Một mình ở châu Âu - Chương 09

Buổi cầu kinh
trong nhà tu Thánh Gervais thuộc cộng đoàn Jerusalem, đối diện khách sạn tôi ở

Paris có quá nhiều màu sắc,
quá nhiều mảng miếng, nhiều góc khuất, nhiều tiếng nói khác nhau. Paris là một biển ấn
tượng không ngừng thay đổi. Paris
bắt người ta phải chăm chú ngắm nhìn. Và càng nhìn càng bị mê hoặc. Giờ thì tôi
hiểu tại sao Paris
là thành phố của nghệ thuật; nhất là vì sao hội họa Ấn tượng đã ra đời và phát
triển ở nơi đây. Cả thành phố như một palette màu vô biên cho người nghệ sĩ.

Những ngày
này, ở Paris,
tôi thực sự không thể quan tâm được tới nơi nào khác. Tôi đã hầu như cắt đứt
giao tiếp với thế giới bên ngoài, với thế giới cũ. Vào các buổi sáng trước khi
ra ngoài, hoặc vào đêm, trước khi đi ngủ, tôi vẫn xuống nhà, bỏ 2 euro vào cái
máy tính của khách sạn để kiểm tra email trong mười phút. Thỉnh thoảng có email
của Sơn; “ở nhà vẫn bình thường” – anh viết. Có cả một đống thư từ Nhà xuất bản
– họ đang làm bìa và biên tập nội dung lần cuối cho tập truyện ngắn sắp xuất
bản của tôi. Nhưng tôi thậm chí cũng không quan tâm được tới cuốn sách của
chính mình. Cuộc sống cũ có vẻ như ở rất xa, thâm chí không có thật.

Mai là Chủ
nhật. Tôi không có kế hoạch gì cả. Tôi dành cho mình niềm vui kiên nhẫn chờ xem
sáng mai, khi tỉnh dậy, Paris
gợi ý với tôi điều gì.

Paris, ngày Chủ nhật…

10:42 sáng:
Đứng viết trên cầu Royal Port – cầu bắc qua sông Seine
từ vườn Tuileries sang bảo tàng Orsay. Tôi vẫn không thể nào get enough of the Seine [45]. Mỗi lần qua sông, tôi lại đứng lại nhìn và
lại choáng voáng. Vào lúc này, từ chỗ tôi đứng, bên trái là bảo tàng Orsay, bên
phải là vườn Tuileries, phía trước mặt là vòm kính màu xanh lá mạ nhạt của Gare
du Nord đang ánh lên trong ánh nắng (hay là Gare Saint-Lazare? Không chắc lắm).
Tôi quay người và thấy hai ngọn tháp kiêu hãnh của Nhà thờ Đức Bà, vòm tròn của
Pantheon, những cây cầu bắc ngang sông Seine, những ngôi nhà dọc sông, hàng
dương liễu dưới sông và dĩ nhiên là màu nước sông Seine. Vẫn là cảnh đã nhìn
nhiều lần, vậy mà lần nào cũng mới và vẫn không đủ.

[45] Cảm
thấy đã nhìn đủ sông Seine.

Mưa rơi cả đêm
qua nhưng đến sáng nay thì ngừng và bây giờ mặt trời đang sắp sửa ló ra. Trời
nhiều mây, nhưng xuyên qua những đám mây thấp là một vài khoảng xanh nhạt. Ở
đường chân trời, phía Gare du Nord, nắng chiếu chéo lên các nóc nhà, thắp sáng
cả khoảng thành phố bên đó. Dưới sông, các thuyền du lịch chạy đều đặn; khách
đứng đầy ở ngoài boong, nhìn lên vẫy vẫy tay, tôi cũng vẫy tay đáp lại. Tuy
thế, trừ những con thuyền dưới sông, thành phố vắng vẻ lạ thường, Paris còn chưa dậy. Từ
sáng tới giờ, những người Paris duy nhất mà tôi
nhìn thấy là những người chạy bộ trong vườn Tuileries và dưới con đường bê tông
dọc sông Seine (họ gần như mặc đồng phục
Abercrombie và Fitch). Không có những dòng xe ô tô. Không có khách du lịch nườm
nượp trên phố. Các quầy bán sách dọc sông không mở. Đây là một Paris khác – yên tĩnh, hơi ảm đạm, hơi ngái
ngủ… - nhưng vì thế mà càng quyến rũ.

Người ta bảo
“ngày nào ở Paris
cũng là Chủ nhật”. Tôi không đồng ý. Tôi nghĩ phải sửa lại: “Ngày nào ở Paris cũng là thử Bảy; còn ngày Chủ nhật ở Paris là ngày Chủ nhật ở Paris”. Bần thần, ít nhất là vào những giờ
sớm của buổi sáng, thành phố rửa sạch son phấn trang điểm và lộ khuôn mặt mộc
của nó. Một vẻ hoài niệm cổ điển bao trùm, khiến cho người ta đột nhiên cũng
trở nên trầm mặc và muốn xích lại gần nhau. Trên metro không người buổi sớm,
tôi ngồi đối diện một chàng trai có vẻ là sinh viên Sorbonne. Anh ta liếc tôi,
khi tôi nhận ra và liếc lại thì anh ta lại quay đi. Buồn cười. Thật dễ dàng để
bắt đầu một romance ở Paris.
Thành phố này giống như một bãi mìn, à không, nói thế thì dễ nghĩ đến phân chó
khắp nơi; thành phố này giống như là một bãi cỏ khô được đánh tơi, chỉ cần một
cái liếc mắt cũng có thể bốc thành một ngọn lửa. Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào.

3:02 chiều:
Viết từ Café A Bonaparte, 42 Rue Bonaparte, 75006, Paris.

Đã gọi một thứ
đồ uống có tên café crème, chocolate maison và một món có tên Mixte Ourf et
Omelettes. Họ vừa mang ra một cái chén sứ trắng đựng chocolate dạng xi rô và
một cái bình sứ đựng cái gì đó có bọt trắng ở trên, bốc hơi nữa. Tôi đoán là sữa
nhưng không chắc. Cách phục vụ đồ ăn ở Paris
khác với ở Mỹ nên nhiều khi cũng không biết chắc là mình gọi được món gì.

Quán café này
nằm trong quảng trường Thánh Germain des Pres, góc cắt giữa Rue de Rennes và
Rue Bonarparte. Tôi ngồi ở một cái bàn phía bên ngoài vỉa hè. Từ chỗ này, nhìn
thẳng ra nhà thờ Thánh Germain (thực ra không biết tên chính xác, tôi gọi tạm
như vậy) và cách hai mươi mét phía trước mặt là quán café Les Deux Magots, chỗ
mà Hemingway, Fitzgerald và nhiều người viết thuộc Thê Hệ Mất Mát thường ngồi
vào thập kỷ 20 của thế kỷ trước. Bên cạnh café Magots là Café de Flore, nơi
Jean Paul Satre viết The Road To Freedom (Đường tới tự do) và Simon de Beauvoir
[46] hay ngồi chờ Satre. Ngay trên vỉa hè phía bên ngoài hai quán cà phê này có
một cái cột sắt nhỏ, trên có tấm biển viết đại khái như vậy.

[46] Nhà
triết học, nhà văn nữ quyền và hiện sinh của Pháp, đồng nghiệp và người tình
của Satre.

Tấm biển bên
ngoài hai quán Café Deux Magots và Café de Flore

Tôi đã định
vào bên trong café Deux Magots nhưng quán quá đông nên tôi đi sang bên café
Bonaparte. Tôi sẽ ngồi đây, have fun [47] vào một buổi chiều Chủ nhật lười
biếng bằng cách viết phác vài thứ thế này.

[47] Vui
chơi

3:24 chiều:
Vừa ăn xong món omelette.

Người ta bảo
quảng trường Thánh Germain des Pres là một trong những nơi tuyệt vời nhất ở Paris để ngắm người qua
lại. Chắc ngày thường thì chỗ này đông lắm. Nhưng hôm nay là Chủ nhật, đường
phố vắng vẻ hơn nhiều. Trời lại có vẻ sắp mưa nữa. Tuy thế, quanh chỗ tôi ngồi,
không ai có vẻ lo lắng đến chuyện trời nắng hay mưa. Họ cứ đủng đỉnh ngồi ăn
bữa trưa muộn (giờ là 3:33 chiều rồi), uống cà phê, hút thuốc, đọc báo và dĩ
nhiên cứ hôi hổi tuôn ra những tràng tiếng Pháp du dương. Bên phải tôi, một người
phụ nữ châu Á đứng tuổi (có lẽ là người Philippines) đang uống espresso trong
một cái tách trắng bé xíu; bà ta mặc cocktail dress màu đen, đánh phấn rất đậm,
mang kính to che gần nửa khuôn mặt và đeo một cái vòng bạc lớn ở cổ tay. Bà ta
có cái vẻ của một thương nhân thành đạt mà bạn thấy bước vào các cửa hàng với
vẻ mặt lạnh lùng và các cô phục vụ phải xô ra đón tiếp. Bà ta ngồi một mình –
thực tế là tôi và bà ta là hai người duy nhất ngồi một mình.

Bên tay trái
tôi là một người đàn ông Pháp ngồi với một người phụ nữ - cả hai uống bia Corona. Trông họ như là
người tình đã nhiều năm rồi, biểu hiện vừa có cái yêu chiều lại vừa thân mật,
tin tưởng, tức là vừa là người yêu vừa là bạn đường. Trước mặt tôi là hai đôi
vợ chồng trẻ - ngồi quay lưng lại nên tôi không thể quan sát kỹ được. Chênh
chếch là ba học sinh trung học vừa hút thuốc vừa uống cà phê đen và giải ô đố
chữ trên báo Chủ nhật. Lại tự hỏi: đàn ông Pháp bắt đầu học các phép tắc phòng
trà từ năm lên mấy?

Hôm nay, nhiều
cửa hàng trên phố đóng cửa. Trên đường đến đây, tôi lần đầu tiên nhìn thấy
những người vô gia cư và ăn xin của Paris.
Nói chính xác thì hôm qua, hôm kia tôi cũng đã nhìn thấy họ ở Montmartre, ở khu
Clignancourt, ở dưới bến tàu điện… nhưng những người này bị nuốt chửng trong
biển người nườm nượp trên các đường phố Paris. Còn hôm nay, Chủ nhật, khi các
đường phố hoàn toàn vắng vẻ, đột nhiên những người vô gia cư và ăn xin này nổi
lên trên nền chính như những dân cư chính thức của thành phố thay vì chỉ là
người tạm trú hoặc phần tử bên lề. Trông họ như những ông hoàng và bà chúa trên
những con đường mang tên các vị thánh: Thánh Dominique, Thánh Germain, Thánh
Này và Thánh Nọ.

Người vô gia
cư và ăn xin thì chỗ nào trông cũng giống hệt nhau, dù là Paris
hay Chicago hay
Boton. Họ luôn cuộn một tấm chăn lớn quanh người, quây những hộp các tông rỗng
thành pháo đài xung quanh mình, chất đầy quần áo cũ và đồ đạc trong một cái xe
chở hàng lấy được ở một siêu thị nào đó. Họ chiếm đóng một cái cửa kính ăn sâu
vào tường của một cửa hàng trên phố, để tránh gió mà vẫn không quá xa đám đông
đi lại trên phố. Và họ có thể ngủ bất cứ lúc nào, trong bất cứ tư thế nào.

5:44 chiều:
Viết từ trong vườn Lugxembourg. Đang ngồi ở thảm cỏ giữa những hàng cây được
tỉa thẳng tắp, cạnh cổng ra đường Thánh Michel – chính là cái chỗ Pierpene mà
tôi mất bao công mới tìm ra. Ngồi xung qunh tôi chủ yếu là sinh viên Sorbonne
và học sinh từ Lycée Saint Louis [48]. Từng nhóm đứng, ngồi, nằm trên cỏ, ăn,
uống, nói chuyện, đánh bài, ném đĩa, đọc sách và dĩ nhiên hút thuốc. Từ đêm
qua, cổ họng tôi đã bắt đầu rát, chắc là vì hít quá nhiều khói thuốc lá ngoài
đường phố. Nhưng ở Paris,
không thể tránh khỏi khói thuốc lá.

[48] Một
trường học nổi tiếng, chuyên đào tạo sinh viên để chuẩn bị vào hệ thống đại học
lớn (Grandes Ecoles) của Pháp.

6:13 chiều:
Nói thật, tôi đã ngừng đọc sách từ mười lăm phút trước mặc dù vẫn nhìn vào
trang sách. Nguyên nhân một đôi tình nhân vừa đến ngồi cạnh tôi. Chàng trai
ngồi hướng mặt về phía tôi – có một khuôn mặt rất cute; mặc jean với một cái áo
phông màu hồng nhạt (trông không hề gay); còn cô gái ngồi quay lưng lại tôi nên
tôi chỉ biết là cô gái có tóc dài màu hạt dẻ, người mảnh mai. Trong mười lăm
phút vừa rồi, họ chỉ làm một việc là hôn nhau. Tôi dĩ nhiên không nhìn… thì tôi
đang đọc sách mà, nhưng tôi vẫn có thể theo dõi sự việc.

Tôi ngồi trên
một cái ghế sắt cạnh bồn nước lớn trong vườn Luxembourg đọc Những người khốn khổ
của Victor Hugo. Một ngày mùa thu nắng nhạt

Sự việc diễn
ra như thế này:

Đầu tiên,
chàng trai áp hai tay vào khuôn mặt cô gái rồi nói gì đó có vẻ rất chậm và ngọt
ngào (trời ơi), rồi sau đó hôn vào tóc cô gái ở phía bên ngoài tai phải, sau đó
thì hôn đến vành tai, sau đó thì cụng trán vào trán cô gái và giữ như vậy
khoảng mấy phút. Sau đó thì đến màn hôn môi. Không biết là bên trong thì thế
nào còn từ bên ngoài thì có thứ tự như thế này:

Đầu tiên có
rất nhiều những sự mút nhẹ vào môi dưới, sau đó là đến môi trên, sau đó là đến
khóe miệng, rồi sau đó là cả miệng, rồi sau đó thì có vẻ là hai cái lưỡi quấn
vào nhau… sau đó thì hai bên nghiêng đầu để đổi tư thế sang bên kia… và rồi lặp
lại quy trình từ chỗ mút nhẹ vào môi dưới… cứ thế… cứ thế… và cứ thế… suốt 15
phút vừa rồi.

Trong lúc này,
một nhóm hai mươi sinh viên đi ngang qua và không một ai thèm nhìn. Xung quanh
tôi, cũng không ai nhìn. Thì tôi cũng đâu có nhìn; tôi đang đọc sách mà.

Ngay sau khi
kết thúc tràng hôn đầu tiên thì đôi tình nhân này lại bắt đầu tràng hôn thứ
hai. Có vẻ như là màn Frech cancan này còn tiếp diễn lâu nên tôi sẽ tiếp tục
đọc sách vậy.

6:40 chiều:
Đôi bạn đã đi rồi. Màn French cancan miễn phí của tôi đã hết.

6:51 chiều:
Một cô gái trẻ vừa đi ngang qua tôi, vừa đi vừa nói chuyện trên điện thoại di
động và khoa tay trong lúc nói. Mảnh dẻ, da trắng nhưng có tàn nhang, tóc buộc
lỏng lẻo trên đỉnh đầu, để xòa xuống mặt. Mặc một cái áo len mỏng không tay màu
xanh lá cây, váy ngắn màu trắng, bốt ngắn bằng da đen loại mềm. Chắc chắn là cô
gái này không quá mười tám tuổi. Nhưng nhìn cái dáng đi và cử chỉ mà xem. Cô
gái này đã có tất cả sự duyên dáng và quyến rũ của một người đàn bà thuần thục.
Đôi môi hơi bĩu ra và cong lên trong lúc nói chuyện – đôi môi hoàn toàn sẵn
sàng để hôn cũng như để cãi nhau với bạn trai. Eo nhỏ như của một vũ nữ ballet,
đồng thời lại vẫn thoáng cái xương xẩu, gầy gò của một đứa bé gái chưa lớn hết.
Mũi cao và kiêu hãnh. Không biết những người con gái Paris học sự quyến rũ chết người của họ từ
đâu?

7:25 tối: Mặt
trời đang lặn dần phía sau cây thông cao đúng chính giữa bãi cỏ. Thảm cỏ này
xanh lạ lùng, là thứ cỏ ngắn màu xanh non giống cỏ sân golf chứ không phải cỏ
mật… khiến cho cái vòng tròn này giống như một ốc đảo mà ngay bên ngoài hàng
rào sắt là đường phố Paris lúc này chật người ngồi trong các quán cà phê vỉa
hè. Nhưng cái ấn tượng nhất là cách tất cả mọi người đều kéo ghế ngồi thành
vòng cung quanh bãi cỏ, mặt hướng về mặt trời và để bóng họ đổ dài ra phía sau.
Người thì đọc sách, người thì nói chuyện, người thì vẽ, nhiều người chỉ ngồi im.

11:30 tối: Hôm
nay, tôi tìm ra con đường tối ưu để đi từ vườn Luxembourg về khách sạn: thoát
ra bằng cổng trên đường Thánh Michel, sau đó đi thẳng Rue Soufflor hướng về
Pantheon, đến phố Thánh Jacques thì rẽ trái và cứ đi thẳng cho đến lúc gặp sông
Seine và Nhà thờ Đức Bà. Phố Thánh Jacques là một con đường dốc, như đi xuống
đồi. Khi đi dọc phố, có thể nhìn thấy mặt trời lăn trên nóc Nhà thờ Đức Bà.

Tất cả mọi
người đều kéo ghế ngồi thành vòng cung quanh bãi cỏ, mặt hướng về mặt trời

Tôi cũng phát
hiện ra trong vườn Luxembourg
có tượng Stendhal và George Sand.

Ghi ở lề: Nhận
thấy là khi đi bộ dọc phố Thánh Jacques, có hơi đánh hông. Cái này là tại đôi
giày hay tại Paris?
Có lẽ là Paris.
Có cái gì đó của Paris
khiến người ta muốn đi chậm lại và đánh hông một chút trong lúc bước.

Ngày nào cũng
đi ngang Nhà thờ Đức Bà trên đường về khách sạn, vậy mà vẫn không chán.

Đã sụt hơn một
cân.

Nhân nói đến
giày, hông, và sụt một cân, tôi phải thừa nhận một điều: không thể ở Paris mà không lây cái tinh thần duy mỹ của Paris. Tôi không phải
người thích làm đẹp, cũng không biết cách làm đẹp, và cái đời sống học thuật
trong những năm qua ở Mỹ càng làm cho việc làm đẹp tụt hạng trong thứ tự ưu
tiên của tôi. Thế mà từ hôm đến Paris,
tôi cũng để ý đến ăn mặc hơn. Hôm trước, tôi còn mặc một cái áo hở bụng khi đi
ăn tối với Kai - điều mà tôi không bao giờ làm ở Mỹ hay Việt Nam.

Đấy là lỗi của
Paris. Ở Paris, tất cả những người đàn ông, đàn bà, những con
đường, sông Seine, những hàng cây, những hiệu
sách, thậm chí cả những thùng rác cũng nói với bạn: phải đẹp. Phải đẹp như một
cách để thể hiện tình yêu với người khách, với trời đất, với cuộc sống, và với
chính mình. Đẹp như một trách nhiệm. Đẹp như một cứu cánh và một quyền tự nhiên
nhất.

Thôi thì tôi
cũng sẽ cố gắng làm đẹp, để ít nhất không làm xấu Paris. Tôi sẽ làm đẹp để cho tương xứng với
hạnh phúc mà tôi cảm thấy trong những tháng ngày một mình ở thành phố này.

Paris, ngày…

Cách đây vài
phút, tôi đã đặt một bông cúc trên mộ của Chopin trong nghĩa trang Pere
Lachaise bên quận 20. Tôi đến đây hơi muộn bởi vì đêm qua giấc ngủ của tôi liên
tục bị gián đoạn. Nguyên nhân là vì Amy và người phụ nữ Canada ở giường
số 3.

Trời đang
nắng. Phía tay trái tôi, cách một đoạn không xa là mộ của Chopin; bên tay phải
là mộ George Bizet; sau lưng tôi về bên tay phải là Balzac và Proust, phía trái
là La Fontaine và Molière. Nếu tôi đi thẳng từ đây về phía Bắc, tôi sẽ gặp
Oscar Wilde, và rẽ phải từ Oscar Wilde sẽ thấy Gertrude Stein và Pau Esluard.
Đấy mới chỉ là các nhà văn, nhà thơ; hầu hết những người đến thăm nghĩa trang
Pere Lachaise vì những cái tên khác - các nhà triết học, chính trị gia, nhạc
sĩ, hoặc Van Morrison, người đứng một đẳng cấp riêng trong nghĩa trang (tôi cũng
không hiểu tại sao có sự phi lý này).

Nhưng tôi đang
nói dở chuyện đêm qua. Có điều tôi cần phải nói một chút về Amy. Amy là một cô
gái rất tốt bụng và đồng thời là một cô gái sẽ không ngủ được nếu có ai đó
trong phòng còn thức. Cô ấy cũng là kiểu người không chịu được toilet công cộng
và đã đi tàu từ đại lộ Champs-Elysees về lại khách sạn chỉ để đi tiểu, rồi lại
tiếp tục ra phố. Thậm chí, Amy còn không thể đi dạo trên phố nếu vừa đi toilet
trong một nhà hàng nhưng vì lý do nào đó không rửa được tay bằng xà phòng -
trong trường hợp đó, Amy sẽ phải đi về khách sạn, vừa đi vừa giơ hai tay ra
đằng trước và tránh chạm vào bất cứ cái gì.

Đêm qua,
chuyện là thế này:

Amy, Tristan
và tôi ngủ cùng giờ và đã thiếp đi được một lúc thì người phụ nữ Canada trở về.
Chị ấy lục sục một lúc trong nhà vệ sinh rồi lên giường và chỉ một phút sau thì
bắt đầu ngáy vang như sấm. Tôi xin thề: đúng là ngáy vang như sấm. Amy đã cố
gắng tảng lờ nhưng không thành. Vậy là cô ấy ngồi dậy, nút lỗ tai bằng hai
miếng mút nhưng cả điều đó cũng vô ích. Sau một hồi trở mình và thở dài sườn
sượt, Amy bắt đầu thử đủ trò để đánh thức người phụ nữ kia dậy: cô giả vờ ho,
rồi ngồi dậy lục sục va li, rồi kéo túi xoành xoạch, rồi lăn trở huỳnh huỵch
trên giường. Điều buồn cười là Amy không nhận ra rằng tất cả những tiếng ồn mà
cô ấy gây ra làm tôi không ngủ được và tôi quan sát trận chiến của Amy từ trên
giường tầng mà không nhịn được cười: Amy không sao tảng lờ được tiếng ngáy mà
cũng không sao đánh thức được người phụ nữ kia.

Đấy là một phụ
nữ ngoài bốn mươi, rất béo, lúc nào cũng hối hả và như có bí mật gì đó rất vui,
thường ra khỏi nhà muộn, về nhà khuya, ăn mặc lụng thụng, ngủ sấp mặt trên
giường, và ngáy váng nhà.

Sau khoáng nửa
tiếng không xoay chuyển được tình hình, Amy không chịu được nữa. Cô ấy ngồi hẳn
dậy trên giường và gọi Tristan - lúc này đang nằm ở giường số 4, phía trên
người phụ nữ Canada.
Vì họ biết người phụ nữ kia không nói được tiếng Anh nên hai cô gái thoải mái
bàn với nhau kế hoạch này:

“Tristan”, Amy
thì thầm. “Cậu thử đánh thức con mụ ấy dậy xem. Mụ ấy ngáy khiếp quá, tớ phát
điên lên mất. Lạy Chúa lòng lành, mụ này nên được phong là Chúa ngáy.”

“Ừ, tớ cũng
đang phát điên lên. Tớ thề chứ giường tớ đang rung lên bần bật đây này. Để tớ
thử.”

Tristan ngồi
dậy trên giường, giả bộ ho khù khụ, rồi lại lấy chai nước ra uống ừng ực và đập
đập cái gối nó bẹt xuống. Người phụ nữ bên dưới không hề động đậy, vẫn đều đều
ngáy. Trong lúc này, tôi nằm yên trên giường, không hề trở mình và Tristan với
Amy chắc tưởng tôi ngủ trong khi thực tế là tôi phải cố gắng lắm mới không cười
phá lên.

Tristan lại
hỏi và lần này thậm chí chẳng buồn thì thầm nữa:

“Cậu có muốn
tớ gõ vào thành giường không?”

“Ừ, thử xem.
Cảm ơn cậu. Đêm qua tớ làm thế là được.”

“Vậy là có đêm
qua nữa mà mình không được chứng kiến,” tôi nghĩ thầm.

Tristan bắt
đầu vặn vẹo người khiến cái giường kêu lên ken két, rồi ra sức nhún, tưởng như
có thể làm nó sập xuống đến nơi. Vẫn không kết quả. Tristan bèn đứng hẳn lên
giường mà nhún không thương tiếc. Lần này tiếng ngáy dừng lại. Tristan nằm
xuống và Amy trùm lại chăn. Tôi cũng cố gắng ngủ lại. Nhưng ba phút sau, khi cả
ba chúng tôi đều chưa kịp chìm vào giấc ngủ thì tiếng ngáy lại nổi lên, lần này
còn dõng dạc hơn, kèm những tiếng khọt khẹt trầm bổng. Trời ơi, tôi phải đút
chăn vào miệng để không phá lên cười khi nghe Amy thở hắt ra một hơi dài - có
cảm giác như Amy chuẩn bị nhảy đè lên và đánh đấm cho người phụ nữ kia tơi tả.
Mà cũng có thể Amy sắp sửa gào lên và đánh thức cả Paris.

Nhưng, là một
cô gái ngoan, Amy chỉ thở dài rồi kéo chăn trùm kín đầu. Tôi định bảo Amy xuống
dưới quầy lễ tân xin ngủ nhờ cái giường trống nào đó đêm nay rồi mai tính,
nhưng rồi tôi lại nghĩ, cứ để cô ấy đương đầu với cuộc chiến nhỏ này. Tôi cũng
nên cố ngủ lại.

Tôi không rõ
mình thiếp đi lúc nào và bao lâu nhưng sau đó tôi đã tỉnh lại bởi vì Tristan và
Amy rõ ràng đã không thể chịu đựng được thêm nên cả hai trở dậy, ra khỏi phòng
rồi cố tình sập cửa đánh rầm một cái. Tôi không biết họ đi đâu nhưng khi tôi
thiếp đi thì cả hai vẫn chưa trở lại phòng còn người phụ nữ Canada thì vẫn
thản nhiên ngáy như kéo bễ.

Tuy thế, tất
cả sự thức giấc lúc nửa đêm làm cho tôi không mở được mắt cho tới tận 8 giờ.
Khi tôi mở được mắt, đầu tôi váng vất cảm giác sắp ốm, vậy là tôi nằm trên
giường đọc cuốn Paris 2008 của Fordor. Càng đọc, tôi càng thấy tội lỗi bởi vì
có quá nhiều thứ ở Paris tôi chưa kịp đến: nhà ngục Bastille, phố Tàu, kênh St.
Martin, khu shopping có mái che, khu Montpartnasse, thư viện FranÇois
Mitterrand, nghĩa trang Pere Lachaisse, và, phải, tôi vẫn còn chưa lên tháp
Eiffel.

Vậy là tôi trở
dậy và giờ thì tôi đang ở nghĩa trang Pere Lachaise.

Ngồi ở đây,
một lần nữa, như rất thường xuyên trong những ngày này, một sự bình an lại trùm
lấy tôi. Không phải vì tôi đang ở giữa thế giới người chết. Thực tế là từ lúc
vào đây, ý nghĩ của tôi không hề hướng tới cái chết hay sự hữu hạn của cuộc
sống con người. Trái lại, đứng trước ngôi mộ đầy hoa của Chopin, tôi thấy được
an ủi lạ lùng. Con người sẽ trường tồn. Con người sẽ bất tử nếu họ muốn. Nếu họ
dám lựa chọn cuộc sống như Chopin đã sống. Ông đã không bao giờ có một gia đình
đúng nghĩa; đã chật vật chiến đấu với những căn bệnh quái ác; đã làm cha và làm
người tình của George Sand theo cái nghĩa tìm một tri kỷ và một tình yêu hơn là
tìm cách xây dựng một “tổ ấm”. Ngồi đây, không xa mộ Chopin, và nghe đi nghe
lại bản valse số 2, Op, 64 trên ipod, tôi có thể tưởng ra những cơn sóng lòng
của Chopin, chúng lớn đến nỗi ông không còn có thể bận lòng về chúng; cứ để
chúng đến và nhấn chìm mình từng đợt, từng đợt, nhưng không thể hủy diệt mình.

Báo cáo nội dung xấu