Thiên sơn mộ tuyết - Chương 16 - phần 1
Chương 16
Tôi nằm viện để bác sĩ theo dõi tình hình thêm một ngày rồi xuất
viện, còn trẻ nên tôi hồi phục rất nhanh. Hai tuần sau, tôi về trường đi học,
suốt ngày nghe bài ca bất hủ của Duyệt Oánh khuyên tôi nên tĩnh dưỡng hẳn một
tháng, nhưng kệ, tôi chỉ sợ bỏ nhiều tiết học sẽ đuổi không kịp bài vở.
Trước mặt tôi, Triệu Cao Hưng lỡ miệng kể Mộ Chấn Phi đã bay về
Hồng Kông, hình như nhà anh ta có chuyện. Ban đầu, tôi chẳng mấy bận tâm nhưng
sau đó, tôi tình cờ lên mạng đọc được tin tức về một ngân hàng đầu tư vừa vỡ
nợ. Trong tình hình kinh tế suy thoái như hiện nay, ngân hàng vỡ nợ cũng chẳng
phải chuyện động trời nhưng tôi biết Mạc Thiệu Khiêm có kha khá cổ phần ở ngân
hàng này.
Đại gia cũng có lúc rơi vàocảnhnước sôilửa bỏng cơ
đấy. Tác động của Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn lan rộng
toàn cầu, cuộc sống đúng là có phần chật vật hơn nhưng dân đen thì đâu chịu ảnh
hưởng nhiều, nhất là đám sinh viên cả ngày bận vắt chân lên cổ, không lên lớp
thì cũng phải viết báo cáo thí nghiệm như tôi.
Thứ Tư này, khoa tôi tổ chức một buổi tọa đàm chuyên ngành tại
hội trường khoa, do một chuyên gia ngành Khoa học vật liệu chủ tọa. Cũng như
bao sinh viên khác, tôi và Duyệt Oánh háo hức tới nghe giảng, hôm đó cả khán
phòng chật kín người.
Vị chuyên gia trong ngành Khoa học vật liệu ấy họ Tưởng, cô là
hình tượng phụ nữ điển hình của ngành Kỹ thuật, với trang phục gọn gàng đơn
giản, tuổi tầm ngoại ngũ tuần. Cô diễn giải các vấn đề chuyên ngành một cách
mạch lạc, dễ hiểu, chi tiết, cặn kẽ, gây tác động lớn đến nhiều sinh viên,
chẳng mấy chốc, bầu không khí đã trở nên sôi nổi. Giáo sư Tưởng từng công tác
nhiều năm tại phòng nghiên cứu vật liệu tiên tiến của Đức, là người có bề dày
kinh nghiệm trong ngành, phương pháp nghiên cứu tình huống của cô luôn mang
tính thực tiễn cao, khiến tất cả sinh viên đều tập trung lắng nghe, tôi cũng
không ngoại lệ.
Đến giữa trưa, tọa đàm mới kết thúc, sở dĩ buổi nói chuyện kéo
dài hơn so với dự kiến hai mươi phút là bởi có quá nhiều người đặt câu hỏi. Sau
tọa đàm, tôi và Duyệt Oánh vừa rời chỗ ngồi thì thầy giáo đứng giữa lối đi gọi
đích danh tên tôi:
- Đồng Tuyết, em nán lại đã.
Chẳng biết có chuyện gì, chắc lại bưng bê trà nước gì đó, nhiều
lúc thầy cũng hay đánh đồng đội lễ nghi với đội tạp vụ. Tôi bèn đưa cặp sách cho
Duyệt Oánh cầm về trước, còn mình nán lại.
Thì ra thầy bảo tôi ở lại là do giáo sư Tưởng đề nghị. Cô ấy
nhìn tôi đầy áy náy:
- Hai cô cháu mình tìm chỗ nào đó vừa ăn vừa nói chuyện được
không?
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi đưa cô ấy đến Lầu Minh Nguyệt, vốn là
khách sạn do trường rót vốn xây dựng, làm nơi chuyên đón tiếp lãnh đạo cấp cao
và các chuyên gia đa ngành. Hiển nhiên phòng ăn ở đó xịn hơn căng tin trường
gấp n lần. Giáo sư Tưởng bao hẳn một phòng, phục vụ đem thực đơn vào, cô ấy chỉ
nhìn lướt qua rồi gọi đại vài món.
Tôi bưng cốc trà, lòng thấp thỏm tự hỏi không hiểu sao vị giáo
sư tiếng tăm lẫy lừng trong ngành, có thâm niên nghiên cứu ở Đức này lại tìm
tôi.
Nếu được cô ấy chọn làm nghiên cứu sinh thì còn gì bằng, khi đó
tôi có thể sang Đức, đến một nơi hoàn toàn mới lạ, chỉ cần xa được nơi này, tôi
nguyện vứt bỏ mọi gánh nặng trong lòng, không bao giờ về nữa.
Khổ nỗi làm gì có chuyện tuyệt vời thế, nghĩ đến đó, tôi không
nén được tiếng thở dài.
Giáo sư Tưởng để ý tôi nãy giờ, cô ấy hơi nhăn mặt khi thấy tôi
thở dài:
- Thanh niên mà thở vắn than dài gì vậy?
Bất giác, tôi ngồi thẳng lưng, kính cẩn nghe cô dạy bảo.
- Tình hình Thiệu Khiêm với Mộ Vịnh Phi gần đây có vẻ rất căng
thẳng, Thiệu Khiêm kiên quyết đòi ly hôn, cháu cũng biết cuộc hôn nhân của nó
không giống như người bình thường, nhất là quan hệ thông gia với nhà họ Mộ, chủ
yếu vẫn phải cân nhắc tới lợi ích kinh tế.
Tôi trố mắt nhìn giáo sư Tưởng, rốt cuộc cô ấy đang nói gì thế?
- Bản thân cô không thích Mộ Vịnh Phi, người phụ nữ này quen
thói đa mưu tính kế, hơn nữa, thủ đoạn cũng khó lường, trước kia, nếu không vì
bất đắc dĩ chắc Thiệu Khiêm cũng không lấy con bé đó.
Giáo sư Tưởng gỡ kính, đặt xuống, ánh mắt cô ấy trở nên dịu dàng
hơn:
- Đối với một người mẹ, chẳng gì buồn lòng hơn việc con mình
không được hạnh phúc.
Tôi nghĩ mình lú lẫn thật rồi, hoặc tôi chẳng hiểu cô ấy đang
nói gì cả.
- Từ nhỏ, Thiệu Khiêm đã là một đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt,
cô và bố nó không hợp nhau, hai người ly hôn từ hồi nó còn bé xíu. Cô thường
xuyên ra nước ngoài, một năm họa hoằn lắm mới được gặp con trai hai lần, lần
nào mẹ con gặp nhau, thằng bé cũng lầm lì, ít nói nhưng bản thân vô cùng nhạy
cảm. Bây giờ, cứ nghĩ đến là cô lại thấy đau lòng, nó theo bố từ nhỏ, cuộc sống
hầu như không hề có tuổi thơ, thú vui duy nhất là được ngồi bên cạnh nghe bố
họp hành. Bản thân thằng bé có niềm đam mê hóa học giống cô nhưng nó vẫn chọn
ngành Quản trị kinh doanh theo mong mỏi của bố. Năm nó hai mươi tuổi thì bố
mất, Thiệu Khiêm phải bỏ học về nước, lúc đó, cô đã nghĩ có lẽ đời nó chẳng còn
tìm thấy niềm vui nào nữa. Con trai cô vốn già trước tuổi lại rất mẫn cảm, tình
cảm của nó dành cho người bố đã khuất vốn khác người nên nó dồn hết nhiệt huyết
vào công việc quản lý sản nghiệp bố để lại. Tình hình lúc bấy giờ rất tệ, vài
cổ đông lớn câu kết với nhau, muốn tách lẻ công ty, sau đó vất vả lắm nó mới
giành được sự ủng hộ của nhà họ Mộ và cái giá phải trả là cuộc hôn nhân với Mộ
Vịnh Phi. Cô không ủng hộ nó làm thế, nhưng nó nói với cô rằng nếu đánh mất sự
nghiệp của bố thì cả đời này nó không bao giờ tha thứ nổi cho bản thân mình.
Năm đó, nó mới hai mươi hai tuổi. Khi cô về nước tham dự hôn lễ của con trai,
buổi tối trước hôm cưới, nó nói với cô: “Mẹ ơi, cả đời này, con không bao giờ
biết thế nào là hạnh phúc nữa”. Ruột gan cô đau như cắt, nó lấy vợ mà như một
sự hy sinh vậy, nó không yêu Mộ Vịnh Phi nhưng Mộ Vịnh Phi chỉ lăm le kiểm soát
nó. Hai đứa cãi vã ngay đêm tân hôn, rồi từ đấy bắt đầu sống riêng. Mộ Vịnh Phi
giở đủ mọi chiêu trò nhưng Thiệu Khiêm không thể yêu nổi con bé đó. Con trai cô
là người cố chấp, cô biết nó sẽ đạt được thành công trong sự nghiệp, có điều
bản thân nó không bao giờ cảm nhận được hạnh phúc. Hai năm trước, nó lạm dụng
rồi bắt đầu nghiện thuốc giảm đau, lúc phát hiện thì đã quá muộn, cô lôi nó
sang nước ngoài suốt nửa năm, ra sức bắt nó cai bằng được. Lúc đau đớn nhất nó
ôm cô rồi khóc, nó nói rằng nó không có hạnh phúc, người không có hạnh phúc
sống ở đời này còn có ý nghĩa gì? Nhưng cô là mẹ nó, cô không cho phép con trai
mình sa vào những thứ đó, cô gửi tặng con mình một chú chó dòng Samoyed vừa đầy
tháng làm quà, tên tiếng Trung là Đáng Yêu, cô chỉ mong loài động vật nhỏ bé ấy
có thể mang lại cho nó sự lạc quan, vui vẻ.
Từng lời cô ấy nói giống như sét đánh ngang tai, tôi không cắt
nghĩa được cũng chẳng tiếp thu được. Tôi cảm thấy sự việc quả thật quá sức
tưởng tượng, hóa ra vị giáo sư nổi tiếng này là mẹ của Mạc Thiệu Khiêm và cô ấy
đang ngồi trước mặt tôi, giãi bày tâm sự về con trai mình. Nghe cô ấy nói thì
Mạc Thiệu Khiêm quả thật giống như một kẻ hoàn toàn xa lạ, loại sống ở đời
không có đối thủ như hắn, loại máu lạnh vô tình như hắn mà lại đau khổ, khóc
lóc, nghiện thuốc giảm đau ư? Con người ấy hoàn toàn không phải Mạc Thiệu Khiêm
mà tôi từng quen biết, câu chuyện cô ấy kể cũng khác xa với những gì Mộ Vịnh
Phi từng tâm sự, nói cách khác thì mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không được hòa
thuận. Sực nhớ lần Mạc Thiệu Khiêm đưa mình thuốc giảm đau, tôi thấy rùng mình.
Đối với tôi, Mạc Thiệu Khiêm chỉ là một cơn ác mộng.
Tôi hoàn toàn không muốn nghe đến cái tên ấy như một phản xạ vô
điều kiện.
Phục vụ bắt đầu đưa món lên, giáo sư Tưởng kể thêm vài chuyện
nữa, chủ yếu về Mạc Thiệu Khiêm nhưng tôi chẳng để vào đầu được câu nào, tôi
chỉ mong tránh xa được con người ấy như tránh xa một mối hiểm nguy đầy tai vạ.
Ngoài nhục nhã và đau đớn ra, hắn chẳng mang lại cho tôi thứ gì.
Sau cùng, cô Tưởng nhẹ buông tiếng thở dài, hỏi:
- Cháu không định tha thứ cho nó sao?
Tha thứ cho hắn ư?
Không, cả quãng đời còn lại, tôi chỉ mong sao giữa mình và hắn
đừng có bất kỳ cuộc gặp gỡ nào nữa. Tôi chỉ mong hắn tha cho mình, tha cho
những việc bố tôi từng làm rồi mãi mãi gạt tôi ra khỏi trí nhớ.
Giáo sư Tưởng nhìn tôi bằng vẻ mặt rầu rĩ, cô ấy thở dài rồi
nói:
- Thôi vậy, cháu cứ quên những gì cô nói ngày hôm nay đi.
Rời khỏi Lầu Minh Nguyệt, tôi đi bộ qua lối nhỏ ven hồ về ký
túc. Bên bờ hồ Minh Nguyệt có không ít học sinh đang ngồi đọc sách, cũng có
nhóm đang tán gẫu hoặc nằm sưởi nắng. Tháng Hai xuân sớm, nhành dương liễu mới
chỉ nhú ra những sợi xanh non mà hoa mai trên đồi vẫn chưa hé nở.
Đi được nửa vòng bờ hồ, thấy chân mình rệu rạo, tôi tìm một ghế
đá, ngồi quay mặt về phía mặt trời.
Nắng đầu xuân choàng lên thân mình một cảm giác ấm áp, năm tháng
thoi đưa, mùa xuân đã gõ cửa rồi đó. Nửa tháng nữa thôi, hoa mai trên đồi sẽ đua
nở, đến lúc ấy hương thơm ngất ngây lan tỏa ngàn dặm, tiếng người nô nức gần
xa, người ta rủ nhau đến đây thưởng hoa, chụp ảnh đôi.
Đương nhiên bây giờ chỉ có lưa thưa khách vãng lai, làm gì có ai
đến tìm hoa sớm vậy chứ?
Nắng lan tỏa ấm áp khiến tôi lười biếng không buồn nhúc nhích,
chỉ muốn ngủ một giấc, tỉnh dậy sẽ quên hết những chuyện đã xảy ra trong ba năm
qua, kể cả là Tiêu Sơn hay Mạc Thiệu Khiêm.
Tôi muốn quên hết mọi thứ.
Cuối tuần, tôi không về nhà cậu, suốt hai năm qua tôi luôn cố
gắng hạn chế qua lại nhà cậu. Ban đầu thì bởi Mạc Thiệu Khiêm nên tôi sợ cậu
đoán ra ngọn ngành, về sau em họ đi du học, mợ cũng xin nghỉ để sang đó chăm
sóc em, thế nên tôi càng không tiện ghé qua nhà cậu.
Hai ngày nghỉ cuối tuần, ký túc xá vắng lặng, Duyệt Oánh cũng ra
ngoài với Triệu Cao Hưng. Ngồi một mình buồn chán, tôi đành lôi từ mới ra học,
ngoại trừ học hành ra, tôi chẳng biết làm gì khác. Năm ngoái tôi thi IELTS,
điểm cũng tàm tạm nhưng kết quả chỉ có hiệu lực trong vòng hai năm, tôi nghĩ
năm nay sẽ thi lại vì năm ngoái tôi cũng chỉ muốn thử cho biết mà thôi. Sau khi
tốt nghiệp, đa số sinh viên ngành này sẽ chọn con đường xuất ngoại, tha hương
biệt xứ hiện đang là ước ao lớn lao của đời tôi, thà đến một nơi xa lạ, không
ai quen biết để làm lại cuộc đời.
Tôi chỉnh điện thoại sang chế độ rung, mải đeo mp3 nên không để
ý điện thoại đang rung bần bật trên bàn, một lúc sau mới nhận ra. Thấy số máy
gọi đến là một thuê bao cố định quen thuộc, tôi liền tắt nguồn di động.
Chẳng bao lâu sau, đến lượt điện thoại phòng đổ chuông. Phòng
tôi ai nấy đều có di động nên chẳng mấy khi đụng đến máy bàn, vậy mà giờ đây,
nó lại reo ầm ĩ như thể cháy nhà, tôi liếc số máy gọi đến rồi cũng ngắt luôn
dây điện thoại.
Năm rưỡi, tôi xuống lầu đi lấy nước, tiện thể mua cơm. Sân
trường vào dịp cuối tuần vắng tanh, lấy nước không cần phải xếp hàng. Tôi khệ
nệ một tay xách nước, một tay cầm cặp lồng về ký túc xá, xa xa thấy có bóng
người đứng đợi dưới lầu.
Tôi định quay lưng bỏ đi nhưng người đó nhanh mắt thấy tôi, liền
gọi với:
- Đồng tiểu thư!
Tôi dửng dưng nói:
-Xin lỗi, tôi không biết ông.
Quản gia của Mạc Thiệu Khiêm nói:
- Đáng Yêu chết rồi ạ!
Đáng Yêu chết rồi à?
Chết rồi thì đã sao? Tôi cũng đâu ưa gì con chó đó.
- Mạc tiên sinh đang bệnh.
Rồi sao nữa? Khó lắm tôi mới thoát được hắn. Cứ tạm cho là tôi
nợ hắn nhưng cũng thanh toán sòng phẳng từ lâu rồi mà.
- Cậu ấy không chịu đi bệnh viện, phiền Đồng tiểu thư ghé thăm
cậu ấy một chuyến, được không ạ?
Tôi nhìn người đàn ông trước mặt mình, áo quần phẳng phiu, dáng
đứng thẳng tắp, như thể bấy lâu nay vẫn vậy. Tôi theo Mạc Thiệu Khiêm đã ba năm
nhưng thậm chí người đàn ông này tên là gì tôi cũng chẳng biết, có điều lúc nào
ông ta cũng xuất hiện đúng lúc rồi sắp xếp mọi việc trong nhà quy củ đâu ra
đấy. Mấy kẻ làm công ăn lương cho Mạc Thiệu Khiêm đều có một kiểu này, ai cũng
có tác phong hao hao hắn.
Cuối cùng tôi buộc phải lên tiếng:
- Chẳng phải ông từng học các lớp huấn luyện quản gia kiểu Anh
rồi đó sao? Anh ta ốm thì các người đưa anh ta đi bệnh viện, không thì mời bác
sĩ đến nhà, Mạc Thiệu Khiêm giàu có như thế ông ngại cái gì?
Sắc mặt người quản gia vẫn bình thản, dáng dấp vẫn tao nhã, lịch
thiệp, thậm chí ông ta còn rất uyển chuyển nói:
- Thưa Đồng tiểu thư, phiền cô ghé thăm cậu ấy một lần này.
- Tôi và anh ta thôi nhau từ lâu rồi, tôi không muốn lại gặp anh
ta nữa.
Tôi cảm thấy vô cùng ngán ngẩm, tại sao đám người này cứ hùa
nhau kéo tôi về với quá khứ mà tôi đang cố gắng quên đi? Kể cả Mạc Thiệu Khiêm
có lăn đùng ra đấy thì liên quan gì đến tôi? Tôi chưa vỗ tay vui mừng vì tôi
biết bố mình nợ hắn, những chuyện đấy qua lâu rồi, tôi đã thanh toán nợ nần
xong xuôi rồi.
- Ông về đi, Mạc Thiệu Khiêm có phải trẻ con lên ba đâu, ốm thật
thì ông cứ đưa đến bệnh viện là xong, lo gì, anh ta có trừ tiền lương của ông
đâu.
- Mạc tiên sinh không biết tôi đến đây.
Quản gia dường như đã hơi ngán ngẩm:
- Là tôi tự đến, thực ra dạo này không một ai trong nhà dám nhắc
tới cô. Hôm Đáng Yêu chết, Mạc tiên sinh ôm nó trong bệnh viện thú y cả một
đêm, hôm sau, bảo tôi cho Hương Tú nghỉ việc. Lỗi chẳng phải do Hương Tú làm
việc tắc trách, mà bởi cứ gặp cô ấy là lại nhớ đến Đáng Yêu nên cậu ấy không
muốn thấy Hương Tú nữa. Xưa nay, cậu ấy vốn là con người như vậy, không một ai
dám nhắc đến Đáng Yêu, cũng như không một ai dám nhắc đến cô trước mặt cậu ấy,
lần này quả thực bế tắc lắm tôi mới phải đến tìm cô, chứ bình thường tôi không
dám quấy quả thế này.
Tôi chẳng muốn nghe ông ta huyên thuyên nữa, liền nói:
- Cơm của tôi nguội rồi đây này, cảm phiền ông để tôi đi ăn cơm
đã.
- Thưa Đồng tiểu thư. - Nhìn mặt ông ta dường như thoáng vẻ nhẫn
nhục. - Cô đã làm đơn xin hỗ trợ học phí lẫn đơn xin học bổng.
Tôi quay phắt đầu, nhìn ông ta.
- Học bổng có được xét duyệt hay không còn phụ thuộc vào ngân
sách mà Mạc tiên sinh là thành viên hội đồng quản trị. Còn ngân hàng cô làm đơn
xin hỗ trợ học phí, có lẽ cô không biết cậu ấy cũng có cổ phần ở đó.
Mẹ kiếp! Câu chửi này tưởng quên lâu rồi, vậy mà giờ vẫn bật
được ra. Đám làm thuê cho Mạc Thiệu Khiêm cũng là một lũ khốn nạn y chang hắn,
hết uy hiếp rồi lại dụ dỗ, chẳng còn trò nào hay ho hơn.
Tôi tức lộn ruột, nói:
- Thì tôi xin ngân hàng khác, tên họ Mạc đó tưởng mình là thánh
chắc.
- Thưa Đồng tiểu thư, tôi chỉ hy vọng cô đến thăm cậu ấy, ngoại
trừ việc đó ra, tôi không yêu cầu gì cả, chỉ cần đến thăm cậu ấy là được.
Quản gia vẫn bóng gió nói:
- Tính ra cũng đỡ vất vả hơn việc phải làm lại đơn xin hỗ trợ
học phí.
Được lắm! Kể cả có uy hiếp hay dụ dỗ đi chăng nữa cũng đừng hòng
tôi chịu thua. Nhưng vẫn phải công nhận lời ông ta nói cũng có lý, nếu phải xin
hỗ trợ học phí lại từ đầu, đừng nói đến việc có được thông qua hay không, mà cứ
nghĩ tới quá trình làm thủ tục lẫn phê duyệt đầy phức tạp và lằng nhằng đó là
tôi đã oải lắm rồi.

