Căn Phòng Nhung Nhớ - Chương 19

Giang
Hải – Quá khứ hoàn thành

Nếu
lúc đầu lựa chọn để tình yêu ở lại, có lẽ bây giờ sẽ càng cô độc.

Thái
Mãn Tâm quay về chỗ trọ, tắm nước nóng. Tề Dực đợi cô ở đại sảnh, nhìn sắc mặt
nhợt nhạt của cô, không khỏi có chút lo lắng. Nhưng anh biết lúc này khuyên
Thái Mãn Tâm quay về cũng vô ích. Cô nóng lòng muốn nghe tất cả những gì liên
quan đến Giang Hải.

Đó là
chuyện quá khứ đã lâu Tề Dực không nhắc tới.

“Lúc ở
Đam Hóa, cô nói với tôi là ngày trước có bạn học cấp ba ở đây, vì nghịch ngợm
nên suốt ngày bị giáo viên phạt đứng hoặc là chạy vòng quanh sân vận động. Về
sau anh ta muốn nghịch ngợm thì sẽ kéo một, hai học sinh ưu tú cùng chịu tội”.
Tề Dực chỉ vào mình: “Thật không may, tôi chính là người phải chịu tội cùng.”

“Mấy
năm nay ở Đồng Cảng và thị trấn Bạch Sa, tôi lần lượt nghe nói đến một số chuyện
của A Hải”. Thái Mãn Tâm bưng cốc trà nóng, chậm rãi nói: “Vì trường trung học ở
Đồng Cảng chỉ có khối cấp hai nên tất cả học sinh quanh đó đều phải đến Đam Hóa
học cấp ba. Hồi A Hải học cấp hai, bố qua đời, vườn cây ăn quả trong nhà đều là
do anh ấy thay mẹ trông nom, lớp tám học lại một năm. Trong kỳ thi lên lớp,
thành tích của anh ấy cũng đứng số một, số hai toàn trường. Nhưng đến Đam Hóa
phải ở ký túc, không thể tiếp tục chăm sóc vườn cây ăn quả.

Anh ấy
nghe nói có người buôn bán ở biên giới kiếm được tiền, không bàn bạc với bất kỳ
ai, để lại cho mẹ một bức thư rồi chạy đến Đông Hưng. Lúc đầu là giúp chuyển
hàng, sau đó liên hệ bên mua bên bán. Anh ấy thông minh lanh lợi, mặc dù nhỏ tuổi
nhưng có thể chịu được khổ, giữ chữ tín nên rất được tin tưởng ở Đông Hưng và
Móng Cái. Hồi ấy anh ấy giúp một xưởng dệt ở Quảng Tây tìm khách hàng ở Việt
Nam rồi lại bán một lô hàng inox sang đó, tiền kiếm được đều gửi vể nhà để mẹ
kinh doanh một cửa hàng nhỏ.

Có mấy
nhà buôn bán đều muốn A Hải giúp nhưng cũng có mấy người lớn tuổi và đồng hương
khuyên anh ấy quay về học tiếp. Mẹ của A Hải cũng rất hy vọng anh ấy có thể
quay lại trường. Mấy lần đi cầu xin giáo viên cấp hai và cấp ba. Cuối cùng họ đồng
ý cho A Hải học lại nhưng yêu cầu anh phải tham gia một cuộc thi nhập học.
Nhưng tôi nghĩ chỉ cần chịu học, đề thi cấp hai đối với anh ấy không có gì
khó”.

Tề Dực
gật đầu: “Hồi nhập học, cậu ấy lớn hơn học sinh trong lớp hai, ba tuổi. Hơn nữa
vì đã từng xông pha bên ngoài nên trông già dặn hơn rất nhiều”.

“Già
dặn?”. Thái Mãn Tâm không kìm được mỉm cười: “Anh ấy đã từng nói với tôi, hồi học
cấp ba, anh ấy thường xuyên trốn giờ tự học buổi tối hoặc là ngủ trong giờ. Thầy
giáo dùng phấn ném anh ấy, anh ấy liền nhặt lên ném lại, vừa vặn ném vào hộp phấn
trên bục giảng. Thầy giáo rất tức giận, bắt anh ấy chọn phạt đứng ở cửa hay là
chạy vòng quanh sân vận động. Anh ấy chọn đi chạy, nói là còn tốt hơn ở lì
trong phòng học, làm hết đề thi này đến đề thi khác”.

“Về
sau tôi và cậu ấy thân nhau, bời vì chúng tôi đều ở trong đội bóng chuyền của
trường”. Tề Dực nói: “Cô đoán xem cậu ấy sở trường đánh ở vị trí nào?”.

“Chủ
công?”.

“Chuyền
2. Vị trí đập bóng của cậu ấy rất tốt, dễ dàng có thể đánh vào góc chết của đối
phương”.

“Có
phải là những kỹ thuật khác của anh ấy không tốt, chỉ có thể đánh chuyền 2?”.

Tề Dực
lắc đầu: “Cậu ấy nói mình làm ăn buôn bán chính là người dắt đầu mối, thích hợp
làm chuyền 2?”.

“Hồi ấy
anh ấy đã bắt đầu chơi guitar rồi sao?”. Thái Mãn Tâm hỏi. Cô ôm gối ngồi ở một
đầu ghế sofa, dựa đầu vào lưng ghế.

“Hồi ấy
trong số những nam sinh sống ở trường, rất nhiều người bắt đầu nghe rock. Bố của
A Hải đã từng mua cho cậu ấy một cây guitar. Cậu ấy thường xuyên trốn học, đi
tìm những người chơi đàn. Về sau cậu ấy nghe nói hồi nhỏ tôi đã từng học đàn liền
hỏi tôi có muốn lập một ban nhạc không. Cậu ấy nói có một số ban nhạc, ví dụ
Scorpions nổi tiếng nhờ guitar đôi. Chúng tôi còn tìm một bạn học đàn piano làm
keyboard, chắp ghép, biểu diễn trong bữa tiệc năm mới ở trường”.

“Hát
Wind of Change của Scorpions?”

“Không,
là Trời cao biển rộng của Beyond[1]”.

[1]
Ban nhạc rock nổi tiếng nhất của Hồng Kông thành lập năm 1983 viết về các vấn đề
xã hội, quan điểm chính trị, hòa bình nhân loại và tư tưởng sống.

“Hãy
thứ lỗi cho anh vì yêu tự do suốt đời…”. Thái Mãn Tâm cười: “Rất phù hợp”.

“Đây
chỉ là bài thứ nhất. Bài thứ hai là khi tổng duyệt, Giang Hải nói nếu ai sợ bị
giáo viên mắng có thể không hát”.

“Là
bài gì?”

“Chúng
tôi đăng ký Cô bạn cùng bàn, nhưng thực ra người dẫn chương trình vừa xuống,
chúng tôi liền bắt đầu hát Cô nàng xinh đẹp của Hà Dũng”.

Thái
Mãn Tâm bật cười: “Hồi ấy các anh mới bao nhiêu tuổi, giáo viên không phát điên
sao?”.

Tề Dực
cũng cười: “Đề nghị đó của A Hải, chúng tôi đều không phản đối”.

Thái
Mãn Tâm tưởng tượng một nhóm thiếu niên mười mấy tuổi đứng trên sân khấu hát
“Lưỡi của anh là một món ăn ngon để em tùy sức thưởng thức”, không khỏi rùng
mình: “Nếu giáo viên của các anh hiểu lời bài hát mà không nổi cáu thì đúng là
chuyện lạ”.

Tề Dực
gượng cười: “Sao có chuyện đó chứ, vừa hát câu ấy, cô quản lý học sinh ngồi
hàng ghế đầu mặt biến sắc, hát đến câu tiếp theo ‘Em ôm con anh vẫn còn muốn’,
Cô ấy đứng phắt dậy, chỉ muốn tháo giầy cao gót ném lên sân khấu. Chúng tôi còn
hung hăng cởi áo khoác ném xuống đất, phía dưới là tiếng hoan hô và huýt sáo.
Buổi biểu diễn kết thúc, chúng tôi bị gọi lên phòng quản lý học sinh, tất cả đều
phải viết bản kiểm điểm. Giang Hải đòi một mình gánh trách nhiệm nhưng mấy người
chúng tôi đều kéo cậu ấy, nói tất cả cùng chịu”.

Thái
Mãn Tâm nhớ lại lời Tề Dực từng nói, anh muốn nghịch ngợm nhưng đều được giáo
viên bỏ qua, liền hỏi: “Vì có một học sinh ưu tú như anh, thầy giáo không muốn
làm khó, vì thế chỉ mắng nhẹ, đúng không?”.

Tề Dực
gật đầu.

“Giang
Hải thật xảo quyệt”. Cô ho hai tiếng: “Rõ ràng là có âm mưu từ trước, kéo anh
xuống nước”.

“Thực
ra trong lòng tất cả mọi người ít nhiều đều có chút chống đối, chỉ có điều bình
thường không dám biểu lộ ra ngoài. Có điều về sau mấy người chúng tôi suốt ngày
tụ tập với nhau, bọn họ đều gọi tôi là ‘lão quái’ ”.

“Lão
quái?”.

“Bởi
vì mọi người nói Tề Dực khác người, chi bằng gọi luôn là kỳ quái”.

Thái
Mãn Tâm không còn chút sức lực nào nhưng hai mắt thì sáng lấp lánh. Cô không chịu
đi nghỉ, đòi Tề Dực kể về những chuyện thú vị hồi học cấp ba.

“Anh
nói sau khi tôi rời khỏi Đồng Cảng, anh đã từng đến đó và gặp A Hải?”. Cô có
chút chần chừ: “Vậy anh ấy…”.

Anh ấy
có nhắc đến tôi không? Có kể những chuyện về tôi trước mặt bạn thân không?

Cho
dù, chỉ là vài lời.

“Cô
biết đấy, từ trước đến nay A Hải rất ít nói chuyện của mình. Nhưng khoảng thời
gian ấy cậu ấy nên đến Đông Hưng làm ăn, có điều lại phá lệ ở lại Đồng Cảng hai
tháng. Tôi hỏi cậu ấy vì sao không đi Đông Hưng và Móng Cái, cậu ấy không trả lời,
chỉ nói là muốn đi Bắc Kinh một chuyến, nói mình nhớ thời tiết mùa đông ở đó,
có thể ăn lẩu, uống Nhị Oa Đầu, còn nói có người mời. Tôi hỏi là ai thì cậu ấy
lấy tấm ảnh một du khách gửi tới đó”.

“Tấm ảnh
nào?”. Thái Mãn Tâm nghe thấy giọng nói của mình đang run rẩy.

“Cậu ấy
chỉ lấy ra, liếc qua rồi ném ra sau tủ”. Tề Dực đáp: “Chính là tấm ảnh cô và cậu
ấy mặc áo phông có mũ”.

“Tôi
không có tấm ấy”. Thái Mãn Tâm lắc đầu: “Tôi không có bất kỳ một tấm ảnh nào
trong chuyến đi lần ấy. Vốn dĩ chụp rất nhiều nhưng sau đó xóa hết”.

Hai
người im lặng nhìn nhau.

Thái
Mãn Tâm khẽ cười một tiếng: “Như thế thì có thể chứng minh cái gì chứ? Tôi cũng
sẽ không tự mình đa tình, nghĩ rằng anh ấy không quên mình. Anh ấy không nói gì
cả, đúng không? Tôi không tin mình có thể gây ảnh hưởng tới cuộc sống của anh ấy.
Tôi cũng không muốn hỏi cái gì công bằng không công bằng nữa. Tôi không có cơ hội
cứu vãn kết cục này”.

Cảm
giác mệt mỏi ập tới, Thái Mãn Tâm muốn thu mình lại: “Tôi buồn ngủ quá”. Cô dụi
mắt: “Khi nào tỉnh nói chuyện tiếp nhé”. Cô biết Tề Dực còn biết rất nhiều chuyện
quá khứ của Giang Hải, thậm chí là chuyện giữa anh và Nguyễn Thanh Mai. Nhưng
lúc này bỗng nhiên cô cảm thấy sợ hãi, sợ rằng bong bóng hạnh phúc vừa mới xuất
hiện sẽ lại tan biến.

Đúng
vậy, ngoài miệng thì cô cứ nhắc đi nhắc lại lý trí của mình nhưng trong lòng
sao có thể không mong chờ? Anh nói muốn đi Bắc Kinh, anh nói muốn ăn lẩu uống
rượu trắng trong những ngày tuyết rơi trắng trời. Những chuyện này, những chuyện
kia, những lời tỏ tình và những gì đã từng hứa thì ra không chỉ một mình cô nhớ.

Cho
dù Giang Hải đã từng nhắc đến chuyện này, có lòng cũng không được, vô tình cũng
chẳng sao. Bây giờ tất cả đã không thể trở thành hiện thực.

Khi ở
Đồng Cảng, Thái Mãn Tâm rất ít khi có bất kỳ cảm giác cô đơn buồn chán nào. Dường
như anh gần ngay trước mặt hoặc chỉ cần đi vòng qua một góc phố là có thể gặp
được anh. Nhưng lúc này đây, cô lại bị cảm giác cô đơn đeo bám. Đây là một cảm
giác đắng chát nhưng không ai có thể chia sẻ được. Cô phải tự mình gặm nhấm tấy
cả những hồi ức đau khổ thì mới có thể biến nó trở thành vô vị. Nhưng quá trình
này dài đằng đẵng giống như vĩnh viễn sẽ không bao giờ kết thúc.

Lúc nửa
tỉnh nửa mơ Thái Mãn Tâm thấy đầu như muốn nổ tung ra. Cô không ngủ được, liền
mở mắt, nhìn bầu trời xanh xám nhuốm sắc hồng. Giống cái gì nhỉ? Giống hoàng
hôn bên bờ biển khi cùng anh ngắm bên cầu, mây đen và giáng chiều gặp nhau, màu
đen xám và hồng phấn giao nhau, từ từ lan tỏa.

Chỉ
có buổi sáng sớm se lạnh nửa tỉnh nửa mơ như thế này cô có thể thả mình nhớ đến
anh. Không nghĩ đến sự phản bội xấu xa, chỉ có hạnh phúc. Hồi ức chân thực, nỗi
mong ngóng hư vô đều không bận tâm, chỉ là một giấc mơ. Khi trời sáng, ánh nắng
mặt trời sẽ xua tan tất cả những cảm xúc mơ hồ như màn sương buổi sớm.

Lúc
này Tề Dực cũng cảm thấy cái lạnh của buổi sáng bò qua da thịt. Chiếc áo sơ mi
vẫn chưa khô trong thời tiết ẩm ướt, thế nên anh mặc áo phông cộc tay, để lộ một
phần cánh tay. Anh ngồi trên bậc thềm đầy rêu còn đọng lại những giọt sương.
Lúc đứng dậy, quần bò dính rên xanh thẫm. Anh đi đến trước cửa phòng Thái Mãn
Tâm, quay đi rồi lại quay lại. Suốt ba năm qua, chú ý đến từng thông tin có
liên quan đến cô, tưởng rằng đã rất quen thuộc rồi. Nhưng hôm nay, cuối cùng
tìm thấy nơi cô ở, cách một cánh cửa hoặc một bức tường, nhưng lại phát hiện xa
vời như cách trăm núi ngàn sông.

Gần đến
trưa mà chưa thấy Thái Mãn Tâm xuất hiện, Tề Dực cảm thấy bất an trong lòng.
Anh đến quầy lễ tân và hỏi: “Cô Thái phòng 204 có phải đã trả phòng rồi
không?”.

Đối
phương lắc đầu: “Hôm nay vẫn chưa nhìn thấy cô ấy”.

Gõ cửa
phòng cô, gõ rất lâu mới thấy Thái Mãn Tâm hỏi với giọng khàn đặc: “Ai đấy?”.

“Là
tôi”. Anh trả lời: “Cô không sao chứ?”.

Cô mở
cửa, sắc mặt tiều tụy: “Không sao, lúc nãy tôi dậy rồi, vốn định nằm thêm một
chút, nào ngờ ngủ đến tận bây giờ”.

Tề Dực
biết chắc chắn đêm cô ngủ không ngon giấc, cũng không hỏi tiếp nữa.

“Sao
mũi lại đỏ thế này? Hôm qua dính mưa bị cảm lạnh đúng không?”. Anh dùng mu bàn
tay kiểm tra nhiệt độ trên trán cô: “Cô có mang thuốc hạ sốt không? Tôi có
Aspirin”.

“Không
sao, tôi vẫn ổn, chỉ là cảm lạnh thôi, ngủ thêm một chút là được”. Thái Mãn Tâm
ngả người vào ghế, day huyệt Thái Dương: “Tôi muốn ngày mai đi Sài Gòn. Hàng
xóm của Thu Trang đều làm việc ở đó, họ nói đã từng gặp A Mai ở trước cửa cao ốc
Tân Hoa ở quận Nhất. Vốn dĩ anh ta muốn lại chào một tiếng nhưng bảo vệ của tòa
nhà rất nghiêm, không cho vào tùy tiện”.

“Vé
xe cứ để tôi lo”. Tề Dực không hề ngăn cản: “Cô cứ nghỉ ngơi đi, tôi đến Sinh
Café đặt vé xe ngày mai cho cô”.

“Vâng”.
Thái Mãn Tâm đáp lại một tiếng, quay về lấy vé xe du lịch đưa cho anh. Cô biết
không cần hỏi, Tề Dực cũng sẽ cùng mình đến Sài Gòn.

Bởi
vì anh là bạn thân của Giang Hải, trong lòng càng cảm thấy thân thiết. Nhưng vì
sao anh lại đến Đồng Cảng, vì sao lại vượt đường xá xa xôi đến Việt Nam tìm cô,
còn cái ôm và nụ hôn bất ngờ sau khi say rượu ở Đam Hóa, Thái Mãn Tâm không muốn
suy nghĩ nhiều. Có người ở bên sẽ tốt hơn. Cô không dũng cảm tới mức có thể một
mình đối mặt với tất cả. Nếu thật sự tìm thấy Nguyễn Thanh Mai ở Sài Gòn, cô
không biết mình có bị nỗi sợ hãi, bất lực vây hãm một lần nữa hay không.

Tề Dực
mua cháo trắng và rau ở một nhà hàng Trung Quốc. Thái Mãn Tâm ăn hai miếng, ngủ
mê man suốt cả buổi chiều. Chiều tối thức dậy, tinh thần tốt hơn rất nhiều,
cũng thấy đói bụng.

“Ra
ngoài đi dạo đi?”. Cô gõ cửa phòng Tề Dực, nghiêng đầu, mỉm cười có chút ngượng
ngùng: “Tôi đói đến mức da bụng dính vào da lưng rồi”.

“Đúng
vậy, ăn no rồi mới có thể hồi phục nhanh”. Tề Dực lấy ba lô: “Đi thôi, tôi đưa
cô đi ăn ‘hoa hồng trắng’ (tên gọi khác của bánh vạc) và cao lầu”.

Ngày
hôm ấy là ngày mười lăm m lịch, toàn thành phố đều tắt điện, các nhà đều treo
những chiếc đèn lồng đủ loại màu sắc trước cửa, ánh đèn in bóng xuống sông Thu
Bồn. Rất nhiều hàng ăn nhỏ và quán cà phê bày bàn ghế ở bên đường. Hai người chọn
một nhà hàng, chiếc bàn tròn dưới gốc cây xoài được trải khăn màu xanh lam, bày
chiếc lọ sứ trắng cắm hai bông hoa tường vi màu hồng phấn. Trên cây có treo đèn
lồng, chiếu những vệt sáng loang lổ xuống mặt bàn.

Món
bánh vạc nổi tiếng trong vùng trông giống sủi cảo kiểu Quảng Đông, nhân bánh là
thịt lợn và tôm xay được bọc một lớp bột bánh mỏng, trông giống một nụ hoa sắp
nở; còn có đậu xanh, hai bên là bột nếp màu xanh, ở giữa có nhân được làm từ bột
đậu xanh, rắc một lớp dừa thái sợi, có mùi thơm nồng của đậu nhưng chỉ hơi ngọt,
không ngấy chút nào, rất thích hợp với thời tiết ẩm ướt, nóng nực như thế này.
Bên đường còn có những người bán hàng rong, rao bán các loại hoa quả, có những
người già đan dép cói ngồi ở cửa nói chuyện với nhau.

Trong
ánh trăng mờ nhạt, không biết từ đâu vọng tới tiếng hát dịu dàng, không hiểu lời
bài hát, chỉ thấy thật nhẹ nhàng, miên man. Gió đêm mát lạnh, trước những căn
nhà cổ lát đá xanh, những cô gái trong trang phục áo dài truyền thống thả dáng
thước tha.

“Mọi
người nói những cô gái ở Hội An xinh đẹp, thanh tú, dịu dàng, hiền thục”. Thái
Mãn Tâm quay đầu nhìn mấy cô gái đi trên đường, mỉm cười xoay cốc trà mát trên
tay: “Anh có quen Nguyễn Thanh Mai không? Cô ấy cũng như vậy sao?”.

“A
Mai rất khác với những cô gái Việt Nam trong ấn tượng của mọi người. Mẹ của cô ấy
là Hoa kiều, vì thế từ nhỏ cô ấy đã biết nói tiếng Trung và tiếng Việt. Cô ấy học
lớp tiếng Trung ở Đam Hòa, lại được nhận học bổng của chính phủ Trung Quốc. Hồi
chúng tôi học năm thứ hai cô ấy đến Bắc Kinh học. Vì là họ hàng của bà Lục, vì
thế A Hải rất quan tâm chăm sóc cô ấy. Cô ấy rất ham chơi, thường xuyên đi đến
quán bar cùng các lưu học sinh. Có lúc ban nhạc của chúng tôi tổng duyệt hoặc
đi biểu diễn, cô ấy cũng đến cổ vũ.

Vào học
kỳ một năm thứ tư, thời điểm quan trọng để giới thiệu nghiên cứu sinh đi du học,
có người đã viết thư nặc danh tới khoa của A Hải, nói hành vi của cậu ấy không
đúng đắn, không phù hợp với tiêu chuẩn ứng cử. Vì thế, giáo viên quản lý học
sinh tìm gặp cậu ấy nói chuyện. A Hải nói: “Em không làm sai, cũng không có gì
cần phải giải thích. Vốn dĩ em không muốn tranh giành suất đi này, ai thích thì
cứ lấy”.

Lúc ấy
chúng tôi mới biết được thì ra A Mai mang thai, lại cố chấp đòi sinh đứa bé. Mấy
năm trước nhà trường rất hà khắc với chuyện này, không đồng ý kéo dài thời gian
thì hoặc nghỉ học, cô ấy không thể tiếp tục được nhận học bổng của chính phủ,
liền bỏ học quay về Việt Nam. Không biết vì sao chuyện này lại truyền đến trường
của A Hải, thế nên bị người ta đoán già đoán non, nói cậu ấy và A Mai đi quá giới
hạn.

Hồi ấy
mẹ của A Hải ốm nặng, cậu ấy vội vàng về quê, sau đó mẹ cậu ấy qua đời, đợi đến
khi lo liệu xong hậu sự, lúc quay trở lại Bắc Kinh thì A Mai đã về Việt Nam rồi”.

Thái
Mãn Tâm bặm chặt môi, không biết nên điều chỉnh nét mặt như thế nào để ứng đối,
chỉ có thể gật đầu: “Những chuyện này tôi đã nghe nói ở Đồng Cảng. Đây cũng là
lý do tôi muốn tìm A Mai”.

“Sau
khi tốt nghiệp đại học, Giang Hải tiếp tục đi buôn bán ở biên giới. Cậu ấy rất
ít khi nói đến chuyện tình cảm của mình. Sau này tôi cũng mới biết sau khi A
Mai về Việt Nam, cậu ấy nhờ người quen ở Móng Cái và Đông Hưng chăm sóc cô ấy.
Nhưng cậu ấy cũng không nhắc đến A Mai với chúng tôi nữa”. Tề Dực im lặng một
lúc: “Cô biết không? Hồi học đại học A Hải có một cô bạn gái rất thân thiết”.

Thái
Mãn Tâm khẽ cười: “Điều đó không có nghĩa là anh ấy sẽ không phạm sai lầm, đặc
biệt là với một cô gái xinh đẹp”.

“Được,
không nói đến vấn đề này”. Tề Dực nói: “Theo những gì tôi biết về A Hải, nếu thực
sự A Mai có đứa con của cậu ấy, tôi không tin cậu ấy sẽ bỏ mặc”.

“Anh ấy
nói, anh ấy không bao giờ hứa hẹn với người khác”.

“Đó
là bởi vì cậu ấy biết giữ lời hứa rất khó. Nhưng nếu là trách nhiệm của cậu ấy
thì cậu ấy sẽ không trốn tránh”. Tề Dực nói: “Xem ra cô không hề tin A Hải”.

“Không
phải tôi không tin”. Thái Mãn Tâm mỉm cười có chút ngượng ngùng: “Mà là không
hiểu anh ấy. Tình cảm của tôi đối với anh ấy là tình yêu đơn phương, rất mù
quáng”.

Báo cáo nội dung xấu