Công tước của riêng em - Chương 19 - Phần 1
Chương 19
Dinh thự Knole, điền trang của công tước
Gilner
Ngày 19 tháng 06 năm 1784.
Sáng hôm sau, Eleanor đi sang cánh bên kia
của ngôi nhà, theo sau là Hàu và một người hầu nam cầm khay trà. Anne đang ngồi
trên giường, đọc truyện.
“Em cảm thấy thế nào?” Eleanor hỏi.
“Trà!” Anne kêu lên một cách sung sướng.
“Chị là người em yêu quý nhất trong số chị em gái đấy.”
“Em là cô em dễ mua chuộc nhất của chị,”
Eleanor ngồi xuống cùng tách trà của mình.
“Marie, em quay lại sau hai phút nữa được
không?” Anne bảo cô hầu của mình và rồi: “Cô ấy đã kể cho em về Ada. Em rất
buồn, Eleanor.”
“Không có lý do gì để đưa ra lời chia buồn đó
với chị.”
“Có đấy,” em gái cô nói, cười rầu rĩ. “Sau
cùng thì, em đã biết chị nhiều năm rồi. Em đoán chị đã thức chong chóng phân
nửa đêm để vùi mặt trong gối khóc lóc.”
“Ada xứng đáng được than khóc. Cô ấy có một
cuộc đời ngắn ngủi khủng khiếp.”
“Em đồng ý. Em đồng ý. Nhưng đó không phải
là lỗi của chị, chị yêu. Và em đoán nước mắt của chị là nước mắt tội lỗi.”
Eleanor gật đầu. Nhưng mà sau cùng thì cũng
đâu còn gì để nói về điều đó nữa? Cô quý Ada, nhưng Ada đã mất và không gì thay
đổi được điều đó.
“Villiers đã quyết định cưới Lisette.”
“Em không chắc điều đó không tốt với chị,”
Anne nói. “Dù chắc chắn là không tốt đối với anh ta. Lisette thật sự điên rồ,
cô gái tội nghiệp. Cô ấy không phải mẫu người phù hợp với hôn nhân. Tốt nhất là
cô ấy ở đây, ở cái nơi mà mọi người đều biết và chiếu cố cho các hành vi của cô
ấy. Villiers vẫn hình dung mình là người giải cứu những trinh nữ ngây thơ sao?”
“Chị tin anh ta hình dung cô ấy là một bà
mẹ tuyệt vời.”
Anne khịt mũi. “Đây là một quyển sách cực
kỳ thú vị,” cô nói, vẫy sách trước mặt Eleanor. “Nó có tên Lâu Đài Otranto. Tối
qua em đã phát sợ một cách ngớ ngẩn khi đọc đến đoạn con trai bá tước bị đè
chết bởi một cái mũ sắt quái quỷ rơi từ trên trời xuống ngay truớc khi anh ta
làm đám cưới. Chị đã đọc nó chưa?”
“Chị vẫn đang cố đọc mấy bài thơ Sonnet của
Shakespeare,” Eleanor nói.
“Quá nhạt nhẽo,” Anne nói. “Thật sự bài
Sonnet nào cũng chỉ nói về một thứ. Nhưng quyển sách này có những hình ảnh sinh
động cất lên hơi thở huyền bí và những mẩu giáp sắt rơi từ trên mây xuống. Và
giờ bá tước Manfred đang cố li dị vợ để cưới hôn thê của con trai… Em nghĩ là
cả ngày hôm nay mình sẽ nằm im trên giường và đọc hết quyển sách này. Em chắc
không thể chịu nổi một đêm nữa nếu không biết câu chuyện kết thúc như thế nào
mất. Ngôi nhà này kêu kẽo kẹt kinh khủng trong đêm tối.”
Có tiếng gõ cửa và cô hầu của Anne bước
vào. “Em có tình cờ biết nữ công tước thế nào không?” Eleanor hỏi cô ta.
“Lệnh bà có một đêm không ngon giấc,” Marie
báo lại. “Nhưng hôm nay bác sĩ sẽ tới và nhổ răng ra. Từ giờ tới lúc đó bà
Marguerite đưa cho cô hầu của lệnh bà một chai cồn thuốc phiện rất lớn, vậy nên
lệnh bà đã ngủ rất nhanh. Bà Marguerite bảo cô hầu không đánh thức lệnh bà để
cái răng có thể bị nhổ ra trước khi bà thức dậy.”
“Ôi trời,” Eleanor nói. “Nhưng chị nghĩ mẹ
cũng thích ngủ hơn. Bà không thích chịu đau.”
“Ai mà thích?” Anne nói. “Xem chừng sáng
nay chị sẽ trèo lên ngựa nhỉ, Eleanor? Em phải nói, bộ đồ cưỡi ngựa đó đúng là
đáng yêu và em thậm chí còn không tự mình chọn nó nữa chứ.”
Eleanor nhìn xuống người mình. Gần như lần
đầu tiên kể từ khi tới đây, cô mặc một bồ đồ mà tự mình đã đặt may. Bộ đồ cưỡi
ngựa này được làm từ lụa gân màu xanh dương với cổ áo bẻ sâu ở phía sau.
“Em đặc biệt thích đuôi tôm của chiếc áo
chị mặc,” Anne nói thêm.
“Vì sao đàn ông có thể mặc áo đuôi tôm mà
phụ nữ thì không?” Eleanor đồng ý, kéo cái mũ cao xuống che mắt thêm một tí. Nó
cũng có màu xanh, và có hai núm tua sinh động dài tới vai cô.
“Em có thể gửi lời chúc mừng cho hôn ước
của cô với công tước Villiers không thưa tiểu thư?” Marie hỏi.
“Không cần đâu,” Anne nói ngay. “Chị gái
tôi đã quyết định không cưới ngài công tước rồi.”
“Lũ trẻ đó!” Marie kêu lên ngay lập tức, vỗ
tay. “Em hoàn toàn hiểu, thưa tiểu thư. Toàn bộ gia nhân đều chấn động.”
“Chấn động?” Eleanor lặp lại. “Có vẻ là một
cách nói kỳ cục.”
“Popper là một người hết sức sùng đạo, cô
hiểu rồi đấy. Ông ta bắt toàn bộ hầu gái cầu nguyện ba lần một ngày. Rồi công
tước mang lũ trẻ đó vào nhà và tất nhiên họ…” cô ta khựng lại.
“Chúng là con hoang,” Anne nói liên tiếp
một cách vui vẻ.
“Popper đã quẩn trí khi đứa đầu tiên tới
lắm rồi, nghĩ rằng thằng nhóc là một chân của quỷ Sa Tăng. Nhưng tiểu thư
Lisette chỉ bảo ông ta đừng có khó chịu thế, và tất nhiên công tước Villiers
chẳng thèm bận tâm đến Popper.”
“Ta chắc chắn là anh ta chỉ vẫy các ngón
tay một cách khinh khỉnh,” Eleanor nói.
“Ngày đầu tiên không tệ lắm, nhưng rồi khi
hai cô bé tới… chà, dưới gác xuất hiện một vụ náo động khủng khiếp. Popper
chẳng là gì so với bà Busy, đầu bếp. Bà ta bảo các cô hầu ở trên gác là linh
hồn bất diệt của họ có thể lâm nguy nếu dọn dẹp vi lò trong phòng trẻ. Và bà ấy
liên tục đưa bột lên gác bởi vì bà ta nói thịt gây ra ảnh hưởng gì đó tới da
thịt và gây ra những phản ứng xác thịt điên rồ… Em nghĩ mình đã nhớ chính xác
đấy.”
“Đúng là độc ác,” Eleanor nói quyết liệt.
“Chúng là những đứa trẻ ngây thơ và chúng nên được đối xử tử tế. Có phải em vừa
nói tên đầu bếp là Busy không nhỉ?”
“Bà Zeal-của-xứ-Land Busy,” Marie nói.
“Zeal của gì cơ?”
“Zeal-của-xứ-Land Busy,” Marie lặp lại.
“Chồng của bà ấy là một nhà thuyết giáo nổi tiếng ở Luân Đôn – một người theo
Thanh giáo, tất nhiên cho tới khi ông ấy chết vì ăn quá nhiều thịt lợn luộc và
bà ấy buộc phải làm việc.”
“Đúng là rác rưởi,” Eleanor nói. “Em đang
nói là Popper tán thành loại hành vi bất thường này sao?”
“Chà, ông ấy có nhưng cũng không. Ông ấy đã
nói với tiểu thư Lisette về chuyện bột và cô ấy nói một ít bột chẳng hại gì đến
chúng, và Popper nên duy trì hòa bình trong gia nhân. Từ những gì họ nói thì
tiểu thư Lisette không thích dính dáng đến những vấn đề của gia nhân. Và em sợ
là bà Marguerite toàn đi du lịch.
“Chậc, giờ thì bà ấy đang ở đây rồi, và bà
ấy phải bạt tai Zeal-của-xứ-Land Busy chứ“', Eleanor nói.
“Thật ra thì bà Marguerite không có đây,”
Marie nói. “Sáng nay bà ấy đã dậy sớm rồi cùng ông Bentley đi du lịch tới Royal
Tunbridge Wells. Bà ấy đã để lại tin nhắn cho cô đấy.”
“Bà Marguerite có một cuộc sống đến là thú
vị nhỉ!” Anne nói đầy vui sướng. “Em mong là mình cũng được như vậy, nếu em trở
thành góa phụ. Dù em cũng không ước bị như thế.”
“Chị sẽ tự đi vào bếp vậy,” Eleanor nói. Cô
đang trải qua một cơn giận dữ bùng nổ, nó quét sạch mọi cảm giác u uất khác. Cô
ghét cảm giác u uất. “Chị sẽ mang theo Hàu,” cô nói thêm.
Nếu Lisette để trẻ con trong nhà mình chẳng
được cho ăn gì ngoài bột, thì đơn giản là cô ta sẽ phải chịu đựng sự hiện diện
của một con cún con vui tươi, béo mập thôi.
“Hãy tiến lên và chinh phục chúng!” Anne
nói, ngồi yên ổn trong giường. “Có lẽ em sẽ gặp chị tại bữa tối, và có lẽ
không. Tất cả phụ thuộc vào chuyện liệu sẽ có một bộ áo giáp đè sập cái lâu đài
này hay không.”
Eleanor đi xuống cầu thang trước, định sẽ
kéo theo Popper và đưa ông ta đi cùng. Rõ ràng ông ta là một mắt xích yếu trong
đám gia nhân, nhưng ít nhất ông ta có thể hỗ trợ cô khi nói đến việc trẻ con
cần nhiều thức ăn hơn bột.
Hàu bắt đầu sủa một cách hăng hái ngay khi
họ vòng qua khúc quanh cầu thang, nên cô nhìn xuống và thấy Villiers đang đứng
ở sảnh chờ.
Trong một giây tim cô nện thình thịch – cô
đã rất vui khi chơi đùa với anh, nghĩ đến việc cưới anh nhưng rồi nhớ ra anh đã
chọn Lisette thay vì cô. Nên cô nói, “Hàu, im lặng.”, không lớn tiếng nhưng
trong tông giọng cô hẳn chứa đựng một điều gì đó bởi vì nó làm chú chó vâng
lời.
Công tước vẫn lịch sự như thường, tức là
chẳng lịch sự cho lắm. Anh có cái cách cúi chào mang ẩn ý là mình cao quý đến
mức chẳng cần bận tâm đến những lễ nghi đó.
Vậy nên, cô không nhún chào anh, chỉ đeo
găng tay vào. Cô sẽ không chạm vào bất kỳ thứ gì trong bếp của bà
Zeal-của-xứ-Ăn chặn với bàn tay trần. Anh nhướng một bên lông mày lên.
“Khi ngài cúi chào theo cái cách cho thấy
ngài quan tâm đến nó thì tôi sẽ bận tâm đến việc khụy gối chào lại ngài,” cô
trao cho anh một nụ cười ngọt ngào. Rồi cô quay sang nhìn Popper. “Tôi sẽ rất
cảm ơn nếu ông dẫn tôi xuống bếp.”
“Gì cơ, thưa tiểu thư?” ông ta nói, bắt đầu
lắp bắp bởi vì ông ta chính là kiểu đàn ông đó.
Eleanor là con gái của mẹ cô, dù cho cô
không thường chọn cách thể hiện ra như vậy. Cô ghim chặt viên quản gia vào
tường bằng một ánh mắt và rồi nói, hết sức nhẹ nhàng:
“Nhà bếp, Popper.”
Hàu khẽ rên ư ử cạnh chân cô. Ít nhất cũng
có người biết khi nào thì cô đang bàn tính chuyện nghiêm túc.
“Tất nhiên, thưa tiếu thư,” Popper kêu lên,
mở cánh cửa bọc vải len xanh lục ở cuối sảnh chờ nhanh đến mức nó đập mạnh vào
tường.
“Eleanor?” cô nghe Villiers nói sau lưng.
Cô nhìn anh qua vai. “Vấn đề liên quan tới
công việc quản gia,” cô nói lạnh lùng. “Ngài cứ tiếp tục làm bất kỳ việc gì mà
mình đang làm đi. Chơi cờ vua hay gì đó.”
Cô nghe anh khịt mũi. Anh theo cô đi qua
cửa, nhưng cô chẳng thèm bận tâm đến anh.
“Kể cho tôi nghe về bà Zeal-của-xứ-Land đi,
Popper.”
“Tôi hy vọng rằng bữa sáng làm cô hài lòng,
thưa tiểu thư?” Popper chạy ngược trên hành lang của người hầu, với nguy cơ bị
va vào tường bất kỳ lúc nào. Khuôn mặt tròn của ông ta nhăn lại đầy lo lắng.
“Hoàn toàn chấp nhận được,” Eleanor nói khô
khan. “Dù không có lời cầu nguyện nào đưọc thốt ra khi ăn trứng.”
“Cầu nguyện sao?” Villiers lặp lại.
Họ tới bếp. Popper mở cửa rồi nép mình vào
tường để cô đi qua.
“Cầu nguyện?” Villiers hỏi lại, sau Eleanor
vài bước chân. Nhưng cô đã biến thành một người phụ nữ quyết chí đi gây chiến,
một sinh vật mà anh đã biết, nên cũng không ngạc nhiên khi cô lờ anh đi.
Nhà bếp đồ sộ này và có vẻ như chẳng thay
đổi mấy từ thời trung cổ. Một bức tường có một chiếc lò sưởi nướng với năm cái
xiên đang quay phía trước, nhờ một cậu bé ngủ gà gật đang vận hành một loại cối
xay guồng nào đó bằng chân. Từng phân một của những bức tường khác chất đầy
những giá đồ đựng đồ sứ, được dựng thẳng nhờ những cái chốt gỗ nhỏ. Có hàng dãy
tách trà được xếp ngăn nắp và trang trí bằng những dây hành và tỏi. Trên cao
treo những dải xúc xích và các lát thịt mà Villiers không thể nhận biết là thịt
gì.
Hẳn phải có tới mười người đang làm việc,
bưng bê thức ăn, quấy thức ăn trên một cái lò lớn bằng sắt, rửa bát đĩa, hay
như một quý ông lớn tuổi khác thì đang ngủ trong góc.
“Tiểu thư Eleanor. Công tước Villiers,”
Popper rống lên.
Một người phụ nữ to con quay người khỏi bếp
lò và nheo mắt nhìn họ.
“Tôi không đồng ý cho đi thăm quan bếp của
mình,” bà ta quay đầu. “Witless, nếu mày không quay mấy cái xiên đó liên tục
thì tao sẽ đặt mày lên trên một trong những cái xiên đó đấy!”
“Chị Busy,” Popper nói, vặn vẹo tay. “Hãy
chào đón công tước và tiểu thư đây. Hãy rộng lượng, chị Busy, hãy rộng lượng!”
Eleanor đi vào giữa bếp. Bà đầu bếp có đôi
má đỏ rực và đôi mắt ti hí, không kể đến một cái muôi khổng lồ đang chảy nước
tong tỏng.
“Ta thích có thịt hun khói trong bữa sáng,”
cô nói, đi tới trước như thể cái muôi không có gì đáng sợ.
Đôi mắt ti hí của đầu bếp nheo lại. “Tôi
không thích thịt lợn,” bà ta nói một cách chói tai. “Thứ hương vị được sùng bái
quá đáng, tôi gọi nó như thế đấy! Mà cô đang làm gì đấy, sao lại mang một con
chó vào bếp của tôi!”
“Thịt hun khói là thịt, và là loại thịt bổ
dưỡng,” Eleanor nói lạnh lùng. Trước đây Villiers chưa từng nghe thấy cô nói
bằng tông giọng đó bao giờ và anh thấy mừng vì điều đó. “Ta muốn thịt hun khói
và trứng được đưa lên phòng trẻ ngay lập tức.”
Đầu bếp vứt cái muôi vào cái chảo lớn mạnh đến
mức khiến nước xúp đang sôi bắn ra bếp và sàn nhà. “Vậy ra đó là ý định của
cô!”
“Đúng vậy!” Eleanor tuyên bố.
Vì sao cô lại làm nhặng xị về bữa sáng của
lũ trẻ chứ? Villiers đáng ra có thể bảo rằng Tobias đã lo liệu được mọi chuyện,
với số tiền hối lộ nó đưa cho người hầu, nhưng anh không có thời gian để xen
vào.
“Thức ăn không phải để nhồi vào bụng cho
thỏa mãn thói phàm ăn hay tham lam,” bà đầu bếp nói the thé. “Cũng không phải
để cho những kẻ đáng ghê tởm trong con mắt của Chúa được ăn.”
Đến giờ Villiers mới nhận thấy Eleanor đang
cầm một cái roi ngựa, và anh trở nên hơi lo lắng. Cô đang rê ngón tay trên roi
như thể nó là một dải ruy-băng thanh nhã. Bà Busy trông không giống người phụ
nữ dễ hăm dọa.
“Ta hẳn sẽ do dự khi phân loại bất kỳ người
nào vào mục ăn uống xả láng để thỏa mãn thói háu ăn,” Eleanor nói, mắt cô nấn
ná một cách không mấy dễ chịu trên những đường cong phải thú nhận là béo tốt
của bà đầu bếp. “Nhưng ta biết rõ rằng những đứa trẻ đó không thể lớn với chế
độ ăn uống toàn bột.”
Villiers đông cứng.
Đôi mắt ti hí ác độc của bà Busy liếc sang
nhìn anh rồi quay lại nhìn Eleanor. “Thịt sinh ra những ham muốn xấu xa! Những
thói quen điên rồ! Lũ trẻ đó là nòi giống của ác quỷ và chúng có thói háu ăn
mạnh mẽ.”
“Bà mới mang khuôn mặt xấu xa của ác quỷ,”
Eleanor nói, bước lên trước một bước.
Cô không làm gì với cây roi, nhưng bà đầu
bếp vẫn chùn bước.
“Nếu bà không đưa lên gác một đĩa thịt bổ
dưỡng, bao gồm ít nhất hai loại thịt, trong vòng một giờ tới, ta sẽ tống bà ra
đường, bà Zeal-của-xứ-Land-Busy. Bà sẽ không còn bận rộn nữa đâu. Bà hiểu ta
nói gì chứ?”
Bà Busy không trả lời. Một giọt mồ hôi chảy
xuống trán bà ta.
“Bà ấy hiểu mà,” Popper nói, nhảy vào giữa
họ. “Bà ấy hiểu mà, phải không, chị Busy? Bà ấy biết trẻ con là những sinh vật
vô tội không thể bị trách cứ vì hoàn cảnh ác nghiệt mà chúng sinh ra. Trẻ con,
chị Busy,” ông ta nài nỉ. “Chỉ trẻ con thôi.”
“Phải,” bà đầu bếp nói chậm chạp.
Villiers đứng sau lưng Eleanor, sự thật của
câu chuyện dần ngấm vào đầu anh. Rõ ràng là món bột mà Tobias phàn nàn không
phải chỉ là chế độ ăn uống thông thường cho trẻ em của bà Busy, mà là một hành
vi tẩy rửa. Tạ ơn Chúa, Tobias đã tự chăm sóc mình.
Khuôn mặt Eleanor trông như được tạc từ
loại đá hoa cương nguyên chất nhất, như thể nữ thần Athena hạ phàm.
Bà Busy không phải là đối thủ của cô. “Tôi
sẽ gửi bữa sáng lên cho chúng,” bà ta nói, hạ giọng xuống.
“Và mọi bữa ăn, chừng nào lũ trẻ đó còn ở
đây. Nếu ta nghe nói có sự thiếu thốn nào đó dù là nhỏ nhất, nếu bà bỏ nhầm một
loại thảo mộc hay quên một loại gia vị thì ta sẽ quay lại.”
“Tôi sẽ không. Tôi chỉ đơn thuần tìm cách
để uốn nắn lũ…”
Có thứ gì đó trong ánh mắt Eleanor cảnh cáo
cô không chấp nhận lời giải thích của bà ta.
“Tôi sẽ gửi lên những bữa ăn tuyệt hảo,” bà
Busy nói hấp tấp.
“Tốt,” Eleanor nói. “Vậy thì ta sẽ chào tạm
biệt bà, bà Zeal-của-xứ-Land Busy. Hàu, đi thôi.”
Villiers chờ tới khi cô rời bếp, bởi vì
không muốn Eleanor cảm thấy rằng anh không tin tưởng mức độ thành công của cô.
Bà Busy không động đậy, chỉ chờ đợi, với đôi mắt dán chặt lên anh.
“Các con của ta không ghê tởm,” anh phát
biểu, nghe thấy giọng nói lạnh lùng của chính mình và biết rằng chỉ có rất ít
người đủ dũng cảm để chịu đựng âm thanh ấy mà không chùn bước.
“Đúng là không phải,” bà Busy đồng thuận
một cách sốt sắng, cho thấy rằng bà ta không phải một trong những người dũng
cảm.
Villiers quay người bỏ đi.
“Nhưng ngài thì có đấy!” bà ta bật ra.
“Đích thực, tôi phải nói ra sự thật là ngài cư ngụ trong chiếc lều của những
điều xấu xa và thỏa mãn thói phù phiếm của con mắt.”
Rõ ràng là bà ta không thích thú gì áo của
anh. Hoặc có lẽ các đường thêu là thứ khích lệ bà ta lên tiếng chỉ trích.
“Tôi được các linh hồn khuyến khích nói
vậy!” bà Busy khăng khăng nói.
“Miễn là chiếc lều của những điều xấu xa
luôn thừa mứa nụ cười của những người phụ nữ xinh đẹp,” Viiliers nói, “thì ta
luôn rất vui.”
“Chị Busy,” Popper nài xin. “Xin chị đấy,
chị Busy, hãy cân nhắc lại địa vị của mình trong đời.”

