Charlie Bonne (Tập 1) - Chương 05

Cái thùng của nhà phát minh

Trước khi Charlie kịp nghĩ ra
điều gì để nói, thì người bán sách đã vẫy tay chào nó thật lẹ và đóng sập cửa
lại. Nó đừng chơ vơ trên con phố tối om, trên tay là một thứ đã từng dùng để
đổi lấy một đứa bé.

Tại sao cho đến giờ cô ý vẫn
chưa mở cái thùng này ra? Ở trong đó có cái gì? Charlie bắt đầu độc thoại khi ì
ạch lê bước trên sỏi, và mấy người qua lại nhìn nó đầy nghi ngờ. Có lẽ họ nghĩ
nó vừa chôm được cái bao này. Nó quẹo gắt vô một con phố và xém nữa đụng phải
một con chó to xù bự tổ.

“Coi chừng!” Charlie hét lên,
làm rớt cái bao. “Ủa, Hạt Đậu, mày hả!”

Con Hạt Đậu nhảy phóc lên cái
bao và liếm mặt Charlie.

“Xuống, xuống!” Charlie la
to. “Đồ quỷ đó.”

Benjamin hớt hơ hớt hải chạy
đến.

“Xin lỗi,” nó thở phì phà phì
phò. “Mình không ngăn nó nổi.”

“Bồ đi theo mình hả?” Charlie
hỏi, nó mừng húm khi gặp Benjamin.

“Không hẳn vậy. Mình chỉ đưa
con Hạt Đậu đi dạo. Mình nghĩ chắc nó ngửi thấy mùi của bồ.”

Rồi Benjamin nhìn trân trối
vô cái bao đen thùi lùi: “Trong đó có cái gì vậy?”

“Quà sinh nhật của bồ,”
Charlie nói, “nhưng bồ sẽ phải phụ mình khiêng cái bao này. Nó nặng tới cả tấn.”

“Chà, cái gì đây? Không, đúng
ra mình không nên hỏi,” Benjamin nói, vẻ bẽn lẽn.

Charlie đành phải thú nhận
rằng có một món bí hiểm khác trong bao, nhưng sau khi liếc vụt qua một cái,
Benjamin bảo ngay rằng nó sẽ chẳng bận lòng tí nào nếu hồi nữa chỉ nhận được
cái hộp giấy nhỏ, thay vì cái thùng kim loại to.

“Mua quà chỗ đó thì ngộ thật,”
Benjamin vừa nhận xét vừa quay lại liếc cái nhà thờ lừng lững.

“Mình không nghĩ là sẽ kiếm
mua quà ở đó,” Charlie nói. “Mình tới đó chỉ để kiếm tấm hình con Hạt Đậu.”

Nó kể cho Benjamin nghe về
người phụ nữ bán sách và cái thùng bí mật mà nhà phát minh lười đã gởi cho cô
ấy.

Mỗi đứa xách một quai, hai
thằng bắt đầu tha cái bao đen về nhà. Chúng không nhận ra là mình đang bị theo
dõi. Nếu chúng mà nhìn sau lưng, chắc hẳn sẽ thấy một thằng bé tóc đỏ lẹ như
chồn, cải trang vụng về thành một ông già, đang núp sau những bậu cửa và trườn
theo chúng.

Con Hạt Đậu gừ gừ trong họng
và huých mõm vô cái bao, cố giục hai thằng đi lẹ lên. Tình thế thật khó xử cho
con chó. Có cái gì đó đằng sau nó và cái gì đó trong bao coi bộ đều không minh
bạch.

Không Charlie và Benjamin
quẹo vô đường Fibert, con Hạt Đậu quay ngoắt lại và chạy xổ về kẻ lén lút theo
đuôi, sủa giận dữ. Thằng tóc đỏ vội né con chó rồi lủi nhanh khỏi con đường.

“Gì đó?” Benjamin hỏi khi con
chó hậm hực quay lại.

Con Hạt Đậu không thể giải
thích.

Lúc chúng về tới nhà
Benjamin, Charlie hỏi Benjamin xem nó có thể mang cái bao vô nhà luôn không. Nó
không muốn ngoại Maisie hay nội Bone nhúng mũi vô chuyện này.

Benjamin lừng khừng. “Mình
không biết. Để nó ở đâu bây giờ?”

“Dưới gầm giường hay đâu đó.
Làm ơn đi, Benjamin. Hai bà của mình lúc nào cũng xông vô phòng mình, còn bồ
thì chẳng bị ai quấy rầy cả.”

“Thôi được,” Benjamin đồng ý.

“Đừng mở món quà ra cho tới
khi mình quay lại nha,” Charlie dặn Benjamin. “Giờ mình về đây, không thì lôi
thôi to.”

Charlie toan quay đi thì chợt
nghe một tiếng ‘thịch’ từ trong cái bao vọng ra. Benjamin nhìn lên, hơi sợ sợ,
nhưng Charlie giả đò như không nghe thấy và chạy xuống các bậc cấp.

Về đến nhà, nó lò dò vô bếp,
nơi hai bà nó đang đấu khẩu kịch liệt. Khi Charlie xuất hiện, họ dừng lại dòm
nó lom lom.

“Charlie Bone!” Ngoại Maisie
quát. “Làm sao mày dám thế hả? Hư hết không biết. Như thế này là thế nào?” Bà
trỏ vô hàng chuột chết. Charlie hoàn toàn quên mất lũ chuột.

Nó bèn giải thích việc ông
Onimous và lũ mèo đã xông vô nhà như thế nào trước khi nó kịp ngăn họ lại:

“Sau đó con phải vội ra ngoài
để đổi lại tấm hình,” nó huơ huơ chiếc phong bì màu cam. “Con xin lỗi. Con quên
mất đống chuột này.”

“Mèo vàng, mèo cam?” Nội Bone
hỏi, giọng cạnh khóe. Charlie dám thề là bà đang lo sợ.

“À, thế thì tôi nghĩ họ làm
việc xuất sắc đấy chứ,” ngoại Maisie bắt đầu tha thứ cho Charlie. “Tốt hơn là
để tôi dọn chỗ này đi.”

Nội Bone không có được tâm
trạng tha thứ.

“Ta biết ngay mà,” bà phẫn nộ
lầm bầm. “Mày rước chúng tới đây, cái thằng lưu manh. Mày như một cục nam châm
vậy. Dòng máu xấu đúng là chẳng bao giờ hòa nổi với dòng máu phép thuật. Ta
không thể yên nổi cho đến khi mày bị nhốt vô trường Bloor.”

“Nhốt? Ý bà nói là con sẽ
không được ra ngoài?”

“Khốn nạn ở chỗ là cứ cuối
tuần thì mày lại được ra,” nội Bone đớp lại.

Rồi bà lướt ra ngoài, đôi ủng
đen nện xuống sàn nhà như hai cái dùi trống.

“Con không biết là người ta
sẽ nhốt con lại,” Charlie gào thảm thiết.

“Ngoại cũng không biết, con
à,” ngoại Maisie thở phì phò, đang bận tổng vệ sinh sàn nhà. “Ngoại thì biết gì
về mấy cái trường lạ lùng đó nào? Lẽ ra mẹ con không nên lôi về nhà quá nhiều
sản vật thế này. Ngoại thắc mắc làm sao mà đội diệt chuột lại biết được điều
đó. Ngoại chưa bao giờ nói với họ cả.”

“Mấy con mèo,” Charlie nói. “Chúng
nó biết nhà mình có chuột.”

“Con sắp nói là mấy con mèo
đó biết bay chứ gì,” ngoại Maisie lẩm bẩm.

Charlie nghĩ bụng, không
chừng mấy con mèo đó biết bay thật. Dương Cưu, Sư Tử, Nhân Mã không phải là
những con mèo bình thường, điều đó là chắc chắn. Và Charlie nghi ngờ rằng nội
Bone cũng biết điều này. Nhưng cớ sao bà lại sợ chúng?

Charlie chui vô phòng nó để
làm tấm thiệp sinh nhật cho Benjamin. Nhưng nó thấy khó mà tập trung nổi. Tấm
thiệp bị méo xẹo, nó viết thiếu mất chữ ‘h’ trong từ ‘nhật’; rồi sau đó lại vẽ
quả bóng bay lấn vô hai tai con Hạt Đậu. Charlie liệng mạnh cái kéo xuống. Kể
từ khi nó khám phá ra mình có thể nghe tiếng nói trong những tấm hình, thế giới
của nó bị lộn tùng phèo. Giá như nó có thể giữ kín vụ những giọng nói thì đã
không phải đến học ở cái trường quỷ quái kia, nơi nó bị cầm tù từng tuần một
với những đứa trẻ kì dị biết làm những điều kì quái.

Nó nghe tiếng mẹ nó bước vô
nhà và gọi ngoại Maisie. Giá như mẹ có thể đứng về phía nó mà đấu tranh với nhà
Yewbeam. Nhưng xem ra mẹ sợ họ. Có lẽ Charlie sẽ phải tự mình đấu tranh với họ
thôi.

Ngoại Maisie đã nấu xong món
mì rau cho bữa trưa. Charlie vẫn thắc mắc về lũ chuột trong kho chứa thực phẩm,
nhưng nó giữ những ý nghĩ đó lại, không nói ra. Mẹ nó vừa mới mua cho nó một
cái áo chùng màu xanh ngọc bích. Cô ép nó phải thử áo ngay khi ăn xong món mì.
Cái áo thòng xuống, gần chấm đầu gối nó. Có đường xẻ ở hai bên để cánh tay có
thể thọc qua, và một chiếc nón mềm lật phật sau lưng.

“Con sẽ không mặc áo chùng ra
đường đâu,” Charlie nói. “Dứt khoát đấy. Người ta sẽ cười con.”

“Nhưng mà Charlie này, sẽ có
nhiều đứa trẻ khác mặc áo chùng mà,” mẹ nó dỗ dành. “Có đứa còn mặc màu tím và
màu xanh lá cây nữa đấy.”

“Nhưng không phải ở khu phố
này,” Charlie vùng vằng, lột cái áo ra. “Tất cả bọn chúng đều ở Khu Nhà Lầu.”

Khu Nhà Lầu, tức là Khu Đồi
Cao, nằm trải dài trên một sườn đồi cây cối rậm rạp, nhìn xuống thành phố. Nhà
cửa ở đó cao và rộng, và những người sống trong đó chẳng thiếu thứ gì. Những
khu vườn mênh mông trồng đầy hoa là hoa, hình như nở rộ quanh năm.

“Mẹ biết rõ là không phải đứa
bé nào cũng xuất thân từ Khu Nhà Lầu,” mẹ Charlie nói. “Có một cô bé ở cách nhà
mình hai dãy phố, tên Olivia Vertigo, đã được lên báo. Cô bé ấy sẽ học khoa
kịch, nên con sẽ gặp nó mặc áo chùng màu tím.”

“Hự!” Charlie phụng phịu. “Nếu
mẹ nói nó ở đường Con Rồng thì cũng sang trọng như Khu Nhà Lầu vậy.” Nó quyết
định sẽ tém cái áo chùng này dưới áo khoác cho đến khi đến cửa Học viện.

Ngay cả ngoại Maisie cũng bắt
đầu nhượng bộ.

“Đẹp quá chừng,” bà nói về
cái áo chùng màu xanh. “Màu ngọt quá.” Charlie đùng đùng mang cái áo lên phòng
nó và nhét một múi vô ngăn kéo. (Sau đó mẹ nó lên và cẩn thận treo cái áo vô tủ
âm tường). Xong, nó đút tấm thiệp sinh nhật của Benjamin vô chiếc phong bì màu
cam và chạy xuống lầu.

“Con đi dự sinh nhật Benjamin
đây,” nó thông báo cho mẹ nó.

Đến nơi, con Hạt Đậu đón chào
nó bằng một tiếng sủa lớn. Chú ta thậm chí còn không để cho Charlie đi qua cửa
trước.

“Có chuyện gì với con Hạt Đậu
vậy?” Nó hét lên khi Benjamin sầm sập lao xuống lầu.

“Tại cái thùng mà bồ để lại
đó,” Benjamin nói. “Nó ghét cái thùng ấy. Mình đã đẩy cái thùng vô gầm giường
như bồ dặn, nhưng con Hạt Đậu cứ gầm gừ rồi sủa hoài, xong lại lôi cái thùng
trở ra. Nó nhai rách cái bao, xong lấy móng cào nắp thùng.”

Charlie ráng lách qua cửa
trong khi Benjamin đẩy con Hạt Đậu ra xa. Cuối cùng, con chó hộc lên một tiếng,
vút qua hành lang rồi xuyên qua lỗ cửa dành cho chó, phóng ra sau vườn.

Giờ thì Charlie đã đến, nên
Benjamin muốn mở gói quà của mình. Nó chạy lên lầu lấy xuống.

Tuyệt đối không có dấu hiệu
nào cho thấy sắp diễn ra một bữa tiệc. Cha mẹ Benjamin đi làm suốt tuần, kể cả
thứ Bảy. Charlie tiếc hùi hụi, phải chi nó nhờ ngoại Maisie làm cho thằng bạn
mình một chiếc bánh, nhưng tại lúc này đầu óc nó chứa quá những chuyện rồi.

“Hết sảy đây,” Benjamin nói,
lắc lắc hộp quà. “Nào nào, vô phòng khách đi.”

Ở đây cũng chẳng có dấu hiệu
gì của tiệc tùng.

Benjamin ngồi bệt xuống sàn,
mở hộp ra.

“Chà! Một con chó!” Nó reo
lên.

Charlie giật đuôi con chó và
giọng của tiến sĩ Tolly cà giật tuôn ra lời chỉ dẫn.

Benjamin mê mẩn đến độ không
thốt nên lời. Cuối cùng nó mới lắp bắp:

“Cảm ơn, Charlie... Cảm ơn...
chà... Cảm ơn!”

“Đúng ra mình phải thay cho
bồ một cuộn băng mới,” Charlie nói. “Sau đó bồ...”

Nhưng con Hạt Đậu đã ngắt
ngang lời nó, lao vút vô phòng, sủa nhặng xị. Hạt Đậu hì hụp quanh con chó máy,
nhìn chằm chặp vô đấy rồi lại rít lên.

“Nó ghen tị đó,” Benjamin
bảo. “Thôi mà.” Nó vòng tay ôm quanh người con Hạt Đậu, vỗ về, “Tao yêu mày Hạt
Đậu. Mày biết điều đó mà. Tao không thể sống nếu thiếu mày.”

Con chó to liếm mặt Benjamin.
Nó là tất cả đối với Benjamin: mẹ, cha, anh, chị, em, ông, bà. Luôn luôn nó kè
kè bên Benjamin mỗi khi cha mẹ Benjamin đi vắng. Và thằng bé có thể đi bất cứ
đâu, bất cứ lúc nào, ngày hay đêm. Miễn là có Hạt Đậu đi cùng là nó được an
toàn.

Charlie trao cho Benjamin tấm
thiệp sinh nhật.

“Cuối cùng mình cũng làm
được,” nó nói.

Benjamin không hề nhận ra bất
cứ lỗi kĩ thuật nào của Charlie. Chiêm ngưỡng tấm hình, nó tấm tắc với Charlie
rằng đó là tấm thiệp đẹp nhất nó từng nhận được trong đời. Bỗng, con Hạt Đậu
ngước nhìn trần nhà và tru lên.

“Thịch! Thịch! Thịch!” Âm
thanh nhẹ nhưng rõ rệt. Phòng của Benjamin ở ngay trên đầu chúng.

“Cái thùng sắt đó,” Benjamin
thì thào. “Giá mà bồ mang nó đi. Không chừng có bom ở trong, hoặc thứ gì đó.”

“Trông cô Ingledew chẳng
giống một tên khủng bố tí nào,” Charlie nói. “Tiến sĩ Tolly cũng thế.”

“Sao bồ biết?” Benjamin vặc
lại. “Bọn khủng bố thường cải trang rất khéo... Lên lầu xem sao nào.”

Con Hạt Đậu gầm gừ nho nhỏ,
bám theo hai thằng, lên lầu. Lần này nó thậm chí không dám bước vô phòng ngủ.

Charlie kéo cái bao ra khỏi
gầm giường, và hai thằng cùng lôi cái thùng ra. Tiếng thịch thịch đã im bặt.
Charlie tháo những móc gài hai tay nắm thùng, nhưng cái thùng vẫn không mở ra.
Cái thùng đã bị khóa, và chìa khóa thì đã mất.

“Bà đó không nói cho bồ biết
trong thùng có gì sao?”

Benjamin hỏi.

Charlie lắc đầu. “Cô ấy bảo
cô cũng không muốn biết. Là cái gì đi chăng nữa thì người ta đã mang nó đổi lấy
một đứa bé. Đấy là đứa cháu gái độc nhất của cô ấy.”

“Một đứa bé?” Miệng Benjamin
há to. “Thật kinh khủng.”

Charlie bắt đầu cảm thấy có
lỗi.

“Tụi mình đem bỏ nó vô cái tủ
âm dường dưới lầu đi,” nó nói. “Để đó bồ sẽ không nghe thấy gì nữa. Rồi mình sẽ
quay lại chỗ cô Ingledew và hỏi cô ấy chìa khóa.”

Chúng kéo lê cái bao xuống
lầu, và đem giấu nó sau đống quần áo cũ mà mẹ Benjamin đã quẳng trong cái tủ âm
tường. Khi cửa tủ đã đóng lại, con Hạt Đậu đứng bên cầu thang tru lên thật thê
lương. Benjamin chỉ có thể ngăn không cho nó tru tiếp bằng cách hét tướng lên:

“Mày muốn ra ngoài hả?”

Trời tối dần mà vẫn không
thấy bóng dáng cha mẹ Benjamin đâu. Benjamin coi bộ cam chịu hơn là bực bội.

“Mình sẽ tự làm một cái bánh
nướng cho mình vậy,” nó nói.

Và nó làm thật. Đó là một
chiếc bánh sôcôla, và rồi nó cắm mười cây đèn cầy lên trên. Sau đó nó cùng
Charlie hát bài ‘Chúc mừng Sinh Nhật’. Chiếc bánh hơi bị bể một chút, nhưng rất
ngon.

Charlie nhìn đồng hồ đeo tay
thì thấy đã bảy giờ rưỡi. Nó biết mình phải về nhà, nhưng nó không muốn bỏ Benjamin
lại một mình, nhất là trong ngày sinh nhật như thế này. Cho nên nó nán lại thêm
một tiếng nữa, chúng cùng chơi trốn tìm với con Hạt Đậu, kẻ vốn là cao thủ
trong trò này.

Tám giờ rưỡi, cha mẹ Benjamin
vẫn chưa về. Thế là Charlie quyết định rủ bạn sang nhà nó để dùng một bữa ăn
nóng hổi của ngoại Maisie. Chỉ còn có mội một quả trứng và một hộp sữa nhỏ
trong tủ lạnh của Benjamin.

“Bửa tiệc thế nào?” Ngoại
Maisie hỏi khi hai thằng bé và một con chó đi vô.

“Tuyệt,” Charlie đáp, “nhưng
tụi con vẫn còn đói bụng.”

“Có một thằng nhỏ nom kì dị
lắm, tới nhà mình cách đây khoảng hai tiếng,” ngoại Maisie nói. “Nó đóng giả
làm ông già nhưng ai mà chẳng thấy nó là một thằng nhóc. Nó bảo con cầm cái
thùng gì đó của nó bị bỏ nhầm trong một cái bao, bây giờ nó muốn xin lại. Ừm...
Ngoại có lên phòng con tìm nhưng chỉ thấy có túi đựng giầy. Thằng nhỏ coi bộ
rất cáu. Nó không tin ngoại. Cái thằng mất dạy. Giờ hai đứa ra tạm ngoài kia
cho ta dọn đồ ăn lên bàn coi.”

Ra đến ngoài cửa nhà bếp,
Charlie thì thầm:

“Đừng nói với ai về cái bao
nhé, đặc biệt là không được nói về cái thùng.”

“Sao vậy?” Benjamin hỏi.

“Vì người ta giao nó cho mình
và mình cảm thấy phải có trách nhiệm với nó,” Charlie nói. “Mình nghĩ tụi mình
nên cất cái bao thiệt kĩ cho đến khi biết rõ thêm về nó.”

Và Charlie quyết định bây giờ
chưa nói cho Benjamin nghe về ông Onimous và những con mèo của ông ấy.

Đúng lúc đó nội Bone lừ lừ
xuất hiện ra ở bậc thang trên cùng.

“Con chó đó làm gì ở đây?” Bà
hỏi, trừng mắt nhìn con Hạt Đậu.

“Hôm nay là sinh nhật của
Benjamin,” Charlie nói.

“Vậy sao?” Bà hỏi lạnh lùng.

Hạt Đậu ngóng lên sủa nội
Bone và trước khi bà kịp xỉ vả thêm, Charlie kéo Benjamin trở lại nhà bếp.

“Nội Bone đang cáu,” Charlie
nói với ngoại Maisie.

“Bà ấy lúc nào chả thế,”
ngoại Maisie chép miệng. “Rồi sẽ xẹp xuống khi nào con vô trường Bloor.”

Charlie chưa muốn thông báo
tin này cho Benjamin trong ngày sinh nhật của nó, nhưng giờ thì lộ rồi, Charlie
có cảm giác mình là kẻ phản bội.

Benjamin trố mắt nhìn Charlie
đầy vẻ kết tội.

“Bloor là cái gì?” Nó hỏi.

“Đó là một ngôi trường lớn ở
gần Khu Nhà Lầu,” Charlie giải thích. “Mình không muốn đến đó, Benjamin à.”

“Thế thì đừng đi.”

“Nó phải đi, con ơi. Mẹ nó đã
mua đồng phục rồi,” ngoại Maisie nói. Ngoại đặt hai đĩa đậu nướng và xúc xích
lên bàn nhà bếp:

“Ăn đi. Sinh nhật của con mà
coi bộ con sắp chết đói rồi kìa, Benjamin Brown.”

Benjamin ngồi xuống nhưng nó
đã không còn cảm giác ngon miệng, nó lén gạt một miếng xúc xích cho con Hạt Đậu
khi ngoại Maisie quay đi.

“Mình sẽ không đi cho đến hết
học kì này,” Charlie nói với bạn.

“Ờ,” Benjamin nhìn đăm đăm vô
cái đĩa của nó, không cười.

Xui xẻo làm sao, mẹ Charlie
lựa đúng khoảnh khắc đó mà bước vô cùng với bộ đồ ngủ của Charlie.

“Không có bộ cũ nào khác cho
con, Charlie à,” cô nói. “Nhà Yewbeam sẽ cung cấp toàn bộ quần áo mới cho con
vô Học viện.”

“Đồ ngủ?” Benjamin ngước lên.
“Bồ sẽ ngủ ở đó sao?”

“Mình sẽ về vào mỗi cuối
tuần,” Charlie trấn an.

“Ờ,” Benjamin lùa vài hạt đậu
vô miệng rồi đứng lên. “Mình về đây. Chắc ba mẹ mình về rồi.”

“Để mình đưa...?” Charlie đề
nghị.

“Khỏi. Được mà. Mình có con
Hạt Đậu.”

Charlie chưa kịp nói thêm lời
nào thì Benjamin và Hạt Đậu đã bước đi khỏi. Đuôi và tai con chó cụp rũ xuống
thê thảm, luôn là dấu hiệu rằng chủ nó đang xuống tinh thần ghê gớm.

“Cái thằng tức cười,” ngoại
Maisie bình luận.

“Con nghĩ con phải chạy sang
coi nó có sao không,” Charlie nói. “Dù gì cũng là sinh nhật nó.”

Nhưng khi vừa mở cửa trước,
nó trông thấy ông cậu Paton bước ra khỏi nhà. Điều này làm nó nảy ra một ý.

“Ông cậu Paton, cho con đi
cùng với?” Charlie gọi, cắm cổ chạy theo ông cậu mình.

“Chi vậy?” Ông cậu Paton đã
dừng lại để đút một bó thư dày cộp vô hộp thư.

“Tại... tại...” Charlie đuổi
kịp ông cậu. “À, con muốn rủ ông cậu đi với con đến chỗ kia kìa.”

“Chỗ nào?”

“Một tiệm sách. Ở gần nhà
thờ, và con không muốn đến đó một mình... Ghê lắm!”

“Tiệm sách?” Ông cậu Paton
thích thú, đúng như Charlie hi vọng. “Nhưng, Charlie này, vào giờ khuya khoắt
này thì ngay cả tiệm sách cũng đóng cửa rồi.”

“Dạ, nhưng con nghĩ sẽ có
người trong tiệm, ngay dù nó có đóng cửa,” Charlie đáp và sau đó không kìm
được, nó kể tuồn tuột cho ông cậu Paton nghe về cô chiếc và cái thùng bị khóa.
Rốt cuộc nó cần phải tin ai đó, và bản năng mách bảo nó rằng ông cậu Paton đứng
về phía nó, dẫu ông là một Yewbeam. Một tia sáng bí hiểm lóe lên trong đôi mắt
đen của ông cậu Paton:

“Vậy mày muốn người phụ nữ
bán sách đưa chìa khóa cho mày? Nói cho ta biết đi, Charlie, cái thùng đó đang
ở đâu?”

Charlie ngần ngừ.

“Con không muốn bất cứ ai
biết,” nó nói. “Có người đang săn lùng nó. Nhưng nếu ông cậu thật sự...”

Ông cậu Paton cầm tay nó.

“Mày biết giữ bí mật là khôn
ngoan đấy, Charlie. Chừng nào cảm thấy đến lúc thì nói cho ta hay. Giờ thì, tới
tiệm sách nào!”

Họ rong ruổi qua những con
đường nhỏ, nơi mà tài kích bể bóng đèn của ông cậu Paton sẽ không bị ai để ý.
Họ đi vô những con phố vắng tanh gần nhà thờ, bước đến đâu là những bòng đèn
nhá lên nhịp nhàng đến đó, sáng rồi tắt, hệt như trong một tiết mục ảo thuật.

Một tấm bảng ‘ĐÓNG CỬA’ treo
phía sau một ô kính trên cửa tiệm sách cô Julia, nhưng có một ngọn đèn nhỏ thắp
bên khung kính bày hàng, chiếu sáng những cuốn sách cổ bọc da. Ông cậu Paton dí
sát mắt nhìn mấy cuốn sách đầy thèm muốn.

“Lẽ ra ta nên ra ngoài thường
xuyên hơn,” ông lẩm bẩm.

Charlie nhấn chuông.

Một giọng nói xa xăm cất lên.
“Đóng cửa rồi. Đi đi.”

“Cháu mà, cháu Charlie Bone
mà,” Charlie nói. “Cho cháu gặp cô một chút được không, cô Julia?”

“Charlie hả?” Cô Ingledew có
vẻ ngạc nhiên, nhưng không giận dữ. “Khuya rồi mà.”

“Gấp lắm, cô Julia... về cái
thùng.”

“Ồ?” Gương mặt cô hiện ra nơi
ô kính nhỏ trên cửa ra vô. “Chờ một chút nhé, Charlie.”

Đèn trong cửa hàng bật lên.
Tiếng dây xích kêu lách cách, tiếng chốt cửa trượt và cánh cửa mở ra cùng với
một tiếng chuông “kính coong” quen thuộc.

Charlie bước vô cửa hàng,
theo sát là ông cậu.

“Ối!” Cô Julia hết hồn, lùi
phắt lại. “Ai đây?”

“Ông cậu Paton của cháu,”
Charlie nói và nhìn ông cậu, hiểu ra vì sao cô Ingledew lại có vẻ hãi hùng như
thế. Ông cậu Paton là một khối đen cao lớn, và trong tấm áo khoác dài sù sụ,
trông ông khá nham hiểm.

“Tôi hết sức hi vọng không
làm cô hoảng sợ,” ông cậu Paton nói, chìa bàn tay ra đầy kiểu cách. “Paton
Yewbeam, rất hân hạnh.”

Cô chiếc nắm lấy bàn tay ông
cậu, run run giới thiệu, “Julia Ingledew.”

“Julia,” ông cậu Paton lặp
lại. “Tên đẹp quá. Thằng cháu yêu cầu tôi cùng đi với nó.”

Charlie không thể chắc được
là ông cậu đang kênh kiệu hay rụt rè. Có lẽ là cả hai.

“Cháu tới để xin chiếc chìa
khóa, cô Ingledew,” nó nói. “Chìa khóa mở cái thùng mà cô đưa cho cháu ấy.”

“Chìa khóa? Chìa khóa?” Cô
chiếc có vẻ hoang mang. “Ồ, cô tưởng chúng đi cùng với cái... ờ... để cô xem
xem. Làm ơn vô... ờ... phòng tôi... ờ... kẻo người ta nghĩ tôi lại mở cửa hàng
tiếp.” Cô bật cười luống cuống và biến mất qua tấm rèm sau quầy thu ngân.

Charlie và ông cậu đi theo.
Căn phòng nhỏ xíu sau tiệm sách lung linh những ánh màu êm dịu, và đôi mắt ông
cậu Paton hăm hở quét khắp lượt các dãy sách. Rõ ràng lúc họ tới thì cô
Ingledew đang đọc sách, vì có một cuốn sách to đang để mở trên bàn cô.

“Người Chinca,” ông cậu Paton
quan sát, đọc tựa đề chương sách. “Đề tài hấp dẫn đấy.”

“Vâng,” cô Ingledew tiếp
chuyện, vẫn còn bối rối.

Cô đã tìm thấy một chiếc hộp
thiếc nhỏ đựng chìa khóa mà cô đã cất đi khi dọn dẹp bàn. Hầu hết các chìa đều
có nhãn đính kèm, nhưng có vài chiếc không đính nhãn.

“Làm sao mà biết được chìa
nào đây?” Cô nói. “Nhiều chìa quá, Charlie, cô nghĩ tốt hơn hết cháu nên đem
tất cả mớ chìa khóa không đính nhãn này về đi, xem chìa nào vừa. Cô thật chẳng
biết làm gì hơn được.”

“Chúng tôi chỉ mong có thế
thôi mà,” ông cậu Paton nói.

Cô chiếc nhíu mày nhìn ông,
bỏ đống chìa khóa vô một bịch ni lông và đưa cho Charlie.

“Đây, cháu mang về thử hết
đi,” cô bảo.

“Cám ơn cô Ingledew.”

Charlie cầm bịch chìa khóa,
và xem ra không còn gì để nói hay làm nữa, nó lần đường quay trở lại tấm rèm.

Cô Ingledew theo sau họ để
đóng và chốt cửa. Nhưng khi đã ra tới đường, ông cậu Paton thốt nhiên quay lại
hỏi:

“Cô Ingledew, tôi có thể gọi
điện lại cho cô không?”

“Dĩ nhiên rồi,” cô Ingledew
nói, vẻ ngạc nhiên. “Đây là tiệm sách mà, làm sao tôi có thể ngăn anh được?”

“Đúng,” ông cậu Paton mỉm
cười. “Nhưng sau khi trời tối có được chứ?”

Cô Ingledew trông có vẻ sợ
sệt:

“Thứ Sáu tôi mở cửa đến 8
giờ,” cô nói và đóng cửa lại.

Trong một thoáng, ông cậu
Paton nhìn chằm chằm vô cánh cửa như thể bị ếm bùa, rồi ông quay ra, thình lình
tuyên bố:

“Một phụ nữ mới duyên dáng
làm sao!”

Câu đó được ông cậu thốt ra
mãnh liệt đến nỗi cái bóng đèn gần nhất cháy bùng lên, rồi một cơn mưa bụi thủy
tinh nhẹ rơi xuống con đường rải sỏi, cũng với một tiếng lanh canh thoảng như
tiếng nhạc.

Báo cáo nội dung xấu