Cái cười của thánh nhân - Chương 20
Phần Hai Mươi: Mã Tuấn
Tuấn, tên chữ là Long
Môi, con một người lái buôn, phong thư đẹp đẽ, tính tình phóng
khoáng, thích múa hát, thường theo bọn làm trò, lấy khăn buộc
lên đầu, đẹp như con gái, nên lại có thêm tên hiệu là Tuấn Nhân.
Năm mười bốn
tuổi được vào trường quận, nổi tiếng học giỏi. Cha già yếu, nên nghỉ buôn,
một hôm gọi sinh đến bảo:
- Mấy quyển sách
này, đói không thể thổi cơm mà ăn, rét không thể may áo mà bận, sao bằng
học buôn bán, nối lấy nghề cha còn hơn!
Thế là Mã tập nghề buôn,
theo người ta ra biển đi buôn. Một hôm thuyền bị gió bão cuốn đi suốt
mấy ngày đêm đến một nơi đô thị, người xứ này xấu như ma lem.
Nhưng khi thấy Mã, họ lại cho là yêu quái, kêu rầm lên, kéo nhau bỏ chạy tán
loạn.
Thoạt đầu trông thấy
hình dạng của họ, Mã sợ lắm. Nhưng sau mới biết là họ sợ mình, bèn làm cứng,
bắt nạt lại. Gặp họ đang ăn uống, liền sấn đến, họ sợ chạy trốn, thì
ngồi vào ăn nốt những thức ăn còn lại.
Lần đầu tiến sâu vào
mấy làng trong chân núi. Ở đây có một số người mặt mũi cũng hơi giống
người thường nhưng quần áo rách rưới như ăn mày. Mã ngồi nghĩ dưới gốc cây,
người làng không ai dám đi qua, chỉ đứng đàng xa mà ngó. Lâu
lâu, biết Mã không phải giống ăn thịt người, mới mon men lại gần. Mã lân la hỏi
chuyện, tiếng họ nói tuy khó nghe, nhưng cũng lõm bõm hiểu được một nữa.
Mã liền nói cho họ biết
mình từ đâu tới, mấy người kia mừng, phô khắp với mọi người trong thôn
rằng: "Khách không phải định đến đây cắn xé
ai đâu!". Ấy vậy mà có một người xấu xí nhất vẫn đứng xa xa, rồi
lập tức trốn mất, không dám tiến lên.
Bọn người dám đến
gần Mã là những người mồm, miệng, tai mắt mọc đúng chỗ của nó, trông cũng
hơi giống với người Trung Quốc. Họ bày rượu thịt ra mời Mã ăn. Mã hỏi:
- Tại sao họ sợ tôi như
vậy?
Bọn ấy trả lời:
- Trước thường nghe ông
cha kể lại, cách phía Tây hai vạn ngàn dặm có nước Trung Quốc dân ở đó
hình dạng kì quái. Nhưng chỉ nghe thế thôi. Bây giờ mới tin thật.
Mã hỏi:
- Sao các ông nghèo thế?
Đáp:
- Nước chúng tôi không
trọng văn chương mà chỉ trọng dung mạo: Ai đẹp nhất thì làm thượng khanh,
ai đẹp vừa thì làm quan cai trị các dân xã, hạng kém nữa cũng được ngồi trên yêu chuộng
nên mới có lương bổng để nuôi vợ con. Còn bọn chúng tôi khi mới sinh ra,
cha mẹ đều cho là xấu xa, phần nhiều đem vứt ra đường, trừ nhà
nào hiếm hoi, không có con nối dõi, mới phải bất đắc dĩ mà nuôi vậy?
Hỏi:
- Nước này gọi là nước
gì?
- Đại La Sát. Kinh thành
ở phía Bắc, cách đây ba mươi dặm.
Mã nhờ dẫn đi xem
cho biết. Hôm sau gà gáy đã trở dậy cùng đi, sáng ngày
mới đến đô thành. Tường thành xây bằng một thứ đá đen như
mực, lầu các cao gần trăm thước, nhưng ít có nhà lợp ngói, chỉ
lấy đá đổ úp lên nóc, nhặt một mảnh đá vỡ, lấy móng tay cạo ra,
thì không khác gì son tàu.
Lúc ăn, nhằm buổi tan
chầu, có một vị quan lớn che lọng từ trong triều đi ra. Người làng trỏ
bảo:
- Kia là quan Tướng Quốc.
Mã ngẩng lên trông, thấy
hai tai quan Tướng Quốc đều mọc ngược trở lại, mũi ngài có ba lỗ, rèm mi
rủ xuống che kín cả mặt như bức mành mành.
Kế đến mấy người
cưỡi ngựa nối gót theo sau. Người làng lại nói:
- Đấy là các
quan đại phu.
Rồi lần lượt chỉ khắp các
mặt quan giới thiệu cho Mã coi: Ông nào ông nấy râu tóc lởm chởm, hình dạng
quái dị. Kỳ nhất là hễ quan chức càng nhỏ thì mặt mũi càng đỡ xấu.
Một lúc Mã ra về,
người đi đường trông thấy đổ xô mà chạy, ngã dúi vào nhau, như
gặp quái vật. Người làng cố giải thích cho họ nghe, họ mới dám đứng lại,
nhưng cũng chỉ đứng xa xa.
Từ bấy giờ, trong nước,
từ lớn chí bé, ai cũng biết sơn thôn hiện có người quái ở. Thế là các quan
khanh, quan đại phu muốn xem cho rộng tầm con mắt, tranh nhau sai người
trong thôn mời Mã đến. Nhưng mỗi khi đến nhà nào, người canh cổng
liền đóng ngay cổng lại, đàn ông đàn bà nấp trong cửa nhìn ra,
thì thào bàn tán, đi suốt ngày không ai dám mời vào nhà. Người làng nói
rằng:
- Ở đây có quan chấp
kích đã được tiên vương sai sứ đi ngoại quốc, trông thấy người lạ
cũng nhiều, hoặc giả ông ấy không sợ chăng?
Bèn cùng đến nhà
chấp kích, quả thiên ông ta vui mừng, vái chào đón và tôn làm thượng
khách. Mã ngắm nghía vị lão quan thấy tuổi trạc tám chín mươi, mắt lồi hẳn ra
ngoài, râu ria tua tủa như lông nhím nói rằng:
- Kẻ hèn này lúc trẻ
phụng mệnh vua đi sứ rất nhiều nước, duy có nước Trung Hoa là
chưa đến bao giờ. Năm nay đã một trăm hai mươi tuổi, ai ngờ lại
còn được trông thấy nhân vật thượng quốc thực là may mắn! Việc thế nào
cũng phải tâu lên thiên tử mới được. Nhưng lão phu ẩn cư sơn dã, đã
lâu không bước tới sân rồng, sáng mai xin vì ông đi một chuyến.
Liền sai mở tiệc, phân
ngôi chủ khách mời ngồi, rượuđược vài tuần, lão quan truyền đòi bọn nữ
nhạc ra, tất cả tới hơn mười cô, thay đổi nhau múa hát, trông cô nào cũng
xấu như quỷ dạ xoa, đầu bịt gấm trắng áo đỏ dài quét đất, giọng
hát líu lường, không rõ ra câu gì, nhịp điệu thực là kì dị.
Chủ nhân ra vẻ vui thích
lắm, hỏi rằng:
- Bên Trung Quốc các ông
có đàn ca thế này không?
Thưa rằng:
"Có!"
Lão quan xin Mã hát thử
cho nghe, Mã bèn gõ vào bàn mà hát một bài, chủ nhân mừng, nói rằng:
- Lạ quá! Tiếng nghe như
phượng hót rồng ngâm, lão phu quả thực chưa từng được nghe bao giờ.
Hôm sau lão quan vào
triều tiến Mã lên quốc vương. Vương vui vẻ hạ chiếu vời. Có hai ba vị đại
thần can rằng: Mã hình dạng quái dị e đức vua trông thấy sợ quá mà chết
khiếp đi, có hại đến long thể chăng? Vua bèn thôi.
Lão quan về nói với Mã,
có ý tiếc rẻ hộ chàng.
Ở nhà chấp kích được
ít lâu, một hôm uống rượu say với chủ nhân, say, bèn rút kiếm đứng lên
múa, lại lấy than bôi vào mặt, giả làm Trương Phi. Chủ nhân cho là đẹp,
nói rằng:
- Xin khách cứ để
nguyên bộ mặt Trương Phi như thế, ngày mai vào chào tể tướng, tất thế nào tể
tướng cũng vui lòng dùng ngay, bổng lộc không lo gì thiếu.
Mã nói:
- Trời đất! Chỉ làm
trò chơi chốc lát thì còn khả dĩ, chớ ai lại nhờ vào bộ mặt để cầu công
danh bổng hậu bao giờ!
Chủ nhân nài mãi, Mã phải
bằng lòng vậy. Rồi bèn truyền mở tiệc mời các quan đến uống rượu, dặn Mã
vẽ mặt để ngồi chờ đợi. Một chốc khách đến gọi Mã ra chào. Khách kinh
ngạc nói:
- Ô hay! Quái lạ thực!
Sao ngày trước xấu xí thế, mà bây giờ lại đẹp đẽ thế này?
Bèn kéo cùng ngồi uống
rượu rất vui. Mã đứng lên uốn éo hát một bài theo điệu thợ cấy, cử
tọa không ai là không mê thích. Hôm sau tranh nhau dâng sớ tiến cử Mã lên
Hoàng đế, vua mừng lắm, sai mang cờ tiết ra triệu Mã vào triều bái yết,
vua phán hỏi đạo trị an ở Trung Quốc thế nào, Mã trình bày cặn
kẽ, được vua khen lắm, truyền bày yến tiệc ở Ly Cung, ban thưởng cho.
Rượu đã say, vua phán hỏi:
- Nghe đồn khanh múa
hát giỏi lắm, có thể cho quả nhân nghe một bài được không?
Mã lập tức đứng lên
múa, cũng bắt trước lấy gấm trắng bịt đầu, hát theo điệu cò lả. Vua
bằng lòng lắm, ngay ngày hôm ấy xuống chiếu phong cho làm Hạ đại phu, luôn
luôn cho ngồi hầu yến, ân sủng đặc biệt.
Lâu dần các quan trong
triều đều biết là Mã khoác bộ mặt giả, đi đến đâu cũng thấy
người ta thì thầm bàn tán, không vồn vã thân mật như trước, Mã tự thấy mình cô
lập, trong bụng áy náy không yên bèn dâng sớ xin về hưu, vua không nghe. Lại
xin nghỉ dưỡng sức ít lâu, vua bằng lòng cho nghỉ ba tháng.
Mã liền lấy ngựa chở vàng
về sơn thôn. Người trong thôn quỳ xuống mà đón. Mã lấy vàng lụa phân phát
cho mấy người quen thân từ trước, tiếng reo mừng vang lên như sấm.
Lời bàn:
Bài văn này, đọc kĩ mới thấy rõ phần u mặc độc đáo của nó
Trang Tử nói: "Có người bệnh hủi kia nửa đêm
sinh đặng đứa con. Bèn lật đật kiếm cho đặng lửa để xem,
chỉ nơm nớp lo sợ nó không giống mình."
Ông lại bảo: "Đồng với ta, cho ta là phải,
khôngđồng với ta, cho ta là quấy". Ôi, lẽ Thị Phi của con người ta chỉ có
thế mà thôi ư!
"Họ Tử xa có con lợn nái sắc đen
huyền, đẻ một lứa ba con, hai con đen huyền, một con loang lổ. Lợn
nái nuôi hai con lợn con giống mình rất chăm chỉ cẩn thận, hơi một tí cũng lo
sợ. Còn con lợn loang lổ khác mình, thì ghét bỏ, sau cắn chết, xé cả gan ruột
nát nhừ mới thôi". Tình sử Trung Hoa cũng có câu chuyện u mắc như sau: Có
một chàng si tình, yêu một ý trung nhân một mắt. Ra đường anh ta nhìn đàn bà chung quanh, hết
sức bất mãn tại sao họ lại có dư một con mắt!
Có thể nói, nếu muốn tóm tắt ý nghĩa sâu xa của bài
văn nầy, ta có thể mượn lời của Maurice Maeterlinck mà rằng: "Trong nhà
thương điên, dưới con mắt của các người điên, kẻ điên nhất phải
chăng là ông giám đốc bệnh viện."
Phan Sào Nam bàn về quẻ Bác có viết rất đúng: Quẻ
Bác là quẻ âm cực trưởng, dương cực tiêu. Âm là tiểu nhân, dương là quân tử. Ở
thời buổi này, tiểu nhân đắc chí hoành hành, người quân tử không còn chỗ
nào mà hành động được nữa, chỉ nên ẩn dật mà chờ thời, may ra mới
khỏi bị bọn tiểu nhân hãm hại".
Đúng là tâm sự của những bậc "ấn quân tử"
thời Xuân Thu Chiến Quốc. Sở cuồng Tiếp Dư khuyên ngăn Khổng Tử: "Phụng
ơi! Phụng ơi! Lúc đời vô đạo, sao không ở ẩn? Đức sao mà suy thế! Từ
nay trở về trước thì không sao can được! Nhưng mà từ đây về sau, còn
có thể tự hối lại được! Nên thôi đi! Nên thôi đi! Ngày nay
mà đi làm chính trị, nguy lắm thay!"
Lão đánh cá quả có lý khi khuyên Khuất Nguyên:
"Thánh nhân tùy thời mà không câu nệ việc gì. Có phải đời đục cả, sao
ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục thêm một thể? Loài người
say cả sao. Ông không biết ăn cả men húp cả bã cho say theo một thể? Việc gì mà
phải phòng xa nghĩ sâu đến nỗi phải bị phóng khí?" Chính là chỗ mà
Trang Tử đã nói: "Ôi! Hạng thật mê, suốt đời không tỉnh. Hạng
thật ngu, suốt đời không khôn. Ba người cùng đi mà có một người mê,
thì chỗ mình định nói còn có thể mong đạt tới được, là vì kẻ mê
ít, mà người tỉnh nhiều. Nếu ba người cùng đi mà có tới hai người mê, thì
chỗ mình định nói đến không thể mong đạt tới được là vì
người mê nhiều mà người tỉnh ít. Nay cả thiên hạ đều mê, ta dù có muốn
chỉ đường cũng không thể được. Chẳng cũng xót xa lắm sao!... Biết là
sự không thể được mà vẫn cứ gượng làm (tri kỳ bất khả nhi vi chi) đó lại
còn mê hơn thiên hạ nữa!"
Câu chuyện Mã Tuấn trên đây của Bồ Tùng Linh quả
là một thứ trào lộng u mặc thượng thừa... Hay nhất là đoạn chót: "Mã Tuấn
làm trò, bôi mặt giả làm Trương Phi... Bấy giờ lại được người nước La Sát
quý mến và yêu cầu giữ luôn bộ mặt giả ấy. Nhờ vậy mà Mã được giàu sang
vinh hiển. Nhưng sau dần, người ta biết rõ là Mã mang bộ mặt giả nên không còn
thích nữa, cũng chẳng ai ưa gì những con người giả dối ấy". Mã Tuấn quả là
người sáng suốt nên đã biết lo xa mà xin về hưu trước.

