Loạn Thế Anh Hùng (Tập 2) - Nhất giải - Phần 03

Thẩm Phóng và Đỗ Hoài Sơn nhìn nhau. Không sai! Viên lão đại quả nhiên cao minh. Hắn vừa tới Trấn Giang đã lộ vẻ hung hãn khó đoán, khí thế áp bức, mau lẹ, thì ra mục đích thực sự là như thế này. Chỉ nghe Bá Nhan kia nói: “Ta hỏi: “Nếu hắn vẫn không chịu ra thì sao?” Viên lão đại sầm mặt, nói: “Ngài có ấn tượng sâu sắc với một kẻ họ Dịch chăng?” Ta đương nhiên biết người hắn nói là ai, triều đình bọn ta trên dưới chẳng ai không có ấn tượng sâu sắc với hắn. Chỉ thấy mặt mày Viên lão đại âm trầm. “Nếu gã không ra, tôi đã biết được bạc kia chuyển tới đâu, vậy tôi sẽ trực tiếp tìm họ Dịch kia tính nợ.””

Đỗ Hoài Sơn bất giác siết chặt tay vịn ghế, tay vịn làm bằng gỗ Hoa Lê trong tay lão vang lên tiếng “lắc rắc” rồi nứt ra. Thẩm Phóng biết lão cố kỵ Viên lão đại nhưng không ngờ lại tới mức sợ hãi thế này, quả thật đoán không ra Viên lão đại rốt cuộc có thủ đoạn gì, có thể khiến Tam thập nhị đô úy lai lịch hỗn tạp, ai cũng có chỗ dựa phải cúi đầu nghe lệnh, khiến bậc lão luyện giang hồ như Đỗ Hoài Sơn, Tiêu Tứ Ẩn cũng sợ hãi bó tay, thậm chí ngay sứ Kim là Bá Nhan cũng hiện rõ vẻ bội phục. Tuy Thẩm Phóng chẳng có ấn tượng gì tốt với gã nhưng tới mặt mũi người Kim mà gã cũng chẳng nể lắm, riêng điểm này so với trên dưới trong triều đã là một trời một vực, khiến Thẩm Phóng không ngờ được. Theo lời Bá Nhan, dường như quyền thế mưu mô của Tần Thừa tướng cũng khó lay chuyển chủ kiến của gã, đủ thấy Viên lão đại này quả thật bất phàm. Thẩm Phóng nhìn sang Đỗ Hoài Sơn, cũng đã rõ lão lo lắng điều gì: Dịch tiên sinh - một thân văn nhân sức yếu nơi Hoài Thượng liệu có chống đỡ nổi Viên lão đại đích thân bức ép không đây?

Ai nấy nhất thời yên lặng, Thẩm Phóng nhìn Tam Nương, thấy Tam Nương đang chỉnh lại tóc mai. Tóc mai của nàng vốn rất ngay ngắn, không cần chỉnh trang, Thẩm Phóng hiểu rõ Tam Nương, biết đó là biểu hiện nàng đang vô cùng lo lắng. Biết nhau đã mười năm, trước nay hắn chưa từng thấy nàng như vậy. Nếu Viên lão đại thật sự qua sông, thế lực Đề kỵ lấn lên bờ Bắc, vợ chồng hắn tất nhiên bất hạnh. Có điều, Thẩm Phóng tuy là thư sinh nhưng có dũng khí của thư sinh, hắn vươn tay nắm chặt tay Tam Nương. Tam Nương được hắn nắm tay, tựa hồ bình tĩnh hơn nhiều, cũng nắm chặt lấy tay hắn, thầm nghĩ: Vị phu quân này tuy không hiểu võ kỹ nhưng tính cách cũng có chỗ có thể nương tựa.

Tới cả Ngô Huyện lệnh cũng biết chuyện này trọng đại, Dịch Bôi Tửu kia tuy xa tít tận Hoài Thượng nhưng chính là một tấm bình phong đệm giữa Tống - Kim. Mấy năm nay, Hoài Nam được bình ổn phần lớn là nhờ vào điều đó. Gã bèn cất giọng lo lắng mà hỏi: “Thế rốt cuộc Lạc Hàn kia đã xuất hiện chưa?”

Hầu hết những người ngồi đây đều muốn biết, lại nghe sứ Kim nói: “Không biết, có điều, không rõ tại sao Viên lão đại đột nhiên dừng việc Bắc thượng, cứ nán lại Trấn Giang. Hình như có người nói, bên bờ Trường Giang chỗ gần Trấn Giang thấp thoáng nhìn thấy một thiếu niên mặc đồ đen dắt lạc đà uống nước. Hành tung của hắn rất mơ hồ, ai biết được đấy có phải Lạc Hàn hay không? Mà dẫu có phải, người khác cũng chẳng lường được hắn nghĩ gì.”

Thẩm Phóng bỗng cảm thấy máu huyết toàn thân như dồn cả lên mặt, siết chặt tay vịn ghế, đồng thời cảm thấy bàn tay Tam Nương trong bàn tay mình siết lại. Hai người tâm ý tương thông, liền biết suy nghĩ của người kia giống hệt mình, đang nhớ tới một kiếm nọ của Lạc Hàn trong đêm mưa ở quán trọ ngày trước. Cái thần thái và sự sắc bén không thể tránh thoát đó, cái dũng khí quyết tâm sôi sục xoay chuyển tình thế đó... Thẩm Phóng chỉ cảm thấy tim mình đập nhanh, thầm nhủ: Ai bảo trời đất tiêu điều, giang hồ tịch mịch? Có Viên lão đại nọ uy phong trong cõi, thế vươn Hoài Thượng thì liền có thiếu niên áo đen kia lựa lúc hắn ở Trấn Giang mà thấp thoáng xuất hiện. Tuy chỉ thấp thoáng nhưng đã khiến Viên lão đại dừng lại, không dám Bắc thượng, còn ai dám nói chẳng kẻ nào có thể chặn mũi tiến của Viên lão đại? Chỉ một thoáng xuất hiện thôi, tuy mũi kiếm của người nọ còn chưa xuất nhưng đã khiến ai nấy thấy được chỗ mà mũi kiếm chẳng e chẳng sợ của hắn hướng vào.

Đỗ Hoài Sơn thở dài, sắc mặt Ngô Huyện lệnh bên kia cũng dãn ra. Tam Nương Tử cũng cảm thấy lòng nhẹ bẫng, thấy Thẩm Phóng và Đỗ Hoài Sơn chăm chú vểnh tai nghe phía đối diện, không biết vì sao nàng chợt có cảm giác mình đã trở lại là một người phụ nữ. Lời này nói ra dường như buồn cười nhưng từ khi Kinh Tam Nương xuất đạo tới nay, một mình giữ gìn Bồng Môn, thoa lệnh đến đâu là ở đó tầm cừu báo hận, chưa từng có cơ hội cảm thấy bản thân mình là một cô gái. Nàng trước nay cũng rất căm hận nam nhân xung quanh mình, bởi vì nàng gần như chẳng cảm thấy bọn họ giống nam nhân, sau khi kết duyên với Thẩm Phóng, tuy nàng tạm thời bình tĩnh lại nhưng Thẩm Phóng trước giờ có chí nhưng không được thỏa, tâm tình buồn bực, nàng cũng thường phải an ủi trượng phu. Bây giờ, thấy hai nam nhân bên cạnh vì chuyện quốc gia, vì thế lực tăng giảm mà vô cùng chăm chú, không hiểu sao lần đầu tiên Tam Nương có cảm giác mình là nữ nhân.

Cảm giác này thật là tuyệt, đây chính là cảm giác gác đao kiếm xuống, toàn thân yên ổn. Nàng nhìn xuống lầu dưới, bóng nắng chiếu nơi cửa đột nhiên ngắn lại, nàng nhìn kĩ, thì ra có người đang đi vào. Đó là một thiếu niên ôm đàn. Tam Nương nhìn hắn, không biết tại sao trong lòng tĩnh lặng. Thiếu niên nọ khoác trên người bộ y phục đã cũ, chẳng có gì khác với người thường, chỉ là chưa từng thấy ai mặc đồ cũ mà lại toát lên vẻ thư thái, trong sáng, mềm mại, nhẹ nhàng, khiến người ta nhìn vào mà thấy thoải mái như hắn. Hắn ôm đàn, bước thong thả, không phát ra chút tiếng động, tới ngồi xuống tấm phản gỗ cạnh cửa sổ mé trái của lầu một rồi đặt cây đàn lên đùi. Tam Nương vừa rồi còn nghĩ tới hai chữ “nam nhân”, giờ trông thấy thiếu niên này lại không biết nên phẩm bình ra sao, bỗng nghĩ tới một câu trong tập Đường thi nằm ngay ngắn trên bàn trong thư phòng của phu quân mà nàng từng đọc được: “Trướng ngọa tân xuân bạch giáp y[6].” Sau mới sực nghĩ, bây giờ đâu phải tiết xuân chứ!

Bên kia lầu vẫn đang sôi nổi, lại nghe Bá Nhan cười, nói: “Ngô đại nhân, chắc ông không chỉ định mời bọn ta rượu suông đấy chứ? Hình như người Nam các ông có câu thơ: “Hoa thời đồng túy phá xuân sầu, túy triết hoa chi tác tửu trù[7]”, đối tửu há có thể không có hoa, không có hoa làm sao được, hoa đâu? Đem hoa tới!”

[6] Nghĩa là: “Áo trắng ngả dài xuân đã mới.”

[7] Trích bài Đồng Lý Thập Nhất túy ức Nguyên Cửu của Bạch Cư Dị, tạm dịch: “Buổi hoa cùng khướt giải sầu xuân, say bẻ nhành hoa đem rượu đong.”

Ngô Huyện lệnh nọ bật cười “hắc hắc”, cúi đầu trầm ngâm, bảo: “Thư thành đất mọn, tuy có doanh kỹ nhưng chẳng qua đều là bọn quê mùa, thô kệch, không so bì được với gái đẹp Giang Nam, chỉ sợ chẳng có đứa nào lọt được vào mắt Bá Nhan đại nhân, thế này đi...” Gã vỗ tay, một người hầu tiến tới, chỉ thấy gã thấp giọng dặn dò người hầu vài câu, lại nói: “Đi nhanh về nhanh, chọn mấy đứa được được đem tới!”

Vào thời Tống, chế độ doanh kỹ là một chế độ cực kỳ tàn nhẫn, phàm là gia quyến của quan lại phạm tội, vợ cùng con gái của kẻ đó, ngoài việc bị đưa vào cung làm nô, làm tì thì còn bị đem vào trong doanh làm kỹ nữ, từ đó sống cuộc đời hầu hạ mua vui, bán thân bán xác. Tàn nhẫn nhất chính là, vào một thời điểm nhất định hằng năm, bọn họ còn phải luân phiên vào hầu trong trại lính, cho nên bao giai thoại súc tích được lưu truyền trong phường hát của bọn sĩ đại phu phong lưu thơ rượu, chẳng cái nào không viết từ máu và nước mắt của những nữ nhân đó. Tuy Tam Nương Tử ở tầng lớp dưới cùng của xã hội, xuất thân mãi nghệ, nhưng dù thế nào vẫn có chút tôn nghiêm ít ỏi, song nếu thân là doanh kỹ thì chẳng khác nào đọa mình dưới địa ngục tăm tối nhất, muôn đời chẳng thể thoát ra.

Cho nên lúc nghe nói thế, Thẩm Phóng không khỏi buồn rầu thở dài. Đám bên kia vẫn truyền ly đổi chén, chẳng ai bận tâm. Khi ấy, người Kim trên đất Tống luôn thích gì đoạt nấy, vàng lụa, đàn bà đều không ngoại lệ, huống chi vài đứa doanh kỹ. Được một lúc, chỉ nghe ngoài cửa có tiếng xe ngựa dừng bánh, cả đám đang vui vẻ, cũng chẳng để ý. Chỉ có một viên sứ Kim hỏi sư gia của Ngô Huyện lệnh: “Tổng cộng gọi tới mấy đứa?”

Sư gia kia tủm tỉm cười, đáp: “Thư thành đất nhỏ, chẳng có đứa nào xuất sắc, đã truyền gọi sáu đứa, còn một đứa là từ bên ngoài tới, nghe bảo đứa này còn được xem là xuất sắc, quan gia chỉ cần nhìn mình nó là được.”

Viên sứ Kim kia nghe không rõ, sững người. “Một đứa?” Từ lúc tới Nam triều, gã chưa từng gặp chủ nhà nào “nhỏ mọn” nhường này, thế rồi gã quay người nhìn xuống lầu, quả nhiên thấy có mấy nữ nhân tiến vào lầu dưới, đúng là chẳng có ai xuất sắc, mặt người nào người nấy trát đầy phấn, cười gượng gạo đi lên lầu. Bên người họ đương nhiên không thiếu mấy thứ đàn sáo. Mấy người Bá Nhan đi sứ Nam triều nhiều lần rồi, mà kể cả ở đất Bắc, phụ nữ Hán bọn họ cướp về cũng không ít, khi thấy những ả này thì đều không kìm được nhíu mày. Trừ một ả được miễn cưỡng lưu lại để hầu rượu, đám còn lại đều bị đuổi xuống lầu tấu nhạc. Thư thành quả nhiên là đất quê mùa, hẻo lánh, mấy quan kỹ nọ tấu khúc Nghênh tiên khách cũng chẳng ra làm sao, tới Ngô Huyện lệnh nghe mà cũng phải cau mày. Bá Nhan không kìm được, ném ly rượu xuống lầu dưới, “xoảng” một tiếng, cắt ngang khúc nhạc, mặt mũi đỏ bừng. Ngô Huyện lệnh như đã sớm đoán được tình cảnh này, lẩm bẩm: “Sao Chu Nghiên còn chưa tới?”

Lại thấy Bá Nhan cười “hắc hắc”, nói: “Ngô Huyện tôn, ông coi thường bọn ta hay là tiếc mấy đứa doanh kỹ của ông, sao lại đem mấy thứ vừng mè kê thóc vứt đi này tới? Ta nghe nói chỗ các ông có một nữ tử nổi tiếng, tên là Chu Nghiên, nàng ở đâu, sao không thấy đến?”

Ngô Huyện lệnh lo tới toát mồ hôi, cười nịnh. “Tôi đã sai đám hạ nhân đi gọi nàng rồi, đại nhân bớt giận, đợi thêm một chút, đợi thêm một chút!”

Đây là lần đầu tiên mọi người nghe thấy có doanh kỹ dám đến chậm. Đợi hồi lâu, mãi vẫn chưa thấy đến, chẳng đợi Bá Nhan nổi giận, Ngô Huyện lệnh đã phát nộ rồi. Một kẻ văn nhã như gã mà cũng tát ngay vào mặt tên gia nhân tới thưa lời, in dấu năm đầu ngón tay, giận dữ thét lên: “Ngươi chuyển lời của ta, có phải khiêng cũng phải mang nàng tới đây!”

Gia nhân nọ không dám nói gì, vội vàng lui xuống. Bá Nhan ở bên cạnh quan sát rồi cười lạnh, Ngô Huyện lệnh cũng tự thấy mất mặt, chỉ nghe Bá Nhan cười “hắc hắc”, nói: “Ngô đại nhân, khi quay về ta sẽ nói chuyện với Án sát sứ An Huy Lô đại nhân của các ông, ông tiếp đãi hạ quan thật tốt, phải thăng cho ông hai cấp quan ấy chứ!”

Không khí trong sảnh đột nhiên thắt lại, Ngô Huyện lệnh không dám đáp lời, chỉ liên tục vuốt mồ hôi. Nên biết lúc bấy giờ, lễ tiết của Nam triều đối với sứ thần phương Bắc luôn là lấy chiều ý làm chủ, không ai dám chậm trễ, dưới uy thế của Tần Thừa tướng, ai dám gánh trách nhiệm sơ sót gây chiến loạn đây? Lại thấy mặt mày Bá Nhan âm trầm như nước, giọng lạnh băng: “Ngô đại nhân, ta đếm đến ba, nếu Chu Nghiên còn chưa tới, tiệc rượu này bọn ta không ăn cũng được.”

Nói rồi, hắn bắt đầu đếm: “Một...”

“Hai...”

“Ba...”

Chỉ thấy trán Ngô Huyện lệnh tứa mồ hôi, trông vừa hèn hạ vừa đáng thương. Bá Nhan đã đếm tới ba, gã nói được là làm được, chẳng hề giữ cho Ngô Huyện lệnh chút thể diện, đứng dậy định đi. Ngô Huyện lệnh biết chỉ cần gã đi, cái chức quan của mình e là đi đứt, mười năm khổ sở đèn sách sẽ hóa thành bọt nước, bèn nài nỉ cầu xin: “Bá Nhan đại nhân, ngài nguôi giận, đợi thêm chút nữa, tôi nhất định gọi nàng tới cho ngài!”

Bỗng nghe dưới lầu vang lên tiếng thở dài nhè nhẹ. Tiếng thở ấy tuy nhẹ nhưng nghe vui tai, tiếp đó một giọng nói cực kỳ dễ nghe cất lên: “Ngọc Trác, không cần xin nữa! Bá Nhan đại nhân, Chu Nghiên tới rồi!”

Mọi người nhìn xuống lầu nhưng chẳng thấy mỹ nữ nào, tiếng nói ấy là của một gã xách đồ vừa rồi vào cùng mấy ả doanh kỹ, ban nãy không theo lên lầu. Hắn vừa cất tiếng, chúng nhân thấy hắn thân thể thướt tha mới biết ra là nữ tử. Bá Nhan cũng ngẩn người, nhìn xuống dưới lầu, hỏi: “Ai là Chu Nghiên?”

Đứa tớ kia đáp: “Chính là thiếp.”

Nàng ngẩng mặt, mọi người chỉ thấy nàng có ngũ quan rất đẹp nhưng sắc mặt ảm đạm. Bá nhân ngớ ra. “Cũng không thấy có gì xuất sắc.”

Đứa tớ kia như chẳng hề sợ gã, lạnh nhạt nói: “Ngài chớ làm khó Ngô Huyện lệnh, thiếp sẽ trả cho ngài một Chu Nghiên tuyệt diễm vô song.”

Bá Nhan cũng muốn xem xem nàng có trò biến đổi gì, bèn gật đầu. “Được!”

Đứa tớ kia bèn bảo: “Đem nước lên!”

Nàng hẳn đã quen thuộc với Túy Nhan các, người làm quả thật mang nước tới, trong mắt còn phảng phất vẻ lo lắng cho nàng. Chỉ thấy Chu Nghiên đặt chậu xuống đất, cúi đầu, từ từ rửa mặt. Những người ngồi đây đều yên lặng, khắp lầu chỉ nghe tiếng nàng vốc nước. Nàng còn chưa ngẩng đầu, tiếng động nọ như đã lay động lòng người. Kế đến, chỉ nghe nàng thở dài một tiếng, từ từ ngẩng đầu, nhìn lên lầu. Mới rồi son phấn làm nhơ nhan sắc, mọi người không trông thấy diện mạo thật của nàng, bây giờ nàng mới hơi ngẩng đầu, lại như toát ra vẻ mệt mỏi khôn tả, mệt mỏi với việc để nam nhân ngắm nhìn. Mọi người giờ mới thấy dung nhan như phù dung đượm sương sớm của nàng, trong tòa lầu cổ này, đó quả là một vẻ tuyệt diễm khó có thể diễn tả bằng lời. Bá Nhan há hốc miệng, chỉ nghe nàng cất tiếng thở dài, nói: “Thiếp đi thay y phục”, sau đó cất bước thướt tha đi ra khỏi cửa. Chúng nhân nhìn theo bóng lưng nàng mà chẳng nói nên lời, tựa như giờ mới hiểu thế nào là: “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung[8]”, thế nào là: “Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan[9].”

[8] Trích từ điệu Thanh bình điệu kỳ 1 của Lý Bạch, nghĩa là: Ngỡ mây là áo, hoa là dung mạo.

[9] Trích từ điệu Thanh bình điệu kỳ 3 của Lý Bạch, nghĩa là: Vui cùng danh hoa với người đẹp.

Chu Nghiên rời đi rất lâu, thúc mấy lần, mãi sau nàng mới trở lại trong sự kỳ vọng của mọi người. Đầu tiên, chúng nhân chỉ nghe tiếng nàng xuống ngựa, hẳn là nàng thay y phục trên xe, sau đó có tiếng ngọc bội “lanh canh”, tuy rất nhỏ nhưng lại khiến ai nấy phải vểnh tai lắng nghe. Trang sức của Chu Nghiên hẳn không nhiều nhưng cứ vang lên tiếng “tinh tinh”, lúc ngưng lúc tỏ, người còn chưa tới, âm thanh đã vang khắp không gian. Chỉ mấy bước từ cửa viện tới cửa lâu, ngọc bội của nàng đã tạo thành một đoạn nhạc, tựa như khẽ khàng gõ vào lòng người, nàng nói: “Thiếp đến rồi, đến rồi đây!”

Thẩm Phóng cùng Tam Nương cũng dõi theo ánh mắt mọi người, kế đó Chu Nghiên mới xuất hiện ở cửa. Những người nhìn thấy nàng đều bất giác giật mình, người vốn đang mồm miệng tép nhảy bỗng ngậm miệng, người vốn đang ngậm miệng thì lại hơi hé miệng, tiếng nói chuyện ở các bàn lần lượt lặng đi, chỉ thấy Chu Nghiên đứng nơi ngưỡng cửa, dáng vẻ ngại ngần, giống như không biết mình đang làm gì, đi đâu, đẹp tới cùng cực chính là ở vẻ mê man mà chính mình cũng không biết. Nàng bận một chiếc áo đỏ rực, choàng khăn màu bạc, dưới làn khăn lộ nửa cánh tay áo màu xanh lạt, nàng đứng ở cửa, ánh sáng sau lưng, như thật như ảo. Bấy giờ mọi người chẳng nhìn rõ mặt nàng, tới Đỗ Hoài Sơn cũng kinh ngạc. Lúc này, Chu Nghiên mới ngẩng đầu nhìn lên lầu, cất tiếng hỏi: “Ngọc Trác, ba tháng nay chàng không chịu gặp ta, sao bây giờ lại vội vàng gọi ta tới thế?”

Người nàng hỏi hình như là Ngô Huyện lệnh, hẳn tên thật của Ngô Huyện lệnh là Ngọc Trác, chỉ thấy vẻ mặt gã cực kỳ xấu hổ. Chu Nghiên ra mặt tuy đã giải vây cho gã nhưng lúc này dường như gã không muốn gặp Chu Nghiên. Vừa chạm vào ánh mắt Chu Nghiên, gã lập tức nhắm mắt. Hình như Chu Nghiên và gã biết nhau từ trước, thấy gã không đáp thì khe khẽ thở than một tiếng rồi đi lên lầu.

Nàng uyển chuyển chào hỏi: “Tiểu nữ xin ra mắt các vị đại nhân!”

Giọng nàng không thể ví là như châu như ngọc, bởi có là châu ngọc cũng chẳng thể tạo ra thứ âm thanh trong trẻo, nhuần nhị chẳng có ở chốn nhân gian đó. Bây giờ ở gần, chúng nhân mới trông tỏ dung mạo của nàng. Chỉ thấy nàng quả đúng như tên gọi, xinh đẹp thanh tân[10]. Thông thường, khi nữ nhân nhìn nhau thường sẽ nhìn y phục trước tiên, nhưng Tam Nương cảm thấy Chu Nghiên khiến cho người khác chưa kịp nhìn y phục của nàng thì đã mơ màng rồi. Nàng không mang nhiều trang sức rườm rà nhưng không phải là không có, để tránh nhạt nhẽo. Không thể diễn tả nổi nàng đẹp thế nào, chỉ là bất cứ nữ nhân nào trên đời trông thấy nàng, chỉ e con tim sẽ mất đi cảm giác.

[10] Từ gốc là “Nghiên” (): nghĩa là “đẹp đẽ”.

Thì ra một người con gái có thể “con gái” tới mức này. Tam Nương Tử kinh ngạc nhìn cô gái tên Chu Nghiên đó, đã từng này tuổi, vậy mà bây giờ nàng mới hiểu ra thế nào là “kinh diễm”.

Trước nay Tam Nương không thích nữ nhân quá chói mắt, nhưng thì ra “chói” cũng có thể chói thành vẻ tuyệt diễm nhường này, nàng cũng có chút xem thường “mị”, nhưng “kiều mị mà không tục tĩu” hóa ra cũng không phải câu nói suông. Sau khi nhìn thấy Chu Nghiên, nàng mới biết nữ nhân chốn thành thị hóa ra cũng có thể “tươi mới”, nhưng lại không phải kiểu tươi mới tới quê kệch như con gái miền quê, còn về phần “xinh đẹp”, thì ra mấy thứ phấn son có thể điểm trang cho một người để có được vẻ tự nhiên nhường ấy.

Trong cả tòa lầu, người duy nhất không kinh ngạc đến ngây người hẳn là Thẩm Phóng, hắn nhìn một cái rồi quay lại nhìn Tam Nương. Bỗng nghe Ngô Huyện lệnh nói: “Chu hiệu thư[11], chuyện của chúng ta sau này sẽ nói. Bá Nhan đại nhân là khách quý của triều đình, vừa rồi ngài than thở đối tửu không thể thiếu hoa, mới đợi nàng tới. Thư thành của chúng ta nhỏ bé, chẳng ai xứng lọt vào mắt ngài. May có nàng lưu lại đây, ta muốn mời nàng đàn một khúc, thế nào?”

[11] Cách gọi nhã của ca kỹ, nhạc kỹ thời xưa.

Chu Nghiên đưa mắt nhìn hắn, vừa có vẻ vui mừng vừa có vẻ nghi hoặc, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không tiện nhiều lời, bèn khẽ gật đầu, tự mình tới ngồi xuống một cái đôn vuông cạnh lan can. Nàng có đem theo một cây đàn tỳ bà, chỉ thấy nàng ôm nó trong lòng, mắt vẫn nhìn về phía Ngô Huyện lệnh, tựa như có nét u oán. Song Ngô Huyện lệnh lại chẳng nhìn nàng, nàng khẽ cười khổ rồi gảy dây đàn, sau đó liếc nhìn xung quanh. Nàng ngồi chênh chếch, chọn vị trí tốt, có thể bao quát toàn lầu. Làn thu ba lưu chuyển, những người ngồi đây bất kể là ai, ngay cả Thẩm Phóng và Tam Nương bên kia đều cảm thấy, nàng đã nhìn tới mình. Kẻ tuổi trẻ thì tim nhảy thót, không khỏi nảy sinh cảm giác tự thẹn mình hình dung xấu xí. Cái nhìn ấy xem như lời dạo đầu của nàng, chỉ nghe nàng gảy đàn, tiếng đàn “tinh tang”, dần kết thành khúc điệu, nàng nhẹ cất tiếng hát:

“Hay là thôi mấy lời thủ thỉ, chỉ muốn hỏi chàng lấy một câu, phải chăng có phép hay cách lạ, cởi thiếp đây mê loạn muộn phiền. Thiếp thấy sợ gối đây chăn đấy, những ấp ôm dơ bẩn thế kia, nói cái gì mà ca hay múa đẹp, đều chỉ là giả dối buổi ngày thôi. Ôi đáng hận, thật là đáng hận. Thiếp chỉ mong được áo vải với quần thô, thoát khỏi chốn phong hoa phóng đãng.”

Lúc nàng cất tiếng ca nhè nhẹ ở bên này, ở bên kia Đỗ Hoài Sơn đang thấp giọng hỏi tiểu nhị: “Nàng ấy là ai thế?”

Tiểu nhị khẽ cười, đáp: “Cô nương ấy chính là Chu Nghiên, nghe bảo ở Lâm An cũng là phường nức tiếng. Quý khách chưa từng nghe tới à? Nàng lưu lạc tới đây, thật xinh đẹp tới sững sờ phải không? Đáng tiếc, doanh kỹ có tới đâu vẫn cứ là doanh kỹ, chẳng thoát nổi sổ sách của giáo phường, có xinh đẹp hơn nữa cũng chỉ uổng mà thôi.”

Đỗ Hoài Sơn gật đầu, lão là người cẩn thận, lại hỏi nhỏ: “Sao thi thoảng nàng lại ngó nhìn Huyện lệnh của các vị thế? Ta thấy lời ca này của nàng dường như là hát cho hắn nghe vậy.”

Tiểu nhị nọ biến sắc mặt, ngó bốn phía thấy không có ai mới than khẽ một tiếng, nhưng vẫn không nói gì, xoay người rời đi. Đỗ Hoài Sơn sao chịu để gã đi, bèn níu lại, cười mà truy hỏi: “Kể đi mà!” Tiểu nhị hãy còn do dự, Đỗ Hoài Sơn đã nhét vào tay gã một thứ cưng cứng, lành lạnh, màu bạc, khiến cho con mắt nhìn thấy thì con tim không thể không động. Tiểu nhị nọ không thể không dừng lại, tủm tỉm cười, nói: “Thật ngại quá, chuyện nói ra cũng dài, tôi cũng là nghe ông bố vợ ở nhà kể, Chu Nghiên cô nương này thuê nhà lão mở một quán trọ nhỏ.”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.