5 Bước Giải Mã Giấc Mơ - Chương 11

Từ đây ta đi đâu

K

hi bạn tiếp tục nhớ lại và phân tích giấc mơ thường xuyên, bạn sẽ thấy càng ngày giấc mơ và ý nghĩa của nó càng rõ ràng với bạn. Ngay cả khi bạn “biết” giấc mơ có nghĩa là gì, bạn vẫn có thể học hỏi được nhiều hơn bằng cách ghi lại. Bạn càng có nhiều kinh nghiệm với ngôn ngữ của giấc mơ, bạn càng mất ít thời gian khi giải thích.

Hành động ghi lại hoặc chia sẻ một giấc mơ đôi khi làm cho ý nghĩa của nó trở nên rõ ràng. Nếu mối quan tâm của bạn về giấc mơ có dao động thì cũng là điều bình thường thôi. Sẽ có lúc người ta trở nên bận rộn và lãng quên hoặc rời xa thói quen phân tích giấc mơ trong một thời gian. Đừng lo lắng hoặc mặc cảm tội lỗi nếu bạn quan sát thấy điều này trong chính mình. Thời gian có thể nâng cao khả năng thấu hiểu giấc mơ của bạn, ngay cả khi bạn đã bỏ lơ chúng một lúc.

Nếu bạn đang trải qua một bước ngoặt nào đó như ly hôn, thay đổi công việc, thời kỳ phát triển cá nhân mạnh mẽ hoặc đang xử lý một mất mát nào đấy, thì bạn có thể đặc biệt được lợi từ thói quen phân tích giấc mơ thường xuyên. Những giấc mơ làm việc rất hiệu quả để giúp bạn điều đình các thách thức hoặc bẫy rập của cuộc sống. Nếu bạn trải qua một thời gian khó khăn hoặc hoang mang, bạn sẽ được trợ giúp và nâng đỡ rất nhiều nếu bạn có thể dành thời gian để tham gia vào các quá trình chuyển hóa nội tâm của mình.

Giấc mơ giúp giải quyết những khác biệt “không giải quyết được”

Một sự khác biệt giữa trạng thái mơ và tỉnh là trong giấc mơ, khuôn mẫu của các mặt đối lập không còn đúng nữa. Bạn có thể ở trong một căn phòng và đồng thời ở trong một phòng khác. Bạn có thể là nam lẫn nữ. Bạn có thể là bất kỳ chủng tộc nào – bạn có thể bay, bơi, và đi bộ. Bạn có thể nói chuyện với ai đó, và sau đó trở thành người đang lắng nghe bạn. Các ranh giới, sự phân tách, và tư duy đen – trắng định khung quá nhiều kinh nghiệm khi thức của chúng ta giờ đây bị “treo giò” (hoặc được trình bày như là trạng thái ảo) trong giấc mơ.

Tôi tin rằng phần lớn những căng thẳng và đau đớn mà chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống liên quan đến sự cố chấp của ta khi cho thứ này là “tốt” hay “xấu”, theo cách này hay cách khác. Tôi không có ý cho rằng những kiểu đánh giá ấy là không chính xác, nhưng quá trình mã hóa kinh nghiệm và nhận thức theo cách này là một cách suy nghĩ tạo ra căng thẳng, đau đớn, và hoang mang. Bằng cách xem thế giới của chúng ta là những phần đối lập, chúng ta đã hạn chế các khả năng kết nối và lúc nào cũng đảm bảo điều ấy vì các món lợi thu về, chúng ta sẽ cảm thấy mất mát. Nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, và bây giờ là một số phương pháp trị liệu hiện đại đã dạy các học viên tuân theo lộ trình luyện tập giúp có được những khoảnh khắc “trỗi vượt”, trong đó sự tách biệt giữa các sự vật được công nhận là ảo tưởng, và thúc đẩy cảm giác được chữa lành, hài hòa, hợp nhất và kết nối.

Có lẽ một trong các chức năng của giấc mơ là cung cấp trải nghiệm mỗi đêm, trong đó những quy tắc cứng nhắc về sự tồn tại của ta trong cuộc sống thực bị đình chỉ. Cầu nối được hình thành giữa niềm tin này và niềm tin khác, cái tôi khả dĩ và cái tôi khác, giữa con người và động vật, và giữa những gì chúng ta khái niệm hóa là sống và chết. Có thể chúng ta cần thời gian nghỉ ngơi này sau những khác biệt và đánh giá – thật ra, sự kỳ quặc trong giấc mơ của ta là một cách điều trị tinh thần – sức khỏe có mục đích giúp chúng ta chịu đựng sự phân tách rõ rệt mà chúng ta trải nghiệm trong ngày.

Làm việc với các giấc mơ sẽ giúp bạn nhìn thấy mối liên hệ giữa những thứ trong cuộc sống thực của bạn. Bạn sẽ thấu hiểu lý do tại sao mọi người làm những điều họ làm, và bạn sẽ cảm thấy thoải mái hơn với sự đa dạng và khác biệt của mọi người, ở những người khác cũng như trong chính bản thân bạn.

Bạn sẽ có “bản năng” hoặc trực giác tốt hơn

Sau một thời gian, những người có thói quen làm việc với những giấc mơ dường như phát triển năng lực trực giác rất lớn. Đơn giản là một phần trực giác cho phép bạn lắng nghe những gì bạn cho là đúng, ngay cả khi bạn không có bằng chứng cho nó. Bởi vì có nhiều thông tin xuất hiện trong giấc mơ hơn bạn có thể nhận thức, nên bạn sẽ có quyền truy cập nhiều thông tin hơn bạn sở hữu trước khi bạn khám phá những giấc mơ của mình. Thông tin bổ sung này có thể làm bạn quá tải trong khi thức, cũng như khiến bạn khó tập trung để hoàn thành mọi việc. Tuy nhiên, trong khi ngủ, các khối thông tin có liên quan được kết hợp vào tình tiết và trải nghiệm trong mơ, do đó theo một nghĩa nào đó, bạn sẽ nhận được thông tin nhiều hơn bạn tưởng. Đôi khi những phát hiện trong các giấc mơ của bạn sẽ trở nên đáng kinh ngạc và chính xác đến mức có vẻ như chúng đến từ một nguồn bên ngoài. Khi thời gian trôi qua, bạn sẽ phát triển một “cảm giác” đối với những thông tin được tiết lộ và sẽ tiếp nhận chúng như những sự kiện kỳ diệu, nhưng không phải bất thường.

Bạn sẽ nhận ra biệt tài, năng lực và sức mạnh cá nhân của bạn ở mức độ cao hơn

Đối với nhiều người, trưởng thành là một hành trình đầy chướng ngại vật giữ cho họ bận rộn đủ để không vuột mất cơ hội hay làm ra quyết định sai lầm. Cuộc sống ngày càng sôi động, với áp lực chất đống và thay đổi như vũ bão. Thường chỉ sau khi trải qua một vài đoạn đời và trải nghiệm đủ, chúng ta mới nhận thức được nỗi đau của tiềm năng chưa được sử dụng, hoặc các khao khát thầm kín cho những hoạt động đã bị phớt lờ bởi vì chúng có vẻ không thực tế hoặc không có phần thưởng hữu hình. Đó là một cú sốc khi nhiều người nhận ra rằng mặc dù họ đã ngừng viết, vẽ tranh, khiêu vũ, hoặc diễn xuất nhiều năm trước, tâm trí của họ vẫn nhớ và coi những món quà này là quan trọng. Một thư ký khi còn trẻ đã không xoay xở được để vào đại học có thể mơ thấy một cuộc trò chuyện dài với Albert Einstein khuyến khích cô ấy ghi danh lớp buổi tối. Một cựu vận động viên quá cân nay đã là một luật sư thành công có thể mơ đến việc dẫn dắt các lớp thể dục dụng cụ và cảm thấy sung sức trở lại. Một nhà văn mới nổi có thể mơ thấy mình chăm sóc một tác giả bị bệnh đến khi khỏe lại. Ai đó mong muốn học tập để trở thành mục sư có thể mơ thấy đi dạo với Billy Graham1.

1 Mục sư William Franklin Graham, Jr. KBE, (1918 – 2018), là nhà truyền bá phúc âm (evangelist), và là một trong những nhà lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng nhất của phong trào Tin Lành. Nguồn: Wikipedia.

Nếu bạn mơ thấy một người nào đó nổi danh vì sự nghiệp, tài năng hoặc sự đóng góp của họ, và bạn không biết bất cứ ai trong cuộc sống thực nhắc bạn về người nổi tiếng này, rất có khả năng họ đại diện cho tài năng đó trong bạn. Điều này không có nghĩa là bạn nên bán nhà rồi chuyển đến một hòn đảo để trở thành họa sĩ – nhưng có thể bạn sẽ cân bằng, khỏe mạnh hơn, và cảm giác thiếu thốn không thể gọi tên ám ảnh bạn sẽ được xóa nhòa bằng cách cho phép các khía cạnh ấy của bản thân trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống khi thức. Nếu người nổi tiếng trong giấc mơ bị thương, chết, hoặc đói, có thể muốn cho bạn biết rằng bạn đang có tất cả, nhưng lại đang giết chết khía cạnh đó của chính mình. Tuy nhiên, không bao giờ là quá muộn. Bạn có thể, dễ dàng hơn bạn nghĩ, kết hợp vào cuộc sống thực của bạn các loại hoạt động có thể kích thích và làm sống động phần ấy trong mình. Một điểm cần nhớ: Nếu bạn thấy chính mình đang băn khoăn về mong muốn từ đáy lòng mình rằng có nên hay không, thì hãy mở rộng các khả năng lựa chọn của mình ra. Bạn không cần phải hoàn toàn từ chối ước muốn sâu xa nhất cũng như không phải từ bỏ công việc của mình để bắt đầu việc kinh doanh. Bạn có thể ở nguyên đó và chỉ cần nhón chân xuống nước, cho chính mình những trải nghiệm bạn khao khát mà không cần phá hủy cách sống hiện tại.

Nếu bạn có khuynh hướng nghi ngờ sức mạnh hoặc tự giới hạn bản thân, những giấc mơ sẽ xuất hiện để cho bạn thấy một ánh sáng đầy năng lực và mạnh mẽ hơn. Quyền lực là một vấn đề nhạy cảm. Đó dường như là thứ tất cả chúng ta đều mong muốn, nhưng đồng thời ta cũng phủ nhận sự tồn tại một nội lực bên trong mình. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đều giống như các nhân vật trong câu chuyện Phù thủy xứ Oz (Sư Tử, Bù Nhìn và Người Thiếc), đi tìm ở bên ngoài một lời tiên tri nào đó giúp ban cho ta những sức mạnh mà ta bí mật sở hữu nhưng không biết chúng ta có. Nếu bạn mơ thấy mình đánh bại một con rồng, hoặc bay lượn tự do, hoặc yêu cầu phá bỏ những rào cản, hãy chú ý đến những hình ảnh này. Bạn đang được xem một hình ảnh chính xác hơn nhiều về bản thân so với bạn có thể nhận ra.

Theo một nghĩa rất thực tế, những giấc mơ của bạn cho phép bạn nắm lấy sức mạnh và khả năng của mình để phát triển và sáng tạo. Tôi khuyến khích bạn hoài nghi về những nghi ngờ trước đây của mình về bản thân, và khẳng định với bản thân rằng các nhân vật anh hùng thường xuất hiện trong giấc mơ là chính bạn. Tôi tin rằng bạn sẽ nhận ra rằng trong cuộc sống cũng như trong các giấc mơ, chính bạn là người anh hùng mà bạn đang chờ đợi.

Thư mục trích dẫn và tài liệu tham khảo

Chương 1

“Tôi tự hỏi giấc mơ ấy có ý nghĩa gì…”

G

ayle Delaney, Living Your Dreams, Harper & Row, 1981, p. 136: “The Many Faces of Inspiration.” Các giấc mơ truyền cảm hứng được mô tả mang đến những cảm giác tựa như tri thức thuần túy. Những giấc mơ này có thể khó được nhớ lại, cũng như phân tích vì đa phần nội dung của chúng đều khá khó nắm bắt.

Patricia Garfield, Creative Dreaming, Ballantine Books, 1974, p. 199. Garfield đề xuất rằng các hình ảnh trong mơ là rất quan trọng, chúng có thể được dùng trong thiền định, định hướng bản thân cũng như phát triển cá nhân.

Chương 2

Điều chỉnh thấu kính, nhìn vào bên trong

Gayle Delaney, Living Your Dreams, Harper & Row, 1981, p. 5. Delaney gửi gắm đến những người thích phân tích giấc mơ một ẩn dụ vô giá; rằng mỗi chúng ta đều mang trong mình các “sản phẩm” là giấc mơ; và mô tả các thành tố giấc mơ như các “nhân vật,” “bối cảnh,” “đạo cụ,” và “hành động”. Phép loại suy này mang đến một bước ngoặt trong cách tôi khái niệm hóa các giấc mơ cũng như các thành tố giấc mơ.

June Singer, “A Jungian Approach to Dreamwork,” Dreamtime and Dreamwork: Decoding the Language of the Night, edited by Stanley Krippner, Jeremy Tarcher/ Perigee, 1990, p. 64. Singer tranh luận rằng, những giấc mơ vốn được tạo ra một cách toàn thể, thống nhất chứ không manh mún mảng miếng như cái cách mà những quá trình suy tưởng có ý thức thường dùng để xử lý thông tin. Bà gọi tiến trình vô thức này như một dạng “chủ tâm phân tán”. Các chi tiết vô hình với trí óc có ý thức thật ra lại khá tường minh với tiềm thức.

Jeremy Taylor, Where People Fly and Water Runs Uphill, Warner Books, 1993, “What You Should Know About Dreams: Ten Basic Assumptions,” pp. 3 – 11. Taylor đề xuất rằng “mọi giấc mơ đều đến [với bạn] để phục vụ cho sức khỏe và sự toàn vẹn [của bạn],” và rằng chỉ người nằm mộng mới có thể chắc chắn về ý nghĩa mà giấc mơ của họ bao hàm.

Chương 3

Nhật ký giấc mơ: Công cụ ghi nhớ

Ann Faraday, The Dream Game, AFAR Publishers, 1974, “Keeping a Dream Diary,” pp. 37 – 48. Faraday khuyến khích những người thích giải mã giấc mơ hãy giữ bên mình một quyển nhật ký ghi chép lại tất cả các chất liệu từ giấc mơ mà họ nhớ được, không bỏ qua bất kỳ chi tiết nào dù là nhỏ nhất, ghi chép lại tất cả. Bà cũng khuyến khích hãy lưu lại càng nhiều giấc mơ mỗi đêm càng tốt.

Chương 4

Ngôn ngữ của giấc mơ

Ann Faraday, The Dream Game, AFAR Publishers, 1974, “Why the Universal Language Has No Dictionary,” pp. 51 – 66. Faraday khéo léo lý giải niềm tin hiện thời phổ biến giữa những người thích giải mã giấc mơ, rằng các hình ảnh trong mơ được thiết kế để thổ lộ chứ không phải để che giấu ý nghĩa, vì thế một hình ảnh trông kỳ quặc thật ra có thể là một dạng thức nên thơ của cảm giác, hành động và các trải nghiệm sống chủ quan, hoàn hảo gần như Toán học trong việc biểu tượng hóa những gì [mà hình ảnh kỳ quặc này] mô tả. Sự kỳ quặc nằm trong sự kìm hãm các nhãn quan mà qua đó ta nhìn các biểu tượng, chứ không thực nằm trong biểu tượng như là chính nó.

Louis Mehl, Mind and Matter, Mindbody Press, 1986, discussion of symbolization, p. 106. Mehl – một thầy thuốc chữa trị theo cách tiếp cận toàn thể, mô tả khả năng của tâm trí con người, có thể tạo nên các biểu tượng cho bệnh tật, sức khỏe và các bình diện khác nhau của cái tôi.

Chương 5

Kỹ thuật 5 bước

Gayle Delaney, Breakthrough Dreaming: How to Tap the Power of Your 24-Hour Mind, Bantam Books, 1991, “Unlocking the Secrets of Your Dreams,” pp. 46 – 75. Delaney giải thích tầm quan trọng của việc giữ óc khôi hài kết hợp với sự tôn trọng trong giải mã giấc mơ cũng như việc đưa ra nhiều gợi ý tuyệt vời về biểu đồ hóa các giấc mơ và viết các khung sườn của những thành tố quan trọng trong mơ.

Jeremy Taylor, Where People Fly and Water Runs Uphill, Warner Books, 1993, Appendix II: Some Basic Hints for Working with Your Dreams by Yourself, pp. 263 – 68. Taylor đề xuất các cách tiếp cận sáng tạo trong việc phân tích các giấc mơ khó hiểu. Các đề xuất bao gồm vẽ giấc mơ, diễn lại hành động trong mơ, và tạo ra một phiên bản rút gọn của giấc mơ đó, bao gồm các thành tố về mặt cảm xúc.

Chương 6

Các ẩn dụ và biểu tượng điển hình

Patricia Garfield, The Healing Power of Dreams, Simon & Schuster, 1992, “Forewarning and Diagnostic Dreams,” pp. 86 – 114. Garfield có tài năng thiên bẩm trong việc nhận ra các ẩn dụ về hình thể và các biểu tượng trong mơ. Bà gửi đến độc giả các hướng dẫn vô giá, để học cách phân biệt giữa các dấu hiệu hình thể mang tính cảnh báo trong mơ và các thành tố có tính biểu tượng mang trong mình ý nghĩa tâm lý chứ không phải hình thể/thân thể.

Patricia Garfield, Women’s Bodies, Women’s Dreams, Ballantine Books, 1988, “Women’s Sexual Dreams,” pp. 118 – 36. Garfield chia sẻ các ví dụ về giấc mơ thấy rắn, giường chiếu, các vật thể có hình dáng giống sinh thực khí và các động vật hung tợn như biểu tượng của năng lượng nam tính cũng như các chủ đề về tính dục.

Louise L. Hay, You Can Heal Your Life, Hay House, Inc., 1984, pp. 150 – 88. Hay, một nhà tham vấn và giáo viên, đưa ra một danh sách các bộ phận cơ thể, bệnh tật và các liên kết tâm lý của chúng cũng như các ý nghĩa mà bà đã chắt lọc từ kinh nghiệm hàng thập kỷ – làm việc với các bệnh nhân mắc bệnh mãn tính và nan y.

Robert H. Hopcke, Men’s Dreams, Men’s Healing, Shambhala, 1990, “The Dream of the Adolescent Cop,” pp. 41 – 74. Hopcke – một nhà phân tâm theo trường phái Jung, chuyên làm việc với cánh mày râu và các giấc mơ của họ, cho biết các thông tin nội quan về những chủ đề thiên về hành động trong các giấc mơ của đàn ông, cũng như các vấn đề của phái mạnh với quyền lực áp chế và sự tự chủ (đôi khi được mô tả trong mơ dưới hình ảnh cảnh sát và các hình tượng quyền lực khác).

Zev Wanderer and Tracy Cabot, Letting Go: A 12-week Personal Action Program to Overcome a Broken Heart, Dell, 1987. Thất tình – vỡ tim, là một trong những vấn đề thường đến trong mơ với tần suất lặp lại định kỳ, và thường trỗi lên mỗi dịp kỷ niệm, một cách rõ ràng và chính xác; giúp cho người giải mã giấc mơ nhận ra dáng hình của những nỗi sợ cá nhân và cung cách mà những nỗi sợ này tạo thành việc phủ nhận tiềm năng tìm được tình yêu.

Chương 8

Những giấc mơ phi thường

Gayle Delaney, Breakthrough Dreaming, Bantam Books, 1991, “Nightmares, Recurring Dreams, and Common Dream Themes,” pp. 353 – 78. Delaney bàn luận về những cơn ác mộng và những chủ đề thường gặp trong các giấc mơ.

Jon Klimo, Channeling: Investigations on Receiving Information from Paranormal Sources, Jeremy Tarcher, Inc., 1987, “Dream Channeling,” pp. 185 – 204. Klimo bàn luận về những lý do khả dĩ vì sao trạng thái nằm mơ có thể là một nguồn tài nguyên dị biệt. Theo một vài cách nhìn, trạng thái khi mơ, tương đương với trạng thái “trance” – thôi miên, của các đồng cô hoặc của những người hành thiền, và “cái tôi trong mơ dường như dễ tiếp nhận những kiểu giao tiếp dị thường hơn là khi còn tỉnh”. Klimo tin rằng những người nằm mộng thấy nhận được các thông tin và thấy rằng những thông tin đó vượt hơn những gì họ thường biết, có lẽ nên tin hơn vào các trải nghiệm của mình, vận dụng lẽ thường cũng như trực giác cá nhân để làm chuẩn cho niềm tin của mình.

Stanley Krippner, Dreamtime and Dreamwork, “Tribal Shamans and Their Travels into Dreamtime,” pp. 185 – 93. Krippner đề xuất rằng chúng ta nên ghi nhận sự cởi mở của các cư dân bản địa – họ chấp nhận các tác động và thực tại của những trải nghiệm mà giấc mơ mang đến. Nếu có điều gì bộc khởi trong giấc ngủ “hành động này được xem như là thật, theo một cách nào đó”. Đây là một lối nghĩ hữu ích cho những ai yêu thích giải mã giấc mơ có thể thử: Nếu bạn trải qua một trải nghiệm trong mơ, theo một cách nào đó, bạn đã không còn như trước. Để phát triển và khám phá bản thân, người nằm mộng bắt đầu tôn trọng giấc mơ như mang trong mình một phần hiện thực sớm chừng nào, thì thành quả của việc giải mã giấc mơ sẽ đến càng nhanh và càng sâu sắc chừng nấy.

Stephen LaBerge, Lucid Dreaming, Ballantine, 1985, “The Practical Dreamer: Applications of Lucid Dreaming,” pp. 167 – 96. LaBerge mô tả một “giấc mơ chữa lành” trong đó sự tương tác minh mẫn với hình ảnh trong mơ đóng vai trò như chất xúc tác cho việc chữa lành.

Melvin Morse, Closer to the Light, Villard Books, 1990, “The Pure Light,” pp. 115 – 34. Morse là một bác sĩ nhi nổi tiếng với khám phá về trải nghiệm cận tử ở trẻ em, ông tả lại các mô tả phổ quát của bọn trẻ về thứ ánh sáng thuần khiết và mang tính chuyển đổi, không chỉ soi đường mà còn dẫn đến các cảm xúc (về tình yêu). Mô tả về thứ ánh sáng này còn phổ biến ở những người nằm mơ, khi họ nhớ tới các giấc mơ về ánh sáng. Những người nghiên cứu tìm kiếm những lý giải khả dĩ/những mối nối giữa các giấc mơ về ánh sáng có thể tham khảo thêm các nghiên cứu từ Morse.

Michael Talbot, The Holographic Universe, Harper Collins Publishers, 1992, pp. 1 – 50, 206, 209 – 10. Talbot bàn luận về mô hình toàn ký của nhận thức và khả năng cả vũ trụ này vận hành bằng một mô hình toàn ký. Ông đề xuất lý luận này như một lý giải cho các hiện tượng như ngoại cảm, tiền-nhận-thức và mô thức liên tục lặp đi lặp lại của thực tế các ý nghĩ và niềm tin của chúng ta.

Joan Windsor, The Inner Eye: Your Dreams Can Make You Psychic, Prentice-Hall, 1985, “Dream Interpretation,” pp. 115 – 22. Windsor cung cấp những gợi ý hữu ích trong việc phiên dịch giấc mơ hàm chứa các chủ đề liên-cá-nhân, chấp nhận các khả năng và kiểm tra những liên hệ của chúng đến các vấn đề trong đời sống thực tiễn.

Chương 9

“Nhà máy giấc mơ thân mến…” – Cột tin tư vấn hằng đêm của bạn

Gayle Delaney, Living Your Dreams, Harper & Row, 1979, pp. 20 – 32. Delaney ủng hộ việc sử dụng một “câu thần chú tập trung nằm mơ” trước khi ngủ như một phương pháp xúc tác cảm ứng các giấc mơ về các chủ đề hay câu hỏi nhất định.

Ann Faraday, The Dream Game, AFAR Publishers, 1974, “Asking Your Dreams for Help,” pp. 142 – 68. Faraday đề xuất viết ra yêu cầu thật dễ hiểu dưới dạng đoạn văn, gửi đến phần nội tâm hay “phần quyền lực giấc mơ” trước khi đi ngủ, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải ghi lại bất kỳ điều gì diễn ra trong mơ, bất kể tình tiết đó xuất hiện trông như có liên quan đến yêu cầu đã được đặt ra trước đó.

Patricia Garfield, Creative Dreaming, Ballantine Books, 1974, “Inducing Dreams,” pp. 24 – 36. Garfield mô tả khung sườn nội tâm và các điều kiện thể lý lý tưởng để chọn một chủ đề trong mơ và thành công trong mơ thấy điều bạn đã chọn.

Chương 10

Chia sẻ giấc mơ với người khác

Stanley Krippner, PhD, editor, Dreamtime and Dreamwork, Jeremy Tarcher/ Perigee, 1990. Deborah Jay Hillman, “The Emergence of the Grassroots Dreamwork Movement,” Dreamtime and Dreamwork, pp. 13 – 20. Hillman mô tả sự phát triển của các nhóm giải mã giấc mơ và các phương pháp phổ biến nhất để chia sẻ và khám phá giấc mơ trong bối cảnh hội nhóm. Bà khuyến khích người đọc chuyển dịch đến một vị trí nắm quyền và tự tin với các giấc mơ của mình – một nhận định mang tính hiện đại và dịch chuyển từ hệ hình áp đặt từ các chuyên gia – xuống những người không chuyên, sang mối quan hệ thân mật, cá nhân với các giấc mơ của chính bạn và những quyền năng mà chúng chứa đựng.

Robert Van de Castle, PhD, Our Dreaming Mind, Ballantine Books, 1994, p. 467. Van de Castle bình luận rằng khám phá các giấc mơ của riêng bạn cũng như biến việc quan sát các ký ức về giấc mơ thành thói quen sẽ ngày càng dễ đạt đến.

Chương 11

Từ đây ta đi đâu

Lewis Engel and Tom Ferguson, Imaginary Crimes: Why We Punish Ourselves and How to Stop, Houghton Mifflin Company, 1990, “Running Away From Happiness: Why We Avoid Intimacy, Pleasure, and Sexual Fulfillment,” pp. 146 – 68. Đây là một lý giải tuyệt hay về hiện tượng tránh né hạnh phúc; cái cách mà nó ngụy trang như lý lẽ trong mô thức suy nghĩ của chúng ta, và cái cách mà chúng ta có thể quyết định tự thả mình ra khỏi ngục tù này bằng cách trở nên tỉnh táo về các mô thức này cũng như quyết định ôm lấy đời mình, mở ra những hướng đi mới.

Al Siebert, The Survivor Personality, Berkley/Perigee Books, 1996, p. 29, 36, 170. Siebert mô tả giá trị của sự phát triển cá nhân và tiến hóa trong chọn lựa hợp tác và quý trọng các phẩm cách mang tính nghịch lý hay đối nghịch trong chính bản ngã [của mỗi người].

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.