Đêm thao thức - Chương 33 - 34 - 35

Chương 33

Luke xuất hiện trước bậc thềm
cabin số Năm vào lúc năm giờ ba mươi chiều hôm ấy. Irene ra mở cửa thì thấy anh
không chỉ đến một mình. Anh mang theo đồ cạo râu, túi đồ lề và cả máy tính.

“Nếu em nói có sai thì chữa
giùm nhé, nhưng trông có vẻ như tối nay anh mong nhiều hơn một bữa tối nhỉ,”
nàng cố ra giọng đùa cợt vô tư.

Vẻ mặt anh chẳng mảy may thay
đổi, nhưng nàng nghĩ nàng có thể nghe cửa thép sập đóng lại đâu đây. Thôi miễn
đừng có đùa cợt vô tư nữa nhé.

“Tụi mình đã qua hai đêm với
nhau,” anh nói thản nhiên. “Liệu có khi nào anh hiểu nhầm gì không nhỉ?”

Nàng nhìn anh đứng đấy ngay cửa
vào và cảm thấy như anh đang yêu cầu nàng phải đưa ra quyết định làm thay đổi
cả đời người. Quan trọng gì cơ chứ? Họ đến với nhau trong một mối quan hệ khá
dữ dội được cung cấp năng lượng bằng cường độ của những trải nghiệm gần đây họ
cùng nhau chia sẻ. Có lẽ rồi đây mối quan hệ này sẽ chẳng bền lâu, nhưng trong
khi nó vẫn còn đây, Luke khiến nàng thấy mình như một nữ thần nhục thể. Lần
cuối cùng một người đàn ông nào đó từng khiến nàng thấy mình như một nữ thần
nhục thể là khi nào ấy nhỉ?

“Đâu có.” Nàng mỉm cười. “Anh
chẳng hiểu nhầm gì cả.”

Nàng lùi lại để anh bước vào.
Vẻ u tối ảm đạm biến mất khỏi khuôn mặt anh. Irene thấy như cánh cửa thép lại
mở ra.

Luke bước vào phòng, trông mãn
nguyện đến lạ kỳ, như một người đàn ông vừa trở về mái ấm.

***

Mãi khuya hôm đó nàng mới thức
giấc khi thấy anh chuồi ra khỏi giường. Nàng chẳng động đậy gì mà chỉ mở mắt ra
đúng lúc bắt gặp anh khẽ nhón nhén băng qua hành lang ra phòng trước cabin. Một
tay anh cầm theo quần jean.

Khi anh đi mất dạng nàng mới
quay sang nhìn đồng hồ trên bàn. Hai giờ ba mươi sáng.

Nàng chờ anh vài phút, đủ thời
gian để anh ăn vặt trong bếp hay đi vệ sinh gì đấy. Anh không quay trở lại.

Irene ngồi lên, quăng chăn sang
bên rồi đứng dậy. Anh chàng này có quyền có bí mật chứ, nàng tự nhủ. Nhưng
chuyện này thật kỳ quặc hết sức. Nếu anh ngủ không được, nàng cũng sẽ không
ngủ. Nàng xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà rồi bước ra hành lang.

Dưới ánh sáng của ngọn đèn nàng
bật sẵn trên chiếc bàn góc tường, Irene trông thấy Luke đang ngồi trên mép
trường kỷ, máy tính của anh mở ra trên bàn nước trước mặt. Vẻ mặt nghiêm trọng
của anh mách bảo cho nàng biết anh đang chú mục vào thứ gì đó mà anh đang viết
trên màn hình.

“Nếu anh nghiện chui vào bất cứ
chatroom khuya trên mạng nào thì anh nên nói cho em biết ngay bây giờ đi,” nàng
lên tiếng.

Luke ngẩng đầu lên. Trong một
hai giây nàng cảm nhận rõ rệt là anh bất ngờ khi thấy nàng đứng đó. Đoạn anh
cười nhẹ.

“Anh không muốn làm em thức
giấc. Anh đang có đôi ba ý tưởng. Muốn viết chúng lại trước khi chúng bay biến
đi mất.”

“Ý tưởng về chuyện gì? Về tình
hình nhà Webb à?”

“Không phải.” Anh ngả người ra
trường kỷ, duỗi hai chân xuống dưới bàn nước và móc hai ngón tay cái vào lưng
quần jean. “Về cuốn sách anh đang cố viết đây.”

“Sách gì cơ?” Nỗi hiếu kỳ trào
dâng trong sâu thẳm lòng nàng. “Tiểu thuyết à?”

Anh thoáng do dự nhưng cũng đủ
để nàng nghĩ là anh không quen thổ lộ về cuốn sách này.

“Không,” cuối cùng anh cũng
đáp. Anh chăm chú nhìn màn hình đang tỏa sáng bằng ánh mắt rừng rực. “Dứt khoát
đây là sách phi hư cấu rồi. Em có thể gọi là sách giáo khoa hay cẩm nang cũng
được.”

“Thật
à? Chủ đề là gì?”

“Cách
suy nghĩ và hình thành chiến lược.”

Nàng
bước đến gần bàn nước hơn. “Chiến lược quân sự?”

“Chiến
lược là chiến lược thôi, không liên quan gì đến việc nó được áp dụng thế nào.
Không ai tin anh cả khi anh bảo họ rằng điều đã cứu lấy đội của anh cũng như
cái mạng của riêng anh nhiều hơn một lần không chỉ là nhờ vào những huấn luyện
quân sự không thôi, mà còn nhờ những khóa học triết anh tham gia từ trước khi
anh gia nhập binh đoàn Thủy quân lục chiến.”

Thốt
nhiên nàng chợt hiểu. “Triết học không dạy ta nghĩ gì; mà là dạy ta nghĩ như
thế nào.”

“Và
chiến tranh thì dạy anh... nhiều điều khác. Anh đang cố rút ra những bài học từ
cả hai lĩnh vực nỗ lực của con người này.”

“Nghe
ấn tượng lắm.”

Môi
anh cong lên giễu cợt. “Anh đang cố tìm cách né cái rắc rối bé nhỏ ấy đây. Anh
không muốn người ta nghĩ cuốn sách này quá mơ hồ hay bí hiểm.”

“Mơ
hồ và bí hiểm. Từ kêu đấy. Jason đã cảnh báo em rằng dưới lớp vỏ xuề xòa kia là
một trái tim học giả bẩm sinh đang gõ nhịp. Điều gì đã khiến anh rời bỏ thế
giới hàn lâm để gia nhập lục chiến thế?”

Anh
nhìn đăm đắm vào màn hình máy tính như thể tìm kiếm lời đáp cho câu hỏi của
nàng. “Khó mà giải thích được. Một phần trong anh bị cuốn vào thế giới ấy.
Nhưng lại có một phần khác của anh cảm thấy... không hoàn thiện. Cứ như thể anh
cần một đối trọng cho cái phần hàn lâm của mình.” Luke nhún vai. “Hay là gì
đấy.”

“Anh
biết anh là gì không?”

Luke
nhướng mày. “Là gì?”

“Là
phiên bản thế kỷ hai mươi mốt của cái mà người ta thường gọi là kẻ Phục Hưng,
một chiến binh-học giả.”

“Giờ
thì ai mới là sử dụng từ ngữ thật kêu đây?”

“Và
cuốn sách này của anh ấy à,” nàng nói tiếp, lúc này thì quả quyết lắm rồi, “là
một nỗ lực để dung hòa cả hai khía cạnh của bản chất trong anh, phải không nào?
Đây là phiên bản trị liệu của riêng anh.”

Anh
quay lại nhìn màn hình. “Quỷ thật cô nương à, có lẽ cô đang khám phá ra được
điều gì đó ở đây rồi.”

Nàng
ngồi phịch xuống trường kỷ cạnh anh. “Anh đến Dunsley nhằm tìm một nơi thanh
bình, yên tĩnh để viết lách.”

“Kế
hoạch đã là như thế.”

“Sao
anh lại mua cái nhà nghỉ này? Đừng có bảo em là anh cần tiền đấy nhé bởi vì
thậm chí anh có quản lý nó để kiếm lời đâu.”

“Về
mặt tài chính thì anh không sao. Mấy năm qua anh đã đầu tư vài vụ ổn định.” Anh
đưa tay áp lên tay nàng. “Còn về nhà nghỉ, ừ thì, em biết người ta hay nói sao
rồi đấy, ta không thể nào lỗ khi sở hữu bất động sản ven sông ven hồ.”

“Ở
Dunsley thì có thể đấy. Khi bà dì em bán nhà của bố mẹ em đi, dì dường như
chẳng thu được gì sất.”

“Cảm
ơn mẩu dữ liệu vui tươi ấy nhé.”

“Làm
sao mà rốt cuộc anh lại biến thành ông chủ khách sạn thế?”

“Chắc
như bắp là hồi đó anh đâu có dự định dán thân vào ngành nhà hàng khách sạn. Kế
hoạch là anh sẽ sống ở một trong những cabin còn những căn kia thì đóng lại
hết. Nhưng lại có đôi chỗ chệch choạc.”

“Như
là gì vậy?”

“Maxine
và Brady, con trai cô ấy. Với lại, ở một mức độ nào đó, cả Tucker Mills nữa.”

Irene đan tay vào tay anh. “Em
hiểu rồi. Maxine phụ thuộc tài chính vào công việc cô ấy làm ở đây, phải
không?”

“Khu vực quanh hồ này chẳng mấy
cơ hội việc làm, nhất là trong những mùa thấp điểm. Chỉ năm phút sau khi dọn
vào, anh đã thấy được là nếu mình đóng cửa nhà nghỉ thì Maxine và Brady sẽ gặp
khó khăn tài chính trầm trọng.

“Thế còn về Tucker thì sao?”

“Chắc hẳn Tucker sẽ sống qua
thôi mà không cần công việc bán thời gian ở đây, vì việc ông ấy làm chỉ là sống
qua ngày thôi mà.” Luke ngập ngừng. “Nhưng ông ấy thích làm việc ở đây. Ông ấy
đã quen rồi. Chăm sóc bảo trì nhà nghỉ là một phần công việc thường lệ của ông
ấy.”

“Và Tucker cần phải được làm
những việc thường lệ của mình.”

Môi Luke lại cong lên. “Chúng
ta ai mà không thế?”

“Hẳn rồi. Nói cách khác, anh
không đóng cửa nhà nghỉ bởi vì nếu thế thì ba con người khác hẳn sẽ bị ảnh
hưởng trực tiếp.”

“Cũng không phải là nơi này
không kiếm được tiền đâu. Anh đã nhìn qua tình hình tài chính và nhận ra rằng
nếu như mùa hè làm ăn ổn thỏa thì nhà nghỉ vẫn tiếp tục cho ra nguồn lãi kha
khá đấy. Gì chứ, có Maxine quản lý nó rồi thì thậm chí nơi này còn có thể có
lãi to nữa cơ.”

“Giữ cho nhà nghỉ mở cửa là một
hành động rộng lượng lắm đấy Luke.”

“Xét về mọi mặt thì hành động
ấy cũng là chiến lược dễ dàng nhất nữa.”

“Em thì em chẳng tin chút nào
đâu. Anh để cho mọi thứ y nguyên như thế vì anh thấy có trách nhiệm với những
người anh thừa hưởng từ chủ cũ khi đến tiếp quản. Em nhớ đến một điều bố từng
có lần bảo em.”

“Điều gì?”

“Một sĩ quan tốt luôn luôn quan
tâm đến người của mình.” Nàng rướn người tới hôn anh.

Anh hôn lại nàng. Một lúc sau
anh sập máy tính lại và kéo nàng ngược vào phòng ngủ.

Ba mươi bốn

Ken Tanaka gọi đến vào bảy giờ
ba mươi sáng hôm sau, ngay lúc Luke đang chuẩn bị để phục vụ Irene món bánh mì
chiên trứng.

“Tớ chưa kiểm tra xong các báo
cáo tài chính của Hoyt Egan, nhưng tớ nghĩ cậu cần xem qua những gì tớ vừa tìm
thấy này,” Ken bảo. “Có một khuôn mẫu đấy. Khá quen thuộc. Có khả năng là rắc
rối lắm đây.”

“Cậu email thông tin ấy cho tớ
được không?”

“Trong tình hình này thì tớ e
làm thế không phải là ý hay,” Ken đáp. “Chúng ta đang bàn về những điều xấu xa
có thể liên quan đến kẻ có khả năng trở thành tổng thống kế nhiệm. Lúc này tớ
chưa muốn để lại dấu tích email có thể dẫn đến tớ hoặc cậu. Tớ muốn gặp mặt
thảo luận hơn. Tớ cần cho cậu xem vài dữ liệu.”

Ken là thế đấy, Luke nghĩ, luôn
luôn cẩn thận. Đấy là một trong những lý do giúp anh ấy sống sót trong vùng
chiến, và chắc hẳn cũng là lý do khiến anh ấy thành công trong vai trò thám tử
tư.

Luke nhìn đồng hồ. “Tớ có thể
có mặt tại thành phố trong vài giờ nữa.”

“Tớ sẽ chờ.”

Luke gác máy rồi tiếp tục xúc
bánh mì chiên trứng vào đĩa. “Là Tanaka gọi đấy. Anh ấy đã tìm ra vài điều có
vẻ thú vị trong tình hình tài chính của Egan. Anh ấy nghĩ có khả năng liên quan
đến Ryland Webb.”

Vẻ hào hứng làm gương mặt Irene
bừng sáng. “Chúng ta đang nói về một vụ bê bối tài chính à?”

“Có lẽ vậy.”

“Một vụ bê bối với quy mô thích
hợp có thể lý giải cho một vụ giết người.”

“Từ từ nào.” Luke nạo một ít vỏ
cam rắc lên miếng bánh. “Lúc này chỉ có vài điểm dữ kiện thôi. Anh sẽ lái xe
vào thành phố sau khi ta ăn xong. Muốn đi cùng anh không?”

“Muốn.” Nàng lưỡng lự, tỏ vẻ
giằng xé ra mặt. “Nhưng thôi, em sẽ để anh nói chuyện với bạn anh. Hôm nay em
có việc khác muốn làm. Chúng ta sẽ gặt hái được nhiều hơn nếu tách nhau ra.”

Chút bất an đánh động trong
anh. “Em định sẽ làm gì thế?”

“Đừng có tỏ ra lo lắng thế chứ.
Em sẽ không đi tìm thêm cái xác nào hay phóng hỏa thêm căn nhà nào đâu. Thật ra
thì, sáng nay khi đang thay quần áo em có nảy ra chút ý tưởng. Em vừa định nói
cho anh biết thì chuông điện thoại đã réo rồi.”

“Nảy ra ý tưởng gì thế?'“ anh
hỏi, giọng vẫn còn lo lắng.

“Liên quan đến chiếc chìa khóa
em tìm thấy ở nơi giấu đồ bí mật của Pamela trong cái đêm xảy ra vụ hỏa hoạn ấy
mà.” Nàng nhìn đĩa bánh mì chiên trứng mà hai mắt sáng lên tán thưởng. “Ái chà,
hay nhỉ, như Jason thường nói. Dịch vụ phòng cuối cùng cũng xuất hiện rồi.”

Ba mươi lăm

Tên người thợ sửa khóa là Herb
Porter. Ông đã ngoài bảy mươi và làm nghề này dễ được gần năm mươi năm rồi. Ông
hiểu biết các loại ổ khóa và chìa, ông cũng nhận ra được những sản phẩm do
chính mình làm ra.

“Đúng rồi, đây là một trong
những chìa tôi làm,” xem xét cẩn thận xong chiếc chìa Irene đưa ra thì ông tuyên
bố. “Hàng thượng hạng. Cũng rất đắt tiền nữa. Tôi là thợ sửa khóa duy nhất
trong vùng hồ làm ra những thứ này. Cô thấy chữ P be bé kèm sau đấy là chuỗi số
không? Mã của tôi đấy.”

Irene cố làm dịu mạch đập của
mình lại. Nàng đã chuẩn bị tinh thần rằng kế hoạch tìm ra tay thợ sửa khóa đã
cắt chiếc chìa cho Pamela có thể đâm đầu vào ngõ cụt. Giờ thì một tia hi vọng
đã le lói, nên lượng adrenaline đang rần rật trào dâng trong nàng.

“Bác có nhớ người đã cho đặt
làm chiếc này không ạ?” nàng hỏi, ráng ép mình phải nói bằng giọng thật bình
thản, thờ ơ.

“Nhớ chứ. Là con gái của thượng
nghị sĩ Webb.”

Irene
bấu chặt mép quầy. “Cô ấy nói cho bác biết tên à?”

“Lúc
đó thì không. Cô ấy tự gọi mình là Marjorie hay gì đấy rồi thanh toán bằng tiền
mặt. Tôi cứ nghĩ cô ấy là người đi nghỉ hè hay là nghỉ cuối tuần thôi. Nhưng
sau này, sau khi cô ấy tự sát, thì tôi mới nhận ra mặt cô ấy qua báo.” Ông lắc
đầu. “Đáng tiếc quá. Cô ấy mới xinh đẹp làm sao. Ăn mặc cũng đẹp nữa. Trông như
có thể làm người mẫu hay gì đó, cô biết mà.”

“Vâng,
cháu biết ạ.” Irene vừa mỉm cười với bác thợ, vừa vận dụng tối đa lòng tự chủ
mình có để không phóng vọt lên quầy kính, tóm lấy ve áo bác ta mà lắc cho thêm
nhiều câu trả lời rơi ra.

Từ
từ thôi, nàng tự nhủ. Đừng hối thúc ông ta. Ông ta lại thôi không nói nữa mất.

Nếu
Pamela đặt làm khóa từ thợ khóa ở những thị trấn hay thành phố lớn trong vùng
vịnh San Francisco thì cơ hội nhận diện được cửa hàng đó hẳn sẽ cực thấp. Nhưng
Irene chợt nghĩ rất có khả năng chiếc chìa được đặt làm tại địa phương. Nàng suy
ra rằng nếu quả thực là thế thì rất có khả năng tìm ra được tay thợ đã làm
chiếc chìa này. Còn nếu gặp may, thậm chí nàng còn có thể tìm ra chiếc chìa này
dùng để mở thứ gì nữa ấy chứ.

Chín
giờ hơn một chút, nàng bắt đầu lái xe quanh vùng phía Bắc hồ về phía
Kirbyville, dọc đường dừng lại hai tiệm sửa khóa nhỏ. Nàng đã hoàn toàn bỏ qua
Dunsley dựa trên giả thuyết rằng nếu Pamela có điều gì muốn giấu, chắc chắn cô
ấy sẽ không đem việc mình cần làm ra tiệm sửa khóa duy nhất trong trấn. Dean
Crump, tay chủ tiệm, hẳn sẽ nhận ra một thành viên gia đình Webb ngay lập tức.

Irene
đã gặp may tại tiệm Chìa & Khóa Porter, nằm trên một con đường yên tĩnh rợp
bóng cây tại Kirbyville.

“Cô
Webb đã đến đây khi nào thế ạ?” nàng vừa hỏi vừa cố trấn áp vẻ hứng khởi đang
chực nổ tung của mình.

“Để
xem nào.” Ánh mắt ông Herb chuyển sang tấm lịch kiểu xưa in hình các cô gái
treo trên tường. Trong một chốc ông tư lự ngắm hình cô nàng tóc đỏ phổng phao
mặc áo thun hở vai khoe ngực và chiếc quần soóc cũn cỡn rồi tự gật gù. “Vài ngày
trước. Cô ấy đang vội. Còn bảo rằng chuyện này quan trọng nữa. Tôi đã hẹn hôm
sau đến lấy. Cô thấy chưa này? Tôi đã khoanh ngày ấy bằng mực đỏ.”

Irene
nhìn theo ánh mắt bác thợ đang dán lên tấm lịch. Mạch nàng đập dồn. Ngày tháng
được khoanh bằng bút đỏ là một ngày trước khi Pamela qua đời.

“Cô
ấy nhờ bác làm lại khóa nhà cho mình ạ?” Irene cau mày. “Chắc là có hiểu lầm gì
đây. Pamela đâu có thay ổ khóa mới đâu. Cháu đã dùng chìa cũ để vào nhà gia
đình Webb chỉ mới vài ngày trước thôi mà.”

Herb
nheo nheo mắt trầm ngâm. “Cô đang nói đến cái nơi phía bên kia bờ hồ phỏng? Cái
nhà mới đêm trước đã bị thiêu rụi đấy phải không?”

“Vâng
ạ.”

“Đấy
không phải ngôi nhà cô ấy thuê tôi làm chìa đâu.”

Irene
nín thở. “Không phải ạ?”

“Không.
Cô ấy thuê tôi làm lại chìa cho cái ở đầu kia thị trấn cơ. Nằm ngay bên hồ ấy.
Cô ấy bảo mình thuê chỗ này. Vì thế nên tôi mới nghĩ cô ấy là dân đi nghỉ hè
hay nghỉ cuối tuần gì thôi.”

Nỗi
băn khoăn trỗi dậy thay thế cho niềm thất vọng ban đầu. Việc gì Pamela phải
thuê một căn nhà bên hồ trong khi cô ấy đã có sẵn một căn khác?

“Chắc
là bác sẽ không cho cháu biết địa chỉ chứ ạ?” nàng hỏi, bụng chắc mẩm ông Herb
sẽ từ chối.

Ngạc
nhiên làm sao khi ông Herb nhún vai lôi ra một tập hồ sơ bìa các tông cũ kỹ.
“Tôi thấy có cho biết cũng chẳng hại gì ai. Giờ khi cô Webb đã mất thì cái này
cũng không hẳn là thông tin bí mật gì nữa. Theo như tôi biết thì chẳng có ai
sống ở đó hết.” Ông sục sạo qua đống hóa đơn và phiếu chi tiết công việc một
lúc rồi chọn ra một tờ. “Đây này. Cuối ngõ Cây Thông. Không có số. Trên đường
ấy có mỗi căn nhà này thôi.”

Irene
có cảm tưởng như không khí bị hút hết ra khỏi phòng. Nàng phải nuốt khan hai ba
lần mới thốt nổi nên lời.

“Ngõ
Cây Thông ạ?” Mấy tiếng ấy được phát âm bằng cái giọng the thé chói tai mà
chính nàng cũng chẳng nhận ra là giọng mình. “Bác có chắc không thế?”

“Chắc
chứ. Tôi còn nhớ là căn nhà ấy mới khó tìm làm sao. Tôi đã quành lạc vài lần
mới đến nơi mà. Ngõ Cây Thông là một trong những con đường mòn tự tạo có rải
sỏi từ đường chính rẽ xuống bờ nước ấy. Có đến hàng tá đường mòn như thế rải
rác quanh hồ. Một nửa số ấy thậm chí còn không được đánh dấu nữa kìa.

“Vâng,
cháu biết,” Irene thì thào.

Ông
nheo mắt nhìn nàng với vẻ quan tâm. “Cô này, nếu là quan trọng thì tôi có thể
vẽ ra cho cô.”

“Không,
cảm ơn bác ạ.” Nàng giật lấy chiếc chìa từ tay bác thợ. “Không cần đâu ạ. Chác
rất biết ơn bác đã dành thời gian cho cháu, bác Porter.”

“Không
có chi.” Ông Herb tỳ cùi chỏ lên mặt quầy kính bụi bặm và buồn bã lắc đầu.
“Chuyện cô Webb thật đáng tiếc quá. Làm sao ta biết một cô gái xinh đẹp như thế
lại đi tự sát chứ?”

“Một
câu hỏi thú vị đấy ạ.”

Phải
tập trung lắm lắm nàng mới bước được ra khỏi tiệm mà không phải chới với. Nàng
cố hết sức chui vào sau tay lái và đánh xe ra khỏi bãi đậu bé tí trước cửa tiệm
Chìa & Khóa Porter. Nàng chầm chậm lái xe xuyên qua thị trấn.

Khi
đã qua khỏi những cụm cửa hàng, quán ăn và trạm đổ xăng lổn nhổn tạo nên khu
trung tâm của Kirbyville, nàng rẽ vào đỗ lại ở một bãi picnic nhỏ tách biệt.
Nàng xuống xe bước đến bờ nước.

Nàng
cứ thế đứng đó một lúc thật lâu, nhìn trân trối vào mặt hồ lăn tăn. Dần dà cảm
giác lẩy bẩy và kinh hãi đến nôn nao bắt đầu lắng xuống.

Khi
đã có thể suy nghĩ thông suốt trở lại, nàng mình phải đối diện với câu hỏi đang
rên rỉ gào thét trong tâm trí như một bóng ma cuồng loạn.

Trong
ngõ Cây Thông chỉ có một ngôi nhà, ít nhất là mười bảy năm trước nơi ấy từng
chỉ có một ngôi nhà. Đấy là ngôi nhà nơi nàng được nuôi dạy, nơi nàng đã tìm
thấy bố mẹ mình nằm chết trên sàn bếp.

Báo cáo nội dung xấu