Một mình ở châu Âu - Chương 10

Tôi
đã ở Paris cả
tuần mà vẫn chưa tới tháp Eiffel. Thực tế là tôi sẽ hoàn toàn hài lòng khi rời Paris mà không tới đó bởi
vì cái cột sắt cao ấy không có ý nghĩa cá nhân nào đối với tôi. Nhưng tôi đã
tưởng tượng trước: thế nào cũng sẽ có người hỏi tôi khi họ biết tôi tới Paris rằng tôi có trèo
lên đỉnh tháp Eiffel không. Tôi có thể tưởng tượng họ nói:

“Trời ơi, làm
sao có thể tới Paris
mà không tới tháp Eiffel.”

Và vì thế nên,
sống chết thế nào, tôi cũng phải đến nhìn tháp Eiffel một cái, dù chỉ để tránh
phải giải thích dài dòng tại sao tôi đến Paris
mà không tới tháp Eiffel.

Thực ra, ngày
đầu tiên ở Paris,
sau khi rời bảo tàng Rodin, tôi đã cố tới tháp Eiffel để giải quyết cho xong
món nợ đó. Có điều là tôi không tới được tận chân tháp. Ngày hôm đó, cố lắm tôi
cũng không mấy ấn tượng - rồi về khách sạn với ý nghĩ một hôm nào đó sẽ quay
lại leo lên đỉnh tháp như tất cả những người đến Paris vẫn làm.

Nhưng đấy
chính là vấn đề. Quá nhiều thứ chúng ta làm trong đời chỉ vì tất cả mọi người
đều làm chứ không phải vì chúng ta thực sự muốn. Dường như con người không bao
giờ biết giá trị thật của một thứ trừ khi họ nhìn xem người khác đối xử với thứ
đó như thế nào. Chúng ta lúc nào cũng cuống cuồng, vội vã bon chen bởi vì chúng
ta nhìn người khác và so sánh, và thèm muốn, và nhầm cái họ cần với cái mình
cần.

Như sáng nay,
khi tỉnh dậy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là trời ơi, có quá nhiều thứ cần phải làm
ở Paris mà tôi
vẫn chưa làm. Tôi cần đi nghe đọc thơ ở Shakespeare & Co, tôi cần đi nghe
hòa nhạc Vivaldi ở nhà thờ Eglise, tôi cần đi tới một quán bar chơi nhạc sống,
tôi cần đi thuyền trên sông Seine để ngắm thành phố từ dưới sông lên, tôi cần
phải tới quận 13 xem người Việt Nam ở Paris sống thế nào, tôi cần tới nhà ngục
Bastille, tôi cần phải đi thăm nhà hát opera Paris, tôi cần phải tới kênh đào
Martin, tôi cần… tôi cần… Cuối cùng tôi lại hít một hơi và tự nói với mình:
“Đây là chuyến đi Paris
của mình và không của ai khác, mình sẽ chỉ làm những gì mình muốn. Ừ, dậy muộn
thì cũng đã sao? Đã thế, mình sẽ còn ỳ ra bằng cách sẽ đi ăn một bữa sáng tử tế
cái đã…”

Nhưng nói bao
giờ cũng dễ hơn làm và tôi đã hoàn toàn đánh giá thấp sức mạnh của thói quen.
Khi tôi ra khỏi khách sạn lúc 9 giờ, nhìn thấy dòng người du lịch nườm nượp
trên phố, ai nấy hớn hở khám phá Paris,
sự bon chen lại tóm được tôi và bảo tôi cần phải nhanh lên, ngày sắp hết rồi mà
còn bao nhiêu chỗ phải đi. Vậy là tôi đành thỏa hiệp: thay vì một bữa sáng
thảnh thơi kiểu Paris
ở một tiệm cà phê trên phố, tôi chỉ ăn một cái bánh bao và uống một cốc
chocolate nóng ở một tiệm fastfood gần Hôtel de Ville.

Sau khi đấu
tranh để gạch đi một số thứ, tôi còn lại một danh sách những chỗ tôi muốn đến và
những chỗ tôi không muốn lắm nhưng vì ở gần nơi tôi muốn đến nên tôi cũng sẽ
đến. Như bây giờ, lúc hơn 3 giờ, tôi đang ngồi ở một quán phở trên Avenue de
Choisy thuộc quận 13 để, chậc, ăn một bát phở Việt Nam giữa lòng nước Pháp. Và
chiều tối nay thì sẽ tới tháp Eiffel để xem họ lên đèn.

Trên đường tới
đây, tôi nhìn thấy một Paris khác nữa – Paris của những người lao động, Paris
của những chung cư khá nhem nhuốc, rất nhiều người da đen và các quán ăn châu Á
- nào Thái, nào Tàu, nào Nhật. Chúng gợi cho tôi nghĩ đến khu Nghĩa Đô, Bạch
Mai ở Hà Nội vào những năm 1990. Một vẻ khắc khổ và vất vả trùm lên khu vực
này, khác hẳn với khu trung tâm Paris.

Phở ở đây
không ngon, cũng là kiểu phở đã được Tây hóa; bánh phở thực ra là mì, nước phở
có nhiều bột ngọt, thịt bò không tươi. Tôi không nghĩ là tôi có thể ăn hết bát
phở này mặc dù rất đói; nhưng tôi sẽ cố gắng ăn càng nhiều càng tốt vì tôi
không muốn chủ quán buồn. Anh ấy biết tôi là người Việt Nam vì đã hỏi
khi mang thực đơn ra:

“Em là người
Việt Nam
hả?”

“Vâng.”

“Người Bắc ha.”

Sự vui mừng
của anh làm tôi thấy mình có trách nhiệm phải ăn hết bát phở.

5:37: Bây giờ
thì tôi đang ngồi ở thảm có phía trước chân tháp Eiffel cùng với rất nhiều
người mà tôi đoán là cũng đang chờ tháp lên đèn. Trời lại bắt đầu sầm sì mây
xám. Có mấy đôi đang chụp ảnh cưới trước chân tháp và đều là người châu Á.
Trông họ thật rạng rỡ và háo hức chuẩn bị cho ngày trọng đại này của mình. Còn
quanh chỗ tôi, có rất nhiều người ngồi nói chuyện, ném đĩa, đọc sách và chơi
trò chơi. Những chiếc xe buýt đỏ hai tầng chở đầy khách du lịch lượn vòng
quanh, và những người hướng dẫn du lịch cầm micro nói oang oang về các kỳ tích
và số liệu của tháp Eiffel. Tôi chẳng quan tâm; tôi ngồi ngắm mấy đôi chụp ảnh
cưới và những đứa trẻ lẫm chẫm đi một lúc; rồi nằm ra cỏ, ngửa đâu nhìn trời và
nghe Chopin từ ipod.

Thế rồi, những
hạt mưa bắt đầu lác đác rơi xuống mặt tôi. Lúc này đã là 5:45: Chỉ còn 15 phút
nữa là tháp sẽ lên đèn. Xung quan tôi, những ông bố bà mẹ trẻ dẫn con chạy vào
trú mưa dưới những tán cây dẻ dọc hai bên bãi cỏ. Mấy đôi chụp ảnh cưới cũng
thu dọn máy ảnh, áo váy và đạo cụ để chạy mưa. Chú rể nâng váy cho cô dâu chạy
ré vào vì mưa đột ngột nặng hạt. Sau hai phút, cả một bãi cỏ lớn bằng một sân
vận động chỉ còn lại tôi và mấy cậu trẻ chơi ném đĩa.

Tôi ngồi dậy
mở cái ô đen nhỏ để che lên đầu. Tôi không muốn đi đâu cả. Tôi sẽ ngồi đây chờ
đến lúc lên đèn.

Rồi mưa ào
xuống và cả bọn trẻ ném đĩa cũng che áo lên đầu, chạy vào trong. Tôi còn lại
một mình, ngồi thu lu dưới cái ô nhỏ giữa bãi cỏ rộng, đối diện với tháp Eiffel
trong lúc mưa như trút. Cái cảnh ấy hẳn là kỳ cục lắm bởi vì những người ngồi
trên các xe du lịch hai tầng bắt đầu chĩa máy ảnh vào tôi mà chụp. Thậm chí cả
những người đứng trú mưa dưới những cây dẻ cũng lấy máy ảnh ra chụp.

Tôi vẫn chờ. 5
giờ 57 phút. Mưa rơi ào ào, thành một màn trắng và tháp Eiffel nhạt nhòa trong
mưa; khoảng sân lát đá phía trước tháp cũng không một bóng người trong khi dước
bốn góc chân tháp, khách du lịch túm tụm như những búi kiến đen nhỏ. Tôi vẫn ngồi.
Rồi 5 giờ 58 phút. Rồi 6 giờ.

Đèn không hề
sáng. Tháp Eiffel vẫn sừng sững trong mưa, chỉ là một khối sắt mờ mờ, phần đỉnh
tháp đang nhòa dần trong bóng tối và mưa xuống. Tôi không hiểu. Tại sao đèn
không sáng. Tôi chờ tiếp. Những người đứng trú dưới các bóng dẻ đã bỏ đi và
bóng tối đang xuống nhanh. Một lúc sau, cả khu vực quanh tháp đã vắng người.
Đến 6 giờ 15, vẫn không thấy có đèn sáng, hẳn là tôi đã có thông tin sai về
việc lên đèn của tháp Eiffel nên đã chờ đợi vô ích. Đèn sẽ không bao giờ sáng.
Một cái gì đó giống như một sự tỉnh thức bỗng nhiên choán lấy tôi, khiến tôi
không đứng lên nổi.

Đèn sẽ không
bao giờ sáng, dù tôi có chờ hết đêm.

Tôi ngồi đó
không biết bao lâu rồi đứng lên trở về nhà. Có một lúc, tôi không biết là nước
mưa bắn vào mặt tôi hay là tôi đã khóc.

Tôi nhớ buổi
sáng ngày trước Giáng sinh năm ngoái, Sơn và tôi lại cãi nhau. Sau đó, Sơn lấy
xe đi Providence
chơi với các bạn của anh. Đến đêm anh cũng không về. Tôi dọn đồ đạc vào trong
vali. Tôi quyết định sẽ về Chicago;
tôi không thể tiếp tục sống với Sơn nữa. Nhưng hôm đó là Giáng sinh không còn
chuyến bay nào, và xe buýt cũng không chạy. Tôi kéo vali ra khách sạn Red Roof
Inn ở gần nhà, định chờ đến ngày mai thì sẽ về Chicago.

Nhưng rồi Sơn
gọi điện cho tôi.

“Em đang ở
đâu?” Anh nói như thể không hề có chuyện gì xảy ra, như chưa bao giờ có chuyện
gì xảy ra.

“Em ở Chicago,” tôi nói.

“Đâu mà,” Sơn
cười. “Em ở đâu để anh đi đón?”

Cuối cùng thì
Sơn đến khách sạn đón tôi về. Hôm đó, vào trong ô tô để về lại nhà, tôi đã khóc
và một cái gì đó trong lòng tôi đã sụp xuống, vỡ vụn.

Paris, ngày…

Tôi sẽ không
thể viết nhiều hôm nay; tôi bắt đầu ôm ốm rồi. Cũng không có gì nghiêm trọng;
đầu chỉ hơi nóng và cổ họng đau. Chắc tôi đã viêm họng do hít nhiều khói thuốc
lá và nhiễm lạnh, lại ăn uống thất thường và đi bộ quá nhiều. Đầu tôi hoàn toàn
tỉnh táo, tôi vẫn còn muốn đi nữa, nhưng cơ thể tôi đã tạo phản [49].

[49] Sau
này tôi mới biết hiện tượng này được gọi là “cúm Paris”, do một loại virus đặc
biệt ở Paris gây ra, và hầu như khách du lịch nào tới Paris cũng có thể mắc.

Cách đây năm
phút, tôi đã hỏi người bồi bàn của quán cà phê cho một ly nước để uống ba viên
Advil, hy vọng là sẽ đỡ sốt. Đêm qua, khi tôi từ tháp Eiffel về, Amy đã đi
nhưng có để lại một mẩu giấy trên giường. “Rất vui được biết chị và cảm ơn đã
nói chuyện với em về nhiều thứ. Nhớ giữ liên lạc nhé.” Cô ấy viết trên một cái
giấy ăn trắng và còn vẽ thêm một cái mặt cười lớn.

Người phụ nữ Canada cũng đã
chuyển đi - vậy là tôi không có cơ hội nào để tìm hiểu về người phụ nữ này. Chị
ấy làm tôi nghĩ đến cụm từ “góa phụ vui vẻ”.

Đêm qua, chỉ
còn lại Tristan và tôi trong phòng; trong khi tôi gai ớn khắp người thì Tristan
lại thấy nóng. Tôi đi ngủ với áo khoác và mũ trùm kín đầu, cộng thêm chăn; còn
Tristan thì mặc áo hai dây, quần cộc. Sáng ra, khi tỉnh dậy, người nặng nề và
váng vất, vậy là tôi nằm đến tận 10 giờ. Tristan đã dậy đóng đồ. Cô đã quên
không báo với khách sạn rằng mình muốn ở thêm; vậy là bây giờ phải chuyển đi.

Tôi đang ăn
một bữa sáng đơn giản: có bánh mì nướng với mứt dâu, ba quả trứng ốp-la với
jambon, một ly sô cô la nóng và một ly nước cam. Tôi không định ăn sớm thế này
nhưng vì đang hâm hấp sốt nên tôi muốn ăn và uống thuốc trước khi mọi việc trở
nên tệ hơn. Ngày hôm nay tôi sẽ tới nhà hát opera Garner; rồi tùy vào sức khỏe
và tùy hứng, có thể tôi sẽ đi đâu đó nữa.

Đang hâm hấp
sốt nên tôi muốn ăn và uống thuốc trước khi mọi việc trở nên tệ hơn

Chị Mai mới
gửi email, Việt ơi, đi Paris có vui không, nếu có quay lại Ý thì nói với chị
nhé. Nhà xuất bản gửi email về việc chỉnh lại bìa cho cuốn truyện ngắn. Đấy là
tất cả những kết nối với thế giới cũ của tôi vào những ngày này và thế là đủ.
Tôi thấy yên ổn vì không ai có thể chạm tới tôi lúc này và tôi không phải lo
lắng về bất cứ điều gì ngoài bản thân tôi - ăn ở đâu, đi chỗ nào, xem gì… những
thứ nho nhỏ ấy… vậy thôi, thật tốt. Đêm qua, tôi gửi thư cho Kai và Sarah;
chúng tôi sẽ đi ăn tối với nhau trước khi tôi rời Paris.

Tôi đã không
có dáng đi của một khách du lịch nữa, cũng không chĩa máy ảnh khắp nơi chụp
lấy, chụp để, và không còn ồ à về những tòa nhà và những quán cà phê. Tôi đang
chìm dần vào sự thong thả của một người sống ở Paris, thật tốt. Tôi ước sao có thể nhấc hết
khách du lịch khỏi Paris (trừ tôi) để trả lại sự
bình an thật sâu và chất Paris
đậm đặc cho thành phố. Thành phố này quá tuyệt vời để mà bị khách du lịch pha
loãng trong nhu cầu giải trí của họ. Paris
không bao giờ nên bị buộc phải trở thành nguồn cứu rỗi cho sự buồn tẻ của con
người.

Đêm qua, trên
đường trở về khách sạn trong một cảm giác âm thầm không tên, tôi đi ngang qua
một người ăn xin (một ông già) đang ngồi trên vỉa hè, lười biếng chìa cái cốc
ra. Cái cốc của ông ta rỗng không - cũng không dễ hiểu vì ông ấy chìa cái cốc
với một vẻ “je ne care pas [50]”. Tôi đã đi qua, nhưng được mấy bước thì quay
lại bỏ 1 euro vào cái cốc rỗng. Paris đã cho
không tôi quá nhiều, tôi cũng nên trả lại cho Paris một chút ít. Ông già đột nhiên mỉm
cười, mắt lấp lánh trong bóng tối; ông ta nói “merci beaucoup” và điều gì đó
nữa bằng tiếng Pháp mà tôi không hiểu.

[50] Tôi
cóc quan tâm.

Cơn mệt mỏi
vẫn đeo đẳng tôi từ sáng. Đến nỗi từ lúc rời quán cà phê Hôtel de Ville đi đến
đây, tôi phải dừng lại ba lần để nghỉ: một trong nhà hát opera, một trong
Galeries Lafayette, và giờ là lần thứ ba.

Tôi ngồi ở
thềm một tòa nhà khóa trái cửa trên đại lộ Haussmann. Bá tước Haussmann là
người đã tạo ra rất nhiều thay đổi cho kiến trúc Paris,
nhất là các đại lộ lớn ở khu nhà hát opera Garnier này và quanh khu Champs Elysees. Sáu đại lộ lớn hòa vào nhau ở Place de
Opera và đường nào cũng ngập người shopping.

Một phụ nữ có
bầu đi ngang qua tôi, và tôi đột nhiên nhận ra rằng từ hôm tới Paris, tôi hầu như không nhìn thấy người phụ
nữ mang bầu nào trong khi ở Mỹ, họ khắp nơi. Cũng có thể là phụ nữ mang bầu ở
Pháp được nghỉ ở nhà lâu hơn, có thể họ không muốn ra ngoài khi mang bầu, mà
cũng có thể phụ nữ Pháp không muốn có con. Người Mỹ thì khác. Có lẽ do trào lưu
nhiều con gần đây của Hollywood mà cả nước Mỹ bây giờ thi nhau có con sau nhiều
thập kỷ lấy việc không có con hoặc ít con như một cách chứng tỏ sự tự do. Ở khắp
nơi – hiệu sách, siêu thị, công viên, rạp chiếu phim, trên đường, những người
phụ nữ sắp làm mẹ hãnh diện vác bụng bầu như vác một biểu tượng mới của nữ
quyền.

Những người đi
lại ở khu vực grand boulevards [51] này trông cũng giống người Mỹ hơn là người Paris. Nghĩa là họ béo.
Rất nhiều những cái bụng bự và cách ăn mặc theo lối thực dụng Mỹ: quần bò, áo
phông, và giày thể thao. Rất nhiều trung niên và những người trông có vẻ thuộc
tầng lớp trung lưu và lao động. Khu Marais và khu Latin trẻ hơn, hip hơn và
chic hơn nhiều. Có lẽ vì thế mà Amy đã rất vui khi tìm được nhà ở đó. Sáng sớm
nay, cô ấy quay lại khách sạn để tạm biệt tôi, lúc tôi quá buồn ngủ, không cả
mở được mắt ra. Amy đập mạnh vào tay tôi đau điếng, “Chị ơi, em tìm được nhà
rồi”, nhà Amy ở ngay gần Nhà thờ Đức Bà. Cô ấy thật may mắn.

[51] Khu
đại lộ.

Nhà hát opera
Garnier đứng sừng sững, tự tin đối mặt với các đại lộ. Trên nóc nhà hát là hai
bức tượng vàng mà vì chói nắng và vì mệt, tôi không nhận ra là tượng gì. Tôi
chỉ nhớ mang máng bức bên trái trông gần giống tượng Nữ thần Tự Do ở New York. Mặt trước của
nhà hát được trang trí bằng rất nhiều tượng theo phong cách Hy Lạp và La Mã… và
có một số tên được khắc trên các bức tường. Bach, Percolese, Haydn, Cimarosa,
Beethoven, Mozart, Rossini, Spontini, Auber, Meyerbeer, Halévy, vân vân… Những
ngày này, nhà hát đang trình diễn Eugène Onéguine, một vở opera của
Tchaikovsky, do nhà hát Bolchoї của Matxcơva trình diễn. Tôi mua một vé xem vở
diễn vào tối nay.

Những người
bán vé ở nhà hát thật kinh khủng; nói chung việc phục vụ ở Paris
thật kinh khủng – và đây có lẽ là phàn nàn lớn nhất của tôi về Paris. Có một hàng dài người chờ mua vé nhưng
chỉ có duy nhất một người bán; ở Mỹ mà thế này thì họ phải lập tức đi huy động
người ra phục vụ, kể cả giám đốc, lao công nếu cần. Chờ một lúc mà hàng người
chỉ chậm chạp nhích lên và anh chàng bán vé thì làm việc một cách lười biếng,
tôi đi tới quầy hỏi xem liệu anh ta có thể gọi thêm người bán vé không; anh ta
nhìn tôi với cái nhìn “Cô nghĩ cô là ai mà dám yêu cầu?”; chắc anh ta không
thường xuyên nhận được yêu cầu như vậy. Tôi hoàn toàn có thể nói “Tôi là khách
hàng của anh chứ còn ai nữa” và nghĩa của câu này quá rõ ràng ở Mỹ hay ở Đức.
Nhưng ở Paris, có vẻ như chữ “Khách hàng” chẳng có nghĩa gì cả, thậm chí còn là
một dạng tội nợ cho những người bán hàng. Lúc cố gắng đặt khách sạn cho chuyến
đi này, tôi đã được nếm thử cái địa vị tội nợ của mình, nhưng tới Paris, điều đó trở nên rõ
ràng hơn.

Bây giờ là
7:20 trong nhà hát opera Garnier. Mười phút nữa vở opera Eugène Onéguine của
Tchaikovsky sẽ bắt đầu. Dàn nhạc đang lên dây và khán phòng vẫn tấp nập người
ra người vào. Một người phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ và tôi đã phải cãi lộn với anh chàng
phục vụ người Pháp để có thể vào được chỗ ngồi của mình. Rõ ràng là cô gái có
nhiệm vụ mở cái box này cho chúng tôi đang tập việc ngày đầu tiên và không hề
biết mình phải làm gì… vậy là cô ấy luôn biến mất ở đâu đó trong khi chúng tôi
phải chờ mười lăm phút bên ngoài box đã khóa cửa. Suốt mười lăm phút đó, một
anh chàng phục vụ đứng nhởn nhơ; nhưng khi chúng tôi hỏi liệu anh ta có thể
giúp mở cửa box thì anh ta từ chối với lý do việc của anh ta là trông nom cái
box của anh ta chứ không phải là giúp đồng nghiệp ở box bên cạnh. Cả người phụ
nữ Thổ Nhĩ Kỳ và tôi đều nổi giận – tôi đoán chị ấy cũng đã phải chịu đựng quá
đủ cái cung cách phục vụ khách hàng của người Pháp – nên cả hai chúng tôi gần
như đồng thanh kêu lên bằng tiếng Anh:

“Tại sao anh
lại bất lịch sự đến như vậy?”

“Tại sao anh
lại có thể vô trách nhiệm thế?”

Anh ta chắc
chắn hiểu chúng tôi nói gì, nhưng anh ta cứ giả vờ “What? What?” Người phụ nữ
Thổ Nhĩ Kỳ nói “Chúng tôi là khách hàng của anh, cô ấy thì là đồng nghiệp của
anh, chúng tôi thì chờ ở đây mười lăm phút rồi, anh thì đứng chơi không, cô ấy
thì chạy đôn chạy đáo, thế mà chúng tôi yêu cầu anh giúp đỡ thì anh lại bảo
không, thế là thế nào, tại sao anh lại vô trách nhiệm thế? Tại sao anh lại bất
lịch sự thế hả?”. Anh chàng sợ quá lảng ra chỗ khác rồi biến mất. Vài phút sau,
cô gái kia xuất hiện và anh ta chạy tót lại, thì thầm gì đó vào tai cô gái. Cô
gái lập tức chạy đến box chúng tôi để mở cửa và luôn miệng xin lỗi.

Người phụ nữ
Thổ Nhĩ Kỳ tên là Laura, chị là người thiết kế quần áo trẻ em và đang làm việc
mấy tháng ở Paris.
Chị nói đã tới Việt Nam vài
tháng rồi và trẻ con Việt Nam
xinh nhất thế giới. Tôi hỏi chị đến Việt Nam
làm gì, chị ấy bảo chị muốn đến thì đến thôi; như lần này, chị cũng sang Paris chỉ để xem, để
biết, và để thiết kế…

Có thể là tôi
sẽ đến Paris
sống một năm và viết. Sao lại không chứ? Carrie, người bạn cùng phòng mới của
tôi, đang làm vậy. Mà hình như tôi chưa nhắc đến Carrie.

Chiều này, khi
về lại khách sạn, tôi thấy một cô gái đang nằm ngả ngớn trên giường tôi, quần
áo, sách du lịch và bản đồ bày đầy xung quanh như một pháo đài nhỏ.

“Ê, bạn đang ở
trên giường tôi,” tôi kêu lên.

“Thế sao?” cô
gái nói giọng Mỹ, vẻ thách thức “Bạn ở cái giường này từ bao giờ?”

“Suốt bốn đêm
vừa rồi.”

“Ồ, nhưng mà
tôi thấy giường nào cũng trống; tôi tưởng ai vào trước lấy giường nào thì lấy
chứ.”

Rõ ràng là cô
ấy không tin tôi và cũng không có ý định trả giường cho tôi.

“Bạn không
hiểu rồi. Ngày nào họ cũng thay ga trải giường cho nên họ yêu cầu phải bỏ hết
đồ ra khỏi giường vào buổi sáng để họ vào thay ga. Mà họ cũng không cho bạn ở
trong phòng từ 12 giờ đến 3 giờ chiều để họ còn thay đồ. Thế nên các giường đều
trống.”

“Ồ thế à, tôi
xin lỗi.”

Cô ấy nói xin
lỗi nhưng trông chẳng có vẻ gì là hối lỗi. Đây có lẽ là một cô gái Mỹ ở bờ
Đông. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu cô ấy nói là người New York.

Sau màn đụng
độ này, Carrie nhanh chóng tự giới thiệu và thực ra rất dễ thương bên trong cái
vỏ bặm trợn đó. Carrie hai mươi hai tuổi, người Boston,
vừa tốt nghiệp đại học ngành Ngữ văn và đến Paris chỉ vì cô muốn chuyển đến đây sống
khoảng một năm. “Em muốn đến Paris,
chỉ thế thôi, cứ đến đây rồi tính tiếp,” cô ấy nói. Carrie đã phục vụ ở các
quán bar trong suốt bốn năm đại học và định sẽ kiếm việc tương tự để sống ở Paris trong năm tới. Lần
đi này, Carrie sẽ tìm nhà và chuyển vào luôn. Cô ấy đã mang theo cả đống va li
đồ đạc hiện đang ở trong phòng để đổ. Ngày kia, cô ấy sẽ đi xem mấy căn hộ để
thuê.

“Tại sao em
muốn đến sống ở Paris?”

“Vì em là nhà
văn,” Carrie nói. “Em muốn đến Paris
để viết.”

Carrie dĩ
nhiên không phải người đầu tiên có ý nghĩ này. Cả một thế hệ Hemingway,
Fitzgerald, Gertrude Stein, James Joyce, Ezra Pound, T.S. Eliot, John Dos Passos
vân vân… đã đến đây và lập nghiệp ở đây. Thế hệ sau này có Henry Miller, James
Baldwin và nhiều người khác. Chưa kể các họa sĩ như Picasso, Salvador Dali…

“Em đang viết
gì?” Tôi hỏi.

“Em đang viết
lại các truyền thuyết Hy Lạp cổ đại. Đại loại là lấy cốt truyện cổ đại đó nhưng
lại viết theo nội dung hiện đại. Fuck, viết văn khó thật, chị nhỉ.”

“Dĩ nhiên rồi,
viết văn is fucking khó,” tôi nói rồi trèo lên cái giường mới của mình và ngủ
mê mệt, đến 6 giờ tối thì dậy, ra metro đi tới nhà hát. Lần đầu tiên kể từ hôm
đến Paris, tôi
đã lên nhầm tàu. Có lẽ sự ốm mệt đã làm tôi không còn đủ tỉnh táo. Paris bắt đầu có cảm giác
của một màn sương mờ bồng bềnh mà tôi có thể tan biến vào trong bất cứ lúc nào.

Nhưng bây giờ,
buổi diễn đã bắt đầu rồi. Họ đã bắt đầu kéo màn và đèn đã tắt.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.