06. Sơn bát cảnh - Phần 01

Sơn bát cảnh

Bất luận thế nào, chốn âm gian không phải là nơi thích hợp để
ngao du, thăm thú. Thế nhưng, trong cuộc sống không phải không có người từng nảy
sinh mong ước được một lần dạo chơi chốn âm gian u ám này.

Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như cách đây một năm, một cậu
bé con trai của bạn tôi đã có lần đề xuất ý tưởng độc đáo này với tôi. Cậu bé hồn
nhiên nói lên suy nghĩ của mình: “Người nước ngoài có thể làm được du lịch vũ
trụ, vậy thì tại sao chúng ta không thể làm về du lịch địa phủ nhỉ? Người nước
ngoài từng đem rao bán sao Hỏa, vậy tại sao chúng ta không thể mở rộng ngành bất
động sản ở dưới âm phủ?” Rõ ràng, tinh thần yêu nước dám so sánh, thậm chí đối
đầu với người nước ngoài của cậu bé hồn nhiên kia không thể không làm cho người
khác động lòng trắc ẩn. Nhưng nếu như chịu khó suy nghĩ một chút thì cậu bé khờ
dại kia chắc hẳn sẽ tự đưa ra được câu trả lời trước những băn khoăn được cho
là có sáng kiến của cậu. Bởi lẽ dẫn một đoàn khách du lịch xuống thăm quan âm
phủ, kinh phí đầu tư và kỹ thuật thực hiện chắc hẳn sẽ khó khăn hơn nhiều so với
việc đưa con người bay vào vũ trụ.

Đương nhiên chốn âm phủ nói tới ở đây chỉ là chế tạo theo mô
phỏng, với giá vài đồng bạc một mẫu đất, mua một ngọn núi hoang, sau đó tạo
phong cảnh ở dưới âm gian, để những nhà văn có tài viết vài câu quảng cáo, mùa
xuân là Đáo Âm sơn khán hoa khứ[115], mùa hạ là Âm sơn cảnh hậu hảo
thừa lương
[116]. Nếu làm như vậy thì cũng chẳng mấy khó khăn, lại còn có thể
thêm vào một vài danh mục như “Dạ đài xuân mộng”, “Nai tân tàn chiếu”, thì ngay
cả việc mời hoàng đế Càn Long từ trong Đông Linh ra đề họa ngâm thơ cũng không
phải là việc không làm được. Còn việc đem chuyện lữ khách mà làm “Dạ thẩm Phan
Hồng”[117], cảnh tượng ảm đạm, mê mê tỉnh tỉnh giống như người bị say rượu, uống
thuốc mê hoặc tiêm thuốc tê, dùng bút tẩy gõ vào sọ não, sau đó cho vào máy
quay xi măng, quay trên ba mươi vòng, tiếp đến là đi trên “một chuyến xe xuyên
qua khe núi”. Nếu có thiếu chỗ nọ, hỏng chỗ kia thì lập tức sửa sang lại rồi liệt
vào khu vực tham quan ngắm cảnh. Những việc như vậy hoàn toàn có thể làm được.
Tôi nói cái khó khăn về kỹ thuật trên đây không phải là nói những thứ này, mà
là không có cách nào để làm một cái nồi khổng lồ, cho ngọn núi Âm vào đó để cả
năm âm u, mù mịt không có ngày đêm, người vào đó sẽ cảm thấy đầu óc mơ màng, thảm
thương như chẳng có cách nào thoát khỏi. Vì theo như người đã đến thế giới âm
phủ nói lại thì ở đó toàn là bão cát: “Dài như khi tháng Mười một, tháng Mười
hai tuyết âm rơi”[118], hoặc là “sắc trời ngưng lại, gió hoàng hôn thổi rào
rào”[119], hay như “Hoàng sa rộng mênh mông, không nhìn thấy nhật nguyệt”[120].

[115] Nghĩa là: đến
núi Âm ngắm hoa.

[116] Nghĩa là: phong
cảnh phía sau núi Âm rất mát mẻ.

[117] Nghĩa là: ban
đêm điều tra Phan Hồng.

[118] Ghi trong Thông âm ký của Trần Thiệu, đời Đường.

[119] Trong Thanh tỏa cao nghị của Lưu Phủ, thời
Bắc Tống.

[120] Trong Tử bất ngữ của Viên Mai.

Bởi thế nên đề tài này là “Âm sơn bát cảnh”, và cũng không
có rắp tâm mời chào lữ khách, chẳng qua chỉ là mượn của Quy Sử Tự mà hiện thực
hóa “Âm gian bát cảnh” trong Hồng lâu mộng (bổ sung), đem vài “cảnh điểm”
của thế giới âm phủ kết hợp với nhau, kèm theo lời tự thuật, bởi vì có được “cảnh
điểm” còn nội dung thì đơn giản quá, cứ để vậy thì khó mà thành văn được. Đương
nhiên, có người đọc đồng ý để nó làm kim chỉ nam trong việc du lịch qua hình ảnh,
không có gì là không thể. Thậm chí còn có ý muốn đưa thêm vào chi tiết thành lập
cái gọi là “đi chơi trong tiết Thanh minh gặp phải chó dữ” cho lữ khách một
phen hú vía. Dĩ nhiên, cái này không liên quan đến bản văn rồi.

Quỷ môn quan

Quỷ môn quan, hiểu trên mặt chữ có thể gọi đó là cửa khẩu
đưa đến thế giới âm phủ. Linh hồn của người ở bên ngoài cửa, trên danh nghĩa vẫn
là hồn sống, đi qua Quỷ môn quan thì mới chính thức nhập hộ khẩu và trở thành
người nơi âm phủ. Nhưng ở thời cổ, việc miêu tả về địa ngục hoặc thế giới âm phủ
hầu như không nhắc đến vấn đề này. Trên thực tế, việc phân chia hai thế giới âm
- dương cũng không thể xác định rõ ràng được, vì vậy ba chữ “Quỷ môn quan” về
cơ bản vẫn là mang ý nghĩa tượng trưng. Cuốn Lưu chức y dược ngữ[121] của Hồng Mại thời Nam Tống,
trong tập Di kiên chi canh có viết, hồn ma bị lang băm trị bệnh mà chết
nói: “Cả nhà tôi có hơn mười người già trẻ, tất cả đều dựa vào tôi mà sống. Nay
tôi chỉ một lần uống nhầm thuốc mà chết, ngũ tạng của tôi giống như có dao cắt,
dạ dày thối rữa, làm thế nào để có thể sống lại đây? Nay phải đến Quỷ môn quan
ngồi chờ!” Ý nghĩa của câu nói này là ngồi ở quan phủ dưới âm gian để chờ gặp,
sau đó sẽ cùng toàn thể oan gia khởi kiện lên trên để tính sổ với tên lang băm,
chứ không phải đó là nơi ngồi đợi đến lượt gia nhập vào cõi âm gian. Nơi ngồi
chờ được nói tới trên đây chắc hẳn là có nha đầu và chó canh cửa, vì thế đó thực
sự cũng không phải là địa điểm lý tưởng để hẹn hò hoặc chờ đợi người khác.

[121] Nghĩa là: thầy
thuốc họ Lưu lấy nhầm thuốc.

Nhưng sự xuất hiện của chữ “Quỷ môn quan” đã có từ trước thời
Nam Tống. Bởi lẽ, vào triều Đường người ta đã gọi những nơi nguy hiểm, dã man,
hoang tàn là “Quỷ môn quan” rồi. Trong Cựu đường thư, địa lý chí tứ
viết:

Ba trăm dặm về phía nam huyện Bắc Lưu có hai tảng đá đứng
đối mặt vào nhau, ở giữa rộng đến ba mươi bước chân, tục gọi là “Quỷ môn quan”.
Tướng quân Hán Phục Ba khi đánh giặc, đi đến đây là hết đường, liền lập bài vị
bằng đá, điều này có ghi trong trang tám tám, đoạn cuối. Phía nam đặc biệt nhiều
bệnh chướng khí, người đi vào đó cơ hội sống sót vô cùng mong manh, ngạn ngữ có
câu: “Quỷ môn quan, thập nhập cửu bất hoàn.”[122]

[122] Nghĩa là: Quỷ
môn quan, mười người vào thì chín người không có đường quay trở lại.

Bắc Lưu nay thuộc Quảng Tây, nơi đây nổi tiếng nhất là Quỷ
môn quan, nhiều đời nay trong thơ ca đều có người nhắc đến địa danh này. Có
cách gọi tên này là bởi vì địa hình nơi đây giống như một cửa ải của thiên
nhiên, và điều quan trọng hơn nữa là vào Quỷ môn quan này “thập nhập cửu bất
hoàn”, chướng khí bốc lên gây bệnh hại người, người mặc giáp nam chinh, triều
thần bị giáng chức đưa đến nơi này đều khó mà quay về phương Bắc được.

Ngoài ra, theo như Viên Tử Tài, Đam Nhĩ (nay là Hải Nam)
cũng có một nơi như thế, bốn bề núi non trùng điệp, ở giữa có một con đường,
trên vách viết ba chữ “Quỷ môn quan”, bên cạnh khắc thơ của Lý Đức Dụ đời Đường,
vì lúc ông ta bị giáng chức đến Nha Châu, đi qua nơi đây liền nói: “Một khi đã
đi thì đi tới hàng vạn dặm, mười người đến thì chín người không về. Quê hương ở
nơi đâu, muốn sống thì phải vượt qua Quỷ môn quan này.” Chữ viết rộng khoảng
năm thước, nét bút khỏe khoắn. Qua nơi đây thì mây độc cỏ ác, động vật kỳ quái,
thời tiết nóng lạnh thất thường, giống như đi đến thế giới của ma quỷ, chứ
không phải nơi của con người nữa.

Những nơi khác như Quỳ Châu - Tứ Xuyên, Bình Lương - Cam Túc
cũng đều có địa danh là Quỷ môn quan. ở đây, hàm ý của nó là chỉ nơi nguy hiểm,
chứ không có nghĩa là một đi không trở về nữa. Nhưng đến thời nhà Thanh, Quảng
Tây đã phá “Vương hoa”, Bắc Lưu không còn là “thập nhập cửu bất hoàn”, đồng thời
vì được phát hiện là “nơi chứa đầy bạc”, Bắc Lưu đã trở thành vùng đất béo bở,
kiếm được nhiều tiền, bởi thế lúc này có người cho rằng, về mặt chữ đã có sự nhầm
lẫn, cái gọi là “Quỷ môn quan” chính là để chỉ “Quế môn quan”. Quảng Tây được gọi
tắt là Quế, cách nói này cũng có thể được xem là trường hợp ngoại lệ.

Nhưng chắc hẳn dân gian phải có quan niệm về Quỷ môn quan ở
dưới âm phủ thì mới có sự so sánh với Quỷ môn quan ở trên dương thế. Mà Quỷ môn
quan ở dưới âm phủ cũng chỉ là một cách nói mang ý nghĩa tượng trưng. Mãi đến
sau thời Nguyên - Minh, trong kịch nói mới xuất hiện hình ảnh Quỷ môn quan và từ
đó đã trở thành cách gọi tắt của dân gian đối với âm phủ. Trong Tây du ký,
hồi thứ mười đã làm rõ hơn một chút về khái niệm Quỷ môn quan, nhưng lại không
giống như sự tưởng tượng của chúng ta, đó là một quan ải lớn như Sơn Hải Quan,
nhỏ như Nương Tử Quan, mà lại là đại môn của ngôi Thành Từ.

Thái Tông Trúc và Thôi Phản Quan, hai đồng tử đi bộ về
phía trước, bỗng nhìn thấy một tòa thành, trên cổng thành có treo một tấm biển
lớn, bên trên đề rõ bảy chữ: “U minh địa phủ Quỷ môn quan.”

Bởi vì là cổng thành nên sau khi vào đó sẽ thấy người đi bộ
trên đường, đi tiếp là đến trung tâm chính trị Lâm La Bảo Điện của thế giới âm
phủ. Nhưng đến hồi thứ mười một, khi Lưu Kim chui vào quả dưa lạ bỗng nhiên được
đến thẳng Quỷ môn quan.

Quỷ sứ gác cổng hỏi: “Ngươi là ai? Sao dám đến nơi đây?”
Lưu Kim đáp: “Tôi phụng sự hoàng đế Đại Đường - Đường Thái Tông mang dâng tặng
loại dưa quý bao đời Diêm Vương rất thích dùng.” Quỷ sứ vui vẻ tiếp nhận. Lưu
Kim đi đến Lâm La Bảo Điện, gặp được Diêm Vương.

Như vậy ta thấy, Quỷ môn quan được miêu tả cũng chỉ giống
như cổng lớn của cung phủ mà thôi. Có thể thấy tác giả của Tây du ký đối
với những tiểu tiết này quả thực không dụng tâm sáng tạo cho lắm cho nên chỉ mượn
hình ảnh Quỷ môn quan để thể hiện ý đồ đã đi vào thế giới âm phủ mà thôi.

Từ Khánh Tân - gia nhân của Khang Hy biên soạn cuốn Tín
chính lục
, trong đó có lấy một bài Hồi dương ký của Hải Xương Trần
Thục Văn, nói về việc sau khi vào thế giới âm phủ, trước tiên phải uống canh của
Thi bà bà, sau đó mới được vào Quỷ môn quan. Nhưng cửa ải này lại giống như Nhạn
môn quan của “Tứ Lang thăm mẹ”, không thể tùy tiện ra vào. Cửa lúc nào cũng
đóng kín, có hơn mười con ma mặt xanh, nanh vàng, lông lá đầy mình, chân đi đất,
tay cầm giáo đứng canh, phải có giấy thông hành mới được mở cửa cho vào. Nếu
không có giấy thông hành thì “người có Đạo pháp thì gọi Thái Thượng Lão Quân, kẻ
có Phật pháp thì gọi Tam Thế Như Lai, người hành thiện thì gọi Quan Âm cứu khổ”,
chỉ cần là môn đồ của “hội đạo môn”[123] thì có thể tùy ý ra vào.

[123] Nghĩa là: tụ hội
của các đạo.

Nếu như theo ý thức của người bây giờ, “hảo tử bất như lại
hoạt trước” (thà dựa vào mà sống, còn hơn là chết đẹp), Quỷ môn quan không vào
thì thôi. Thực tế không phải như vậy, bởi trước khi linh hồn đến Quỷ môn quan
thì thể xác cũng sắp hỏng rồi, đường quay về cũng đã bị ngắt đoạn, muốn trở về
không phải là điều đơn giản, vì thế, ngoài việc nhập hộ khẩu vào thế giới u
minh thì chẳng con đường nào khác có thể đi.

Ngoài ra, trong Tử bất ngữ của Viên Mai, cuốn hai
mươi Quỷ môn quan cũng đưa ra những kiến giải tương tự như thế này,
nhưng nói rõ hơn một chút, Chu Tú Tài của Thái Thương vì lâm trọng bệnh, không
thể cứu chữa đã chấp nhận để Nhị Thanh Y dẫn vào thế giới âm phủ:

Đi hơn mười dặm, đến một cửa thành, song môn cao to sừng
sững, đóng kín, phía trên cổng thành viết ba chữ “Quỷ môn quan”. Nhị Thanh Y gõ
cửa mà không có người trả lời, lại gõ tiếp, bên cạnh đột nhiên xuất hiện một
con ma, diện mạo rất hung ác, có vẻ như muốn gây gổ với Nhị Thanh Y. Nhìn từ xa
thấy có hai chiếc đèn màu đỏ, trong chiếc kiệu có một vị trưởng quan, ông ta được
truyền đến. Khi nhìn gần, trông giống như Hoàng Thần của Thái Thương Châu
Thành, thần hỏi: “Ngươi tên họ là gì?” Ông ta đáp: “Ta là học trò của Khoáng
Thương Châu.” Thần lại nói: “Ngươi đến quá sớm, nơi đây không được ở lại lâu.”
Sau đó ông ta được chỉ dẫn con đường trở về.

Thì ra Chu Tú Tài chưa phải chết, còn Nhị Thanh Y có thể là
tà ma gì đó, vì thế mà ma giữ cổng đã không cho vào bên trong. Và trưởng quan
cũng lắc đầu từ chối. Họ làm thế hoàn toàn không sai. Nhưng nếu như không gặp
Thành Hoàng của Thái Thương, hồn sống của Chu Tú Tài chỉ có thể đợi ở trước cửa
mà không có đường về, thậm chí tình hình có thể còn tồi tệ hơn nữa. Đương
nhiên, hồn ma nhập Quỷ môn quan cần phải có giấy thông hành, xuất quan càng
không thể hồ đồ được. Trong Tín chính lục của Từ Khánh Tân, phần Thẩm
Lục Phi phục sinh
có viết, sau khi Thẩm Lục Phi xuống âm phủ mới phát hiện
là bị bắt nhầm, được quan ở âm phủ thả về. Ở đây chỉ nói là quan, tuy không nói
rõ là “Quỷ môn quan”, nhưng đối với việc phân biệt âm - dương thì có lẽ không
có vấn đề gì.

Có sứ lĩnh ra, đến quan thứ nhất, hỏi: “Có văn thư
không?” Ông ta đáp: “Không có!” Quan giữ cổng nói: “Đã phải đến âm phủ rồi, nếu
không có văn thư thì thể xác sẽ bị hỏng. Ta cho người mang văn thư đến, ngươi lập
tức phải điền vào.” Ông ta liền đặt bút chạm mực thành chữ kim.

Nhân đây xin nói thêm một chút về Quỷ môn quan của Phong Đô
Quỷ Thành tại Tứ Xuyên (nay thuộc thành phố Trùng Khánh). Giáo sư Vệ Huệ Lâm có bài “Điều tra về tập tục tôn giáo ở Phong Đô”,
trong bài viết có nói: “Trên núi ở huyện Phong Đô có một Điện thái tử Diêm La,
cổng sau của điện gọi là Quỷ môn quan. Từ Quỷ môn quan đi xuống theo hướng tây
nam là Vọng hương đài.” Quỷ môn quan này vốn dĩ là cảnh quan nhân tạo, không biết
chính xác được xây dựng từ khi nào, nhưng trong Tử bất ngữ của Viên Mai,
cuốn thứ năm Tẩy tử hà xa có đoạn ghi lại việc này, đồng thời cho rằng
Quỷ môn quan là có thật:

Huyện Phong Đô, Tứ Xuyên, sai dịch Đinh Khải đưa văn thư
về Quỳ Châu. Qua Quỷ môn quan, phía trước có tấm bia đá, trên thư viết ba chữ
“Âm dương giới”[124]. Ông ta đi
xuống phía dưới tấm bia, say sưa thăm thú hồi lâu mà không hề hay biết mình đã
đi ra thế giới bên ngoài.

“Thế giới bên ngoài”, chỉ một bước chân mà đã đến được thế
giới âm phủ, thế là gặp lại thê tử sau nhiều năm xa cách.

Ngoài ra, trong dân gian có “Âm Dương hà”[125], thương khách
Trương Mậu Thâm muốn đi đến huyện Phong Đô để tìm hiểu về phong tục của địa
phương, tiểu nhị nói với ông ta: “Đi ra cửa quán, theo hướng nam sẽ gặp một con
đường lớn, rồi gặp một đền thờ bằng đá, đó chính là “âm dương giới”. Ở bên này
giới thì cảnh làm ăn buôn bán rất náo nhiệt, đông vui, nhất thiết không được đi
qua phía bên kia của âm dương giới, nơi đó là đất của ma.” Ở đây nói đến đền thờ
“âm dương giới”, chính là Quỷ môn quan mà Viên Mai đã nói.

[124] Nghĩa là: thế giới
âm và dương.

[125] Nghĩa là: sông
Âm Dương.

Nghe nói hiện nay “Quỷ môn quan” ở Phong Đô vẫn còn, nhưng
tôi chưa đến đó bao giờ, theo dự đoán chắc hẳn sẽ không thật được như Sơn Hải
Quan hoặc Nương Tử Quan, và cũng sẽ không giả như “không thành kế” trong kịch
nói. Mà vào Quỷ môn quan vẫn còn các điểm như “Đường đến hoàng tuyền”, “Vọng
hương đài”... chỉ cần không thu vé vào thì có thể yên tâm mà đi qua.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.