Hạt giống tâm hồn (Tập 9) - Phần 3

Nghệ sĩ đàn cello ở Serajevo

Chỉ cần một ngôi sao nhỏ
bé cũng có thế tỏa sáng trong bầu trời đêm.

- Cách ngôn

Là một nghệ sĩ dương
cầm, có lần tôi từng được mời tham gia biểu diễn cùng nghệ sĩ đàn cello Eugen
Friesen tại Festival quốc tế dành cho đàn cello ở Manchester, Anh. Cứ hai năm
một lần, một nhóm các nghệ sĩ đàn cello danh giá nhất thế giới cùng những người
cống hiến hết mình cho loại nhạc cụ khiêm nhường này lại tụ hội một tuần để
thảo luận, dạy nhạc cao cấp, nghiên cứu, độc tấu và tổ chức những buổi tiệc
tùng vui vẻ. Thường mỗi tối sẽ có khoảng 600 người quây quần chờ đón buổi hòa
nhạc.

Buổi biểu diễn trong đêm
khai mạc tại Học viện Âm nhạc Hoàng gia phía Bác gồm những tác phẩm dành cho
đàn cello, không kèm nhạc đệm. Trên sân khấu hội trường trắng lệ chỉ đặt duy
nhất một chiếc ghế. Không đàn piano, không dàn nhạc, không bục cho người chỉ
huy. Vang vọng khắp hội trường chỉ có tiếng cello thanh khiết, say đắm lòng
người. Bầu không khí như ngưng đọng, cảm giác thăng hoa tràn ngập khắp thính
phòng.

Nghệ sĩ đàn cello nổi
danh nhất thế giới Yo- Yo Ma là một trong những nghệ sĩ đã biểu diễn vào
một đêm tháng 4 năm 1994. Chất chứa sau tác phẩm âm nhạc của ông là một câu
chuyện đầy cảm động.

Vào ngày 27 tháng 5 năm
1992, tại Sarajevo, một trong các hiệu bánh mì hiếm hoi còn đủ bột mì đã quyết
định làm bánh để phát chẩn cho những người đói khổ, nạn nhân của cuộc chiến
tranh tàn khốc. Vào lúc 4 giờ sáng, trong khi đoàn người đứng xếp thành hàng
dài trên hè phố thì bỗng đâu, một quả đạn súng cối rơi thẳng xuống giữa hàng
người. Một cảnh tượng khủng khiếp lập tức hiện ra, máu me, xương thịt, gạch
đá... vương vãi khắp nơi. Hai mươi hai sinh mạng bị cướp đi trong phút chốc.

Cách đó không xa là tư
gia của nhà soạn nhạc 35 tuổi - Vedran Smailovic. Trước chiến tranh, anh từng
là một nghệ sĩ đàn cello thuộc đoàn nhạc kịch ở Sarajevo, một công việc cao quý
mà anh luôn mong chờ được trở lại. Chứng kiến cảnh tượng đẫm máu diễn ra ngoài
khung cửa sổ, anh không thể chịu đựng nổi. Đau đớn, anh quyết tâm cống hiến hết
mình bằng công việc mà anh làm tốt nhất: âm nhạc. Nhạc cho công chúng, nhạc thể
hiện bản lĩnh, nhạc của chiến trường.

Từ đó, trong cả 22 ngày
tiếp theo, cứ 4 giờ sáng, Smailovic lại khoác lên người bộ lễ phục trang trọng
với chiếc cello bên mình rồi rời khỏi căn hộ, hòa mình vào cuộc chiến đang diễn
ra khốc liệt từng ngày. Bên hố đạn súng cối còn sâu hoắm trên mặt đất, anh đặt
chiếc ghế bằng nhựa rồi cất cao tiếng đàn cho trích đoạn Adagio in G minor của
nhà soạn nhạc Albinoni,  một trong những đoạn trích thê lương và ám
ảnh nhất trong các tác phẩm kịch cổ điển. Anh chơi vì những con phố bị chia
cắt, những chiếc xe tải bị đình trệ, những tòa nhà đổ nát và vì những con người
đang sợ hãi ẩn mình trong hầm rượu để tránh bom đạn. Trong mưa bom bão đạn, anh
đã dùng sự quả cảm của mình để ngợi ca, cổ vũ phẩm giá con người, những người
đã hy sinh vì nền hòa bình và hạnh phúc nhân loại. Bất kể làn mưa đạn ào ào
trút xuống, anh vấn ngồi đó, tựa như được bao bọc trong một bàn tay vô hình.

Khi câu chuyện vẻ người
đàn ông phi thường này được đảng tải trên các mặt báo, nhà soạn nhạc người Anh
- David Wilde, đã vồ cùng cảm động. Ông quyết định viết một tác phẩm cho cello
không kèm nhạc đệm, “Nghệ sĩ cello ở Sarajevo Tác phẩm là sự hòa trộn giữa sự
oán giận chiến tranh, tình yêu và tình ái hữu với Vedran Smailovic.

“Nghệ sĩ cello ở
Sarajevo ” chính là tác phẩm mà Yo-Yo Ma đã chơi trong buổi tối hôm đó.

Yo-Yo Ma bước lên sân
khấu, cúi người chào khán giả rồi lặng lẽ ngồi xuống ghế. Bản nhạc bắt đầu vang
vọng khắp hội trường. Mỗi giai điệu như mở ra trước mắt mọi người một không
gian mờ mịt, trống rỗng, tràn đầy lo âu và chết chóc. Cứ thế, nó dần thăng hoa
thành nỗi đau đớn quằn quại, tiếng kêu xé lòng và sự giận dữ mãnh liệt... Tất
cả như bóp nghẹt trái tim những người có mặt tại khán phòng để rồi sau đó lại
như chìm lắng trong hơi thở hấp hối của những kẻ tử nạn. Cuối cùng cả hội
trường chìm ngập trong sự tĩnh lặng nao lòng.

Khi đã hoàn thành bài
biểu diễn, Ma vấn ngồi im bên chiếc cello, cây vĩ đặt hờ trên phím đàn. Không
một ai trong hội trường di chuyển hay tạo nên dù chỉ một tiếng động nhỏ trong
một khoảng thời gian dài, cứ như thể họ vừa là chứng nhân của vụ thảm sát kinh
hoàng ấy.

Cuối cùng, Ma đưa mắt
nhìn xuống khán giả, anh đưa tay ra hiệu mời một người lên sân khấu. Một luồng
điện mơ hồ chạy dọc tất cả chúng tôi khi chúng tôi nhận ra con người

đó: Vedran Smailovic -
người nghệ sĩ cello ở Sarajevo.

Smailovic đứng lên khỏi
ghế và bước ra lối đi giữa các dãy ghế trong khi Ma rời sân khấu để tới gặp
anh. Họ ôm lấy nhau chứa chan tình cảm. Mọi người trong hội trường không khỏi
xôn xao, họ tỏ ra rất phấn khích, vỗ tay reo hò và cổ vũ.

Ở trung tâm hội trường
đó là hai người đàn ông - Yo-Yo Ma - ông hoàng tao nhã, tinh tế của dòng nhạc
cổ điền, hoàn hảo trong cả diện mạo lẫn phần biểu diễn và Vedran Smailovic
trong bộ trang phục đi xe mô tô bằng da cũ đã có đôi chỗ rách - đang đứng Ồm
nhau khóc. Mái tóc dài hoang dại cùng chòm râu lớn khiến Smailovic trông già
hơn tuổi. Gương mặt ông nhòa lệ.

Tất cả chúng tôi đều bày
tỏ sự đồng cảm sâu sắc khi gặp người đàn ông này, người đã cất cao tiếng đàn
cello bất chấp bom đạn, cái chết và sự đổ nát.

Một tuần sau đó, khi trở
lại Maine,  trong một buổi tối ngồi chơi đàn cho bệnh xá địa phương,
tâm trí tôi cứ lan man so sánh nó với bài biểu diễn bi hùng mà tôi được chứng
kiến ở festival. Sau đó tôi bỗng nhận ra nét tương đồng rõ rệt. Bằng âm nhạc,
người nghệ sĩ ở Sarajevo đã đáy lùi chết chóc và sự tuyệt vọng, đồng thời tán
dương tình yêu và cuộc sống. Còn chúng ta ở đây cất cao lời ca tiếng nhạc với
sự đệm lót của tiếng đàn piano cũng đang cố gắng làm điều tương tự. Tuy rằng
không có bom rơi đạn nổ nhưng hiện hữu trước chúng ta là những vết thương có
thực - đồi mắt mờ, sự cô đơn, tất cả những vết sẹo mà chúng ta gánh chịu trong
cuộc đời này và những ký ức tươi đẹp về sự bình an. Tuy vậy, chúng ta vẫn hát
và vỗ tay vui vẻ.

Thật vậy, âm nhạc là một
món quà mà tất cả chúng ta đều có quyền thưởng thức và chia sẻ như nhau. Dù ta
là người tạo ra hay chỉ đơn giản lắng nghe thì âm nhạc vẫn là một món quà có
sức mạnh lắng dịu lòng người, truyền cho ta cảm hứng và giúp chúng ta xích lại
gần nhau trong những thời khắc nguy hiểm nhất.

- Paul Sullivan

Tiếng nói của riêng mình

Nhiệm vụ của con người
là khám phá ra nét riêng biệt trời ban cho mình.

- Martin Buber

Khi tôi lên bảy, gia
đình tôi chuyển tới New York. Lúc đó tôi đang học đánh đàn cello, một vài năm
sau cha mẹ đăng ký cho tôi vào học một lớp của thầy Leonard Rose. Leonard là
một nghệ sĩ cello bậc thầy và cũng là một giáo viên lừng danh. May mắn thay,
thầy cũng rất kiên nhẫn vì tôi là một đứa trẻ rất rụt rè.

Mỗi lần lắng nghe tiếng
đàn của thầy Leonard, tôi lại thầm nghĩ “làm sao thầy có thể tạo ra những giai
điệu tuyệt vời đến thế? Làm sao con người có thể làm được?”. Nhưng đó không
phải là mục đích chính của âm nhạc. Thầy hiểu điều đó. Thầy bảo tôi: “Ta đã dạy
con nhiều điều, bây giờ con phải dừng lại và tự học”.

Thật vậy, điều tồi tệ
nhất chúng ta làm với bản thân là nói với mình rằng: “tôi muốn được như người
khác”. Chúng ta cần học hỏi kiến thức từ người khác nhưng cuối cùng chúng ta phải
tìm ra tiếng nói riêng cho mình.

- Yo-Yo Ma

Vị ân nhân trên chuyến tàu Pittsburgh

Khi chết đi, cát bụi sẽ
trở về với cát bụi, nhưng những gì ta từng chia sẻ với người khác thì sẽ còn
mãi.

- Dewitt Wallace

Bất cứ khi nào mấy anh
chị em trong gia đình có dịp sum vầy bên nhau, chúng tôi đều nói về cha. Tất cả
thành công mà chúng tôi đạt được trong cuộc sống này là nhờ có cha và một người
đàn ông bí ẩn cha từng gặp trên chuyến tàu đi Pittsburgh.

Cha tôi là Simon
Alexander Haley. Ông sinh năm 1892 và sinh trưởng trong một thị trấn nông
nghiệp nhỏ ở Savannah, Tennessee. Ông là người con thứ tám trong gia đình. Ông
nội tôi - Alec Haley - là một người rất gia trưởng, trước kia từng là nô lệ,
còn bà nội tên là Queen.

Bà nội là một người rất
tình cảm, dễ động lòng nhưng cũng rất nghiêm khắc, đặc biệt là trong việc giáo
dục con cái. Một trong những mong muốn lớn nhất của bà là cha tôi phải được ăn
học đàng hoàng.

Trở lại thời gian đó ở
Savannah, nếu một thiếu niên đủ trưởng thành đề làm công việc đồng áng mà chỉ
biết “ru rú” trong trường học thì cậu ta sẽ bị coi là “đồ bỏ đi”. Vì thế, khi
cha tôi bước vào lớp sáu, bà nội phải bắt đầu “làm công tác tư tưởng” để xoa
dịu ông nội.

“Chúng ta có đến tám
người con, ” - bà nội lập luận, “nếu chúng ta “bỏ đi ” một đứa và cho nó ăn học
tử tế thì điều đó cũng chàng có gì đáng mất mặt, đúng không?”. Sau nhiều lần
tranh cãi, ông nội đành để cha học hết lớp tám, nhưng cha vẫn phải làm việc
đồng áng sau các giờ học.

Nhưng, bà nội vẫn chưa
hoàn toàn hài lòng.

Khi cha học hết lớp tám,
một hôm vừa gieo hạt, bà nội vừa nói với ông tôi rằng nếu cha tôi được đi học
cao hơn nữa thì ông nội có lẽ không còn phải sống cuộc đời thấp hèn thế này
nữa. Quả nhiên lời nói của bà đã phát huy tác dụng. Ông nội đưa cha tôi 5 tờ
ngân phiếu, mỗi tờ trị giá 10 đô la (dù vào thời đó, nồng dân phải lao động rất
vất vả mới kiếm được số tiền này) đồng thời nghiêm nghị nhắc nhở cha tôi không
được xin thêm bất cứ đồng nào, rồi gửi cha tới học tại một trường ở Tennessee.
Cha tôi bắt đầu hành trình bằng xe ngựa, sau đó tiếp tục bằng tàu hỏa - con tàu
đầu tiên ông được trồng thấy. Cuối cùng ông cũng tới Jackson - một thành phố
thuộc hạt Madison, Tennessee. Ở đây, ông đăng ký vào một lớp dự bị ở trường
Lane. Đây là một trường chuyên nghiệp dành riêng cho người da đen, chương trình
đào tạo kéo dài 4 năm.

Năm mươi đô la mà cha
mang theo nhanh chóng cạn kiệt, để tiếp tục việc học, ông phải làm thêm rất
nhiều. Ông từng là hầu bàn, người phụ giúp các việc vặt và người giúp việc tại
một trường nam sinh dành cho những học sinh bất trị. Khi mùa đông tới, ông phải
thức dậy vào lúc 4 giờ sáng để tới nhóm lửa cho những gia đình người da trắng
giàu có đề họ có thể thức dậy trong ấm áp.

Lúc đó, cha Simon khốn
khổ là đề tài giễu cợt của các học sinh cùng trường vì ông chỉ có duy nhất một
đôi giày và một đôi tất, còn hai mắt ông thì lúc nào cũng sưng húp vì thiếu
ngủ. Ông từng nhiều lần bị bắt gặp đang ngủ quên với quyển giáo trình trong
lòng.

Nỗ lực kiếm tiền cũng có
mặt trái của nó. Thành tích học tập của cha bắt đầu giảm sút, nhưng ông vẫn cố
gắng hoàn thành năm học cuối cùng. Sau đó, ông đăng ký vào trường A&T ở
Greensboro, Bắc California. Ở đây, trong hai năm đầu tiên cha từng hết sức khổ
cực đề kiếm tiền chi trả cho sinh hoạt và học tập.

Một buổi chiều lạnh lẽo
vào cuối năm học thứ hai, cha được gọi tới phòng giáo viên. Tại đây ông hay tin
mình đã thi trượt một môn học - một môn học đòi hỏi phải có giáo trình mà cha
thì nghèo đến mức không thể mua nổi.

Cảm giác đau đớn vì thất
bại vỡ òa trong ông. Suốt mấy năm qua, ông đã nỗ lực hết mình và giờ đây ông
cảm thấy tất cả công sức đó bỗng chốc đổ sụp. Có lẽ, ông nên thu xếp về quê,
trở lại với định mệnh đã sắp đặt sẵn là làm một người nông dân suốt ngày quanh
quẩn bên ruộng đồng.

Nhưng mấy ngày sau, cha
nhận được lá thư do công ty Pullman gửi tới thông báo rằng ông là một trong 24
sinh viên được lựa chọn từ hàng trăm ứng cử viên khác để đảm nhận công việc
phục vụ ở toa ngủ trên tàu vào mùa hè. Cha hết sức vui mừng. Đó thực sự là một
cơ hội lớn. Ông nhanh chóng tới nhận nhiệm vụ và được phần cồng phục vụ trên
chuyến tàu từ Buffalo tới Pittsburgh.

Một buổi sáng, vào lúc 2
giờ, trong khi chuyến tàu đang chìm trong giấc ngủ thì một tiếng còi gọi phục vụ
vang lên. Cha bật dậy, vội vã khoác lên mình bộ đồng phục màu trắng rồi nhanh
chóng tới toa ngủ của khách. Ông gặp một người đàn ông dáng vẻ sang trọng,
người này nói rằng ông ta và vợ đang khó ngủ và cả hai cùng muốn dùng một ly
sữa nóng. Cha bưng sữa và khăn ăn tới bằng một chiếc khay bạc. Người đàn ông
đưa một ly sữa qua tấm màn cho vợ mình rồi vừa nhâm nhi từng hóp sữa vừa hỏi
chuyện cha.

Công ty Pullman đã quy
định rõ mọi cuộc chuyện phiếm đều bị nghiêm cấm ngoại trừ những câu xá giao
lịch sự như “Vâng, thưa ngài” hoặc “Không được, thưa bà”; tuy vậy, vị khách này
vẫn không ngừng đặt ra câu hỏi. Thậm chí ông ấy còn theo cha tới tận phòng ngủ
dành cho nhân viên phục vụ.

- Quê cậu ở đâu?

- Thưa ông, ở Savannah,
Tennessee.

- Cậu rất lịch sự.

- Xin cảm ơn, thưa ông.

- Trước khi làm công
việc này, cậu đã làm gì?

- Tôi là sinh viên của
trường A&T ở Greensboro, thưa ông.

Cha cảm thấy không cần
thiết khi thêm vào rằng ông đang cân nhắc việc quay trở lại quê hương và tiếp
tục công việc đồng áng. Người đàn ông nhìn cha thật lâu, sau đó chúc cha may
mắn rồi quay trở lại giường ngủ của mình.

Sáng hôm sau, tàu tới
Pittsburgh. Vào thời điểm ấy, số tiền boa 50 cent đã được xem là hậu hĩ, nhưng
vị khách tối qua đã boa cho cha tôi hẳn 5 đô la. Cha tỏ ra rất biết ơn. Trong
cả mùa hè đó, cha ra sức gom góp mọi đồng boa nhận được và khi công việc này
kết thúc, ông đã có số tiền đủ để mua cho mình một con lừa và một cái cày. Tuy
vậy, ông cũng nhận ra rằng số tiền đó đủ để ông tiếp tục một năm học hoàn chỉnh
tại trường A&T mà không cần phải kiếm thêm bất cứ một công việc vặt nào
khác.

Cha quyết định tận hưởng
ít nhất một kỳ học mà không phải lăn lộn với việc làm thêm. Chỉ có như thế, ông
mới có thể biết chính xác điểm số mà ông xứng đáng được nhận. Ông trở lại
Greensboro, nhưng ngay khi vừa về tới trường thì ông được yêu cầu đến gặp thầy
hiệu trưởng. Cha vô cùng lo sợ khi ngồi trước người đàn ông quyền lực đó.

- Thầy có một bức thư ở
đây, Simon ạ. - Thầy hiệu trưởng nói.

- Vâng, thưa thầy.

- Có phải vừa rồi trò đã
làm phục vụ cho công ty Pullman phải không?

- Vâng, thưa thầy.

- À, ông ấy tên là R. s.
M. Boyce và là vị giám đốc đã nghỉ hưu của công ty xuất bản Curtis, công ty cho
ra đời tờ báo Saturday Evening Post ấy. Ông ấy đã tài trợ cho trò toàn bộ
tiền cơm tháng, học phí và sách vở cho cả năm học.

Cha tôi vô cùng kinh
ngạc. Khoản trợ cấp bất ngờ đó không chỉ giúp cha hoàn thành chương trình học ở
A&T mà còn giúp ông tốt nghiệp với vị trí dẫn đầu lớp. Thành tích này đã
giúp ông lấy được học bổng toàn phần của trường Đại học Cornell ở Ithaca, New
York.

Năm 1920, sau khi lập
gia đình ít lâu, cha tôi quyết định chuyển tới Ithaca cùng mẹ tôi là Bertha.
Ông đăng ký vào học trường Cornell để lấy bằng thạc sĩ, còn mẹ tôi đăng ký vào
Học viện Âm nhạc Ithaca để học piano. Một năm sau đó, tôi ra đời.

Hơn bốn mươi năm sau,
năm 1965, các biên tập viên của báo Saturday Evening Post mời tôi đến phòng
biên tập ở New York để trao đổi về bản thảo đầu tiên của tôi - Tự truyện của Malcom
X. Tôi vô cùng tự hào và hạnh phúc khi được đứng trong những văn phòng ốp gỗ ở
đại lộ Lexington. Bất chợt, tôi nhớ tới ông Boyce và sự hào phóng của ông khi
đã cho tôi cơ hội được đứng đây - giữa những biên tập viên nổi tiếng này với tư
cách một nhà văn. Tôi bắt đầu khóc, những giọt nước mắt cứ lặng lẽ tuôn rơi.

Chúng tôi - những đứa
con của Simon Haley, thường nghĩ về ông Boyce và sự giúp đỡ lớn lao của ông cho
một con người kém may mắn không quen biết. Cũng nhờ sự hào phóng của ông mà
chúng tôi có được một cuộc sống hạnh phúc như ngày hôm nay. Thay vì sinh trưởng
trong một gia đình nông dân, chúng tôi được lớn lên trong vòng tay của cha mẹ -
những người có học thức, được sống bên cạnh những giá sách cao ngất cùng niềm
tự hào về chính bản thân mình. Anh trai của tôi, George, hiện là chủ tịch của
us Postal Rate Cơmmission; Julius là một kỹ sư; Lois là giáo viên dạy nhạc; còn
tôi là một nhà văn.

Ồng R. S. M. Boyce đúng
là một “quý nhân phù trợ” mà cuộc đời đã ban tặng cho cha tôi. Có thể người
khác xem đó là một điều may mắn, nhưng tôi lại xem đó như một động lực để cố
gắng hơn. Tôi mong rằng những người được nâng đỡ để có được thành cồng nên chia
sẻ niềm hạnh phúc của mình với người khác. Đó là việc nên và cần làm trong cuộc
sống này.

- Alex Haley

Quy luật của lòng nhân ái

Tôi tin rằng chỉ cần mỗi
người chúng ta góp sức một chút thì bất hạnh trên thế gian này sẽ vơi bớt vài
phần.

- Albert Schweitzer

Một buổi sáng, Bill
Wilkins thức dậy trong một bệnh viện dành riêng cho người nghiện rượu. Chán
nản, ông dò dẫm tới phòng bác sĩ rồi rên rỉ:

- Bác sĩ, tôi đã tới cái
chốn chết tiệt này bao nhiêu lần rồi?

- Năm mươi lần rồi! Và
anh đã trở thành bệnh nhân “nhẵn mặt” nhất của chúng tôi đấy!

- Thế mà tôi cứ tưởng
tôi chết vì rượu lâu rồi chứ!

- Này Bill, cũng chẳng
còn lâu nữa đâu! - Vị bác sĩ nói.

- Vậy ông nghĩ sao nếu
tôi uống thêm một ngụm nhỏ nữa để giúp mình mạnh mẽ hơn? - Bill hỏi lại.

- Tôi đoán là cũng chẳng
sao đâu! - Vị bác sĩ đồng ý. - Nhưng tôi có một thỏa thuận với anh. Có một anh
bạn trẻ ở phòng kế bên đang trong tình trạng be bét. Anh ta mới tới đây lần
đầu. Nếu anh dùng chính mình làm tấm gương khủng khiếp cho tật nát rượu thì có
thể anh sẽ khiến anh ta sợ mà tránh xa rượu chè trong suốt quãng đời còn lại
đấy.

Thay vì cáu giận, Bill
cảm thấy thích thú trước gợi ý này. “Được thôi” - Bill đáp. “Nhưng đừng quên
đem rượu đến khi tôi quay trở lại nhé”

Người thanh niên nghiện
rượu phải vào bệnh viện lần đầu tiên ấy chắc mẩm rằng mình sẽ bị trách máng ghê
gớm, còn Bill - người tự coi mình như một kẻ theo thuyết “không có gì là không
thể” - cảm thấy khó tin khi chính mình lại làm công việc khuyên bảo người khác
“hướng thiện”. “Rượu là một thứ sức mạnh nằm ngoài con người cậu nhưng lại đang
chi phối cậu. ” - Bill nhấn mạnh. “Vì thế, chỉ có một sức mạnh bên ngoài khác
mới có thể cứu vớt cậu mà thôi. Nếu cậu không muốn gọi sức mạnh đó là Chúa thì
hãy gọi đó là Sự thật. Cái tên chẳng có gì là quan trọng cả”.

Không biết việc làm này
có tác động gì tới cậu thanh niên kia hay không, chỉ biết rằng sau đó Bill hoàn
toàn thay đổi. Trở lại phòng bệnh, ông quên mất cuộc thương lượng với vị bác
sĩ. Ông cũng không đòi hỏi mấy chai rượu như vị bác sĩ đã hứa. Chính trong
khoảnh khắc khuyên giải người khác đã khơi dậy khát khao sống có ích bấy lâu
ngủ quên trong con người ông. Nó giúp Bill Wilkins hoàn toàn thay đổi và trở
thành một người khác - người sáng lập chương trình điều trị cho người nghiện
rượu AA (Alcoholics Anonymous), một chương trình vô cùng hiệu quả giúp tìm lại
niềm tin và thay đổi thói quen không tốt ở những người ham mê rượu chè.

- Fulton Oursler

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.