Hôm nay tóc tôi màu vàng - Phần 1 chương 4

Kim đồng hồ chỉ sáu rưỡi, bên ngoài trời đã tối. Sau một tuần
truyền hóa chất dài đằng đẵng tôi ngồi co gối trên ghế sofa trong bộ đồ
kiểu “mình chẳng thiết đi tắm nữa, đi ngủ ngay thôi”: Ngày mặc đồ ngủ.
Lạ là mọi người lại nghĩ tôi thích đi ra ngoài đầu không đội tóc giả hơn
là có đội. Rằng tôi muốn giải phóng đầu mình khỏi cái đống tóc đầy nặng
nề đó bởi chẳng mấy khi tôi đi ra khỏi cửa. Chính vì vậy: Giải tán tóc!

Nhưng
đâu phải vậy. Tôi hoàn toàn quên mất rằng thứ tóc trên đầu mình không
thuộc về tự nhiên. Tôi thậm chí đã quen với chiếc giỏ đựng tóc giả của
mình nằm cạnh đồ nữ trang như thể chúng vẫn luôn ở đó. Chúng đã trở
thành một phần trong tủ quần áo của tôi. Hơn thế nữa: một phần con người
tôi.

Trong bộ kimono với móng chân sơn đỏ, tôi nằm dài bên chiếc
laptop, vừa gõ vừa xem Nhật kỷ tiểu thư Jones. Ngạc nhiên này nối tiếp
ngạc nhiên khác, ngay cả đối với một cô gái tuổi đôi mươi như tôi. Thú
tiêu khiển này là liều thuốc tốt nhất giúp tôi quên đi điều cứ mãi luẩn
quẩn trong đầu: cuộc xét nghiệm ngày 31 tháng Ba tới. Tôi ngồi dậy tháo
Daisy ra. Trong khi tìm Sue, tôi lấy bàn tay phải xoa xoa đầu mình.
Trông nó thật kinh khủng nhưng sờ thì cũng thật dễ chịu. Rất mềm mại.

Trước
khi đổi tóc, tôi nhìn hình ảnh của mình trong gương thêm một lúc nữa.
Gò má may thay đã đầy đận trở lại, chỗ lõm sâu trên đó đã biến mất. Tôi
cố gắng để thấy mình đẹp nhưng không thành công. Tôi cố gắng để cảm thấy
là chính mình, cũng không thành công. Tôi vội vã đội Sue vào và lại nằm
dài trên sofa.

Thứ Năm ngày 31 tháng Ba năm 2005

Hít vào
thật sâu rồi thở ra thật dài, song hơn hết là nằm lặng im. Tôi phải tháo
hết đồ nữ trang và lần này cả áo ngực nữa, nhưng tôi vẫn được mặc áo
len để khỏi bị lạnh. Chiếc bàn hẹp tôi nằm trên đó đang chuyển động tới
một khoảng ngắn hẹp, chỉ dài bằng phần trên cơ thể tôi. Nơi cần kiểm tra
ở đây là vùng lồng ngực và bụng.

Tám dấu gạch chéo xuất hiện trên quyển lịch.

Ngày 31 tháng Ba.

Thời điểm quyết định.

Tôi
nằm im thin thít. Theo dòng suy tưởng, tôi hồi tưởng lại hai tháng vừa
qua. Hai tháng đó, chúng sống cuộc sống riêng của chúng vì vậy chúng rất
dài song cũng lại trôi qua rất nhanh. Nhiều thứ đã thay đổi. Cuộc sống
thường nhật của tôi, hơn hết là tương lai của tôi. Tôi phải thận trọng
nín nhịn để không làm ảnh hưởng tới công việc của bác sĩ X-quang. Quá
trình chiếu chụp diễn ra không lâu, chỉ khoảng mười phút, song cộng tất
cả các thủ tục lằng nhằng khác thì kéo dài đến hơn nửa tiếng. Việc
truyền chất phản quang vào cơ thể tôi không thành công ngay từ lần đầu
tiên. Người ta bảo ven của tôi thuộc dạng ven khó bởi chúng nằm rất sâu.
Song sau tất cả những gì tôi đọc và nghe được, họ luôn dùng cớ đó với
tất cả bệnh nhân. Đơn giản là họ chưa luyện tập tìm ven thành thạo.
Trước khi để lại trên người tôi năm vết bầm tím, họ nên luyện tập bằng
cách chọc vào người nhau trước thì hơn.

Bác sĩ L hứa sẽ gọi điện
ngay cho tôi để cứu vãn những ngày cuối tuần của tôi khỏi bị rơi vào
tình trạng mập mờ. Tôi không biết liệu điều đó có tốt hay không nữa. Thà
có những ngày cuối tuần đầy hy vọng còn hơn là biết rằng mình vừa có ít
đi một cuối tuần.

Sáu giờ chiều, chuông điện thoại reo. Thường
thì tôi sẽ không nghe máy bởi những lời động viên hỏi han đầy thiện chí
đối với tôi là quá sức chịu đựng. Song lúc đó tôi đang đứng ngay cạnh
điện thoại, nói đúng hơn là khi tôi hiểu ra sự việc thì nút nghe máy đã
được bấm. Khi nghe giọng nói ở đầu dây bên kia, hơi thở của tôi ban đầu
trở nên dồn dập, rồi sau đó dừng lại hẳn và cuối cùng người tôi toát đẫm
mồ hôi: đó là bác sĩ L.

“Sophie à, tôi đã xem xét tất cả các kết
quả chiếu chụp của cháu rồi. Chưa có kết luận cuối cùng nhưng...” Sau đó
là tràng giang đại hải những gì mà tôi chẳng mấy quan tâm. Có vẻ bác sĩ
L đã quên rằng tôi là bệnh nhân và tôi không có niềm hứng khởi nghề
nghiệp như ông ấy. Thế giới của tôi hoàn toàn sụp đổ ở cái góc bếp nơi
tôi vừa nhấc ống nghe điện thoại. Tất cả đều câm nín: cuộc nói chuyện
của mẹ với cô hàng xóm, người ba phút trước còn đứng trước cửa với bó
hoa tươi trên tay, cả những tiếng động ngoài phố. Chỉ có hơi thở của tôi
và giọng nói của bác sĩ L là còn có thể nghe thấy.

“Như vậy là tin tốt ạ?” tôi hồi hộp hỏi.

“Ừ Sophie, tốt.”

Một tiếng thở dài thườn thượt.“Bác hài lòng chứ?” “ừ Sophie, tôi rất hài lòng.”

Có tiếng hét vui sướng vang lên trong căn bếp nhà Van der Stap.

Thứ Hai ngày mùng 4 tháng Tư năm 2005

May
mắn cho tôi là còn có nhiều bệnh nhân ung thư khác cũng cô đơn. Hoặc
những người từng là bệnh nhân ung thư, họ biết và hiểu những trải nghiệm
và suy nghĩ điên rồ của tôi. Châm ngôn của tôi giờ đây là “Chia sẻ”. Từ
“Chia sẻ” làm tôi sởn hết gai ốc.

Chợ Noordermarkt hôm nay thật
đông đúc. Người mua tấp nập mua bánh mì, nấm, hoa; còn trong các quán cà
phê, mọi người đang nhâm nhi thưởng thức món bánh nhân táo. Mặt trời
chói chang và bầu trời xanh thăm thẳm. Gần một giờ, tôi có mặt ở quán De
Winkel với đôi kính râm đen to bản, chiếc băng đô đen quấn quanh mái
tóc vàng. Tôi hồ hởi tìm quanh các dãy bàn một người tên là Jurriaan.
Jurriaan cũng bị chẩn đoán ung thư khi mới 21 tuổi và tôi với anh ấy là
bà con họ xa. Giờ anh ấy đã 26 tuổi. Dưới một trong hai mái hiên nhỏ của
quán có một cậu thanh niên đang lặng lẽ ngồi đọc tờ Thương mại NRC. Tôi
tháo đôi kính râm, lông mi và lông mày của tôi đã dài được thêm phân
nửa.

“Anh là Jurriaan?”

Người thanh niên ngước mắt lên. “Không.”

“Ồ.”

Tôi đi tiếp và ngồi xuống bên một chiếc bàn.

“Em là Sophie à?” Tôi ngẩng lên rồi nhìn thẳng vào đôi mắt đen của người có lẽ là Jurriaan.

“Chào, anh là Jurriaan. Anh nghĩ chúng ta đã gặp nhau ở đâu đó rồi. Trông em quen lắm.”

Đôi
mắt đen của anh ấy nhìn tôi chằm chằm. Chúng tôi ôm hôn chào nhau.
Jurriaan mặc chiếc áo phông màu xanh lơ không quá rộng bởi tôi có thể
nhìn thấy cơ thể vạm vỡ của anh. Anh đi đôi giày hiệu Nike rất mốt và
mang một chiếc túi trang trí nhiều hình ảnh lẳng nhằng. Một khuôn mặt
đẹp dưới bộ tóc dày dặn. Giờ đây anh ấy không còn phải ra phố với một
quả đầu trọc và đôi mắt trụi lông mày song anh ấy đã từng trải qua những
điều tương tự như tôi. Tôi quan sát kỹ mái tóc và đôi mắt của anh ấy
một lần nữa. Cả lông mi lẫn lông mày đều đã mọc rất dày. Tuyệt, sang năm
tôi sẽ lại có bộ lông mi và lông mày dày như vậy.

Chúng tôi gọi hai cốc nước khoáng.

“Anh Jur” - tôi gọi người đồng cảnh ngộ của mình - “tình trạng của anh đã từng rất tệ hại?”

“Có
thể nói là vậy. Hóa trị không mang lại nhiều kết quả và xạ trị cũng
không làm teo u. Cuối cùng bệnh cũng tự nhiên thuyên giảm.”

“Tự thuyên giảm?”

“Ừ, các bác sĩ cũng không giải thích được điều này.”

“Vậy liệu em có phải tính tới điều gì đó tồi tệ không?”

“Trước
mắt em là một quãng thời gian khó khăn Sophie ạ. Nhưng anh thấy em đã
tìm thấy chút thanh thản nhất định và đang đi đúng hướng. Hãy cố giữ sự
thanh thản đó và đừng để sợ hãi làm em phát điên. Hãy tập trung vào đợt
xét nghiệm cuối cùng của em. Đợt xét nghiệm trước diễn ra thuận lợi đúng
không?”

Tôi không còn nhận thức được những gì đang diễn ra xung
quanh mình. Ngoài đôi mắt và giọng nói của Jurriaan, không còn gì tồn
tại đối với tôi nữa. Tôi gật đầu.

“Em là một cô gái mạnh mẽ, anh có thể thấy điều đó. Anh chắc chắn em sẽ vượt qua được.”

Hai
tiếng sau Jurriaan là người đứng dậy ra về trước. Tôi dõi mắt nhìn theo
anh đi qua khu chợ Noordermarkt giờ đã vắng tanh vắng ngắt. Tim tôi vẫn
đập thình thịch sau cuộc nói chuyện vừa rồi. Anh ấy là người cùng cảnh
ngộ đầu tiên của tôi và là một người tuyệt vời. Jan - bạn tôi - gọi đó
là “Bàn thắng hạnh phúc”. Đó là người tôi có thể trò chuyện và hơn thế
nữa anh ấy còn rất bảnh trai.

Khi Jur kể về kinh nghiệm, tình cảm
và nỗi sợ hãi của mình, tôi cảm thấy sởn gai ốc như lần biết yêu đầu
tiên hay như sau khi Annabel hôn tôi một cái thật kêu.

Thực sự tôi
là vậy, tôi thấy hơi có tình cảm với Jur. Chỉ đơn giản vì Jur cũng biết
bệnh ung thư là gì và vì giữa chúng tôi, một ánh mắt cũng đã là đủ rồi.
Và vì sự tốt bụng cùng vẻ đẹp trai của anh ấy nữa. Bánh nhân táo trộn
kem, đó là món tôi thích chén với anh ấy nhất ở quán phố cạnh chợ
Noordermarkt.

Thứ Ba ngày mùng 5 tháng Tư năm 2005

Có những
màu sắc đối nghịch với nhau một cách ghê gớm và đôi khi bố tôi không hề
nhận ra điều đó. Sáng nay ông mặc áo sơ mi xanh da ếch và bên ngoài là
chiếc áo khoác màu xanh ô liu. Ông nói là đặc biệt dành cho dịp này.
Dành cho dịp đưa tôi vào điều trị tiếp ở bệnh viện OLVG. Bố tôi luôn
được ba người phụ nữ của mình tư vấn về cách ăn mặc mọi lúc, mọi nơi bởi
ông không tự làm được điều đó. Như những ông bố khác, ông không thích
đi mua sắm, những việc như vậy không làm ông quan tâm. Trước đây chắc
hẳn phải rất khác bởi ông từng có bộ ria quặp ra hai bên dài tới hơn 20
phân. Trước khi đi ngủ ông phải dùng hai chiếc kẹp phơi quần áo giữ dáng
cho bộ ria. Mỗi lần đi tiệc tùng ông lại mang theo con cá sấu nhồi bông
đi giày trượt pa tanh của mình và kéo nó theo cả buổi sau lưng.

Hơn
ba mươi năm trước nhờ số tiền thừa kế ông đã mua được một ngôi nhà cổ
bên kênh và không lâu sau đó hành động này đã được chứng minh là một sự
đầu tư đúng đắn. Để có thể trang trải cho việc tu sửa, ông đã dọn đến
cùng năm người bạn. Trên hành lang ở cửa ra vào, mỗi người nhận một tấm
đá lát có khắc tên mình: Ton - tên bố tôi, Raymond, Henk, Mark,
Geert-Jan và một người khác cũng tên Ton. Loes - tên mẹ tôi, là tên cuối
cùng trong căn nhà đó. Ngoài bố tôi, mẹ là người cuối cùng còn ở lại
trong ngôi nhà này cho tới khi Zus và tôi ra đời. Sau đó chúng tôi còn
có thêm ba chú mèo: Keesje, Tijger và Saartje. Keesje sau đó sống trong
chuồng thú mà thực ra là một trang trại đồ chơi của trẻ em. Vì hai cô
con gái nhỏ, bố mẹ tôi không nỡ lòng nào bán chiếc chuồng thú đó ngay cả
khi Keesje là một con mèo tinh quái đáng ghét. Tijger thì bị xe cán
trước cửa nhà khi nó được ba tuổi và nếu tôi nhớ không nhầm sau đó nó
chết vì tràn khí màng phổi. Còn Saartje ở tuổi 15 ngày càng trở thành
một thành viên dễ chịu trong gia đình.

Mắt nó đã mờ và đang dần bị
lão suy. Điều đó được thể hiện qua việc nó ngày càng thu mình và qua
những hành động bộc phát như tấn công tụi chó béc giê hay những cô bạn
tới thăm tôi.

Tôi và bố được trận cười nghiêng ngả bởi trong lúc
đi tiểu tôi đã phát hiện ra những chiếc lông mu đầu tiên đã rụng trên
giấy vệ sinh.

Bố tôi đùa: “Cửa hàng cô có bán cả lông mu chứ?”

Tôi nói: “Hay cháu được nhận miễn phí vì đã mua tóc giả?”

Cũng
nhân dịp bố tôi hôm nay diện toàn đồ xanh, tôi đội Sue còn mang theo
Blondie trong túi vì các cô y tá và Bas đã lâu rồi không nhìn thấy
Blondie. Tôi để Daisy và Stella ở nhà. Trên đường đi mọi người thường im
lặng bởi tất cả bốn, ba hoặc hai chúng tôi luôn phải chuyển mạch suy
nghĩ sang bác sĩ L, sang căn bệnh Rhabdomyosarkom, sang nỗi sợ hãi và
tất cả những điều tồi tệ có thể có trong bệnh viện.

Ngay khi đặt
chân tới bệnh viện OLVG những dòng suy nghĩ trong đầu tôi bị chuyển mạch
hoàn toàn và giờ đây chỉ còn một điều sống còn: Phải sống sót. Bất chấp
những lo âu khi màn đêm buông xuống, tôi luôn cảm thấy mình an toàn và
được yêu thương. Đó là một thế giới nhỏ, cô đơn song cũng rất tốt đẹp và
ấm áp. Việc thay đổi suy nghĩ đó giúp tôi vượt qua những tháng ngày
trong bệnh viện, tuy nhiên nó lại làm khoảng cách giữa hai thế giới ngày
càng lớn hơn. Một mặt là thế giới nơi chỉ có độc chiếc giường với một
cô gái bị bệnh nằm trên đó, mặt khác là thế giới nơi có ngôi nhà ấm
cúng, tràn đầy tình yêu thương, vì nó mà nước mắt tôi cứ tuôn trào khi
nghĩ tới chiếc giường cô đơn trong bệnh viện kia.

Trước mặt tôi
hiện ra một vài tấm hình nhỏ màu đen mà bác sĩ L đã lưu vào chương trình
hiển thị ảnh X-quang. Hôm nay tôi được phép xem những tấm ảnh của lần
xét nghiệm kiểm tra. Bề ngoài thì đó là kết quả của những lần xạ trị đắt
đỏ song điều đó không dễ nhận ra được. Bác sĩ L mỉm cười khi ông thấy
mái tóc đỏ hoe của tôi, ông pha trò rồi đi thẳng vào vấn đề, vấn đề về
phổi. Tôi cũng có thể nhận ra: Khối u đã teo nhỏ đi đôi chút. Nếp đường
viền trên lá phổi phải có ít dị tật hơn hai tháng trước đây khi tôi bắt
đầu cuộc chiến chống bệnh tật này. Màng phổi trái tạo thành một hình
vòng cung căng và đẹp đến nỗi người ta có thể vẽ lại bằng com pa. Màng
phổi phải, ngược lại, không thể mô tả được bằng com pa mà trông nó giống
mì spaghetti trộn một hàng ravioli(3)
giữa hơn. Chiếc to nhất nằm ở dưới cùng, sát buồng gan. Đâu đó ở giữa
là Huey, Dewey, Louie tinh nghịch, còn phía trên cùng là một kẻ đào tẩu
nép kín dưới ngực phải của tôi. Để dễ hiểu chúng ta hãy đật tên cho hắn
là Black Pete. Tên bệnh của tôi rhabdomyosarkom có nghĩa là “hiếu thắng”
(rhabdo), “cơ bắp” (myo) và “u ác tính” (sarkom). Các tế bào ung thư sẽ
thâm nhập vào những cơ quan nhạy cảm trên cơ thể như mô liên kết, mô cơ
hay bất kỳ loại mô nào khác. Tôi đọc được ở đâu đó rằng chân và tay là
các bộ phận hay bị ảnh hưởng nhất và có thể bị cắt cụt. Tôi mừng thầm vì
mình chỉ có phổi là bị ảnh hưởng.

3. Một món đặc sản của Ý, giống sủi cảo, có vỏ bằng bột mì và nhân được nhồi bằng thịt, cá, pho mát hoặc rau.

Bệnh
của tôi có ba mức độ trầm trọng và tôi rơi vào cấp độ thứ hai. Không
phải mức độ trầm trọng nhất, cũng chẳng phải đơn giản nhất. Do bệnh này
còn hiếm nên người ta chưa biết nhiều về việc hình thành và quá trình
điều trị nó. Phần lớn các nhà khoa học đều cho rằng nguyên nhân là do
một dị tật bẩm sinh. Nhưng cớ làm sao mà dị tật này lại xuất hiện trong
tôi ở độ tuổi 21 thì không ai biết. Đáng báo động! Dù thế nào đi nữa dị
tật này cũng làm cho các nhà nghiên cứu bệnh học, những người dường như
rất khó bắt chuyện, bất đồng quan điểm về cách chẩn đoán bệnh của tôi.
Bác sĩ L bảo tôi không nên lo lắng xem tên bệnh này là gì mà quan trọng
là liệu việc điều trị có đem lại hiệu quả hay không. Và nó đã thực sự
đem lại hiệu quả.

Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ. Quá trình điều
trị không chỉ phải mang lại hiệu quả mà phải đủ hiệu quả để làm sao
những tế bào u bướu cuối cùng còn trú ẩn trong cơ thể tôi cũng phải biến
mất. Cơ thể tôi vẫn tiếp tục phải chiến đấu bởi lượng máu có đủ thì mới
có thể tiến hành hóa trị. Một cảm giác nhẹ nhõm xâm chiếm lấy tôi bởi
sự căng thẳng mà một vài phút trước tôi còn cảm thấy rõ mồn một dường
như đã giảm bớt. Đã có những tin tốt nhưng phòng làm việc của bác sĩ L
sẽ không bao giờ là nơi tôi có thể thư giãn.

Việc tôi mắc bệnh ở
tuổi này khiến căn bệnh của tôi có phần bí hiểm hơn so với các trường
hợp mà bệnh nhân là trẻ em. Như những gì tôi đọc được trong bệnh án thì
đồng thời nó cũng khiến việc điều trị không hoàn toàn được thuận lợi.
Phương pháp trị liệu này phù hợp với cơ thể của trẻ em hơn bởi cơ thể
trẻ em hồi phục nhanh và tốt hơn so với cơ thể của một “thanh niên” như
tôi được gọi trong bệnh viện OLVG. Việc tôi vượt qua được quá trình điều
trị cũng đã là một cuộc chiến cam go hệt như cuộc chiến chống lại bệnh
tật. Chính vì vậy lượng máu của tôi luôn được theo dõi gắt gao và sẽ
được điều chỉnh kịp thời nếu nó vượt quá mức cho phép: truyền máu do
lượng hemoglobin quá thấp, truyền bạch cầu và có thể cả truyền tiểu cầu.
Cụ thể hơn lượng máu sẽ được thể hiện qua vẻ nhợt nhạt của gương mặt,
sự mệt mỏi, khả năng chịu đựng kém và cả những vết xanh xuất hiện khi
lượng tiểu cầu bị thiếu bởi tiểu cầu luôn đóng một vai trò quan trọng
trong quá trình làm đông máu. Biểu đồ chụp X-quang trên máy tính cho
thấy các dị tật mà tôi đề cập trước đó không lớn hơn đầu một chiếc đinh
ghim là mấy. Lúc đầu khối u lớn nhất trong cơ thể tôi có kích thước 5 X
2,5 cm, có thời kỳ nó đã phát triển lớn thêm gấp năm lần song giờ đã teo
lại còn một nửa. Do việc các tế bào u nằm rải rác trên một cơ quan và
hơn thế nữa do cơ quan đó lại là phổi nên lúc này việc phẫu thuật chưa
được tính đến. Có lẽ ở giai đoạn sau. Điều đó có thể đồng nghĩa với việc
tôi có ít lựa chọn hơn song ngoài hóa trị còn có một phương pháp điều
trị khác: xạ trị.

Tác động của quá trình điều trị bằng hóa chất có
thể nhận thấy rõ mà khỏi cần nhìn vào những tấm hình hội chẩn bởi dần
dần tôi đã tăng cân trở lại và lấy lại được sinh lực đã mất. Phương pháp
hóa trị kỳ quặc ở chỗ nó thường làm cho bệnh nhân trông còn tiều tụy
hơn là khi chỉ bị bệnh ung thư hành hạ. Tuy vậy, trường hợp của tôi có
hơi khác một chút. Cơ thể tôi dần quen với các loại dược phẩm mới và hồi
phục nhanh hơn sau mỗi lần truyền dịch. Tuy nhiên bác sĩ L vẫn còn khá
hoài nghi, ông sợ rằng đến cuối năm tôi chỉ còn là một bộ xương cô độc
lượn lờ trong khoa của ông.

Trừ việc bị kiệt sức sau một tuần ở
bệnh viện OLVG và một cái đầu trọc lốc, tôi cảm thấy mình khỏe mạnh.
Người ta không nhận thấy điều đó ở tôi. Đám u bướu kia càng teo đi bao
nhiêu tôi càng cảm thấy khỏe mạnh bấy nhiêu. Tôi đã phải trả giá bằng sợ
hãi và sụt cân, bằng những lần vã mồ hôi và nôn mửa. Song cơ thể tôi
dần dần đã quen với những thay đổi mới và càng ngày tôi trông càng giống
Sophie và ít giống một bệnh nhân ung thư hơn. Giờ tôi hiểu rõ hơn về
tác dụng của các loại thuốc và việc uống thuốc đúng giờ sẽ giúp tôi
không còn bị nôn mửa. Tôi coi đợt điều trị như một người bạn xa lạ,
người tìm mọi cách giúp tôi khỏe mạnh trở lại chứ không còn coi nó là kẻ
thù nguy hiểm nữa. Nếu có ai đó nói xấu về phương pháp điều trị bằng
hóa chất, tôi sẽ dạy cho anh ta một bài học. Đây là bệnh của tôi, cuộc
chiến của tôi, sân chơi của tôi và tiếng nói của tôi.

Tôi ngừng
việc học ở khoa “Khoa học chính trị” của trường đại học, việc học của
tôi giờ đây chỉ diễn ra ở thư viện y học của Trung tâm AMC. Cuối cùng
tôi cũng đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào nỗi sợ hãi của mình. Một bản copy
của cuốn bệnh án luôn đồng hành cùng tôi khắp mọi nơi như để chọc giận
chị y tá Annemarie, người trong giờ nghỉ vẫn phải luôn túc trực bên máy
photocopy để sao chụp giúp tôi. Tất cả các bác sĩ tiếp xúc với tôi đều
bị tôi hỏi một điều gì đó. Tôi muốn biết mọi thứ, muốn hiểu mọi thứ,
muốn nghiên cứu mọi thứ. Kể cả nghiên cứu cơ hội sống sót của mình. Nghe
có vẻ vô nghĩa khi ai đó tìm hiểu về cơ hội sống sót của chính mình chỉ
qua các thống kê. Cơ hội sống sót của tôi đã tăng từ năm mươi lên bảy
mươi phần trăm khi khối u được chẩn đoán là ở phổi chứ không bám vào
gan. Dù vậy đối với tôi và vị bác sĩ của mình thì việc này cũng không
nói lên nhiều điều. Những đánh giá khó hiểu của loạt xét nghiệm mà tôi
vẫn phải mang theo khi đi kiểm tra máu giờ đây trở thành điểm tựa. Tôi
tìm lại được niềm tin để hướng về phía trước, để nuôi hy vọng và để rũ
bỏ nỗi chán nản. Và hơn thế nữa tôi yêu cuộc sống mới của mình: những
khoảng thời gian dài thênh thang tôi có được cho riêng mình, những mớ
tóc giả đưa tôi đi qua cuộc đời như một người phụ nữ đích thực. Một lần
nữa tôi lại dám quyết định số phận riêng của mình.

Gia đình tôi
thận trọng điều chỉnh bản thân cho phù hợp với điều kiện tinh thần và
thể chất của tôi. Tình trạng mệt mỏi kéo dài khiến sức chịu đựng của tôi
xẹp xuống chỉ còn ngang bằng với lòng khoan dung của một mụ phù thủy
già. Mọi người trong nhà để ý giọng nói, nét mặt của mình mỗi khi gặp
tôi bởi họ sợ làm mếch lòng cô công chúa ngủ trên hạt đậu. Tôi đâu có
chỗ cho những biểu hiện tình cảm của mọi người trong nhà, tôi chỉ còn
chỗ cho những tình cảm của riêng mình. Tôi chắc sẽ không chịu nổi nếu
thấy họ đau buồn đến suy sụp vì tôi. Vì thế, và cũng vì một lý do nữa là
tôi ngày càng cảm thấy phải tự mình giải quyết các vấn đề cá nhân nên
tôi muốn tự mình làm tất cả mọi việc. Các cuộc nói chuyện, những lần xét
nghiệm, kiểm tra máu hằng tuần... tất cả, dù cho những việc đó cũng
chẳng có gì là vui vẻ. Cuộc xét nghiệm kiểm tra đầu tiên đã ở sau lưng
tôi, số áo phông đẫm mồ hôi của tôi giờ đã giảm xuống bằng không. Với
con số không này tối nay tôi lại trở về phòng bệnh của mình, ra khỏi căn
nhà của bố mẹ dù không xa bệnh viện là mấy. Về phòng bệnh với cuốn sách
về Lance Amstrong, người bảy lần vô địch cuộc đua Tour de France, người
chiến thắng căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt đã di căn lên tới não,
người sáng lập ra chiếc vòng tay vàng mà mỗi euro tiền thu được đều
giành để quyên góp cho cuộc chiến chống bệnh ung thư.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.