06. Sơn bát cảnh - Phần 02

Cầu sông Nại

Thực chất âm phủ là nhân bản của chốn nhân gian, vì thế cảnh
núi, sông, cây, cối ở dương gian khi xuất hiện dưới âm phủ cũng là rất hợp lý.
Duy chỉ có sông Nại lại không giống như các con sông khác, nó là một dòng sông
bẩn, có máu. Nghiêm khắc mà nói, “sông Nại” là chỉ “địa ngục” (hay Naraka)
trong kinh Phật - một sự biến hóa của âm từ, do vậy “sông Nại” chính là địa ngục!
Nhưng địa ngục trong tiếng Trung Quốc dịch ra một cách văn nhã lại biến thành
“sông Nại”, vậy thì cũng có thể để nó trở thành “hà lưu” rồi.

Ở đây, trước tiên chúng ta xem xét sự biến đổi của sông Nại
từ thời Đường trở đi, cùng với sự xuất hiện của “hà lưu” nơi dương thế, lâu
ngày sông Nại từ con rạch nhỏ biến thành dòng sông lớn. Trong Tuyên thất chí
của Trương Độc thời nhà Đường cho rằng đó là một con sông rộng đến mức “không đếm
được bao nhiêu thước”.

Tổng quan xuất phát từ Dương Thành đi về phía tây. Họ đi
qua nơi có rất nhiều cỏ cây mọc dày san sát, trải rộng đến khôn cùng, nước có
hai màu đỏ và xanh ngọc bích, giống như một tấm thảm lớn. Đi hơn mười dặm thì
thấy một nguồn nước rộng không đếm được bao nhiêu thước, chảy về hướng tây nam.
Quan hỏi Linh Tập, Tập đáp: “Dân gian gọi đây là sông Nại, có nguồn gốc từ địa
phủ.” Quan liền nhìn xuống nước, thấy có cả máu đỏ, vô cùng kinh hãi không dám
lại gần. Lại nhìn thấy trên bờ có người đem đến vài trăm bộ quần áo, Tập nói:
“Đây là quần áo của người đã mất, họ sẽ đi vào âm phủ từ đây.”

Sông suối kiểu như thế này không cần phải có cầu, vong hồn đến
đây phải cởi bỏ quần áo, để lại tất cả ở trên bờ, sau đó lội chân trần qua
sông, thế là đã chính thức bước vào âm phủ rồi. Con sông Nại này là ranh giới -
giống như giới âm phủ thứ hai, gọi là “âm dương giới”. Trong Đại Mục Càn
Liên u gian cứu mẫu biến văn
[126] cũng miêu tả với nội dung tương tự:

[126] Nghĩa là: sự biến
đổi trong bài Mục Càn Liên đến âm phủ cứu mẹ mình.

Mục Liên nghe thấy thế, liền từ biệt đại vương ra đi, đi
được vài bước đã đến gần sông Nại, gặp vô số người cởi áo mắc lên cành cây,
nhưng lại không thể đi qua được, cứ đi đi lại lại, sau đó ôm đầu khóc thảm thiết.

Con sông Nại này chảy từ đông sang tây, nước chảy siết,
không còn là con suối nhỏ trong Tuyên thất chí miêu tả trước đó. Hai bên
bờ sông đều có cây cối, vong hồn mắc quần áo lên trên đó, sau đó phải lội qua
sông, trước khi vượt qua dòng nước cần điểm danh, “ngưu đầu đem theo gậy xích đến
bên bờ sông, giở sổ gọi tên, ai không muốn qua sông cũng không được”.

Trong Tục mặc khách huy tê của Bành Thừa, thời Bắc Tống,
cuốn thứ năm, Hiến hương tạp kịch cũng nhắc đến sông Nại, theo sự hiểu
biết của con người, dòng nước đó chắc hẳn rất sâu.

Tăng nói: “Đi đến địa ngục, gặp điện Diêm Vương, bên cạnh
có một người áo đỏ đang ngồi câu cá, nhìn kỹ thì đoán rằng đó là người giám sát
dòng nước, tay giơ lên một vật, nhìn trái nhìn phải rồi nói: “Nước sông cạn thế
này thì hiến kế gì được, chắc chỉ còn cách khơi thông dòng nước mà thôi.” Để
mong nhận ân thưởng từ triều đình, Thúc Hiến đã bóc lột sức dân bằng mọi cách
nhằm cải thiện công tác thủy lợi. Từ đó, bách dân trăm họ rơi vào cảnh khốn
cùng, đâu đâu cũng thấy vang lên tiếng khóc than thảm thiết.

Trong tác phẩm Tam bảo thái giám tây dương kýở phần Kế
Kim Bình Mai
hồi thứ tám mươi bảy, có dẫn ra một câu chuyện, Đinh Thư nói,
tuy trên sông có ba chiếc cầu nhưng vong hồn có tội thì không thể qua được, chỉ
có thể lội qua dòng sông Nại này để đi vào thế giới âm phủ.

Con sông Nại này là từ phương Bắc u minh đại hải chảy ra
một dòng nước vô cùng kinh tởm, chạy vòng quanh phủ Đông Nhạc, phàm là người
thường thì đều phải qua nơi này. Nước đen mênh mông, chảy cuồn cuộn, mùi thì
tanh hôi, hoặc là lạnh như băng tuyết, hoặc là nóng như lửa thiêu, tùy thuộc
vào nghiệp chướng của từng người, sẽ có độ nông sâu khác nhau, cũng có người bị
nước ngập đến đầu, có người thì đến eo, đến mu bàn chân, nơi đó có rắn độc, yêu
quái thò đầu, há to miệng, tùy nó thích gặm thịt hay thích hút máu, nơi đó đã
đi thì đừng nghĩ chuyện quay lại.

Thì ra con sông Nại đối với những linh hồn có tội là một
hình phạt ghê gớm. Về việc nước nông, sâu, nóng, lạnh còn phụ thuộc vào nghiệp
tội các hồn ma mắc phải mà tự động biến hóa. Có thể thấy, từ thời nhà Đường đến
thời nhà Thanh, cổ nhân đã tưởng tượng ra nhiều câu chuyện có ý nghĩa to lớn
trong việc điều chỉnh nhân cách và hành vi của con người.

Thời nhà Thanh có biên soạn cuốn Ngọc lịch bảo sao,
trong đó cũng nhắc tới một dòng sông, nhưng nó không đưa đến âm phủ mà lại là
nơi giam phạt những người phạm tội đã chịu qua mười điện, uống canh của Mạnh bà
bà trước khi vào lục đạo luân hồi, cũng có nghĩa là cách âm phủ không xa trước
khi được luân hồi chuyển thế. Mặc dù vậy, ý nghĩa của đoạn văn rất khó hiểu,
người đọc khó có thể hiểu hết dụng ý của tác giả giống như cũng được uống một
thứ canh mê hồn vậy.

Các linh hồn buộc phải uống thứ canh mê hồn do một người
đầy tớ bê ra. Ở phía dưới có dòng nước chảy siết, màu đỏ máu, thịt người mắc cạn
đầy khe suối. Nhìn theo hướng cây cầu, trên bờ bên kia có bốn hàng chữ lớn màu
đỏ, viết: “Vi nhân dung dịch tác nhân nan, tái cần vi nhân khổng canh nan, dụ
sinh phúc địa vô nan xứ, khẩu và tâm đồng tịnh bất nan.”[127] Khi các linh hồn đang chăm chú đọc, bất chợt ở bờ bên kia nhảy
ra hai con ma lớn, tách nhau ra nhảy bổ xuống mặt nước, hai bên đứng không vững,
rơi xuống dòng nước đỏ đang chảy xiết, tùy theo sự nông, sâu, yếu, mạnh mà may
mắn giữ được thân người lành lặn... Các linh hồn như tỉnh như mê, chia nhau vào
các phòng xá, âm dương biến đổi, không khí ảm đạm, mơ màng, điên đảo, không thể
tự do đặt chân lên Tử Hà Xa mà chạy thoát khỏi thai nương...

[127] Nghĩa là: Thành
người thì dễ mà làm người thì khó, muốn làm người mà để người khác phải nể sợ e
rằng càng khó hơn, nơi đất có phúc thì không có hạn, nếu biết đồng tâm đồng chí
thì không việc gì là khó khăn.

Các đoạn khác trong Ngọc lịch bảo sao không còn thấy
nhắc đến sông Nại, không biết con sông này có phải là nói sông Nại hay không,
hoặc cũng có thể là khúc sông Nại chảy vòng qua ngọn núi âm nào đó.

Điều đặc biệt hơn, trong Liêu trai, sông Nại lại biến
thành cống nước thải trong thành, tất cả rác rưởi của cửu u thập bát ngục đều
quy tụ về nơi đây. Trong cuốn Vương thập cũng nhắc đến điều này: “Nước
sông vô cùng hỗn độn, mùi thối không thể ngửi”, trầm tích còn lại chỉ là “thịt
nát xương tan”, mà trong Tửu cuồng lại cho thêm vào đó một vài tình tiết
nhỏ khác: “Trong dòng nước có một vật rất sắc, đâm thẳng vào bắp chân, cử động
rất khó, đau đớn vô cùng, nước đen bẩn, hôi thối, tự nhiên chảy vào trong cổ họng,
thật khó có thể chịu đựng được.” Đây chỉ là tùy ý chỉ ra vài điểm mà thôi, tất
cả có trong tiểu thuyết của Bồ Ông. Chỉ vài tiểu tiết ấy cũng đủ cho ta thấy,
thành thị từ thời xa xưa cũng đã có cảnh ô nhiễm như thế này, còn khoảng cách của
nó đến sông Nại xa gần ra sao có lẽ cũng không cần thiết phải kiểm tra độ chính
xác.

Tiếp đến, chúng ta cùng tìm hiểu về cầu sông Nại, tức cây cầu
bắc qua sông Nại. Trong Dậu dương tạp trở của Đoàn Thành Thức người đời
Đường, đầu cuốn thứ hai Minh kinh Triệu Nghiệp có viết về Triệu Nghiệp bị
bệnh nặng phải đến âm phủ.

Lúc đầu tinh thần du tản, không tập trung, đi đứng như
trong mộng, có Chu Y Bình Trách dẫn đường đến phía đông. Ra khỏi núi, đến nơi bị
cắt đoạn, thấy có rất nhiều người. Đứng đó quan sát hồi lâu, lại tiếp tục đi đến
phía đông, thấy có một cây cầu được sơn son thiếp vàng. Bước qua cây cầu là vào
trong thành, đến được Tào Tư, người dân sinh sống ở đây rất đông.

Con sông này chính là sông Nại và dùng vàng bạc để trang trí
thành cây cầu bắc ngang. Cây cầu đó tuy không có tên gọi cụ thể nhưng người xưa
vẫn gọi nó là cầu sông Nại. Về sau, trong bút ký của người đời Tống, còn được gọi
là “cầu U Tư”[128]. Chỉ đến cuốn thứ ba Đàn nguyên đường tể trong tập Di
kiên chí bổ
mới nói rõ hơn về “cầu sông Nại”. Đồ tể Đường Phúc chỉ vì giết
chết một con nhện mà bị dẫn đến sông Nại chịu tội, Đường Phúc cầu xin: “Tôi tự
ngẫm cả đời không giẫm đạp lên côn trùng, chỉ nhớ là đã giết mười ba con trâu,
hai mươi con lợn, nếu như được thả ra, xin thề sẽ cải tạo” và:

[128] Theo Hồng Mại,
cuốn thứ tư, Thái dương bộ Vương thị
phụ, trong Di kiên chi mậu.

Viên lại nói: “Đây không thuộc thẩm quyền quyết định
của ta, đi đến đầu cầu sông Nại, đích thân nhà ngươi hãy nói với Phán quan về ý
nguyện của mình.” Và cả hai cùng đi tới đó. Khi đến bên bờ sông, ngước nhìn lên
cây cầu cao bắc ngang qua sông, một vị quan áo mũ chỉnh tề đang đứng chờ ở đó,
trên tay còn cầm một cuốn sổ. Viên lại ghé vào tai người kia nói: “Đó chính là
Phán quan!” Hai con chó dữ sủa vang khắp một vùng, hung dữ lao ra ngăn cản
không cho ai qua. Thấy vậy, người đồ tể cung kính vái chào. Vị quan áo đỏ đọc
trong cuốn sổ cầm trên tay, nói: “Có lẽ đã có sự nhầm lẫn ở đây, kẻ giết Hi Tử
là Bành Phú, không liên can đến ngươi, tức là tuổi thọ của ngươi vẫn chưa hết,
ngươi có thể quay về dương thế!”

Những tài liệu này không những xuất hiện trong các tác phẩm
văn học, mà còn là những tài liệu đầu tiên lý giải rõ ràng sông Nại chính là
cánh cổng dẫn vào thế giới âm phủ. Chỉ những hồn ma và những người đáng chết mới
phải vào bên trong còn những người không đáng chết ngay lập tức phải quay về dương
thế, ngay cả khi muốn nhìn mặt Diêm Vương cũng không được (đây có thể là để khống
chế những người dân xảo trá ở dương giới đến, giống như kiểu Tịch Phương Bình đến
kiện âm phủ), bởi ở đó luôn có hai con ác cẩu sẵn sàng chặn lại, điều này trước
và sau sẽ không nhắc lại nữa. Nhưng hai con ác cẩu này không phải là không có
lai lịch, nó có nguồn gốc từ trong truyền thuyết cổ của Ấn Độ, nói về hai con
khuyển bốn mắt Saladida của thần cai quản địa phủ Diêm Ma.

Trong Di kiên bính chí, cuốn mười, Hoàng pháp sư tiếu[129] nói âm gian có một “con sông
có màu xám”, giống như đời Đường có người nói về sông Nại, có thể có sự hiểu nhầm
đó là sông Nại. “奈” (nại) “灰” (khôi), hai chữ gần giống nhau về nét
(địa ngục trong kinh Phật có “khôi hà ngục”[130], có thể do đó mà hiểu nhầm, điều
này cũng không thể khẳng định chắc chắn được). Trong tác phẩm ấy có nhắc đến cầu
trên sông Nại, nhưng chỉ là để cho những người vô tội đi qua sông, ở đó hoàn
toàn không có Minh sứ hay chó dữ đứng trông, còn về người bị trọng tội, thì vẫn
giống như trước đây có ghi lại, phải cởi áo lội qua sông, mà trên bờ có nhiều
cây cối thì phải cởi áo ra và mắc lên đó. Nhưng có cái không giống như trước
đây, đó là những chiếc áo này khi mắc lên đều phải viết rõ tên của mỗi người,
sau đó đặt lên xe, chuyển qua cầu, khi qua được sông thì người đó lại mặc vào.
Trên người không một mảnh vải đến gặp Diêm Vương thì cũng thật mất mặt, có thể
thấy quan dưới âm phủ cũng đang dần dần trở nên “nhân tính hóa”.[131]

[129] Nghĩa là: lễ tế
rượu của Hoàng pháp sư.

[130] Nghĩa là: ngục ở
sông Khôi.

[131] Cây này trong Tuyên thất chí là móc dùng để cho
vong hồn treo quần áo, nhưng trong Thanh
tỏa cao nghĩa Lưu Phủ thời Bắc Tống, tự nhiên cho nó biến thành một cây
cao trăm thước, thân gỗ khô rộng tới sáu mươi vòng. Cây to như thế này không thể
mắc quần áo, chỉ có thể làm nơi vong hồn ngồi nghỉ dưới gốc cây. Chỉ là cái cây
này cao trăm thước, thân gỗ rộng tới sáu mươi vòng, đây là cây ở đâu, rõ ràng
đó là những tảng đá to lớn có hình dạng giống như cây mà thôi.

Tiểu thuyết và kịch nói của hai đời nhà Minh và nhà Thanh
nhiều lần có nhắc đến cây cầu bắc qua dòng sông Nại, nhưng mỗi người lại nói mỗi
kiểu khác nhau. Rõ nhất là trong Tây du ký, khi Đường Thái Tông vào âm
phủ được đi qua cầu sông Nại. Trên sông để vào âm phủ có ba cây cầu, một là cầu
vàng, hai là cầu bạc, ba là cầu sông Nại. Dưới chốn âm gian cũng có sự phân biệt
đối xử, cầu vàng chỉ để chuẩn bị cho các bậc hoàng đế, vương, tướng, những người
trung hiếu, hiền lương, công minh chính đại cũng chỉ được đi qua cầu bạc, còn lại
những hồn ma vô công, vô đức chỉ có thể đi qua cầu sông Nại mà thôi. Đó là cây
cầu “gió mùa đông thổi liên tục, sóng bằng máu chảy cuồn cuộn và không ngừng vọng
lại những tiếng khóc than.”

Cầu dài vài mét, rộng chỉ bằng ba cái mụn trên đầu mũi,
cao những trăm thước. Bên trên không có lan can để bám, bên dưới có kẻ cướp tác
oai tác quái. Gông quấn quanh người. Ngươi hãy nhìn xem, thần tướng ở cây cầu
đó rất hung ác, ngang tàng, những hồn ma ác nghiệt dưới lòng sông lại vô cùng
khốn đốn, trên nhánh cây có treo những chiếc áo đủ màu xanh, đỏ, vàng, tím...
phía đầu tường quay về bờ, người phụ nữ quỳ phục xuống chính là hạng dâm đãng,
khi còn sống luôn miệng mắng chửi bố mẹ chồng. Rắn đồng, khuyển sắt tranh nhau
xông lên cắn xé, ăn thịt, vĩnh viễn không có đường thoát khỏi dòng sông Nại.

Cuốn Kế Kim Bình Mai của Đinh Xán Khang cũng nói đến
ba cây cầu, nhưng là vàng, bạc, đồng, nói chung đều gọi là cầu sông Nại. Nhưng
không nói đến tư cách của những hồn ma đi qua cầu, bọn họ chỉ có thể bơi qua
sông:

Con sông Nại này bắt nguồn từ phía Bắc chốn u minh đại hải,
chảy ra một dòng nước vô cùng bẩn thỉu, chạy vòng quanh phủ Đông Nhạc, phàm là
người thường thì đều phải qua nơi này. Có ba cây cầu, một là cầu vàng, là đạo
Phật, đạo Thánh, đạo Tiên đi về nơi đây, hai là cầu bạc, là thiện nhân, hiếu tử,
trung thần, nghĩa sĩ, tiết phụ, trinh phu đi đến nơi này, còn lại là một cây cầu
đồng, dành cho những người bình dân tốt bụng, hoặc có quan thanh, hoặc có hương
bình, tích đức không rượu tiền, hoặc luân hồi không có trọng tội, hoặc sinh ra
trong gia đình giàu có, chuyển sinh quan tước, hoặc nữ hóa thành nam, có nhiều
công lao... mới được đi cây cầu này. Tất cả đều có sự phân biệt rõ ràng. Cây cầu
thần xuất hiện thì sẽ không có ma, xứng đáng đi cây cầu nào, đi đến bên bờ sông,
cây cầu đó sẽ xuất hiện, liền sau đó sẽ có đồng tử dẫn đường, không xứng đáng
đi thì cây cầu sẽ không xuất hiện, chỉ có dòng nước đen ngòm mênh mông, chảy cuồn
cuộn như sóng biển...

Nhưng trong Tam bảo thái giám tây dương ký hồi thứ
tám mươi bảy, trên sông Nại lại có duy nhất một cây cầu, chỉ người tốt mới được
đi qua.

Chỉ nhìn thấy đằng trước có một con sông máu, đi ngang
qua, bên trên có duy nhất một cây cầu gỗ, rộng không quá một thước, vừa tròn vừa
trơn. Vương Minh đi đến bên cầu, chỉ nhìn thấy trên cầu cũng có người đi, tràn
phan bảo cái (cờ dài và cái lọng quý, còn gọi là tàn quý), tiền hô hậu ủng. Dưới
cầu cũng có chỗ ngập máu, có những người buộc phải đi qua đó, bên cạnh lại có
nhất đẳng Kim Long Ngân - con bọ cạp, chó sắt, rắn đồng tập trung bên những người
đó, người bị cắn, kẻ bị thương. Vương Minh hỏi Phán Quan: “Tỉ phu, đây gọi là cầu
gì mà sao thấy nguy hiểm vậy? Có người thì đi được, nhưng lại có người không đi
được?” Phán Quan đáp: “Đây gọi là cầu sông Nại, làm ma thì đều phải đi qua đây.
Nếu như khi làm người trần, tâm thuật quang minh, hành động chính đại, trong đời
không có gì là không dám nói với người khác, không có gì là không dám để trời
biết, những người chính nhân quân tử chết xuống âm phủ, Diêm quân đều rất khâm
phục và kính trọng, không dám lãnh đạm, lập tức dặn dò kim đồng ngọc nữ, trường
phan bảo cái, hướng dẫn quân tử đi trước, người ủng hộ theo sau, đi qua cây cầu
này giống như đi dưới đường bằng phẳng vậy. Còn nếu ở trần gian tâm thuật ngu
muội, hành động quỷ quyệt, làm trái luân thường đạo lý, làm ngược với lẽ trời,
những hạng người này thuộc dạng âm tà tiểu nhân, chết xuống âm phủ, Diêm quân sẽ
quát mắng người đi qua cây cầu này, có khi còn bị ngã xuống dòng sông máu, thì
sẽ có Kim Long Ngân - con bò cạp, chó sắt, rắn đồng đến cắn và làm anh ta bị
thương.”

Trong tiểu thuyết Thanh lầu mộng, hồi thứ ba mươi sáu
có nói đến cầu sông Nại cao trăm trượng, rộng chỉ có ba phân, giống như trên
khe núi hẹp có kẹp một dây sắt, vong hồn dù là thiện hay ác đều không dễ dàng
đi qua nơi đây. Mà dưới chân cầu lại là “ao máu bẩn”, ở đó có không biết bao
nhiêu nam nữ bị chết chìm. Đều là cầu sông Nại mà có đến bao nhiêu cách nói
khác nhau, thật sự làm cho người ta không biết phải tin vào đâu.

Nói đến nỗi băn khoăn, đắn đo, chọn lựa, trong Hồi dương
của Trần Thúc Văn có nói: “Vào trong Quỷ môn quan liền nhìn thấy một cây
cầu, nhưng trên cầu lại chia làm ba con đường, trong số đó có một đường tên là
“sông Nại”. Dòng sông dưới cầu rộng khoảng hơn mười dặm, dòng sông ấy không được
gọi với cái tên “sông Nại”, mà lại định danh là “khổ hải”[132]. Rõ ràng kể chuyện
về ma luôn phải biết cách sáng tạo những điều mới lạ, có như vậy mới thu hút được
sự chú ý của người nghe. Nhưng nói về sáng tạo, mỗi người đều tùy theo cảm hứng
của mình mà viết thành chuyện, kết quả thường giống như kéo của Vương Mã Tử,
làm cho người đọc không biết phải theo ai, chỉ cảm thấy tất cả những chiêu trò
đó là lừa người mà thôi.

[132] Nghĩa là: biển
khổ.

Ma ở thành Phong Đô canh giữ Trường Giang hầu như chưa bao
giờ nghe nói về cảnh ở sông Nại. Sông Nại ở nhân gian phải đi đến chân ngọn núi
Thái Sơn để tìm kiếm, bởi vì thực tế thì muộn nhất là đến đời Nguyên - Minh,
con người đã quy ước sông Nại trở thành ký hiệu của âm phủ, còn tính vị trí, cảnh
quan dịch chuyển xuống chân núi rồi. Trong Tân biên liên tương sưu thần quảng
ký - Hậu kỳ
có đoạn viết:

Lý Cư vốn là người tài ba vùng Vệ Châu. Ông là tướng quân
triều Chu Thế Tông, có tài cưỡi ngựa, bắn cung, lập nhiều công lớn cho

đất nước. Sau này ông mắc trọng bệnh, nhiều người đến hỏi
ông về bệnh tình, nhưng ông không nói, chỉ nói với đám đông rằng: “Ta đã truyền
lại cho tướng quân Nại Hà.” Nói xong, ông ngừng thở. Hậu nhân lập đền thờ ông tại
đây. Đến năm Khai Nguyên triều vua Đường Huyền Tông, phong ông là Linh phái tướng
quân, năm Đại Trung Tường Phù triều vua Tống Chân Tông phong ông là Linh Hầu.

Cách nói “Nại Hà tướng quân” là đời thứ năm cũng được, Tống
Chân Tông phong hầu cũng không có gì cần bàn cãi, tất cả những cái đó chỉ là do
hậu thế truyền miệng, nên tin tưởng hay không cũng cần xem xét kỹ lưỡng. Có thể
tin tưởng tuyệt đối có lẽ chỉ có người viết và biên tập Sưu thần quảng ký
là Tần Tự Phổ, người đời Nguyên mà thôi. Mà điều tra rõ hơn trong cuốn chín, Đại
sử
của Chí Long, thực sự là có tìm thấy vị trí của sông Nại:

“Miếu của Linh Phái Hầu nằm tại Châu Thành, phía đông con
sông Nại. Tên thần gọi tên cũ là Nại Hà tướng quân, đời sau thông Tuyền Hầu.”

Sơn Đông khảo cổ lục của Cố Viêm Vũ cũng nhắc đến “Biện
Nại hà”:

Nhạc từ tây nam, có nước chảy từ trong cốc ra, thành
kênh rạch phía tây, từ đại dụ khẩu đến phía tây Châu Thành gọi là sông Nại, bên
trái núi Cao Lý, có cầu bắc qua, gọi là “cầu sông Nại”, truyền thuyết truyền từ
đời này sang đời khác nói về hồn ma người chết không được phép đi qua cầu thì gọi
là “Nại hà”(phải làm sao). Việc này cũng giống như Hán Cao Đế nói “bá nhân giả,
bách vu nhân dã” vậy.

Núi Cao Lý cũng chính là Cao Lý Sơn, hiện tại núi Cao Lý nằm
trong khu vực Thái An, giờ đã trở thành công viên, từ bến tàu đi bộ theo hướng
đông nam chỉ vài phút là tới nơi. Bởi vì miếu Phong Đô đại đế ở đó đã bị thiêu
hủy từ lâu, không còn người đến đó để thăm quan, chiêm ngưỡng. Quả thực đến nay
tôi cũng chưa thực sự nhìn thấy cái gọi là ngọn núi phía bên trái sông Nại. Mà
Thái Sơn khai hợp vạn tượng, thư thái nghìn phương, ở đó cũng không cần thiết
phải dùng đến những thứ của ma giới để mời chào, có lẽ sông Nại và kênh Phong
Đô, Vọng Hương Sầm dần dần rồi sẽ bị du khách lãng quên thôi.

Nói về cầu ở sông Nại, trong cuốn Thiết địch hưởng tỏa ký,
Lâm Thư - tác giả thời cận đại có viết:

Người Mãn (Phúc Kiến) cho rằng, muốn người chết được hưởng
phúc dưới âm phủ thì phải mời đạo sĩ đến làm lễ tưới rượu cầu phúc. Đến ngày thứ
bảy người ta lấy các tấm gỗ chống lên thành cây cầu, dưới cầu có đốt đèn hoa
sen, bên trên gắn rất nhiều lọng mành, người ta gọi đó là cầu sông Nại. Người
ta làm một hình nộm giấy tượng trưng cho xác người chết, sau đó đặt hình nộm đó
vào trong một chiếc xe giấy, con cháu dắt chiếc xe ấy qua cầu, rồi đem hóa bên
ngoài cổng. Sau đó, hỏi đạo sĩ làm như vậy người chết sẽ được đi tới đâu, đạo
sĩ đáp: “Cái đó thì ta chịu.”

Báo cáo nội dung xấu