải pháp lập pháp là chủ đề của sự tụ họp đó.

Định nghĩa này quá hẹp để có thể định nghĩa từ “cuộc họp.” Nhưng nó hoàn tất nhiệm vụ của đạo luật này: ngăn không cho các nhà lập pháp đưa ra những quyết định quan trọng sau lưng công chúng.

D2. Khi những thuật ngữ còn mang tính tranh cãi, hãy sử dụng những tình huống rõ ràng

Đôi khi những thuật ngữ còn mang tính tranh cãi. Đó là khi mọi người còn đang tranh luận về ứng dụng thích hợp cho bản thân thuật ngữ. Trong trường hợp đó, việc chỉ đưa ra một lời giải thích là không đủ. Cần có một kiểu lập luận phức tạp hơn.

Khi một thuật ngữ còn mang tính tranh cãi, bạn có thể phân biệt ba nhóm sự việc liên quan. Một nhóm bao gồm những sự việc mà thuật ngữ này có ứng dụng rõ ràng. Nhóm thứ hai là những sự việc mà thuật ngữ này rõ ràng không có ứng dụng. Ở giữa sẽ là những sự việc mà tình trạng của nó không rõ ràng – bao gồm cả những sự việc đang được tranh cãi. Nhiệm vụ của bạn là hình thành một định nghĩa:

1. Bao gồm tất cả những sự việc mà thuật ngữ đó rõ ràng phù hợp;

2. Loại ra tất cả những sự việc mà thuật ngữ đó rõ ràng không phù hợp; và

3. Kẻ ra một đường ranh giới rõ ràng nhất giữa hai định nghĩa này và giải thích vì sao đường ranh giới này lại nằm ở đó chứ không phải nơi khác.

Thí dụ, hãy xem xét cái gì định nghĩa từ “con chim.” Chính xác một con chim là gì? Có phải một con dơi là một con chim không?

Để thỏa mãn yêu cầu 1, việc nên làm là bắt đầu với hạng mục chung chung (loài) mà thứ cần được định nghĩa thuộc về. Với chim chóc, loài tự nhiên là những động vật. Để thỏa mãn yêu cầu 2 và 3, chúng ta cần cụ thể chim chóc khác những động vật khác như thế nào (đây gọi là dấu hiệu phân biệt đặc trưng giống loài). Do đó, câu hỏi của chúng ta là: Chính xác cái gì khiến loài chim khác biệt – tất cả chim chóc và chỉ chim chóc – so với những loài động vật khác?

Việc này phức tạp hơn vẻ bề ngoài. Thí dụ, chúng ta không thể vẽ ra đường ranh giới tại “khả năng bay” vì đà điểu và chim cách cụt không bay (do đó định nghĩa đề ra trước đó sẽ không bao quát tất cả chim chóc và vi phạm yêu cầu đầu tiên), còn loài ong mật blumbedee và muỗi thì lại bay được (do đó định nghĩa đề ra trước đó sẽ không bao gồm cả những động vật không phải chim và vi phạm yêu cầu thứ hai).

Hóa ra cái khiến chim khác biệt so với tất cả các động vật khác là chúng có lông vũ. Chim cánh cụt và đà điểu có lông vũ dù chúng không bay – chúng vẫn là chim. Nhưng côn trùng thì không có lông vũ và dơi (trong trường hợp bạn đang ngạc nhiên) cũng thế.

Giờ hãy xem thử một trường hợp khó hơn: Định nghĩa “ma túy” như thế nào?

Hãy lại bắt đầu bằng một ví dụ rõ ràng. Heroin, cocaine và cần sa rõ ràng là ma túy. Không khí, nước, hầu hết thực phẩm và dầu gội rõ ràng không phải ma túy dù rằng tất cả những thứ này đều là những “chất” giống như ma túy và tất cả đều tiêu thụ hay ngấm vào cơ thể chúng ta bao gồm cả thuốc lá và rượu bia.

Câu hỏi đặt ra lúc này là: Liệu có một định nghĩa chung nào bao quát tất cả những trường hợp của “ma túy” và không bao gồm những chất rõ ràng không phải thuốc để vạch ra một đường ranh giới rõ ràng giữa chúng không?

Một chất được định nghĩa là “ma túy” – thậm chí ngay cả bởi hội đồng tổng thống – là một vật chất ảnh hưởng đến tâm trí hay cơ thể theo một cách nào đó. Nhưng định nghĩa này quá rộng. Nó bao gồm cả không khí, nước, thực phẩm và những thành tố khác, do đó nó không thỏa mãn yêu cầu thứ hai.

Chúng ta cũng không thể định nghĩa “ma túy” như một chất bất hợp pháp ảnh hưởng đến tâm trí hay cơ thể theo một cách nào đó. Định nghĩa này có thể ít nhiều bao quát đúng nhóm vật chất nhưng nó không thỏa mãn yêu cầu thứ ba. Nó không giải thích được vì sao đường ranh giới lại nằm đó. Sau cùng thì một phần của việc định nghĩa “ma túy” từ ban đầu là để quyết định chất nào là hợp pháp và chất nào không! Định nghĩa “ma túy” như một chất bất hợp pháp đã bỏ qua mục tiêu này.

Hãy thử xem xét định nghĩa sau:

Một chất ma túy là một vật chất được sử dụng chủ yếu để thay đổi trạng thái tâm trí theo một cách cụ thể.

Heroin, cocaine và cần sa tất nhiên nằm trong định nghĩa này. Thức ăn, không khí và nước thì không bởi vì dù rằng chúng có ảnh hưởng đến tâm trí, sự ảnh hưởng đó không cụ thể và không phải là nguyên nhân chính vì sao chúng ta ăn, thở và uống. Còn với những trường hợp không rõ ràng, chúng ta hãy tiếp cận bằng câu hỏi: Liệu tác dụng chính có cụ thể và tác động vào tâm trí không? Tác dụng làm biến đổi nhận thức và thay đổi tâm trạng trông có vẻ là cái chúng ta đang quan tâm trong những tranh luận hiện tại về đạo đức khi nói đến chủ đề “ma túy”. Do đó có thể cho rằng định nghĩa này nắm bắt được kiểu dấu hiệu đặc trưng mà mọi người mong muốn tạo ra.

Chúng ta có nên thêm vào yếu tố ma túy gây nghiện không? Có thể không. Nhiều vật chất khác cũng gây nghiện nhưng không phải là ma túy – có thể thực phẩm cũng vậy. Và nếu một vật chất “thay đổi trạng thái tâm trí theo một cách cụ thể” hóa ra không gây nghiện thì sao (thí dụ như những phát biểu của nhiều người về cần sa)? Liệu có phải do đó mà nó không phải là ma túy không? Có thể sự gây nghiện định nghĩa “việc lạm dụng ma túy” nhưng không phải bản thân “ma túy”.

D3. Đừng hy vọng định nghĩa sẽ làm thay công việc của lập luận

Những định nghĩa giúp chúng ta sắp xếp lại suy nghĩ để tập hợp các sự vật giống nhau thành nhóm và để chọn ra những điểm tương đồng và khác biệt chính. Đôi khi, sau khi từ ngữ đã được định nghĩa rõ ràng, mọi người thậm chí có thể khám phá ra rằng họ không thực sự bất đồng về vấn đề đó chút nào. Dù vậy bản thân định nghĩa hiếm khi giải quyết những câu hỏi khó.

Thí dụ chúng ta tìm cách định nghĩa “ma túy” một phần để quyết định chúng ta sẽ có lập trường thế nào về những vật chất nhất định. Nhưng định nghĩa này tự bản thân nó không thể trả lời câu hỏi này được. Thí dụ theo định nghĩa đưa ra trước đó, cà phê là một loại ma túy. Caffeine chắc chắn thay đổi trạng thái tâm trí theo những cách cụ thể. Nó thậm chí còn gây nghiện. Nhưng cà phê có vì thế mà bị cấm không? Không, bởi vì tác dụng của nó nhẹ nhàng và mang tính tích cực xã hội với nhiều người. Một vài nỗ lực cố gắng cân đo lợi ích trên tác hại là cần thiết trước khi chúng ta rút ra những kết luận.

Cần sa là một loại ma túy theo định nghĩa đã đưa ra. Liệu nó có (tiếp tục) bị cấm không? Cũng như trường hợp của cà phê, cần phải có nhiều lập luận hơn. Một vài người cũng tuyên bố rằng cần sa cũng chỉ có tác dụng nhẹ nhàng và mang tính tích cực xã hội. Giả dụ họ đúng, bạn có thể tranh luận rằng cần sa không nên bị cấm dù rằng nó là một loại “ma túy” (cũng giống cà phê). Nhiều người khác tranh luận rằng nó có những tác dụng xấu hơn rất nhiều và bên cạnh đó có khuynh hướng trở thành “cánh cổng” dẫn đến những loại ma túy mạnh hơn. Nếu họ đúng, bạn có thể tranh luận ủng hộ việc cấm cần sa dù nó có phải là ma túy hay không.

Hay có lẽ cần sa là họ hàng gần nhất của những loại thuốc chống trầm cảm và kích thích nhất định – những loại thuốc mà (hãy lưu ý) hóa ra cũng là “ma túy” theo định nghĩa đưa ra phía trên nhưng chỉ bị ra lệnh kiểm soát chứ không cấm.

Trong khi đó, rượu bia là một loại ma túy theo định nghĩa đã đề ra. Thực tế, nó là loại ma túy được sử dụng rộng rãi nhất trong tất cả các loại. Tác hại của nó rất lớn, bao gồm bệnh thận, khuyết tật bẩm sinh, chiếm phân nửa những ca tử vong trong tai nạn giao thông và hơn thế nữa. Liệu nó có nên bị giới hạn hay cấm không? Có thể, dù rằng cũng có những lập luận đối lập. Một lần nữa, câu hỏi này không được giải đáp bằng cách quyết định xem liệu rượu bia có phải là một loại ma túy không. Ở đây, tác động tạo ra sự khác biệt.

Ngắn gọn mà nói, các định nghĩa giúp làm rõ vấn đề nhưng bản thân chúng hiếm khi là những lập luận. Hãy làm rõ những thuật ngữ của bạn – biết chính xác câu bạn đang hỏi là gì – nhưng không mong chờ rằng chỉ việc làm rõ vấn đề sẽ trả lời câu hỏi đó.

Những bước tiếp theo

Đề tài của quyển sách này thường được dán nhãn “Tư duy phê phán” hay (ngày nay ít phổ biến hơn) “Lý luận phi chính thức.” Nếu bạn là một học sinh trung học hay sinh viên đại học và muốn tìm hiểu nhiều hơn về chủ đề này, hãy tìm chương trình học có giảng dạy chủ đề đó ở các trường. Nếu bạn muốn đọc nhiều hơn, bạn có thể tìm ra hàng tá sách giáo khoa cho những chương trình này ở thư viện trường dưới từ khóa “tư duy phê phán.” Hai ví dụ mang tính đại diện điển hình là quyển Tư duy phê phán của Brooke Noel Moore và Richard Parker (NXB Mayfield) và Mở cửa trí tuệ và lý luận mỗi ngày của Zachary Seech (NXB Wadsworth).

Ngành học Lý luận phi chính thức bắt đầu với những hình thức suy luận trình bày trong Chương 6 và mở rộng chúng ra thành một hệ thống ký hiệu ở phạm vi rộng và có sức mạnh hơn. Một quyển sách giáo khoa đại diện điển hình là quyển Một giới thiệu súc tích về Lý luận của Patrick Hurley (NXB Wadsworth) nhưng một lần nữa, có hàng tá quyển có sẵn (tìm với từ khóa “lý luận”). Nhiều quyển sách giáo khoa giờ đây kết hợp cả lý luận phi chính thức và chính thức. Một cái nhìn cân bằng giữa hai trường phái này là quyển Nghệ thuật lý luận của David Kelley (NXB W. W. Norton).

Với vai trò của tư duy phê phán trong đạo đức cũng như đưa ra một vài lời khuyên về cách thức để tránh bỏ qua những lựa chọn khác, hãy tìm đọc quyển sách của tôi Một hộp dụng cụ cho đạo đức thế kỷ XXI (NXB Đại học Oxford). Để có nhiều thông tin hơn về “cách thức” tư duy sáng tạo – làm sao để nghĩ ra những giải pháp hoàn toàn mới trong những tình huống dường như “bế tắc” hãy xem những tác phẩm của Edward DeBono như cuốn Cách thức tư duy (NXB Ariel/BBC).

Lĩnh vực Hùng biện học nghiên cứu về công dụng thuyết phục của ngôn ngữ, đặc biệt trong lập luận. Một quyển sách xuất sắc trong lĩnh vực này là Những mục tiêu của lập luận: Một nhà hùng biện và độc giả của Timothy Crusins và Carolyn Channell (NXB Mayfield). Nếu bạn muốn tiếp cận đến chủ đề lập luận từ góc nhìn văn học thì hãy xem quyển Vương quốc cuả hùng biện viết bởi Chaim Perelman (NXB Đại học Notre Dame).

Cụ thể về chủ đề ngụy biện (xem Chương 10), hãy đọc quyển Lý luận và hùng biện đương đại của Howard Kahane (NXB Wadsworth). Về những luận bàn lịch sử và lý thuyết về ngụy biện, hãy xem quyển Ngụy biện của C. Hamblin (NXB Methuen). Về chủ đề các phong cách trích dẫn, một quyển hướng dẫn ngắn hữu dụng là Viết với nguồn trích dẫn của Gordon Harvey (NXB Hackett). Về phong cách chung chung, chưa quyển nào sánh được quyển Những yếu tố của phong cách của William Strunk và E. B. White. Hãy để những quyển sách này trên kệ sách của bạn và đừng để chúng bám bụi!

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.