Hai Vạn Dặm Dưới Biển - Chương 25 - 26

Chương 25

Ấn Độ Dương

Đến đây bắt đầu phần thứ hai của cuộc hành trình ngầm dưới biển của
chúng tôi. Phần thứ nhất kết thúc bằng cảnh tượng xúc động dưới nghĩa
trang san hô, để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc. Như vậy, chẳng phải
chỉ cuộc sống của thuyền trưởng Nê-mô trôi qua giữa lòng đại dương mênh
mông, mà cả cái chết, ông ta cũng chuẩn bị ở dưới đáy biển sâu! ở đó
không một quái vật nào có thể quấy rối giấc ngủ cuối cùng của những
người chủ tàu Nau-ti-lúx, những người gắn bó với nhau lúc sống cũng như
lúc chết, những người "không ai có thể động tới được", như Nê-mô đã nói.
Giả thiết Công-xây đề ra không làm tôi thỏa mãn. Anh ta cho Nê-mô là
một trong số những nhà bác học vì bị hắt hủi nên tỏ vẻ khinh bạc đối với
mọi người, hoặc là một thiên tài bất đắc chí nên từ bỏ những cám dỗ
trần tục mà lui về ẩn náu trong biển cả, môi trường gần gũi với tâm hồn
phóng khoáng của ông ta. Theo tôi, cách giải thích như vậy chỉ đúng một
mặt của bản chất Nê-mô. Bí mật của đêm nọ là chuyện gì vậy? Vì sao họ
phải giam giữ chúng tôi? Vì sao họ cho chúng tôi uống thuốc ngủ? Vì sao
Nê-mô lại giật phắt chiếc ống nhòm, khi tôi chưa kịp đưa lên nhìn chân
trời? Và người thủy thủ bị tử thương trong trường hợp hết sức bí hiểm
kia? Tất cả những câu hỏi đó khiến tôi phải suy nghĩ. Không! Thuyền
trưởng Nê-mô không phải chỉ trốn tránh mọi người! Chiếc tàu đáng sợ của
ông ta có lẽ không chỉ là nơi ẩn náu của một người yêu tự do, mà còn là
một vũ khí phục thù khủng khiếp! Đó chỉ là những phỏng đoán, chỉ là ánh
sáng le lói trong đêm tối dày đặc. Tôi buộc phải ghi chép các sự kiện
theo thứ tự của chúng. Chẳng có gì ràng buộc chúng tôi với thuyền trưởng
Nê-mô cả. ông ta biết rằng chạy trốn khỏi tàu Nau-ti-lúx là một điều
không tưởng. Nê-mô chẳng cần chúng tôi phải thề bồi cam đoan gì. Chúng
tôi là người bị giam, là tù nhân mà người ta gọi lịch sự là khách. Tuy
vậy, Nét vẫn không mất hy vọng giành lại tự do. Có thời cơ thuận lợi là
anh ta chuồn ngay. Tất nhiên tôi cũng theo gương anh ta. Nhưng dù sao
tôi cũng ân hận sẽ phải mang theo cả những bí mật mà thuyền trưởng Nê-mô
đã tin mà cho tôi biết. Cuối cùng con người ấy đáng căm ghét hay đáng
khâm phục? Con người ấy là nạn nhân hay đao phủ? Thực lòng tôi cũng
muốn, trước khi vĩnh biệt Nê-mô, làm một chuyến du lịch vòng quanh thế
giới mà phần đầu đã hoàn thành một cách tuyệt mỹ! Tôi muốn được thấy hết
những kỳ quan đang ẩn mình dưới các đại dương. Tôi muốn đi sâu vào
những điều bí ẩn nhất, thậm chí dám hy sinh tính mạng để thỏa mãn nhu
cầu tìm hiểu những cái chưa biết! Cho tới nay tôi đã khám phá ra điều
gì? Chưa được hoặc gần như chưa được điều gì, vì chúng tôi mới đi được
sáu ngàn dặm dưới Thái Bình Dương...

Trưa ngày 21 tháng giêng năm 1868, viên thuyền phó lại lên boong xác
định độ nghiêng của mặt trời như thường lệ. Tôi cũng lên boong châm lửa
hút xì gà và theo dõi việc làm của ông ta. Rõ ràng ông ta không biết tí
tiếng Pháp nào. Tôi cố ý nói lên mấy nhận xét để ông ta phản ứng lại nếu
ông ta nghe, hiểu. Nhưng ông ta vẫn bình thản và lặng thinh. Trong khi
viên thuyền phó đang quan sát thì có một thủy thủ lên boong. Đó chính là
anh chàng lực lưỡng đã theo chúng tôi trong chuyến đi chơi ngầm ở đảo
Crét-xpô. Anh ta lau kính đèn pha... Tàu Nau-ti-lúx chuẩn bị lặn. Tôi
vội chui xuống phòng khách. Nắp tàu đóng lại và tàu bắt đầu chạy về
hướng tây. Chúng tôi đi trong ấn Độ Dương mênh mông, năm trăm năm mươi
triệu héc-ta, nước trong vắt, đến nỗi nếu nhìn từ trên xuống thì có thể
bị chóng mặt. Tàu phần lớn lặn sâu từ một trăm đến hai trăm mét trong
mấy ngày liền. ở địa vị tôi có lẽ ai cũng cho cuộc hành trình này là mệt
mỏi và đơn điệu. Nhưng vì tôi say mê biển nên không còn thì giờ để mệt
mỏi và để buồn. Mỗi ngày dạo chơi trên boong tàu lộng gió biển khơi và
ngắm nhìn những của báu dưới đáy biển, qua ô cửa phòng khách, đọc sách
trong thư viện của thuyền trưởng và ghi nhật ký đi đường -tất cả những
việc đó đã choán hết thời gian của tôi. Tình hình sức khỏe của chúng tôi
rất tốt, khẩu phần thức ăn trên tàu khá đầy đủ. Tôi có thể chẳng cần
món "cải thiện" gì của Nét Len. Ngoài ra, nhiệt độ trên tàu rất dễ chịu,
nên đến sổ mũi cũng chẳng có. Đã mấy hôm nay chúng tôi gặp vô số chim
biển, trong số đó có những con to có thể bay xa và dọc đường hạ cánh
xuống nghỉ trên ngọn sóng, như chim báo bão. Loài chim này rất đẹp, tuy
tiếng nó kêu giống tiếng lừa. Còn về cá thì chúng tôi luôn luôn phải
trằm trồ ngạc nhiên khi đi sâu vào những bí mật của chúng dưới đáy nước.
Tôi phát hiện ra nhiều loài cá mà tôi chưa từng gặp trong môi trường tự
nhiên. Từ 21 đến 23 tháng giêng, tàu Nau-ti-lúx chạy với tốc độ hai
trăm năm mươi dặm một ngày. Nói khác đi, nó chạy năm trăm bốn mươi hải
lý trong hăm bốn tiếng đồng hồ nghĩa là hăm hai hải lý một giờ. Chúng
tôi chỉ quan sát được những con cá bơi theo tàu và lọt vào vệt sáng của
đèn pha trên tàu. Nhưng vì tàu chạy nhanh nên đàn cá bơi theo cứ thưa
dần và chỉ một số ít mới chạy đua thêm được với tàu một thời gian ngắn
nữa. Sau khi chạy ngang qua đảo Ki-linh, một hòn đảo san hô không người
ở, tàu hướng về phía tây-bắc tới mỏm cực nam của bán đảo ấn Độ. Hôm ấy
Nét Len bảo tôi:

-Đó là những nước văn minh! Thưa giáo sư, ở ấn Độ có đường cái rải
nhựa và đường sắt, có những thành phố đẹp đẽ. Đi đâu cũng gặp người đồng
hương! Thế nào đã đến lúc chúng ta chia tay với thuyền trưởng Nê-mô
chưa, thưa giáo sư?
-Không, không, ông Nét ạ!
-Tôi trả lời rất cương quyết.
-Thôi
cứ để mặc trời đất, như cánh thủy thủ các ông thường nói. Tàu
Nau-ti-lúx đang hướng về các lục địa, đang tiến gần bờ biển châu Œu. Cứ
để nó đưa ta tới đó, rồi ta sẽ tùy tình hình cụ thể mà định liệu. Nhưng
tôi nghĩ thuyền trưởng Nê-mô sẽ không cho ta lên bờ săn bắn như ở rừng
Niu Ghi-nê đâu!
-Nhưng thưa ngài, cần gì đợi ông ta cho phép? Tôi
không trả lời Nét và chẳng muốn tranh luận làm gì. Trong thâm tâm, tôi
muốn trải qua mọi thử thánh của số phận đã đẩy tôi lên tàu Nau-ti-lúx.
Tàu chạy chậm lại nhưng luôn luôn đổi hướng đi và lặn xuống rất sâu.
Nhiệt độ những lớp nước dưới cố định là +4o. Tôi thấy ở những lớp nước
trên, gần bờ, bao giờ nhiệt độ cũng thấp hơn ngoài biển khơi. Ngày 25
tháng giêng, đại dương hoàn toàn vắng lặng. Tàu Nau-ti-lúx suốt ngày
chạy trên mặt nước, cánh quạt làm nước bắn lên trắng xóa. Thật dễ lầm
với một con cá voi khổng lồ! Tôi ở trên boong ba phần tư thời gian trong
ngày. Tôi nhìn biển. Chân trời hoang vắng. Nhưng khoảng bốn giờ chiều
thì xuất hiện một chiếc tàu ở phía tây. Chúng tôi nhìn thấy nó, nhưng nó
không thể nhìn thấy chúng tôi, vì tàu Nau-ti-lúx chỉ hơi nhô khỏi mặt
nước. Tôi nghĩ tàu này thuộc công ty tàu biển chạy đường Xây-lan

-Xít-ni có ghé qua Men-buốc... Hôm sau, 26 tháng giêng, chúng tôi
vượt qua xích đạo và vào vùng biển Bắc bán cầu. Một đàn cá mập đáng sợ
đi "hộ tống" tàu. Nhưng một lát sau tàu tăng tốc độ, bỏ rơi những con cá
mập hung hăng nhất. Khoảng bảy giờ tối, tàu nổi lên mặt nước và chạy
trên biển sữa. Biển xanh mênh mông biến thành màu trắng đục. Có phải vì
ánh trăng không? Không! Trăng non mới được hai ngày và lúc đó chưa nhô
khỏi chân trời. So với màu sữa của biển cả thì bầu trời sao hình như đen
thẫm lại. Công-xây không tin ở mắt mình và yêu cầu giải thích nguyên
nhân của hiện tượng kỳ lạ đó. Cũng may mà tôi có thể làm được việc này.
Tôi nói:
-Đó gọi là biển sữa. Những vùng biển rộng lớn trắng như sữa là hiện tượng thường gặp ở độ vĩ này.
-Nhưng giáo sư có giải thích được nguyên nhân của hiện tượng đó không ạ? Nước biển thực ra đâu có biến thành sữa?
-Tất
nhiên là không, anh bạn ạ! Màu sữa của nước làm anh ngạc nhiên chính là
do hàng tỉ tỉ sinh vật hết sức nhỏ, không màu phát ra ánh sáng, dày
bằng bề dày sợi tóc và dài bằng một phần năm milimét. Các sinh vật này
kết vào nhau và tạo thành từng mảng rộng vài dặm.
-Vài dặm cơ ạ!
-Công-xây sửng sốt.

-Đúng, anh bạn ạ! Và anh chớ uổng công tính đếm chúng làm gì cho mệt!
Nếu tôi không lầm, một số người đi biển đã gặp những biển sữa rộng hơn
bốn mươi dặm. Tôi chẳng biết Công-xây có nghe lời tôi khuyên không,
nhưng anh ta lặng im suy nghĩ. Chắc Công-xây đang tính toán xem có bao
nhiêu con trong diện tích bốn mươi dặm vuông nếu mỗi con chỉ dài một
phần năm milimét. Còn tôi thì tiếp tục quan sát hiện tượng kỳ lạ ấy. Tới
gần nửa đêm, biển trở lại màu xanh bình thường. Nhưng ở phía sau tàu,
bầu trời phản ánh sáng màu trắng của nước tựa như hắt lại ánh sáng của
bắc cực quang.


Chương 26

Đề Nghị Mới Của Thuyền Trưởng Nê-mô

Giữa trưa ngày 28 tháng giêng, tàu Nau-ti-lúx nổi lên mặt nước và
trông thấy đất liền cách tàu tám hải lý về phía tây. Ngay sau khi xác
định được tọa độ, tôi xuống phòng khách tìm địa điểm đó trên bản đồ và
thấy rằng mình đang ở gần bờ biển Xây-lan, hòn đảo nằm ở gần cực nam bán
đảo ấn Độ. Tôi vào thư viện tìm xem có cuốn sách nào nói cặn kẽ về đảo
Xây-lan, hòn đảo được coi như phì nhiêu nhất của trái đất này không. Tôi
tìm thấy tác phẩm của Xi-rơ nhan đề "Xây-lan và người Xin-ga-le". Quay
về phòng khách, trước hết tôi làm quen với những số liệu thống kê nói về
Xây-lan. Đảo này nằm giữa 5055’ và 9049’ độ vĩ bắc và 79042’ và 8204’
độ kinh đông. Từ bắc xuống nam, đảo dài hai trăm bảy nhăm hải lý, từ
đông sang tây rộng một trăm năm mươi hải lý; diện tích đảo là hai vạn
bốn ngàn bốn trăm bốn tám hải lý vuông, nói cách khác đi là gần bằng
diện tích Iếc-lan. Lúc đó thuyền trưởng Nê-mô và thuyền phó vào phòng
khách. Nê-mô nhìn bản đồ rồi quay lại bảo tôi:
-Đảo Xây-lan nổi tiếng về nghề mò ngọc trai. Ngài A-rô-nắc, ngài có đến xem nơi mò ngọc không?
-Thưa thuyền trưởng, xin sẵn sàng.

-Được cũng dễ thu xếp thôi. Thế này nhé: chúng ta sẽ tới chỗ đó nhưng
không thấy thợ mò ngọc đâu. Mùa ngọc chưa bắt đầu. Nhưng không sao. Tôi
sẽ ra lệnh cho tàu hướng về vịnh Ma-na và ta sẽ tới đó đêm nay. Nê-mô
nói mấy lời với thuyền phó. ông này ra khỏi phòng khách. Một lát sau,
tàu Nau-ti-lúx bắt đầu lặn xuống. Kim đồng hồ chỉ độ sâu mười mét. Tôi
cúi xuống bản đồ để tìm vịnh Ma-na. Tôi thấy nó ở vĩ tuyến 9, gần bờ
biển tây bắc Xây-lan. Muốn tới đó, phải đi vòng hết bờ biển phía tây
Xây-lan. Thuyền trưởng Nê-mô nói:
-Thưa giáo sư người ta mò ngọc trai
ở vịnh Ben-gan, ở biển ấn Độ, biển Trung Quốc và Nhật Bản, ở biển Nam
Mỹ, ở vịnh Pa-na-ma, vịnh Ca-li-pho-ni-a, nhưng những vùng mò ngọc trai
chủ yếu tập trung ở Xây-lan. Đúng là chúng ta tới đó quá sớm! Thợ mò
ngọc xuất hiện ở vịnh Ma-na sớm nhất là vào tháng ba. Lúc đó ở đây tập
trung tới ba trăm thuyền làm cái nghề có lãi nhất này trong ba mươi
ngày. Trên mỗi thuyền có mười người chèo và mười thợ lặn. Thợ lặn làm
việc theo hai kíp. Khi lặn xuống sâu mười hai mét, họ kẹp vào giữa hai
chân một hòn đá nặng. Tới độ 103 104 sâu cần thiết, họ buông hòn đá ra
để người trên thuyền kéo đá lên.
-Thế nghĩa là người ta vẫn dùng cách mò ngọc cổ xưa nhất?

-Đáng tiếc là vẫn dùng, -Nê-mô trả lời, -mặc dù những nơi có ngọc đó thuộc một nước có nền công nghiệp lớn nhất là nước Anh.
-Tôi vẫn cảm thấy rằng bộ đồ lặn đã được cải tiến của ngài có thể giúp ích nhiều cho họ trong việc này.
-Vâng!
Những người mò ngọc khốn khổ không thể ở lâu dưới nước được. Tôi biết
một số thợ mò ngọc đã ở dưới nước 57 giây, những người dai sức nhất có
thể lặn lâu tới 87 giây. Nhưng những người đó rất hiếm, và cứ mỗi lần
lặn xong thì nước ở tai và mũi trào ra có hòa lẫn máu. Trong thời gian
ngắn ngủi đó họ phải kịp cho vào rọ những con trai có ngọc vừa mò được!
Thợ lặn thường không thọ. Họ rất sớm suy sụp, mắt kém đi, thân thể bị lở
loét và thường hay chết dưới nước vì chảy máu não.
-Vâng, -tôi nói,
-đó là một nghề buồn thảm. Và tất cả cũng chỉ nhằm thỏa mãn tính cầu kỳ
của phụ nữ. Nhưng xin thuyền trưởng cho biết, một thuyền như vậy có thể
mò được bao nhiêu trai một ngày?
-Khoảng từ bốn vạn đến năm vạn con.
Người ta còn nói năm 1814 chính phủ Anh đã đứng ra tổ chức mò ngọc, chỉ
trong hai mươi ngày thợ lặn đã mò được bảy mươi sáu triệu con trai.

-Ít nhất thì lao động của người thợ lặn cũng được trả giá cao chứ ạ?
-Tôi hỏi.
-Thưa
giáo sư, rất thấp. ở Pa-na-ma mỗi tuần họ kiếm được không quá một
đô-la. Thường họ chỉ được trả một xu mỗi con trai có ngọc. Mà còn biết
bao nhiêu con không có ngọc!
-Một xu thôi ư? Thật là bất công! Thật là ghê tởm!
-Giáo
sư và hai người cùng đi sẽ thăm vịnh Ma-na. Và nếu may mắn gặp một
người thợ lặn nào đó đến mò trai sớm thì ngài sẽ được làm quen với kỹ
thuật của họ.
-Thưa thuyền trưởng, vâng.
-Thế giáo sư có sợ cá mập không?
-Cá mập ạ? Câu hỏi đó đối với tôi có vẻ thừa.
-Thế giáo sư có ý kiến gì về cá mập?
-Nê-mô hỏi gặng.
-Thưa thuyền trưởng, xin thú thực rằng tôi chưa thật quen với loài cá này.

-Thế mà chúng tôi đã quen với chúng. Rồi ngài cũng sẽ quen thôi.
Chúng ta sẽ trang bị vũ khí và nếu có thể, sẽ đi săn cá mập một chuyến.
Săn cá mập hết sức thú vị. Xin hẹn giáo sư đến mai. Giáo sư hãy chuẩn bị
lên đường thật sớm. Nê-mô nói những lời đó bằng một giọng bình thản rồi
ra khỏi phòng khách. Nếu người ta mời bạn đi săn gấu ở vùng núi
Thụy-sĩ, bạn có thể nói:
“Tuyệt lắm! Mai sẽ đi!" Nếu bạn được mời đi săn sư tử ở thung lũng át-lax và săn hổ ở rừng rậm ấn Độ, bạn có thể nói:
“A! Ta sẽ đi ngay!"
Nhưng
nếu bạn được mời đi săn cá mập dưới biển sâu thì chắc bạn phải suy nghĩ
nhiều trước khi nhận lời. Còn tôi, tôi đã lấy tay lau trán lấm tấm mấy
giọt mồ hôi lạnh. Tôi nghĩ bụng:
“Phải nghĩ cho kỹ. Chớ vội. Đi săn ở
khu rừng ngầm gần đảo Crét-xpô là một chuyện, còn dò dẫm dưới đáy biển
mà không biết lúc nào chạm trán với cá mập lại là chuyện khác hẳn! Tôi
được biết ở đôi nơi, đặc biệt là ở vùng đảo An-đa-man, những người da
đen thường xông thẳng vào cá mập, một tay cầm dao găm, còn tay kia cầm
thòng lọng. Nhưng tôi cũng được biết là trong cuộc chiến đấu tay đôi với
cá mập, nhiều người gan góc đó đã về chầu tổ tiên! Tôi hình dung ra cá
mập, cái mồm to tướng với nhiều dãy răng có thể cắn đứt đôi người. Tôi
đã cảm thấy đau ở thắt lưng. Tôi không chịu nổi cái giọng bình thản của
Nê-mô đã dùng để mời tôi đi săn! Vấn đề đâu có phải là lảng tránh một
con cầy, con cáo nào đó trong rừng. Tôi nghĩ:

“Được! Tất nhiên Công-xây sẽ từ chối không tham gia cuộc đi săn này!"
Thế là tôi sẽ có cớ không đi cùng Nê-mô. Còn về Nét thì thú thực là tôi
không tin ở sự chín chắn của anh ta. Sự nguy hiểm, dù lớn đến đâu, bao
giờ cũng hấp dẫn cái bản chất hay gây gổ của Nét. Tôi cầm lấy cuốn sách
của Xi-rơ, nhưng chỉ lật từng tờ như một cái máy. Giữa những dòng chữ
hiện lên những cái mồm cá mập ngoác rộng. Nhưng lúc đó Công-xây và Nét
vào. Hai người đều tươi tỉnh. Họ chẳng biết chuyện gì đang chờ đợi họ.
Nét nói:
-Thưa giáo sư, thực thà mà nói, thuyền trưởng Nê-mô của ngài đã đề nghị chúng ta một việc rất đáng hoan nghênh.
-à, thế ra các bạn đã biết...
-Thưa
giáo sư, -Công-xây trả lời, -thuyền trưởng Nê-mô mời chúng tôi cùng
giáo sư đi thăm những nơi mò ngọc trai nổi tiếng của Xây-lan. ông ta hết
sức lịch thiệp và tỏ ra là một người quân tử.
-Nê-mô không nói gì nữa à?
-Thưa giáo sư, không, -Nét trả lời, -ông ta chỉ nói là đã mời ngài tham gia cuộc dạo chơi dưới biển này.
-Đúng vậy. Nhưng ông ta không đả động đến một chuyện...
-Thưa giáo sư, chẳng có chuyện gì cả. Ngài có đi với chúng tôi không ạ?
-Tôi... tất nhiên rồi! Tôi thấy ông Nét đã mê cái món dạo chơi dưới đáy biển rồi đấy!
-Vâng! Rất thú vị, rất thú vị ạ!
-Và nguy hiểm nữa!
-Tôi thêm.
-Nguy hiểm gì?
-Nét trả lời.
-Đó
chỉ là một cuộc dạo chơi đơn giản thôi! Rõ ràng thuyền trưởng Nê-mô
thấy không cần phải gợi cho các bạn tôi nghĩ tới cá mập. Tôi hoảng hốt
nhìn hai người, tựa như họ đã bị cụt mất chân, hoặc tay rồi. Tôi có nên
báo cho họ biết trước nỗi hiểm nguy sắp tới không? Tất nhiên là nên.
Nhưng tôi chẳng biết thế nào.

-Giáo sư có thể kể cho chúng tôi nghe chi tiết hơn về cách mò ngọc trai không ạ? Tôi hỏi:
-Về cách mò trai hay về những chuyện ngẫu nhiên liên quan tới việc mò trai?
-Tất nhiên là về cách mò trai!
-Nét nói.
-Trước khi lên đường, cần biết sẽ theo hướng nào chứ...
-Thế
thì mời các bạn ngồi xuống, tôi sẽ kể các bạn nghe tất cả những điều
tôi biết về nghề mò trai có ngọc qua cuốn sách của Xi-rơ. Nét và
Công-xây ngồi xuống đi-văng. Nét hỏi ngay:
-Thưa giáo sư, thế ngọc trai là gì?
-Đối
với nhà thơ, ngọc trai là hạt lệ của biển cả. Đối với các dân tộc
phương đông, đó là hạt sương sớm đã hóa đá. Đối với phụ nữ, đó là viên
đá quý hình bồ dục màu xanh óng ánh mà họ đeo ở cổ, ở tay, ở tai như một
thứ trang sức. Đối với nhà hóa học, đó là kết hợp của muối fotfat và
canxi cácbonat. Cuối cùng, đối với nhà tự nhiên học, nó chỉ là một cái u
hình cầu màu xanh nằm trong mô ác mềm của một số nhuyễn thể...
-Thế có trường hợp nào một con trai chứa nhiều ngọc không ạ?
-Công-xây hỏi.
-Có chứ, anh bạn. Người ta kể là đã thấy một trăm năm mươi con cá mập trong một viên ngọc, tuy tôi không tin lắm.
-Một trăm rưởi con cá mập à?

-Nét sửng sốt.
-Tôi nói là "cá mập" ư?
-Tôi lúng túng.
-Tôi muốn nói là một trăm rưởi hạt ngọc ấy. Cá mập dính dáng gì đến chuyện này!
-Giá trị của viên ngọc tùy thuộc ở độ to nhỏ của nó phải không ạ?
-Công-xây hỏi.
-Chẳng những tùy thuộc vào độ to nhỏ mà còn tùy thuộc ở hình dáng, màu sắc, ở độ sáng của ngọc...
-Phân loại ngọc chắc là một việc khó khăn và mất thì giờ.
-Nét nói.
-Chẳng
khó lắm đâu, ông bạn ạ! Người ta dùng sàng để phân loại. Có cả thảy
mười một loại sàng. Đầu tiên người ta dùng sàng thưa có từ hai mươi đến
tám mươi lỗ. Những viên ngọc còn lại trên sàng được xếp loại một. Loại
sàng có từ một trăm đến tám trăm lỗ cho ta ngọc loại hai. Loại sàng có
từ chín trăm đến một nghìn lỗ cho ta ngọc loại ba.
-Họ khôn thật!
-Công-xây nói.
-Tôi
thấy họ đã phân loại ngọc một cách máy móc. Thưa giáo sư, ngài có biết
việc khai thác các vùng biển có ngọc đem lại lợi nhuận bao nhiêu không
ạ?
-Theo sách của Xi-rơ, những vùng biển có ngọc của Xây-lan hằng năm đem lại ba triệu con cá mập.
-Ba triệu quan chứ ạ!
-Công-xây nói.
-ừ, ừ, ba triệu quan!
-Tôi chữa lại.
-Tôi nghe nói có mấy viên ngọc quý đắt tiền lắm phải không ạ?
-Đúng
vậy. Người ta kể lại rằng, Xê-da đã biếu Xéc-vi-li-a viên ngọc giá một
trăm hai mươi ngàn phrăng! Nhưng tôi nghĩ chẳng ông vua nào có viên ngọc
lớn bằng viên ngọc của thuyền trưởng Nê-mô.
-Viên này ạ?

-Công-xây chỉ vào viên ngọc đặt trong hộp kính.
-Tôi đánh giá nó hai triệu phrăng đấy! Thế mà Nê-mô chỉ cần cúi xuống một chút là nhặt được.
-Biết đâu ngày mai đi chơi ta chẳng nhặt được một viên như thế.
-Hy vọng gì!
-Công-xây nghi ngờ.
-Sao lại không?
-Trên tàu Nau-ti-lúx này thì có tiền triệu để làm gì?
-Đúng là trên tàu thì chẳng cần, nhưng... ở chỗ khác...

-Ở chỗ khác à?
-Công-xây lắc đầu.
-ông Nét nói đúng.
-Tôi nhận xét.
-Nếu
sau này ta mang về châu Œu hay châu Mỹ một viên ngọc giá mấy triệu thì
những chuyện ta kể càng có trọng lượng hơn và dễ tin hơn. Công-xây hỏi
thêm:
-Nghề mò ngọc có nguy hiểm không ạ?
-Không!
-Tôi trả lời ngay.
-Đặc biệt là nếu áp dụng một số biện pháp đề phòng.
-Nghề đó thì có gì là nguy hiểm? Chỉ uống mấy hụm nước mặn là cùng chứ gì!
-Nét nói.
-ông nói rất đúng!
-Tôi cố nói bằng cái giọng bình thản của Nê-mô.

-À ông Nét này, ông có sợ cá mập không?
-Tôi ấy à? Tôi là thợ săn cá nhà nghề! Tôi coi khinh chúng!
-Vấn
đề không phải là đứng trên tàu câu cá mập, kéo nó lên boong, lấy rìu
chặt đứt đuôi, mổ bụng moi tim rồi lại quẳng xác xuống biển đâu!
-Nghĩa là phải xuống nước chứ gì?
-Đúng đấy!
-Sợ
quái gì! Thế súng săn của tôi để làm chi? Thưa giáo sư, cá mập là giống
cá vụng về. Muốn đớp ngài, nó phải ngửa bụng lên. Lúc đó... Nét nói chữ
"đớp" bằng một giọng khiến tôi lạnh ớn xương sống.
-Thế còn anh, anh nghĩ thế nào về cá mập, Công-xây?
-Tôi
xin nói thành thực với giáo sư thế này: nếu giáo sư quyết định đi săn
cá mập thì tôi, người đầy tớ trung thành của giáo sư, sao có thể không
đi theo được?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.