Gió trắng - Chương 11 phần 1
Chương 11: Gió trắng
Ký ức là một
miền dữ dội xa xôi…
- Thu, xuống
mau kẻo khách đợi nhé! Ở cửa Một, chỗ quán bà Tình ấy…
- Vâng, em xong
ngay.
Không đợi thang
máy, tôi nhảy 3 bậc một theo cầu thang bộ xuống quán bà Tình. Ông khách từ Việt
Nam
đang đợi tôi ở đó, bên đĩa mì xào õng mỡ, đặc sản của quán. Trong quán không
còn ai khác ngoài bà chủ đang ngáp ngắn ngáp dài bên đống đồ khô, đa nem, măng
miến mới nhập về.
Đó là một người
đàn ông có gương mặt của U50, vóc dáng lại là U40. Hai vết sẹo kéo dài từ cằm
về phía tai trái, nhưng được sắp đặt khéo léo thế nào đó khiến chiếc cằm bạnh
ra lại càng có vẻ đàn ông. Dáng người thanh nhã, mặc quần bò áo phông xanh cộc
tay cắm thùng, chân đi giày thể thao, đôi bàn tay mạnh mẽ, cơ nổi cuộn. “Show
hàng thế!” - Tôi nghĩ thầm, phân vân không biết xưng hô thế nào cho phải. Trời
này ở Nga mà mặc cộc tay thì cũng hơi chủ quan! “Em bảo cái gì chủ quan?” Người
khách vừa hỏi vừa đứng dậy khỏi bàn, mỉm cười hơi tinh quái. “Không phải cái
gì, mà là ai ạ… Cháu…. em bảo anh chủ quan. Trời lạnh rồi.”
- Hết 100 anh
ạ. Anh có mua thuốc lá nữa không, lát tôi lấy về cả mấy tút cho. Vị chi cả thảy
là… cộng với cái card điện thoại sáng nay anh lấy nữa… - Bà Tình lẩm nhẩm tính
toán. Quán tên Tình mà vào chỉ thấy tiền. Khách Việt Nam vào đây thể nào cũng bị chém.
Tôi nhớ ở ốp này có một gia đình rất nổi tiếng, bố mẹ tên là Châu, Bảo bán hàng
ăn, hai đứa con trai là Lâm và Vận đi lấy thuốc lá, bao đóng hàng đổ cho các
nhà bán lẻ ở Salut 3, bán đắt như cứa cổ. Mọi người hay truyền nhau câu: “Châu
chém, Bảo băm, Lâm luộc, Vận vặt”. Tôi bất giác toét miệng cười.
- Em cười gì
thế?
Tôi lúng túng
chống chế:
- Thì em cười
anh, mặc áo cộc trong khi ngoài đường, Tây còn phải khoác áo đơn áo kép.
- Em yên tâm,
hôm nay trời sẽ ấm.
- Sao anh biết?
- Anh cảm nhận
được. Anh ở xứ này hơn 20 chục năm cơ mà!
Nhiều đến vậy
sao? Tôi phân vân tính nhẩm. Tôi mới ở đây 6 năm mà đã thấy thời gian dài dằng
dặc như cả một đời người. Nếu không vì bố tôi ham cái bằng tiến sĩ (đương nhiên
là cho tôi, nhưng tôi có cần đâu?) thì tôi đã không ở lại. Trước chỉ cắm đầu
vào học, giờ tôi cũng túc tắc làm thêm. Học bổng nhà nước cho không đủ sống, ăn
bám bố mẹ rồi ăn bám người yêu đến gần chục năm trong khi xung quanh bọn bạn đi
chợ đi búa, mua công mua nhà ầm ầm, tôi cũng thấy ái ngại. Loay hoay chưa kiếm
được việc gì khả dĩ hợp với đứa con gái tay chân mảnh khảnh yếu ớt lại lười
nhác sợ ngồi văn phòng pha chè bưng nước như tôi thì cái Thúy hàng xóm gọi đi làm
guide du lịch, chủ yếu đón khách Việt Nam sang hoặc đưa khách Việt ở Nga đi tua
từ Mat xuống Len. Công việc không nặng, được đi đây đi đó, tôi rất khoái. Chỉ
phải cái lịch trình hơi đơn điệu, một thời gian sau chân tôi đi cũng như cái
máy. Có lúc đáng lẽ đi về ốp lại đi tuốt lên Quảng trường Đỏ hoặc vào bảo tàng
Trechiankovskaya…
Tôi cùng người
khách đi ra đường. Cánh cửa gỗ nặng trịch sập lại phía sau lưng, đóng lại một
không gian chật chội tù túng, toàn mùi dầu mỡ nước mắm lẫn mùi khói thuốc. Một
luồng không khí lạnh ẩm ùa vào mặt tôi, tỏa mùi của mùa Thu. Thật khó tả cái
mùi ấy như thế nào, nhưng tôi ngỡ rằng đến mấy chục năm sau tôi vẫn còn có thể
nhận ra mùa Thu nước Nga qua mùi hương kỳ lạ này. Cái mùi trong trong, hình như
có chút hương hoa cuối mùa đang vội vàng khoe sắc lần cuối khi cành lá đã xiêu
vẹo tả tơi vì mưa thu. Hình như có cả mùi của lá mục vẫn bị chổi rễ cây tấp lại
đâu đó cuối vườn, giờ những cơn mưa lôi chúng lên, bắt chúng rón rén tỏa hương,
không thơm, nhưng không khó chịu. Hình như có cả mùi hăng nồng thoáng qua của
con bọ nào đó trên cây. Và mùi hương không lời của bầu trời sũng ướt len lỏi
trong lá phổi của tôi, đang khiến tôi run khe khẽ.
- Em lạnh sao?
- Không ạ. Chú…
Anh mặc thế còn không lạnh, em mặc áo khoác thì lạnh sao được.
- Vậy thì nghĩa
là, em run vì sợ.
- Sợ?
- Sợ đi với anh.
- Có gì mà em
phải sợ? - Tôi phì cười.- Em đi với biết bao người như anh, có thâm niên rồi.
Em còn biết chắc chắn mình sẽ đi đâu bây giờ. Này nhé. Quảng trường Đỏ. Đồi
Lenin. Quảng trường Chiến thắng. Hoặc quần thể nhà thờ Kolomen. Có thể nhà thờ
Đấng cứu thế, nhưng mà hồi anh ở đây thì chưa xây nên anh sẽ không biết đến.
- Em tự tin
nhỉ? Thế mà anh lại cảm thấy em run.
- Em run không
phải vì đi với anh, mà vì điều khác.
- Điều gì?
- Vì mùa thu…-
Tôi nói rồi im bặt, chợt thấy mình ngớ ngẩn quá. Nhưng người khách đã cười khẽ:
- Anh hiểu. Em
run vì những điều ở trong tim em, mà em cũng không rõ là cái gì. Anh cũng thế
đấy. Anh sẽ không đi theo lịch trình của em đâu, đó là lịch trình của cái đầu,
em biết rất rõ. Anh sẽ đi theo lịch trình của trái tim, cái này anh cũng chưa
rõ lắm. Mình cứ lên tàu rồi xem trái tim sẽ đưa anh em mình đi đâu nhé!
Tôi hoang mang
nhìn người đàn ông - khách hàng của tôi. Nhưng đồng thời cũng bắt đầu cảm thấy
như đang tham dự vào một trò chơi thú vị. Lần đầu tiên trong nghề làm guide,
tôi phải xóa bỏ lịch trình đã lên trong đầu để nhắm mắt đi theo khách hàng. Anh
tự tin, quả quyết và có đôi chút áp đặt. Từ bấy giờ, anh không còn nói chuyện
với tôi. Anh đi những bước nhẹ nhõm trong khí trời đã giá của mùa Thu nước Nga,
gật đầu với những bà già đứng bán hoa, bán nấm bên đường, thản nhiên đi qua mặt
các “chú” công an đang háo hức “tìm mồi”. Có lẽ tư thế của anh và những gì toát
lên trên gương mặt anh nó kỳ lạ làm sao ấy, khiến các bà già gật đầu chào ran
lên, còn mấy cái mũ kê-pi và dùi cui thì cụp xuống.
Anh dừng lại ở bến Park
Kultury, nhìn quanh. Nói, như nói thầm: “Chính ở đây này, có một ông già bán
báo bị mù.” Tôi im lặng nhìn theo tay anh chỉ, thấy một dãy những sạp báo quy
củ, sạp và lều đều màu đỏ có in chữ đen.
Ông ấy mù mà
hỏi tờ báo nào cũng lấy ngay được. Ông đeo kính nên anh không hề biết ông bị
mù, cho đến một hôm, anh mua báo và trả bằng nắm tiền lẻ lủng củng vét trong
túi áo. Ông lần nhặt từng đồng cho vào những ngăn riêng trên chiếc tạp dề đeo
trước ngực. Tần ngần mãi rồi xòe ra trước mặt anh đồng xu bé xíu khác lạ so với
những đồng Rúp bình thường, hỏi:” Làm ơn nói cho lão biết, đây là mấy rúp?”. Đó
là một đồng 25 cent người ta thối lại hôm anh đi qua Dubai, anh để lẫn vào túi…
Người đàn ông
đi theo hành trình của trái tim cứ vừa đi vừa lầm rầm như thế. Tôi thì hấp tấp
chạy bên cạnh anh, vì sải bước anh rộng tôi theo khó kịp. Tôi có cảm giác, với
anh, mình đã tàng hình. Anh nhìn xuyên qua tôi, hướng về những chiếc cột đèn cũ
kỹ nặng nề màu đen, đỡ những chao đèn tròn đang chạy dần về phía chúng tôi.
Thang máy chậm rãi đưa “đoàn du lịch” lạ lùng xuống tầng ngầm đón Metro… Tôi đi
không suy nghĩ. Anh có vẻ cũng vậy, hoàn toàn thả mình cho một người vô hình
khác đang kéo anh đi. Qua những bến Met đường vòng tròn, chuyển “khốt”, sang
tàu đường thẳng. Người chật như nêm. Đến bến Tulskaya, người ùa vào khiến tôi
cảm thấy sắp ngạt thở, gồng người chống đỡ sức xô đẩy của đám đông. Rất tự nhiên,
người đàn ông vòng tay ôm lấy tôi, xoay lưng ra bên ngoài che đỡ những tay
những chân những túi đồ lủng củng. Hai cánh tay trần của anh lạnh buốt. Tôi bất
giác áp nhẹ má vào đó để sưởi cho chúng ấm lên. Khi ấm lên rồi, tôi thấy tay
anh chợt hơi run.
Thoát khỏi đoạn
đường đông, anh buông tôi ra. Tôi bối rối tìm ghế ngồi, mặc cho anh đứng tựa
vào cửa kính có dòng chữ “Không tựa vào cửa”, nhắm mắt, người lắc lư theo nhịp
lắc của con tàu.
Rời bến
Yuzhnaya, chúng tôi lên xe buýt đi về phía ngoại ô. Trời đã lại lất phất mưa.
Con đường mở ra dài tít tắp đến chân trời, hai bên là những cánh rừng bạch
dương thân trắng, lá màu vàng nhàn nhạt, cũ kỹ. Tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn những
đợt gió đang ẩn hiện trên những ngọn cây bạch dương, thấy buồn. Tôi nghĩ đến
Dương, người yêu tôi. Anh học trên tôi hai khóa, giờ cũng sắp xong nghiên cứu
sinh. Chúng tôi yêu nhau 3 năm. Anh bảo gắng đợi học xong hết đi đã rồi cưới.
Tôi cũng chẳng ý kiến ý cò gì vì đằng nào chúng tôi cũng đã ở với nhau rồi.
Cũng đã là một gia đình nhỏ, chỉ khác là bố mẹ ở nhà không biết nên chúng tôi
chưa được phép có con. Đợt này Dương đi theo chân mấy người bạn sang Tàu đánh hàng,
bỏ tôi lơ vơ một mình ở nhà suốt, mà không hiểu sao tôi cũng chẳng thấy buồn.
Ba năm, thời gian ít ỏi thế mà chúng tôi đã kịp quá quen với nhau, đến mức có
hay không có nhau ở bên cạnh cũng chẳng còn quan trọng nữa…
Bây giờ thì tôi
chợt nhớ Dương thế cơ chứ. Vì người bạn đường đang ngồi cạnh tôi đây dường như
chìm vào một cơn sóng tinh thần khiến những ai ở bên anh cũng bị ảnh hưởng,
cũng muốn ngoái lại phía sau, để thấy cả một con đường nối dài với con đường
phía trước đang chờ đón, như chưa hề có sự phân chia: quá khứ, hiện tại hay
tương lai… Tôi những muốn chạy ào xuống xe để quay lại con đường đó, nơi có
nắng và hoa bồ công anh vàng rực rỡ dọc đường. Lùi một chút, tôi nhìn thấy vạt
hoa đã trắng, những bông trắng xoay xoay tan tác… Rồi một bụi cỏ lau cũng trắng
xóa, chỉ nở vào mùa Thu… “Tiếc rằng mùa hè qua giữa chúng mình chẳng nên chuyện
gì… Nhưng phía trước là mùa Thu… Anh cần em…” Hình như Dương từng hát cho tôi
bài này, khi cả hội trường tôi có khoảng hơn chục đứa đi nướng shashlyk trong
rừng. Anh cầm đàn và nghêu ngao hát. “Nụ hôn mùa thu”, bài Alla từng hát.
Trường có 7 nữ. Nhưng anh chỉ hát cho riêng tôi.
Thường thì
người ta chỉ cần nhau ít thôi, quãng độ cùng lắm là 3 năm. Tôi chua chát nghĩ.
Hoặc có thể ít hơn.
Bây giờ tôi và
Dương, nếu Dương không đi đánh hàng thì cũng chỉ gặp nhau ở bữa cơm chung buổi
tối, nhưng cũng chẳng mấy khi chỉ có hai người. Chúng tôi ở ốp sinh viên, lần
nào cũng có dăm ba người cùng ăn. Những bữa ăn cũng đầy đủ các thức, có rau
muống mua ở ốp Cộng, có cà pháo trong lọ quả trắng chua chua, đôi khi õng nước,
iu ỉu, có sấu đóng đá cậy ra từ tủ lạnh… Nhưng mà thiếu cái gì đó, chẳng rõ
nữa, khiến những bữa ăn không còn “đi vào trái tim” như ngày trước Dương thường
nói mỗi khi tôi xào mì cho anh ăn. Chúng tôi cũng ít kể chuyện ríu rít hơn,
thường là tôi hỏi, Dương thích thì trả lời, không thì anh cứ lơ đi như không
nghe thấy. Trên mạng cũng vậy. Anh đi Tàu, tôi và anh vẫn liên lạc qua chat. Thường
nhắn off nhiều hơn. Anh cũng trả lời những câu anh thích trả lời, hoặc thông
tin ngắn gọn, “lệnh” cho tôi làm một vài việc vặt liên quan đến hàng hóa. Còn
cái gì anh cho là vớ vẩn phiền phức thì coi như tôi độc thoại. Thậm chí, tôi
nhìn thấy anh sáng đèn mà không gọi, chỉ đợi khi anh out rồi mới bắt đầu viết.
Như thế tiện hơn. Tôi sẽ không quá bứt rứt khi phải độc thoại mà anh vẫn ngồi
đó…
Tự nhiên, khí
lạnh từ đâu chạm vào gáy và má tôi, mà rõ ràng xe buýt rất kín và vẫn ấm sực. So
vai lại, tôi bỗng thèm nói chuyện với người bạn đường. Tôi quay sang kể cho anh
nghe về những bữa ăn sinh viên… Anh cười:
- Sướng nhỉ,
các em bây giờ có đủ cả, chẳng thiếu gì, như ở Việt Nam ấy. Trước, anh toàn phải cán mì
nấu phở. Nước dùng thì cho thêm vị phở Bách Khoa, thế là sang trọng lắm rồi.
- Anh có nghĩ,
nếu chỉ cần thế thì tốt hơn à về Việt Nam mà ở, ở lại đây làm gì, không?
- Ừ… Có lẽ.
Nhưng mà nếu em về Việt Nam rồi, như anh ấy mà, thì em lại thấy thiếu những cái
khác, lại muốn có “nước Nga” ở trong nhà mình…
Anh đột ngột
đổi đề tài:
- Em có biết
mình đi đâu không?
- Em không biết.
- Thế mà cũng
đòi làm guide! - Anh cười giễu cợt.
- Em chiều
khách đấy chứ. Chứ theo nguyên tắc,…
- Anh biết rồi,
theo nguyên tắc, anh phải đi theo tua lên lịch sẵn của em, nếu đi đâu khác hơn
thì phải trả em thêm tiền.
- Đúng vậy…
Nhưng em cũng đoán được, có thể anh đi Tula
chăng? Ở đó có điền trang của Lev Tolstoy. Nhưng mấy bữa nữa vào Mùa hè rớt mới
đẹp. Chứ bây giờ chỉ tổ ướt và lạnh thôi.
- Gần đúng. Anh
đi gần hơn nhiều. Thành phố Serpukhov.
Tôi chưa đến đó
bao giờ, nên cuối cùng chúng tôi đổi vị trí cho nhau. Anh làm guide, còn tôi là
khách. Càng gần đến địa phận Serpukhov,
anh càng hào hứng. Anh trìu mến ngắm những ngôi nhà gỗ bé nhỏ nép sau những dãy
hàng rào xiêu vẹo màu xám, không ngớt kêu lên thán phục: “Trời ơi, trời ơi…”.
Những ngôi nhà tỏa khói mờ trên nóc chắc không thể ngờ có người đang ngắm nghía
chúng say sưa đến vậy. Bên vệ đường, những bà già để cái xô đựng đầy hoa cúc
cuối mùa đủ màu sặc sỡ. Trời hình như đã hửng lên.

