Cái cười của thánh nhân - Chương 21 - 22 - 23 - 24

Phần Hai Mươi Mốt: Coi Bói

Nguyên bị đuổi, ba
năm không được gặp vua, tận trí tận trung mà lại bị gièm pha che lấp. Lòng
buồn ý loạn, không biết phải đi con đường nào, mới đến quan thái
bốc trịnh Thiềm Doãn:

- Tôi có điều nghi,
xin tiên sinh quyết hộ cho.

Thiềm Doãn sửa ngay lại
cỏ thi, phủi bụi mu rùa, hỏi:

- Ông muốn dạy tôi việc
chi?

Khuất Nguyên đáp:

- Tôi có nên khẩn khấn
khoản khoản gìn giữ mãi một lòng trung, hay nên đưa đón
theo đời để khỏi khốn cùng?

Có nên bừa cày hết sức
làm ruộng mà nuôi thân hay nên giao du với người vinh hiển để cầu danh?

Có nên nói thẳng, không
gì nể đến thân ngay, hay nên nói theo thói tục, cầu sang giàu để sống
bê tha?

Có nên siêu nhiên xuất
thế để giữ gìn thiên chân, hay nên nịnh nót khúm núm, xum xoe cười
gượng để thời đàn bà?

Có nên liêm khiết, chính
trực để được sạch trong hay trơn tru tròn trĩnh, như mỡ như
da, để được như cây cột tròn?

Có nên ngang tàn như con
ngựa thiên lý, hay nên lênhđênh như con vịt nước, cùng nhấp nhô với sóng mà toànđược
tấm thân?

Có nên chạy đua với
loài Kỳ, Ký, hay noi theo cái vết của loài ngựa hèn?

Có nên sánh vai với loài
hàng hộc, hay nên tranh ăn vớiđám vịt gà?

Đường nào kiết? Đường nào
hung?

Bỏ đường nào?
Theo đường nào?

Đời hỗn trọc mà không
thạnh thì cái ve là nặng mà nghìn cân là khinh, cái chuông vàng thì bỏ nát cái
nồi đất thì kêu vang, kẻ gièm pha thì tên tuổi cao trương mà người hiền sĩ
thì không tên tuổi.

Than ôi: Biết nói
gì đây? Ai biết ta là trong sạch?

Thiềm Doãn đặt cỏ
thi xuống, tạ rằng:

- Thước có khi lại ngắn,
mà tấc có khi lại dài, vật có chỗ không đủ, mà trí có chỗ không sáng. Số
có chỗ đoán không tới, mà thần có chỗ cũng không thông. Ông cứ theo lòng
mà làm cho đúng ý ông. Cỏ thi và mu rùa, quả không thể biết được việc
ấy!

Phần Hai Mươi Hai: Đông Lăng

Khuất Lăng bị
phế, đến Tư Mã Quý Chủ coi bói.

Quý Chủ hỏi: "Quân
hầu bói việc gì?"

Đông Lăng nói: Nằm lâu
muốn dậy, bị giam lâu thì muôn thong thả, buồn bực lâu rồi thì muôn ngáp hơi...
Tôi nghe rằng: Sự chứa đựng lâu rồi thì phải tiết ra, sự bế tắcđến cùng
cực rồi thì phải được thông đạt, sự nóng đến cùng cực rồi thì
nổi gió, bị ứ đọng đến cùng cực rồi thì lại thông đông qua
xuân đến, không gì co rồi mà không duỗi ra rồi thì trở lại, một đi,
một về. Tôi còn có đều nghi, xin tiên sinh chỉ bảo.

Quý Chủ đáp:
"Nếu vậy thì quân hầu đã biết cả rồi, vậy còn coi bói làm gì."

Đông Lăng nói: "Tôi
chưa biết rõ lẽ ảo điệu ấy, xin tiên sinh dạy lại cho."

Quý hủ đáp:
"Ôi! Đạo Trời thân với gì? Chỉ thân với Đức mà thôi. Quỷ thần linh
nhờ đâu? Nhờ người mà linh. Cỏ thi là thứ cỏ khô, mai, mai rùa là thứ
xương khô đều là vật vô tri. Quân sao không nghĩ đến ngày trước? Có
ngày trước tất phải có ngày nay. Cho nên đây, bây giờ là tường xiêu gạch
nát, thì biết đâu ngày trước đây là cao lâu tửu quán, bây giờ đây là bụi hoang cành gãy,
thì ngáy trước biết đâu là hoa quỳnh cây ngọc, bây giờ đây là tầm
giải dưới sương, ve kêu trong gió, thì ngày trước biết đâu đây là
những khúc Phượng sênh Long dịch, bây giờ đây là ma
trơi, đom đóm, thì ngày trước biết đâu đây là đèn vàng
nến bạc, bây giờ đây là rau đắng rau má mùa xuân thì ngày trước,
biết đâu đây là cao lương mỹ vị, bây giờ đây là lá phong hồng
bông địch trắng, thì ngày trước biết đâu đây chẳng là gấm xứ
Thục, lụa xứ Tề. Trước kia không có mà nay có, đâu phải dư, trước kia có
mà nay không, đâu phải thiếu. Vậy nên, hết ngày tới đêm, hoa nở lại
tàn, xuân qua thu đến, vật cũ rồi mới, dưới dòng nước chảy mạnh tất có vực
sâu, dưới chân núi cao tất có hang thẳm. Quân hầu đã biết rõ lẽ ấy rồi,
còn coi bói làm gì!"

Lời bàn:

Bài văn của Khuất Nguyên, nhiều người khen là thứ u
mặc sâu sắc.

Lối u mặc của Khuất Nguyên là lối u mặc phần thể tách
bạch thị phi, thua xa lối u mặc của Lưu Bá Ôn. Văn của họ Lưu phản phất có mùi
vị siêu thoát của Hư Vô, rõ là giọng nói nhẹ nhàng thản nhiên của
Dịch đạo. Đó là kẻ đã biết rõ là cùng thông, còn đi coi bói làm
gì nữa!

Than ôi! Biết nói gì đây? Ai biết ta là trong
sạch?", Khuất Nguyên đi coi bói là phải. Lời của Thiềm Doãn rấtđúng:
"Thần, có chỗ cũng không thông!". Cái thần minh của Khuất Nguyên bị
tấm màng vô minh của nhị nguyên che lấp, quả không làm gì thông nổi. Thần thánh
cũng không thông.

Phần Hai Mươi Ba: Người Đánh Xe Lừa

Người đánh xe lừa,
rất bực mình giống lừa cứng cổ. Giống này, hễ làm biếng không đi,
thì đứng lỳ một chỗ, càng bị đánh càng lùi thêm... Anh ta bèn nghĩ ra
một kế: Đem bó lúa tươi thơm ngát treo trước đầu lừa.

Lừa thấy lúa thơm, bước
tới ăn. Nhưng, bước tới thì bước, mà bó lúa vẫn không bao giờ ăn được. Nhờ
vậy mà nó cứ bước mãi... Người đánh xe không cần thúc giục, mà xe cứ lăn
tới đều đều... theo ý muốn.

Phần Hai Mươi Bốn: A Lưu

Lưu là tên tiểu đồng
ông Chu Nguyên Tố. Nó thực là ngây ngô, không được việc gì cả. Vậy mà Chu
Nguyên Tố nuôi nó suốt đời.

Lúc ông bảo nó quét nhà,
nó cầm chổi quanh quẩn suốt buổi mà không sạch được cái buồng con. Ông
giận mắng, thì nó quăng chổi, lẩm bẩm: "Ông quét giỏi thì phiền đến
tôi làm gì!"

Khi ông đi vắng, sai
nó chực ngoài cửa, dù khách quenđến, nó cũng không nhớ được tên ai. Có
hỏi, thì nó nói: "Người ấy lùn mà béo. Người ấy gầy và lắm râu. Người ấy
xinh đẹp. Người ấy tuổi cao và chống gậy." Đến lúc đó nó liệu chừng không nhớ xuể,
nó đóng cửa lại, không cho ai vào nữa.

Trong nhà có chứa một
ít đồ cổ như
chén, lọ, đỉnh, đôn. Khách đến chơi, nó bày ra cho xem.

Lúc khách về, nó
lẻn đến gõ các thứ ấy mà nói: "Những thứ này có khi bằng đồng,
mà sao nó đen sì như thế?" Rồi nó chạy đi lấy cát, lấy đá,
lấy nước để đánh.

Nhà có cái ghế gãy chân,
ông sai nó đi chặt cây có chạc, để chữa lại. Nó cầm búa, cưa, đi
khắp vườn. Hết ngày, về, nó chìa hai ngón tay làm hiệu mà nói: "Cành cây
có chạc đều chĩa lên cả, không có cành nào chúc xuống đất." Cả nhà đều cười.

Trước sân có vài cây liễu
mới trồng. Ông sợ trẻ láng giềng đến nghịch hỏng, sai nó trông nom giùm.
Đến lúc nó vào ăn cơm, nó nhổ cả cây lên và cất đi một chỗ.

Công việc nó làm, nhiều
chuyện đáng cười như thế cả.

Ông Chu Nguyên Tố là
người viết chữ chân tốt, mà vẽ lại giỏi lắm. Một hôm, ông hòa phấn với
mực để vẽ. Thấy A Lưu, hỏi đùa: "Mầy vẽ được không?".
A Lưu đáp: "Khó gì mà không được!" Ông bảo vẻ, A Lưu vẽ
nét đậm, nét nhạt, nét xa, nét gần như người xưa nay vốn đã biết vẽ.
Ông thử luôn mấy lần, lần nào A Lưu vẽ cũng được như ý cả. Từ bấy giờ, ông dùng đến A Lưu
luôn, không lúc nào rời.

Sau A Lưu nổi tiếng là
một nhà danh họa.

Lời bàn:

Câu chuyện dường như cố ý nêu lên những cái ngây
ngô đờ đẫn... để rồi đưa ra một nhận xét bất ngờ của Hàn
Tín dụng quân: "Dụng nhân như dụng mộc". Trong trời đất, không
vật nào là vật bỏ, chỉ vì ta không biết dùng do thành kiến mà phí uổng không
biết bao nhiêu là nhân tài của đất nước.

Nhưng có A Lưu, cũng phải có Chu Nguyên Tố, có Hàn Tín
phải có Trương Lương.

Báo cáo nội dung xấu