Chú bé mang pijama sọc - Chương 07 phần 2
“Rồi sau đó, khi nào trở vào bếp, ông nhớ phải rửa tay sạch
trước khi chạm vào bất kỳ thứ đồ ăn nào, đồ... bẩn thỉu.” Trung úy
Kotler nhắc lại từ mà anh ta đã dùng hai lần trước đó và anh ta còn khạc
nhổ một chút. Bruno liếc qua Gretel, ban nãy cô còn đăm đắm nhìn ánh
nắng nhảy nhót trên mái tóc của trung úy Kotler bằng ánh mắt ngưỡng mộ,
nhưng giờ đây cô cũng như em trai mình, trông cô có vẻ hơi khó chịu. Cả
hai chị em chưa từng thật sự trò chuyện với Pavel trước đây nhưng ông là
một người phục vụ bàn ăn rất chu đáo và cả hai, theo như lời cha dặn,
không được sống vô ơn.
“Giờ thì ông đi đi,” trung úy Kotler nói,
rồi Pavel quay bước đi về phía nhà kho, Bruno theo sau, chốc chốc lại
ngoái nhìn về phía chị gái cùng người lính trẻ và cảm thấy một nỗi khẩn
thiết khủng khiếp muốn chạy lại đó để lôi Gretel đi cùng, bất chấp sự
thật là chị cậu thấy rất phiền hà, luôn tự cho mình là trung tâm và luôn
xấu tính với cậu. Những điều đó, suy cho cùng, là việc cô luôn làm. Cô
là chị gái cậu. Nhưng cậu ghét ý nghĩ phải để cô ở lại một mình với một
người đàn ông như trung úy Kotler. Thật sự chẳng còn cách nào khác để
diễn tả chuyện này: rõ ràng anh ta chính xác là một kẻ đáng ghê tởm.
Tai
nạn xảy ra vài giờ sau khi Bruno chọn được một chiếp lốp vừa ý và Pavel
kéo nó lên cậy sồi lớn ở phía bên có thể nhìn thấy từ phía bên cửa sổ
phòng Gretel, và sau cả khi Bruno đã trèo lên rồi trèo xuống, lên rồi
xuống, lên rồi xuống thân cây để thắt những sợi dây thừng thật chắc
quanh các cành cây và quanh chính chiếc lốp. Cho tới lúc cái đu vận hành
vô cùng hoàn hảo. Trước đây cậu đã từng làm một chiếc đu như vậy rồi,
nhưng hồi ấy cậu có Karl, Daniel và Maurin giúp đỡ. Còn lần này cậu phải
làm điều đó một mình và điều đó khiến cho mọi việc rõ ràng là phức tạp
hơn rất nhiều. Tuy vậy, bằng cách nào đó cậu vẫn tự xoay xở được và sau
vài giờ cậu đã có thể sung sướng yên vị giữa chiếc lốp xe rồi đu từ sau
ra trước như thể chẳng còn chút bận tâm nào tới thế giới xung quanh. Cậu
lờ đi thực tế rằng đó là một trong những chiếc xích đu kém cỏi nhất mà
cậu từng chơi trong suốt cuộc đời.
Cậu gập người nằm vắt qua chính
giữa chiếc đu rồi dùng chân tự lấy đà thật mạnh rồi đẩy mình bay lên
khỏi mặt đất. Mỗi khi chiếc lốp bay ra phía sau, nó bổng lên không trung
và chỉ tránh đập vào thân cây chỉ trong gang tấc, nhưng vẫn đủ gần để
Bruno huých chân vào thân cây để bay lên thậm chí còn nhanh hơn và cao
hơn trong lần đu tiếp theo. Mọi việc diễn ra vẫn êm xuôi cho tới khi cậu
trượt tay bám khỏi chiếc lốp một chút lúc đạp vào thân cây, và trước
khi kịp nhận ra cậu đã ngã lộn nhào xuống, một chân vẫn còn mắc trong
rãnh lốp xe còn mặt cắm xuống đất cùng một tiếng uỵch dữ dội.
Mọi
thứ tối sầm lại trong một chốc rồi sau đó sáng rõ trở lại. Cậu vừa ngồi
dậy được trên mặt đất thì bị chiếc lốp đu trở lại đập vào đầu, cậu kêu
ối lên một tiếng và tránh ra ngoài đường bay của nó. Khi đứng dậy cậu có
thể cảm thấy rõ một bên cánh tay và chân cậu rất đau vì cậu đã ngã đè
mạnh lên chúng, nhưng không đau kiểu như bị gãy. Cậu kiểm tra bàn tay và
thấy chi chít trầy xước, nhìn tới khuỷu tay thì lại thấy một vết rách
rất kinh. Tuy vậy chân cậu còn đau hơn nữa, và khi nhìn xuống đầu gối
chỗ ngay dưới gấu quần sooc, cậu thấy có một vết rách toát dường như chỉ
chờ cậu ngó ngàng tới, bởi vì ngay khi tất cả sự chú ý tập trung vào
đó, vết rách bắt đầu chảy máu khá ghê.
“Ôi, trời ơi,” Bruno hét to
lên, chằm chằm nhìn vào vết thương và băn khoăn không biết phải làm gì
tiếp theo. Tuy vậy cậu cũng không cần phải ngồi lo lắng quá lâu, bởi vì
chiếc đu mà cậu buộc này nằm cùng bên với gian bếp của ngôi nhà, còn
Pavel, người giúp việc đã giúp cậu tìm thấy chiếc lốp xe đang đừng gọt
khoai tây bên khung cửa sổ và đã nhìn thấy tai nạn đó. Khi Bruno ngước
lên lần nữa cậu đã thấy Pavel đang vội vã chạy về phía mình và chỉ khi
ông chạy tới nơi cậu mới cảm thấy đủ tin tưởng để mặc cho cảm giác chóng
mặt dữ dội vốn đang bủa vây xung quanh được bao phủ lấy cậu hoàn toàn.
Câu khuỵu người xuống một chút nhưng lần này thì không ngã xuống đất nữa
bởi vì Pavel đã bế xốc cậu lên.
“Cháu không biết chuyện gì đã xảy ra nữa,” cậu nói. “Cái đu chẳng có vẻ gì là nguy hiểm cả mà.”
“Cậu
đã bay lên quá cao,” Pavel nói bằng âm điệu trầm tĩnh khiến Bruno ngay
lập tức cảm thấy an toàn. “Tôi nhìn thấy cả. Lúc đấy tôi đã nghĩ cậu có
thể gặp tai nạn bất cứ lúc nào.”
“Và cháu đã gặp rồi,” Bruno nói.
“Rõ là thế.”
Pavel bế cậu qua bãi cỏ trở vào nhà, đưa cậu vào bếp rồi đặt cậu xuống một trong những chiếc ghế gỗ.
“Mẹ cháu đâu rồi ạ?” Bruno hỏi, đưa mắt khắp xung quanh tìm kiếm người cậu vẫn tìm kiếm đầu tiên mỗi khi gặp tai nạn.
“Mẹ
cậu vẫn chưa về, tôi e là vậy,” Pavel nói, quỳ dưới sàn nhà trước mặt
cậu và kiểm tra đầu gối của cậu. “Ở đây chỉ có mình tôi thôi.”
“Vậy
thì chuyện gì sẽ xảy ra đây?” Bruno hỏi, bắt đầu hơi hoảng, một cảm xúc
khiến cậu suýt phát khóc. “Cháu có thể chảy máu tới chết mất.”
Pavel
khẽ bật cười lắc đầu. “Cậu sẽ không chảy máu tới chết đâu,” ông nói,
đẩy một chiếc ghế đẩu ra xa và đặt chân Bruno lên đó. “Cứ để yên một
lát. Hộp cấp cứu ở gần đây thôi.”
Bruno nhìn theo ông đi quanh
trong bếp, lôi từ trong tủ ra một chiếc hộp cấp cứu màu xanh rồi đổ đầy
nước vào một cái bắt nhỏ, cho ngón tay vào thử trước để đảm bảo nước
không quá lạnh.
“Cháu có phải đi bệnh viện không ạ?” Bruno hỏi.
“Không,
không đâu,” Pavel nói khi ông quay lại quỳ gối xuống chỗ cũ, nhúng một
miếng vải khô vào bát nước rồi chấm nhẹ nhàng lên đầu gối Bruno, cậu
nhăn mặt đau đớn khi ông làm vậy mặc dù thật sự thì không hẳn đau tới
mức đó. “Chỉ là một vết rách nhỏ thôi. Thậm chí không cần phải khâu nữa
kìa.”
Bruno cau mày và cắn môi thật căng thẳng khi Pavel lau máu
trên vết thương rồi bịt thật chặt bằng một miếng vải khác vào đó trong
vài phút. Khi ông mở miếng vải ra, thật nhẹ nhàng, máu đã cầm lại, rồi
ông lấy ra một chai nhỏ chứa chất lỏng màu xanh từ hộp cứu thương và
chấm chấm nhẹ lên vết thương, cảm giác nhoi nhói khiến Bruno liên tục
phải kêu “Ối” mấy lần.
“Có đau tới thế đâu,” Pavel nói, nhưng bằng
một giọng thật dịu dàng và đôn hậu. “Đừng làm cho vết thương tệ hơn
bằng cách nghĩ nó đau hơn thực tế.”
Bằng cách nào đó những lời nói
ấy đã tác động tới Bruno và cậu đã cưỡng lại được cái thôi thúc muốn
kêu thêm vài tiếng “Ối” nữa. Còn Pavel, sau khi bôi xong thứ chất lỏng
màu xanh đó cho cậu, ông lấy từ trong hộp cứu thương ra một chiếc băng
gạc và dán lên vết rách.
“Xong,” ông nói, “Tốt hơn cả rồi đấy,nhỉ?”
Bruno
gật đầu và cảm thấy hơi xấu hổ về bản thân vì đã không thể hiện được vẻ
dũng cảm mà cậu muốn thể hiện. “Cảm ơn ông.” Cậu nói.
“Không có
gì,” Pavel nói. “bây giờ cậu phải ngồi yên trong ít phút nữa trước khi
cậu lại chạy đi chơi với đôi chân này, được chứ? Hãy cho vết thương thư
giãn đôi chút. Và hôm nay đừng có tới gần cái đu nữa đấy nhé.”
Bruno
gật đầu và giữ chân duỗi thẳng trên chiếc ghế đẩu trong khi Pavel đi về
phía bồn rửa tay và rửa tay thật kỹ, thậm chí còn dùng bàn chải kì cọ
mặt trong móng, sau đó ông lau khô tay và trở lại với công việc gọt
khoai tây.
“Ông có kể với mẹ chuyện này không ạ?” Bruno hỏi, cậu
đã dành vài phút cuối băn khoăn không biết mọi người sẽ nhìn cậu như một
anh hùng gặp phải tai họa hay là một tên quỷ sứ bày ra trò nghịch chết
người.
“Tôi nghĩ bà ấy sẽ tự mình nhìn thấy thôi,” Pavel nói, ông
vừa mang những củ cà rốt đặt trên bàn, ngồi xuống đối diện với Bruno và
bắt đầu gọt vỏ vào một tờ báo cũ.
“Vâng, cháu cũng nghĩ thế,” Bruno nói. “Có thể mẹ sẽ muốn đưa cháu đi bác sĩ.”
“Tôi không nghĩ như vậy đâu,” Pavel trầm tĩnh nói.
“Ông
biết làm sao được?” Bruno nói, câu không muốn tai nạn của cậu bị lãng
quên dễ dàng như thế. (Xét cho cùng, đó chính là chuyện thú vị nhất xảy
ra với cậu từ khi tới đây mà). “Vết thương có thể tồi tệ hơn so với vẻ
bề ngoài.”
“Không đâu,” Pavel nói, hầu như chẳng buồn lắng nghe Bruno, những củ cà rốt đã thu hút quá nhiều sự chú ý của ông.
“Ồ,
làm sao mà ông biết được chứ?” Bruno nhanh miệng hỏi, cảm thấy mỗi lúc
một tức tối mặc cho sự thật rằng đây là người đã bế xốc cậu lên khỏi mặt
đất, đưa cậu vào nhà và chăm sóc cậu. “Ông đâu phải là bác sĩ.”
Pavel
ngưng gọt cà rốt trong giây lát và nhìn Bruno qua chiếc bàn, đầu ông
cuối thấp, hai mắt nhìn lên, như thể ông đang băn khoăn xem nên nói gì
trong trường hợp này. Ông thở dài và có vẻ như cân nhắc về điều đó một
lúc rất lâu trước khi nói. “Phải, tôi là bác sĩ đấy.”
Bruno nhìn
chằm chằm ông kinh ngạc. Cậu không hiểu gì lời ông vừa nói cả. “Nhưng
ông là người phục vụ mà,” cậu nói chầm chậm. “Và ông gọt rau quả cho bữa
tối. Làm sao ông có thể cũng là bác sĩ được.”
“Này thanh niên,”
Pavel nói (và Bruno đánh giá cao sự lịch sự của ông khi gọi cậu là
“thanh niên” thay vì “bé con” như trung úy Kotler), “tôi thật sự là một
bác sĩ. Đâu phải một người cứ chăm chăm nhìn lên trời hằng đêm thì có
nghĩa anh ta là một nhà thiên văn, cậu biết rồi đấy.”
Bruno không
hiểu Pavel muốn nói gì nhưng có gì đó trong những lời ông nói khiến lần
đầu tiên cậu nhìn ông thật kỹ. Đó là một người đàn ông khá nhỏ bé và rất
gầy nữa, với những ngón tay dài và gương mặt xương xương. Ông già hơn
cha cậu nhưng trẻ hơn ông nội, điều đó vẫn có nghĩa là ông đã khá già và
mặc dù Bruno chưa từng nhìn thấy ông trước khi tới Ao Tuýt, có một cái
gì đó trên gương mặt ông khiến cậu tin rằng trước đây ông từng có một bộ
râu.
Nhưng giờ thì không còn nữa.
“Nhưng cháu không hiểu,”
Bruno nói, mong muốn hiểu rõ ngọn ngành chuyện này. “Nếu ông là bác sĩ,
vậy thì tại sao ông lại phục vụ bàn ăn? Tại sao ông không làm việc trong
một bệnh viện ở nơi nào đó?”
Pavel ngập ngừng một lúc lâu trước
khi trả lời, và trong khi ông ngập ngừng như vậy Bruno chẳng nói gì. Cậu
không rõ vì sao nhưng cậu cảm thấy việc lịch sự nên làm là chờ đợi cho
đến kho Pavel sẵn sáng lên tiếng.
“Trước khi tới đây, tôi đã hành nghề y,” cuối cùng ông nói.
“Hành nghề?” Bruno hỏi, cậu không quen với từ này. “Thế hồi đó ông đã làm việc không tốt ạ?
Pavel
mỉm cười. “Tôi đã làm rất tốt,” ông nói, “Cậu biết không, tôi đã luôn
muốn trở thành bác sĩ. Từ hồi còn bé. Từ hồi tôi bằng tuổi cậu bây giờ.”
“Cháu thì muốn trở thành một nhà thám hiểm.” Bruno nói ngay.
“Chúc cậu may mắn,” Pavel nói.
“Cảm ơn ông.”
“Vậy cậu đã từng thám hiểm ra thứ gì chưa?”
“Lúc
còn ở ngôi nhà của gia đình cháu ở Berlin, cháu đã hoàn thành bao nhiêu
cuộc thám hiểm ấy chứ,” Bruno nhớ lại. “Nhưng mà hồi ấy, đó là một ngôi
nhà rất lớn, lớn hơn ông có thể tưởng tượng được nhiều, vậy nên có rất
nhiều chỗ để khám phá. Chẳng giống nơi đây chút nào.”
“Chẳng có cái gì giống nơi đây cả,” Pavel đồng ý.
“Ông đến Ao Tuýt từ lúc nào ạ?” Bruno hỏi.
Pavel
đặt củ cà rốt và chiếc gọt xuống trong giây lát và suy nghĩ. “Tôi nghĩ
tôi đã luôn luôn ở đây,” cuối cùng ông nói bằng một giọng lặng lẽ.
“Ông lớn lên ở đây à?”
“Không,” Pavel nói, lắc lắc đầu. “Không phải, tôi không lớn lên ở đây.”
“Nhưng ông vừa nói...”
Trước
khi câu kịp nói tiếp, giọng của mẹ cậu đã vang lên ở phía bên ngoài.
Ngay khi nghe thấy bà, Pavel đứng bật dậy khỏi chỗ ngồi và quay lại bên
chậu rửa với những củ cà rốt, chiếc gọt và tờ báo đầy vỏ, quay lưng lại
với Bruno, cuối đầu xuống thấp và không nói gì nữa.
“Chuyện gì đã
xảy ra với con vậy trời?” mẹ cậu hỏi khi bà xuất hiện ở nhà bếp, cuối
xuống xem miếng băng gạc phủ lên vết rách của Bruno.
“Con đã làm
một cái đu và sau đó con bị ngã từ trên cao xuống,” Bruno giải thích.
“Rồi chiếc đu đập vào đầu con và con suýt nữa ngất xỉu, nhưng ông Pavel
đã chạy ra đưa con vào nhà và lau sạch vết thương rồi băng bó lại cho
con, đau lắm nhưng con không hề khóc mẹ ạ. Cháu không khóc lần nào, đúng
vậy không ông Pavel?”
Pavel hơi quay người về hướng hai mẹ con
cậu nhưng không ngẩng đầu lên. “Vết thương đã được lau sạch,” ông khẽ
nói, mà không trả lời câu hỏi của Bruno. “Không có gì phải lo lắng nữa
đâu.”
“Lên phòng con đi, Bruno,” mẹ cậu nói, bây giờ trông bà rõ ràng không hề thoải mái.
“Nhưng con...”
“Đừng
cãi lời mẹ... lên phòng con đi!” bà quả quyết và Bruno bước xuống ghế,
dồn trọng lượng cơ thể sang bên mà cậu đã quyết định gọi là cái chân tồi
tệ, khiến nó hơi đau một chút. Cậu quay người rời phòng bếp nhưng khi
bước về phía cầu thang cậu vẫn còn nghe thấy mẹ đang nói lời cảm ơn
Pavel, và điều này khiến cậu vui vì chắc chắn ai cũng có thể thấy rõ là
nếu không có ông thì cậu hẳn đã bị chảy máu cho tới chết.
Cậu nghe thấy lời cuối cùng trước khi lên tầng và đó cũng là câu cuối cùng mẹ nói với người phục vụ đã nhận mình là bác sĩ.
“Nếu Ngài Chỉ huy hỏi, chúng ta sẽ nói rằng tôi đã lau vết thương cho Bruno nhé.”
Đối với Bruno điều đó thật sự quá sức ích kỷ và là cách mẹ tranh công một công việc mà mẹ không làm.

