Hôm nay tóc tôi màu vàng - Phần 1 chương 3
“Trời, trông con gái giống hệt mẹ vậy”, cô Maud nói. Mẹ tôi
cười. Tôi bực bội gãi da đầu trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm chấm dứt cơn
ngứa. Phải cắt hết những sợi tóc cuối cùng đi, tôi nghĩ bụng. Trên chiếc
tủ trước mặt tôi là một quyển lịch lớn, một quyển lịch làm việc. Trên
đó toàn các cuộc hẹn xạ trị và hóa trị của tôi trong vòng năm mươi tư
tuần tới. Cứ tuần nọ nối tiếp tuần kia.
Đợt kiểm tra xét nghiệm
đầu tiên diễn ra vào tuần thứ chín, mục đích là để xem liệu việc nôn mửa
có mặt tích cực nào không. Tôi thấy rùng mình và cảm thấy cơn sợ hãi
mới. Tôi càng cố gắng đẩy nó ra khỏi suy nghĩ thì nó lại càng đến gần.
Tôi không dám hy vọng sẽ tạo ra một bước ngoặt tích cực trong tương lai
bởi cú đòn của số phận sẽ trở nên mạnh hơn. Tôi tính đến trường hợp xấu
nhất: mọi việc sẽ chấm hết với tôi.
Tôi ôm chú mèo Saartje vào
lòng và tự nhủ ai trong hai chúng tôi sẽ sống lâu hơn. Trong những tuần
này cái chết mới thực sự đi vào tiềm thức của tôi. Sự sống chỉ là một
phần của tổng thể, của quá trình tự nhiên sinh ra và chết đi. Suy nghĩ
đó làm vơi nỗi bất an trong tôi đôi chút và làm cho cái chết đối với tôi
bớt lạ lẫm, bớt đau đớn và bớt ghê sợ hơn. Chỉ tiếc là giờ đây cái chết
lại đang đến với chính tôi.
Hôm nay là lần đầu tiên tôi đội tóc
giả lên sau khi kẻ mắt. Tôi xỏ đôi dép đi trong nhà của mẹ, mặc chiếc áo
choàng tắm màu trắng do người bạn trai tốt bụng nhất thế giới tặng.
Tiếc rằng đó không phải bạn trai tôi mà là bạn trai của chị gái. Cơ mà
tôi cũng được lợi lây. Giờ đây, cuộc đời tôi là một cuốn phim trong đó
tôi chỉ nhận, nhận và lại nhận. Những bông hoa, một chiếc iPod, hay
những cái ôm đầy yêu thương. Duy chỉ có một vấn đề là vào lúc này tôi
không có nhiều thứ để cho đi.
Tôi cảm thấy thật uể oải và nặng nề
mặc dù cân nặng của tôi chẳng còn là bao. Chiếc cân lại chỉ ra tôi sụt
một ký. Việc đó diễn ra hầu như hằng ngày trong tuần này. Tôi đã tìm ra
công thức ăn kiêng lý tưởng: sợ hãi, xì trét và đổ mồ hôi nhiều do u
bướu. Việc tôi ra mồ hôi nhiều vào ban đêm đã bắt đầu từ một tháng trước
song chưa bao giờ nó lại mạnh như lúc này. Tôi thức dậy mỗi đêm, người
ướt sũng và ớn lạnh. Trong bụng trống rỗng, hai bên xương sườn run rẩy.
Tất cả đều ướt sũng, đầm đìa mồ hôi và thấm đẫm nước mắt. Có điều gì đó
đang xảy ra trong cuộc đời tôi mà tôi chưa kiểm soát được. Trong những
khoảnh khắc như vậy, nỗi sợ hãi của tôi lên tới đỉnh điểm và bệnh tật
của tôi ở vô cùng gần.
Đó là hiện tượng “Sốt u bướu”. Tối nào cũng
vậy cứ khoảng chín giờ là tôi lại bị sốt. Bốn giờ sáng nay tôi đã phải
thay một chiếc áo phông ướt đẫm mồ hôi. Nó bốc mùi khó chịu khắp phòng.
Cạnh giường tôi là bốn chiếc áo phông nữa, hai chiếc đã ướt sũng, hai
chiếc khác khô sạch. Mỗi sáng đôi mắt tôi đều đổ dồn về đống áo phông
ướt bên cạnh giường mình. Chỉ khi nào đống áo đó nhỏ lại thì mới có
nghĩa là số u bướu trong người tôi đã teo bé đi và tôi mới có thể được
điều trị hóa chất. Mẹ tôi cầm lấy một chiếc áo khô và giúp tôi xỏ vào
người.
Trong những tuần này tôi lại được ngủ cùng phòng bố mẹ như
Sophie nhỏ bé ngày nào. Mỗi lần tỉnh dậy là lúc tôi cảm thấy tồi tệ
nhất: sợ hãi, yếu đuối và cô đơn mặc dù tôi luôn có bố mẹ bên cạnh mình.
“Bố, con sợ.”
“Con là tất cả của bố, Sophie à.” Bố âu yếm ôm tôi vào lòng.
Tôi
sợ hãi ngả mình vào vòng tay của bố. Cơ thể tôi dính nhớp nháp. Không
lâu sau mẹ tới chỗ hai bố con. “Điều gì sẽ xảy ra nếu con chết?” Tôi
siết chặt lấy bố và qua vai ông, tôi nhìn qua khe hở giữa hai tấm rèm
cửa sổ trông ra ngoài. Kẽ hở đó đủ lớn để có thể quan sát được một phần
màn đêm. Một cái cây trụi lá, một ánh trăng lẻ loi và phía sau là bóng
tối đen kịt.
“Con sẽ không chết đâu”, giọng mẹ tôi cất lên.
“Nhưng
nếu con chết? Nếu u không teo đi? Con sợ đợt xét nghiệm tới lắm.” Không
chỉ đôi mắt của tôi khóc mà bụng tôi cũng khóc theo bằng những chuyển
động run rẩy.
“Bố mẹ cũng vậy Sophie ạ, bố mẹ cũng sợ.” Bố buồn bã
nhìn tôi. Tôi thấy mừng vì đêm nay ông cho phép tôi nói ra nỗi sợ hãi
lớn nhất của mình mà không hề phản đối.
Tôi vẫn đứng bên tủ, một
tay gãi đầu. Một vài sợi tóc chết chưa kịp rụng làm da đầu tôi ngứa kinh
khủng. Trông tôi thật đáng sợ. Tôi quyết định sẽ không đợi cho đến khi
tóc mình rụng hết. Tôi gọi dì Kristien để hỏi liệu dì có thể cho tôi
mượn máy cạo. Nửa tiếng sau dì Kristien tới. Cô Maud đứng dậy và để
chúng tôi lại một mình.
“Cái máy này tốt lắm đấy, dì mua ở cửa hàng của bà bạn Nikki, dì quen bà ấy từ hồi còn là thợ cắt tóc”, dì Kristien nói.
Dì
và mẹ tôi giữ gương, tôi bấm nút. Chúng tôi ngồi bên chiếc bàn trong
bếp và cả ba đều nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay đang thận trọng nhưng
dứt khoát đưa chiếc máy cạo qua mái đầu ngày càng trơ trụi của tôi.
Sau
vài phút mọi việc đã xong. Trọc lốc. Tôi cảm thấy thật kinh tởm song tự
an ủi mình rằng Demi Moore trong phim D.I. Jane cũng phải cạo trọc đầu
mà vẫn xinh. Trong những tuần tiếp theo tôi từ bỏ hẳn mối giao hòa với
những chiếc gương. Tôi ghét nhìn cái đầu mình, dù có đội tóc giả hay
không.
Thứ Hai ngày 14 tháng Ba năm 2005
Đã bảy tuần trôi
qua kể từ lần xạ trị đầu tiên của tôi ở trạm C6 và giờ tôi lại thấy mình
đang ở trong thang máy của bệnh viện OLVG để tới đợt xạ trị lần thứ
hai. Tôi phải nhập viện hai lần trong quãng thời gian chín tuần, vào
tuần đầu tiên và tuần thứ bảy. Đồng thời tôi cũng phải trải qua những
lần truyền hóa chất kéo dài một vài tiếng, nhưng chỉ ở giai đoạn đầu,
tức là trong chín tuần đầu tiên, sau đó thêm một vài lần nữa song kéo
dài hẳn một ngày. Một kế hoạch điều trị phức tạp mà tôi chẳng hiểu mô tê
gì nhưng phải nói các bác sĩ cũng rất thích sự phức tạp. Tôi không còn
nhiều thời gian cho những việc khác bởi tôi phải nghỉ ngơi nhiều và
ngoài ra tôi lại phải đi kiểm tra máu vào mỗi thứ Sáu.
Hôm nay là
sinh nhật Zus, chị đã tròn hai mươi lăm tuổi. Tròn một phần tư thế kỷ.
Tôi luôn biết mình yêu chị đến mức nào song biết và cảm nhận là hai việc
hoàn toàn khác nhau. Giờ tôi đã cảm nhận được, ở mọi lúc mọi nơi. Cảm
nhận của tôi rõ ràng nhất là khi chị chăm sóc tôi, thậm chí ngay cả khi
chị chăm chú học bài bên chiếc bàn trong bếp cạnh tôi. Chị học ngành
truyền thông.
Tôi tìm lại niềm vui trong những việc nhỏ nhặt: đánh
răng, mua sắm, diện đồ, xem vô tuyến. Trong khi phải chống lại bệnh tật
và có thể là cả cái chết nữa thì làm mỗi việc ấy đều như một lễ hội nho
nhỏ.
Bác sĩ L tới thăm xem liệu tôi đã bị tác động bởi tác dụng
phụ hay chưa và màu má tôi thay đổi thế nào. Ông ta nhìn tôi chằm chằm,
lẩm bẩm “EPO là gì ạ?”
“Một loại hoóc môn kích thích quá trình sản
sinh tế bào hồng cầu trong tủy. Thậm chí nó còn có thể khiến các khối u
phát triển nhanh hơn.”
“Ồ, như các tay đua xe đạp vẫn dùng ạ?”
“Đại loại vậy. Việc ra mồ hôi ban đêm của cháu thế nào rồi?”
Trời
ạ, bác sĩ L lại bắt đầu đẩy sự căng thẳng lên cao hơn. Lúc nào cũng
vậy, đúng là theo thói quen. Hàng tuần nay đêm nào tôi cũng vã mồ hôi
như tắm, bố mẹ tôi nhiều lúc phải nín thở. Vào những đêm tệ nhất tôi
phải thay ga trải giường ba lần, thay áo năm lần. Tôi càng ngày càng gầy
rộc đi do mất nước. “Cũng đã đỡ hơn nhiều nhưng đêm vừa rồi mồ hôi lại
ra khá nhiều.”
“Như vậy không tốt lắm.” – (Lẽ ra tôi nên nói là “càng ngày càng ít” thì tốt hơn.) - “Chúng tôi sẽ để mắt tới điều đó.”
Đối
với tôi bác sĩ L vẫn là một con người ghê sợ và kinh khủng, người làm
đảo lộn cuộc sống của tôi. Như thể những cái u bướu chết tiệt trong
người tôi là do lỗi của ông ta. Thậm chí ông ta còn đặt tên cho chúng.
Trên tấm biển tên đề chữ Bác sĩ L nhưng các y tá không gọi ông ta bằng
họ mà bằng tên. Tôi cũng vậy. Lusche là cái tên xấu tệ. Ông ta ngày nào
cũng qua phòng tôi để xem tình hình bệnh nhân.
Ông ta cao lêu
nghêu và là chuyên gia huyết học. Ông ta luôn trong tình trạng vội vã và
trong bộ bờ lu trắng của mình trông ông ta lúc nào cũng thô kệch, đờ
đẫn và cớm nắng. Ngay cả khi tiếp xúc với bệnh nhân cũng vậy. Tôi chỉ
thấy ông ta hay cười với đồng nghiệp của mình mà thôi. Không khó để nhận
ra ông ta thuộc nhóm những nhà khoa học thích vùi mình vào sách vở và
không bao giờ thắp lên cho các bệnh nhân của mình một tia hy vọng nào dù
là nhỏ nhất. Ông ta hoàn toàn không phải là một bác sĩ tâm lý. Hai đêm
trời ông ta đem con bỏ chợ và không hề nói liệu bệnh của tôi có chữa
được hay không. Sau này tôi mới nhận ra rằng cái sự lờ đờ nước hến đó
nằm ở cách chọn từ của ông ta nhiều hơn là ở những cơ quan bị bệnh của
tôi.
Cơ mà ông ta là bác sĩ, là hy vọng, là người sẽ chữa bệnh cho
tôi. Phu quân y tế của tôi. Phu quân ở đây không phải là một gã mặc
chiếc quần nâu như mớ giẻ rách như thể chỉ để che của quý. Phu quân ở
đây là một nghệ thuật chữa bệnh, một lòng nhiệt huyết chân chính và một
nguồn sinh lực dồi dào để có thể xóa đi mọi cơn ác mộng của Sophie.
Không ai trong thế giới của tôi có thể sánh với ông ta. Kể cả bác sĩ K.
Tuần
này là lần đầu tiên tôi tập tễnh đi lại trong bệnh viện với cái đầu
trọc lốc của mình. Tóc giả thì tôi có nhưng tôi vẫn chưa quyết định được
là ai xấu hơn: Bà đầm Sophie hay Sophie đầu trọc.
Tôi chỉ buộc
một chiếc khăn trên đầu và trông không khác gì cô tạp vụ, người ngày nào
cũng cầm xô Clo và một chiếc chổi tới tiệt trùng phòng tôi. Y tá Bas
gọi tôi là “Trọc”. Anh ấy làm tôi thực sự thấy buồn cười. Mới tám giờ
sáng anh đã đánh thức tôi bằng câu “Chào Trọc!” như thể tôi là bệnh nhân
duy nhất ở trạm này, đồng thời giúp tôi thay áo. Với một đống dây dợ
lẳng nhằng được quấn quanh cổ tay tôi thì việc thay áo giờ đây cũng
không còn đơn giản nữa. Sau đó anh lấy tay vuốt cái đầu trọc của tôi và
liến thoắng một hồi trong khi buộc dây truyền dịch mới vào cổ tay tôi để
lắp các ống truyền dễ dàng hơn.
Tôi được truyền hai túi máu nhóm A
để điều chỉnh lại số lượng hồng cầu, để biến Sophie uể oải thành một
Sophie hoạt bát hơn. Trong đầu tôi chợt nảy ra một tưởng tượng điên rồ:
Ta nhận máu của người khác như một loại ma túy để mình cảm thấy khỏe
hơn. Có lẽ đó chính là lý do vì sao giờ đây tất cả đều khác trước. Lý do
tại sao tôi không còn thích bánh ga tô và cam thảo nữa. Và cũng có thể
là lý do tại sao giờ tôi lại thích viết lách.
“Lại bị rối rồi à?”
“Ừ, em quay người sang một bên cùng đống dây truyền này đi.”
Tôi
thường tắm vào khoảng gần mười một rưỡi. Để giết thời gian tôi thường
bôi kem dưỡng da và các loại kem khác khá lâu. Tất cả những gì tôi muốn
mặc vào người trước hết phải được xỏ qua chân, rồi qua hông nếu không
muốn phát cáu với đống dây dợ chằng chịt.
Tôi thấy mình vẫn còn
rất mơ mộng: Tôi mang theo những chiếc áo phông đẹp nhất của mình nhằm
trường hợp bác sĩ K hay một bác sĩ điển trai nào đó qua thăm. Hoặc khi
tôi phải rời phòng để đi thực hiện một xét nghiệm nào đó và phải đi qua
tầng dưới cùng. Tôi luôn nhớ cảnh mọi ánh mắt đổ dồn về mình khi tôi
dịch chuyển các dụng cụ truyền dịch trước mặt. Tôi nhanh chóng chạy vội
về phòng và cố gắng quên đi ám ảnh đó. Quên đi tất cả. Giờ đây sáng nào
thức dậy lúc đầu tôi cũng ngạc nhiên vì chẳng thấy có sợi tóc nào vương
trên gối.
“Chào người đẹp, khỏe không?”
Tôi quay mình theo
hướng giọng nói quen thuộc đó. Một bó phong lan tím khổng lồ xuất hiện
trong phòng, đằng sau đó là Annabel. Tôi và Annabel quen nhau từ hồi học
mẫu giáo rồi sau đó chúng tôi còn học viết và đếm cùng nhau ở trường
Burgtschool. Kể từ đó không một ngày nào trôi qua mà chúng tôi không
biết người kia đang làm gì. Hơn hết là đang ở cạnh ai.
Cả hai
chúng tôi đều thuộc cung Song Sinh. Để giải thích tính cách khác nhau
của chúng tôi bằng việc tin vào tướng số, Annabel nói có hai kiểu người
Song Sinh. Một kiểu mang nhiều tính chất của cung Cự Giải(2) hơn
và kiểu kia có nhiều tính của Kim Ngưu hơn. Chắc tôi mang nhiều tính
của Cự Giải hơn, tôi nghĩ. Annabel học ngành marketing còn tôi học chính
trị. Nếu Annabel là con trai chắc chắn tôi đã yêu cô ấy. Nhưng may mắn
thay tôi không phải là kẻ đồng tính. Annabelgiúp tôi chọn đồ và mở rộng
gu thẩm mỹ của mình. Giữa đống áo phông hiệu Mission và đống túi hiệu
Balenciaga chúng tôi nói chuyện về các bài giảng ở trường về chủ đề năng
lượng mặt trời, về lạm phát, về tội diệt chủng ở các nước thế giới thứ
ba. Chà, đúng là kiểu nói chuyện đặc thù của chúng tôi. Cơ mà chúng tôi
không thể khác được.
2. Krebs vừa có nghĩa là cung Cự Giải, vừa có nghĩa là bệnh ung thư.
Chúng
tôi đã cùng nhau khám phá thế giới kể từ khi là mấy đứa bé, rồi khi trở
thành thiếu nữ và giờ khi bước vào những năm đầu của tuổi hai mươi.
Chúng tôi đã chén ốc sên ở Dordogne, xơi kẹo Đan Mạch ở cảng Rungsted.
Trong lâu đài Josephine Baker từng sống ở Pháp, chúng tôi đứng dưới một
cây đèn, há hốc mồm bởi xung quanh đó cơ man nào là dơi bám vào. Ở Đan
Mạch lần đầu tiên chúng tôi ăn tảo biển bất chấp những lời cảnh báo,
trong một cửa hiệu ở Luân Đôn chúng tôi đã mua cho mình những đôi giày
cao gót đầu tiên. Chi có hai lần Annabel và tôi rời xa nhau trong khoảng
thời gian dài. Lần đầu là chuyến thám hiểm của tôi tới dãy Himalaya,
còn lần kia là khi Annabel đi thực tập ở New York. Cô ấy vừa trở về thì
cũng là lúc cái từ ung thư trở nên gần gũi hơn với tôi. Ở New York,
Annabel làm việc cho một cửa hàng mốt chuyên may áo cưới cho cô dâu.
Tháng Mười hai vừa rồi tôi có bay sang đó để đón Giáng sinh và giao thừa
cùng cô ấy. Buồn cười nhất là khi cô ấy đã đi được quá hai khu nhà và
hai quán Starbuck trong lúc tôi vẫn còn vật lộn kéo lê mình trên những
bậc thang dưới tàu điện ngầm. Mới có khoảng một rưỡi đêm giao thừa mà
tôi đã chán ngấy tiệc tùng dù ở đó tôi có quen một anh chàng New
York cực kỳ hiền hậu. Tôi quay lại nhà Annabel với một tấm danh thiếp
trên tay. Sáng Chủ nhật, một ngày trước khi về, tôi tìm đến Bảo tàng
Nghệ thuật đương đại nơi anh ta làm việc. Sáng thứ Hai chúng tôi đi ăn ở
tiệm Pastis, buổi tối cũng lại đi ăn và uống rượu vang đỏ. Tôi tỉnh dậy
rất sớm, khoảng gần bảy giờ và thấy mình đang ở Lower East Side tận
Manhattan. Tôi muốn quay lại chỗ Annabel ngay bởi cô ấy chắc đang rất lo
lắng. Khi tỉnh dậy cũng là lúc cuộc phiêu lưu của tôi kết thúc, tôi vội
mò mẫm lần tìm quần áo của mình trong bóng tối. Đúng tám giờ tôi đã
đứng trước cửa căn hộ của Annabel, đâu đó giữa Đại lộ 5 và 6, không xa
quảng trường Union Square là mấy.
Không có Annabel chắc tôi sẽ
không bao giờ biết cảm giác có một người bạn chân chính. Một người nằm
trên giường ở Noodermarkt mà cảm nhận được rằng tôi đang đơn độc ở New
Dehli. Một người luôn nắm bắt được những suy nghĩ của tôi. Một người
ngay lập tức nhận ra tôi trông quá nhợt nhạt. Một người đi tuyến xe điện
số 7 với một bó phong lan to bự tới trang trí cho căn phòng của tôi
trông đàng hoàng hơn.
“Chào người đẹp!” tôi hồ hởi gọi. “Bộ tóc giả của tớ bị lệch à?”
Annabel ngắm nghía tôi và mỉm cười. Rồi cô ấy sửa lại mái tóc cho tôi.
“Cậu có nghĩ có thể sắp tới tớ sẽ không còn sống nữa không?”
“Chúa ơi, cậu nói chuyện hay thật đấy.” Annabel ngồi trên chiếc ghế cạnh giường rồi rút bộ đồ làm móng tay ra.
“Tớ rất muốn biết cậu đang làm gì với những suy nghĩ của mình.”
“Ừ’,
cô ấy nhìn thẳng vào mắt tôi. “Tớ trông mạnh mẽ thế này thôi mà đêm nào
tớ cũng gục vào lòng Bart mà khóc sưng cả mắt.” Bart là bạn trai cô ấy.
“Cơ mà một khi vẫn còn hy vọng, tớ sẽ cố không nghĩ tới tình huống xấu nhất.”
“Ừ.”
Một
cảm giác được thương hại không mấy dễ chịu xâm chiếm tôi nhưng những
lời nói của cô ấy làm tôi cực kỳ hạnh phúc. Cô ấy càng khóc nhiều cho
tôi bao nhiêu, tôi càng cảm thấy yêu quý cô ấy bấy nhiêu. Annabel biết
cách giấu nỗi đau của mình, ngay cả trước mặt tôi. “Chúng mình luôn ở
bên nhau”, tôi nói.
“Và sẽ luôn như vậy.”
“Còn hai tuần nữa, thật đáng sợ phải không?”
“Là đến đợt xét nghiệm mới của cậu?”
“Ừ.”
Thứ Năm ngày 24 tháng Ba năm 2005
Tôi
nhìn mình trong gương, nhìn Stella, trong khi người đàn ông đứng đằng
sau sờ nắn mớ tóc giả của tôi. Ma nơ canh đội tóc giả được đặt ở khắp
nơi. Annabel tập trung cao độ xem xét từng bộ tóc. Giống y cái cảm giác
hồi nhỏ ở cửa hàng rau quả khi chúng tôi mắt la mày lém quan sát đống
quả dâu dại, mâm xôi, việt quất rồi lén lút trộn chúng lẫn lộn vào nhau.
Hôm nay chúng tôi tới cửa hàng gần nhà hát bởi tôi luôn tự hỏi Samantha trong phim Sex and the city lấy
ở đâu ra những kiểu tóc tuyệt như vậy. Franken và Kok, chủ quán bar mà
trước đây tôi hay lui tới tặng tôi một bộ DVD. Mỗi lần xuất hiện trên
màn hình ti vi là tôi lại thấy Samantha có một kiểu tóc mới, kiểu sau
luôn đẹp hơn kiểu trước.
Cuối cùng tôi cũng tận dụng được gì đó
trong tình trạng bệnh tật của mình để có được một kiểu tóc ra trò. Tôi
không muốn tiếp tục giấu cái đầu mình dưới bộ tóc giả khiến tôi trông
như một bà trung niên nữa. Hoặc dưới một chiếc mũ mà mỗi khi tôi muốn
hôn ai đó thì nó lại trở thành vật vướng víu.
Hôm nay là lần đầu
tiên Annabel nhìn thấy cái đầu trọc của tôi. Tôi sợ cô ấy không còn nhận
ra tôi nữa và trên hết tôi sợ rằng hình ảnh đó làm cô ấy sợ.
Nhưng
không, Annabel mỉm cười rồi vuốt ve chiếc sọ của tôi một hồi lâu. “Thật
mềm mại”, cô ấy nói. “Như chiếc bánh bao đặt trên đầu cậu vậy.”
Lần lượt từng kiểu tóc được thử lên đầu tôi và rồi đột nhiên Daisy xuất hiện.
Chúng
tôi nhận thấy ngay: Daisy không phải là đồ dùng một lần rồi bỏ đi.
Trong gương tôi quan sát thấy một cô gái lạ với mái tóc vàng và những
lọn tóc buông xuống hai vai.
Thật tuyệt vời khi được vuốt mái tóc
dài của chính mình, điều mà chỉ trong mơ tôi mới dám nghĩ tới. Một gương
mặt hoàn toàn khác, đầy vẻ tự mãn nhưng cũng rất tinh nghịch. Annabel
buộc cho Daisy một chiếc nơ màu hồng rồi tiếp tục xem xét những bộ tóc
giả khác. Cuối cùng cô ấy mang tới một kiểu tóc đỏ hoe khá táo bạo mà
sau đó tôi đặt tên là Sue.
Tôi rời cửa hàng với hai bộ tóc giả, hai vẻ mặt khác nhau. Tôi thực sự không biết nên đội kiểu nào trước.
Dần
dần tôi tìm được niềm vui trong quá trình biến hóa này và thường xuyên
lui tới cửa hàng gần nhà hát hơn là tới H&M. Tôi bắt đầu đặt tên cho
những bộ tóc giả bởi với mỗi một kiểu tóc tôi lại cảm thấy mình là một
nhân vật khác. Như một người đàn bà khác. Tôi không phải là Sophie nữa
mà là Stella với mái tóc cứng đơ như một bà trung niên hay là Daisy với
mái tóc dài quăn như búp bê Barbie, hoặc là Sue với những lọn tóc đỏ đầy
kiêu ngạo, là Blondie với mái tóc vàng cắt ngắn quá vai.
Blondie
được làm bằng tóc thật nên cũng là bộ đắt nhất. Tám trăm euro. Thật nực
cười. Zus quan sát tôi và tặng tôi những ngôn từ diệu kỳ: “Giờ chị đã
thấy lại cô em xinh đẹp của mình trong gương rồi.”
Thứ Bảy ngày 26 tháng Ba năm 2005
Tóc
giả không đơn giản chỉ là tóc. Không chỉ là thứ đội trên đầu, chúng trở
thành một phần con người tôi, một phần ý thức nhu mì của tôi. Việc giờ
đây trông tôi khác trước cũng khiến xúc cảm và phản ứng của tôi thay
đổi.
Stella, Sue, Daisy hay Blondie. Khi tôi đội Daisy, mọi thứ
đều khác trước. Một sự lột xác hoàn toàn. Những lọn tóc dài nhảy múa
trên lưng tôi. Đôi giày cao gót kiểu Ý bỗng trông giống như giày của mấy
cô gái điếm, chiếc quần bò bó trông như đôi xà cạp chân, còn dải đường
viền trên cổ áo bỗng thành nơi tập trung sự chú ý của mọi người. Chính
vì vậy tôi rất thích đội Daisy. Chú ý, Daisy đang trình diễn! Daisy nghĩ
ngợi đôi chút rồi sau đó để cho những lọn tóc của mình láu linh nhảy
múa. Tất cả mọi người đều muốn biết dưới những lọn tóc vàng kia là một
người như thế nào.
Khi đội Daisy tôi trở nên thích những thứ hoàn
toàn khác so với khi đội Sue, Stella hay Blondie. Khi đó tôi thích ở
giữa trung tâm chú ý. Tôi giũ tóc, phá lên cười trước những câu chuyện
hài, uống nước hoa quả lắc với sữa thay vì uống nước cà chua và bôi son
hồng. Phim Desperate Housewives lên ngôi so với thơ của Vergil
mà cậu bạn Jaap thường đọc tôi nghe và móng chân nhất thiết phải được
sơn đỏ. Tôi mơ về những cuộc dạo chơi đầy tình tứ với bác sĩ K, đúng hơn
là tôi lúc nào cũng mơ về điều đó kể cả khi chưa phải đội tóc giả. Khi
đội Sue tôi có một thứ ăn đứt những phụ nữ khác: mái tóc đỏ đầy hoang
dại. Đó là điều dễ nhận thấy ngay cả khi tôi không phải giũ tóc hay cười
trước những câu chuyện hài.
Song cả bốn người phụ nữ đó đều có
một điểmchung: Ẩn chứa bên trong vẫn là một chút gì đó của Sophie. Một
Sophie chăm chú quan sát họ và băn khoăn ghi nhớ từng động tác. Một
Sophie học hỏi được điều gì đó từ họ và qua đó tự hoàn thiện mình. Một
Sophie nhận ra rằng cô đang thay đổi bằng cách quan sát cách hành xử của
Daisy, Blondie, Sue và Stella. Cô cũng nhận thấy rằng Daisy, Blondie,
Sue và Stella là những Sophie mới.

