Tình Yêu Thời Thổ Tả - Chương 02
Chương 2
Bác sĩ Huvênan Ucbinô làm việc theo một
thời gian biểu hết sức nghiêm túc đến mức bà vợ ngài biết chính xác ngài đang ở
đâu để sai người đến tìm và chuyển cho ngài một vài lời nhắn nhủ nếu trong buổi
chiều ấy có chuyện gì khẩn cấp xảy ra. Thời còn trẻ ngài hay nấn ná ngồi lâu ở
quán cà phê Parôkia. Tại đây, ngài luyện tập nước cờ cùng với những kẻ đồng
mưu, với ông bố vợ ngài, hoặc với những người vùng Caribê lưu vong đến thành
phố. Nhưng bước sang những năm tháng đầu tiên của thế kỷ này ngài không trở lại
quán cà phê Parôkia và ngài lại lao vào việc tổ chức các cuộc thi đấu quốc gia
được Câu lạc bộ Xã hội bảo trợ. Đó là thời kỳ Giêrêmia đê Xanh Amua, trong tình
trạng hai đầu gối liệt và chưa làm nghề chụp ảnh cho trẻ nhỏ, đến thành phố này
và sau ba tháng y liền được mọi người thừa nhận là người biết đi quân cờ trên
bàn cờ bởi không một ai thắng nổi y lấy một ván. Cuộc gặp gỡ với Giêrêmia đê
Xanh Amua là một cuộc gặp gỡ thần kỳ vì lúc ấy cờ đam đã trở thành một hứng thú
không thể cưỡng lại được đối với bác sĩ Huvênan Ucbinô và không còn nhiều đối
thủ để ngài thỏa cơn khát giành chiến thắng.
Nhờ có bác sĩ Huvênan Ucbinô, Giêrêmia đê
Xanh Amua mới được chúng tôi tôn trọng. Bác sĩ Huvênan Ucbinô trở thành người
bảo trợ không điều kiện, trở thành chỗ tin cậy của tất cả chúng tôi, đến mức
khi nghe ngài nói chúng tôi chẳng phải mất công tìm hiểu xem y là ai, làm gì và
vì cuộc chiến tranh vô nghĩa nào mà y đến đây trong tình trạng tàn phế và đói
khổ như vậy. Ngài còn cho y vay tiền để mở cửa hàng chụp ảnh. Giêrêmia đê Xanh
Amua phải trả cho ngài một số lượng lớn rượu ngon và cả đồng tiền vàng cuối
cùng của mình ngay từ ngày chụp kiểu ảnh đầu tiên cho đứa trẻ hốt hoảng trước
ánh đèn manhê chớp sáng.
Tất cả đều do cờ đam mà thôi. Lúc đầu hai
người chơi cờ với nhau từ bảy giờ tối, sau bữa cơm chiều. Bác sĩ thường giành
phần thắng nhiều hơn do đối thủ của mình kín đáo nhường nhịn. Càng chơi bác sĩ càng ít giành được phần
thắng và sau đó hai người chơi ngang sức nhau và trở thành bạn cờ tâm đắc của
nhau. Về sau này, khi đôn[5] Galilêô Đacôntê lập bãi chiếu bóng đầu tiên ở
thành phố và Giêrêmia đê Xanh Amua trở thành khách hàng đúng giờ nhất của ngài
thì các buổi chơi cờ đam bị thu hẹp trong khoảng thời gian còn lại sau buổi
chiếu phim. Thế là Giêrêmia đê Xanh Amua làm bạn rất thân với bác sĩ đến độ bác
sĩ luôn luôn cùng đi xem với y nhưng ngài không dẫn vợ đi theo phần vì bà không
đủ kiên nhẫn theo dõi những bộ phim lắt léo khó hiểu, phần vì ngài nghĩ rằng
Giêrêmia đê Xanh Amua khó chịu khi có thêm người khác ở bên cạnh.
[5] Từ xưng hô, nghĩa: Ngài, ông
Chủ nhật là ngày khác hẳn của ngài. Ngài dự
lễ misa ở nhà thờ lớn sau đó trở về nằm nghỉ và đọc sách ở ngoài hành lang. Rất
ít khi ngài đi thăm người bệnh trong ngày nghỉ của mình, ngoại trừ trường hợp
thật khẩn cấp, và cũng đã nhiều năm nay ngài không tham gia các hoạt động xã
hội, trừ trường hợp bắt buộc. Cái ngày lễ Hạ Trần ấy, do một sự trùng hợp hiếm
có, đã xảy ra hai sự kiện lạ lùng: cái chết của người bạn và đám cưới bạc của
một môn đệ xuất sắc. Mặc dù đáng lẽ đi thẳng về nhà như đã dự định sau khi ký
xác nhận cái chết của Giêrêmia đê Xanh Amua thì ngài lại để cho tính tò mò dắt
dẫn mình.
Ngay sau khi lên xe ngồi, ngài đọc lại ngay
một lần nữa bức chúc thư và bảo gã xà ích đánh xe đưa mình đến ngôi nhà có địa
chỉ rất khó tìm trong xóm cổ của những nô lệ. Quyết định ấy rất khác thường
trong thói quen của ngài đến mức gã xà ích phải hỏi lại để xem có nhầm lẫn gì
không. Không có gì nhầm lẫn cả: địa chỉ rất rõ ràng và người viết địa chỉ ấy
hoàn toàn có đầy đủ lý do để cam đoan rằng mình biết rất rõ nó. Lúc ấy bác sĩ
Huvênan Ucbinô trở lại đọc tờ thư đầu tiên và thế là ngài liền chìm đắm trong
suy tưởng về những mối quan hệ không hề mong mỏi sẽ có thể làm thay đổi cuộc
đời ngài, ngay cả khi ngài đã ở tuổi tám mươi mốt rồi nếu như ngài tự chiến
thắng được bản thân để tin rằng cái chết của Giêrêmia đê Xanh Amua không phải
là những cơn điên loạn của kẻ mất hết lòng tin gây nên.
Hôm ấy, ngay từ tinh mơ thời tiết đã bắt
đầu thay đổi, trời đầy mây, không khí dịu mát, nhưng chưa hề có biểu hiện nào
chứng tỏ sẽ mưa trước giờ ngọ. Cố tìm con đường ngắn nhất, gã xà ích cho xe
chạy len lỏi trên những con đường hẹp lởm chởm đá trong thành phố thời thuộc
địa Tây Ban Nha, và nhiều lần gã buộc phải dừng xe để cho chú ngựa đỡ hoảng hốt
trước sự huyên náo của những đám đông học sinh và giáo dân từ trong nhà thờ lớn
đi ra, sau khi đã làm xong các nghi lễ của ngày lễ Hạ Trần. Trên các đường phố
ồn vang tiếng nhạc, sặc sỡ hoa và các vòng hoa giấy, và từ trên ban công, các
thiếu nữ che ô màu sặc sỡ, thắt những chiếc nơ bằng vải muxơlin đang đứng xem
lễ hội diễu qua đường phố. Trên quảng trường Nhà Thờ lớn, nơi có bức tượng Nhà
giải phóng nổi bật lên giữa những cây panma giống Phi và những ngọn đèn pha
hình cầu, xe ô tô đậu chật như nêm, trước cửa quán cà phê Parôkia cổ kính và
điêu tàn kia người đông không có chỗ đặt chân. Chiếc xe ngựa duy nhất là chiếc
xe của bác sĩ Huvênan Ucbinô và nó là chiếc xe độc đáo nhất trong số những
chiếc xe ngựa còn lại trong thành phố, bởi vì nó vẫn còn giữ được cái màu bóng
nhoáng của mui xe màu be, có các tay vịn làm bằng đồng để chống gỉ, các bánh xe
sơn đỏ với đường viền sơn màu vàng, y hệt như những chiếc xe trong đêm huy
hoàng trình diễn Nhạc kịch ở thành Viên. Mặt khác, trong lúc các gia đình giàu
có thích chưng diện đã cho phép các tay đánh xe được mặc sơ mi sạch sẽ thì ngài
vẫn đòi hỏi gã xà ích của mình phải mặc quần áo nỉ của người hầu, đội chiếc mũ
sâu ống của diễn viên xiếc mà những thứ này ngoài vẻ cổ lỗ ra chúng còn khiến
cho kẻ mặc phải chịu bao nỗi khổ sở trong ngày đại thử ở vùng nhiệt đới Caribê.
Dẫu có yêu cuồng nhiệt thành phố và có quen
thuộc nó hơn bất kỳ ai, bác sĩ Huvênan Ucbinô rất ít khi có cơ hội như cái cơ
hội của ngày Chủ nhật
ấy để huênh hoang mạo hiểm trong cái xóm cổ của những người nô lệ đầy huyên
náo. Gã xà ích phải đánh xe vòng đi vòng lại nhiều lần và vài lần hỏi thăm địa
chỉ. Bác sĩ Huvênan Ucbinô nhận thấy đâu đây cái không khí nặng nề của vùng đầm
lầy, sự cô quạnh chết chóc của nó cũng như cái mùi khó chịu đến ngạt thở của nó
nhiều lần lẫn trong hương nhài ngoài sân đã bay đến tận phòng ngủ của ngài và
ngài cảm thấy nó đi qua như một làn gió xa xưa chẳng hề liên quan gì đến đời tư
của mình. Nhưng cái mùi khó chịu ấy nhiều lần được nỗi nhớ nhung lý tưởng hóa
đã biến thành một thực tại khó chịu đến nôn mửa, khi cỗ xe ngựa bắt đầu nhảy
chồm chồm lên những vũng bùn trên đường cái là nơi bầy quạ đang tranh nhau
những thứ thải của lò mổ nổi lềnh bềnh trên mặt sông. Khác với thành phố đế
vương mà các ngôi nhà của nó đều là những công trình xây cất đắt tiền, thì nhà
ở đây đều làm bằng gỗ mái lợp tôn và hầu hết đều dựng trên các cột trụ để tránh
nước từ các cống rãnh được đào từ thời người Tây Ban Nha còn thống trị tràn vào
nhà. Khung cảnh nơi đây mang vẻ thiểu não không có chỗ nương thân nhưng trái
lại từ các quán căng tin lại vọng ra tiếng nhạc vui vẻ xả láng của những người
nghèo khó không hề quan tâm đến sự có mặt của Chúa cũng như ngày lễ Hạ Trần.
Khi họ tìm được ngôi nhà theo đúng địa chỉ, một bầy trẻ nhỏ mình trần như nhộng
chạy theo xe. Chúng vừa chạy theo vừa chế nhạo bộ quần áo và chiếc mũ hề của gã
xà ích và gã đã phải giơ cái roi ra để xua đuổi chúng. Khi sẵn sàng bước vào
một cuộc viếng thăm đầy tin cẩn, bác sĩ Huvênan Ucbinô thấy đã quá muộn để hiểu
ra rằng chẳng có một sự ngu ngốc nào đáng sợ hơn là sự ngu ngốc của tuổi già.
Bề ngoài ngôi nhà không số chẳng có gì khác
biệt với các ngôi nhà kém hạnh phúc ngoại trừ cái rèm đăng ten nơi cửa sổ và
cánh cửa ra vào là của một ngôi nhà thờ cũ nào đó được gỡ đem về đây lắp vào. Gã
xà ích đập rõ mạnh cái vồ gọi cửa, và khi tin chắc rằng mình đã tìm đúng nhà,
gã liền dìu bác sĩ xuống xe. Cánh cửa lớn nhẹ nhàng mở ra không một tiếng động.
Một người đàn bà đứng tuổi vận đồ đen tuyền, mang tai gài một bông hồng đỏ thắm
đứng ở bên trong. Mặc dù nhiều tuổi, không thể dưới bốn mươi, người đàn bà ấy
vẫn giữ được dáng son trẻ của gái lai đen, đôi mắt rực sáng long lanh, mái tóc
mượt mà nom tựa như một chiếc mũ bông ôm lấy đầu. Bác sĩ Huvênan Ucbinô không
nhận ra bà ta dù rằng đã vài lần ngài nhìn thấy bà trong lúc mải suy nghĩ trên
bàn cờ đam tại phòng chụp ảnh, và có đôi lần ngài tự tay kê đơn cho bà ta, mua
vài vỉ thuốc kinin để trị sốt rét cách nhật. Bác sĩ chìa tay cho bà ta và bà
cũng chìa hai tay nắm lấy bàn tay ngài, dường như để giúp ngài bước vào nhà hơn
là để chào ngài. Phòng khách mang hương vị và tiếng rì rào thầm thì của một
vườn hoa tươi, kê đầy bàn ghế, giường tủ và các đồ vật quý giá khác, mỗi thứ
đều được để đúng vị trí tự nhiên của chúng. Bác sĩ Huvênan Ucbinô bình thản nhớ
lại cửa hàng của một người bán đồ cổ ở Pari tại số nhà 26 phố Môngmactrơ vào
một ngày thứ hai một mùa thu thế kỷ trước. Người đàn bà ngồi đối diện với ngài
và nói với ngài bằng một thứ tiếng Tây Ban Nha còn ngượng nghịu.
- Thưa bác sĩ, xin ngài cứ tự nhiên cho, - Bà ta nói. - thực lòng tôi
không dám nghĩ rằng ngài lại đến thăm tôi nhanh đến như thế này.
Bác sĩ Huvênan Ucbinô đâm ra lúng túng. Với
trái tim chân thành ngài chú ý quan sát bà ta, quan sát cách thức để tang rất
thống thiết của bà, quan sát cái vẻ cao thượng trong sự im lặng của bà và thế
là ngài hiểu rằng chuyến đi thăm của mình là vô ích, bởi vì bà ta biết nhiều
hơn ngài về tất cả những gì được nói và khẳng định trong bức chúc thư của
Giêrêmia đê Xanh Amua. Đúng như vậy, cho đến những giờ phút gần xảy ra cái chết
bà ta đã ở cạnh y trong suốt gần hai mươi năm với một tình cảm tha thiết và mến
thương dịu hiền còn hơn cả tình yêu mà không một ai trong cái thành phố tỉnh lẻ
mơ mộng này, nơi từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, chuyện công khai đến chuyện riêng
tư bị mọi người phát giác và bàn tán, đã biết chuyện riêng của hai người. Họ
quen nhau trong một nhà tế bần của khách giang hồ ở Port-au Prinxê, nơi bà ta
sinh trưởng và là nơi y tá túc trong buổi đầu chạy trốn. Một năm sau khi đến
thành phố này, bà ta cũng đến đây thăm y trong một thời gian ngắn, dẫu rằng cả
hai người tuy không giao tiếp
với nhau nhưng đều biết chắc rằng bà ta sẽ ở lại đây mãi mãi. Mỗi tuần
một lần bà ta lo lau quét, dọn dẹp phòng tráng phim rửa ảnh, nhưng ngay cả
những người hàng xóm chậm hiểu nhất cũng không nhầm lẫn giữa biểu hiện bên
ngoài với thực chất bên trong, vì cũng như tất cả mọi người họ đoán rằng sự tàn
tật không chỉ gây khó khăn cho Giêrêmia đê Xanh Amua trong việc đi lại. Trên cơ
sở y học bác sĩ Huvênan Ucbinô cũng đoán như vậy, nhưng chưa bao giờ ngài tin
rằng Giêrêmia đê Xanh Amua có một người đàn bà nếu ngài không đọc điều đó trong
bức chúc thư. Muốn nói gì thì nói, bác sĩ Huvênan Ucbinô phải vất vả lắm mới
hiểu được rằng hai người lớn tuổi, trai chưa vợ, gái chưa chồng, sống tự do,
ngoài vòng dư luận cổ hủ của một xã hội kiêu ngoại, đã chọn cái ngẫu nhiên của
những mối tình bị cấm đoán. Bà ta đã giải thích điều đó như thế này: "Đó
là sở thích của anh ấy". Ngoài ra bà ta hài lòng sống trong điều kiện lén
lút để được chia sẻ với một người đàn ông không hoàn toàn thuộc về mình và
chính trong điều kiện ấy cả hai người nhiều lần được tận hưởng những phút giây
kỳ ảo của hạnh phúc bừng nở. Bởi thế, hơn thế nữa, cuộc sống đã chứng minh cho
bà ta thấy rõ rằng có lẽ sống như vậy là một kiểu mẫu.
Đêm trước họ cùng nhau đi xem phim, mỗi
người ngồi một chỗ riêng rẽ, như lâu nay họ cùng đi mỗi tháng hai lần kể từ khi
đôn Galilêô Đacôntê, một người Ý di cư đến đây, lập bãi chiếu bóng ngay trên
đống đổ nát của một tu viện thế kỷ XVII. Họ xem bộ phim dựa trên một cuốn sách
từng là mốt của năm ngoái và bác sĩ Huvênan Ucbinô đọc nó mà trái tim ngài quặn
đau bởi tính chất tàn bạo của chiến tranh, đó là cuốn Phía tây không có gì lạ
[6]. Sau đó họ cùng tụ hội trong phòng tráng phim rửa ảnh và bà ta thấy y có vẻ
thẫn thờ buồn nhớ, đã nghĩ rằng đó là do tác động của những cảnh phim thể hiện
những người bị thương sắp chết quằn quại trên bùn lầy. Để giải phiền, bà mời y
cùng chơi một ván cờ đam. Y chấp nhận để làm vừa lòng bà, nhưng y chơi một cách
hờ hững bên quân trắng, dĩ nhiên rồi, cho đến khi y nhận ra chỉ bốn nước nữa y
sẽ bị chiếu hết, thế là y đầu hàng. Vậy là bác sĩ Huvênan Ucbinô hiểu rằng
người chơi ván cờ cuối cùng ấy là bà ta chứ không phải tướng Hêrônimô Acgôtê
như ngài vẫn nghĩ. Ngài ngạc nhiên thốt lên:
- Đó là một ván cờ tuyệt vời!
[6] Tiểu thuyết của Văn hào Đức Ramarque.
Bà ta từ chối lời khen ngợi đó và bảo rằng
chiến tích ấy không phải là của mình mà chẳng qua là vì Giêrêmia đê xanh Amua
đang hoảng hốt trước cái chết, đã hờ hững đi quân cờ. Khi ngừng chơi cờ, đã là
lúc mười một giờ mười lăm rồi, vì các quán nhảy vừa ngừng chơi nhạc, y đề nghị
bà hãy để cho y được ở một mình. Y muốn viết một bức thư cho bác sĩ Huvênan
Ucbinô, người mà y coi là đáng kính trọng nhất trong số những người mà y quen
biết và hơn nữa ngài còn là một người bạn tâm tình, đúng như cách nói của y,
dẫu rằng khuyết tật chung của cả hai người là thói chơi cờ đam như một cuộc đối
thoại lý lẽ với nhau chứ không phải là một khoa học. Thế là bà ta hiểu ngay
rằng y đã đi tới giới hạn cuối cùng của nỗi lo âu khắc khoải và bà ta cũng hiểu
rằng y không còn thời gian sống lâu hơn nữa nên cần phải viết ngay bức thư. Bác
sĩ không thể tin được điều đó.
- Thế ra là bà đã biết hết rồi. - Ngài nói.
Bà ta thừa nhận rằng không những biết hết
mà bà còn giúp y vượt qua nỗi khắc khoải lo âu, với chính tình yêu thương đã
giúp y nhận ra hạnh phúc. Bởi vì đó là một nỗi khắc khoải lo âu đến kinh người
kéo dài trong suốt mười một tháng cuối cùng của đời y.
- Nghĩa vụ của bà là phải nói điều đó cho
mọi người biết, - bác sĩ nói.
- Tôi không thể làm được điều đó, - bà ta
tức giận nói, - tôi rất yêu anh ấy!
Bác sĩ Huvênan Ucbinô, vốn nghĩ rằng mình
đã nghe tất cả, chưa bao giờ được nghe nói về những điều tương tự như thế và
chúng được nói bằng một hình thức giản dị. Ngài tập trung cả năm giác quan nhìn
thẳng vào mặt bà ta để khắc sâu hình ảnh bà ta trong khoảnh khắc ấy vào ký ức
mình: bà ta giống như một nữ thần sống, mãnh liệt trong bộ đồ đen, đôi mắt như
mắt rắn và bông hồng thắm đỏ gài trên mang tai. Đã lâu lắm rồi, cái hồi còn ở
trên một bãi tắm cô đơn ở Haiti, hai người vừa làm tình với nhau xong còn đang
nằm khỏa thân trên bãi cát, Giêrêmia đê xanh Amua bỗng thở hổn hển nói với bà
ta: "Anh mãi mãi trẻ trung". Bà ta giải thích câu nói ấy như mục đích
anh hùng của cuộc chiến đấu không pháo đài chống lại sự tàn phá của thời gian,
nhưng y lại là người thẳng thắn và thực tế hơn cả: y quyết tâm từ bỏ cõi đời
này vào lúc sáu mươi tuổi.
Quả nhiên, y sẽ mừng sinh nhật sáu mươi
tuổi vào ngày 23 tháng Giêng
năm ấy do vậy mà y đã chọn đêm trước lễ Hạ Trần, một ngày lễ lớn nhất của thành
phố sùng kính tôn giáo của Đức chúa Thánh thần, là đêm cuối cùng của đời mình.
Không một chi tiết nào của đêm trước mà bà ta không biết chắc chắn và họ cùng
nói với nhau về chuyện đó một cách thường xuyên, và cùng nhau đau xót trước
dòng thác sôi trào của những ngày mà cả y và cả bà ta không có cách nào chặn
lại được. Giêrêmia đê xanh Amua yêu cuộc đời với một đam mê trong sáng, yêu
biển và yêu tình yêu của mình, yêu con chó và yêu bà ta, và khi ngày lễ Hạ Trần
đến gần thì y hầu như hoàn toàn tuyệt vọng, như thể cái chết của y không phải
là một giải pháp do chính y lựa chọn mà là một số phận không thể cưỡng lại
được.
- Đêm qua khi tôi ra về để anh ấy ở lại một
mình, tôi thấy anh ấy không còn là người của cõi đời này nữa. - Bà ta nói.
Bà ta muốn con chó theo mình nhưng y ngắm
nhìn nó đang ngủ ngay bên cạnh mấy chiếc nạng và y lấy ngón tay gãi nựng nó. Y
bảo: "Anh lấy làm tiếc không thể chiều theo ý muốn của em. Nhưng con chó
này của ngài Uadrô Uynsơn này sẽ cùng đi với anh". Y bảo bà ta hãy cột con
chó vào chân giường trong lúc y ngồi viết thư. Bà ta vâng lời, cột hờ con chó
vào chân giường để phòng khi nào muốn nó có thể xổng ra được. Đó là một hành
động không trung thành duy nhất của bà ta đối với y và đã được đôi mắt luôn
luôn nhớ người chủ của con chó chứng thực. Nhưng bác sĩ Huvênan Ucbinô đã ngắt
lời bà ta để kể rằng con chó vẫn nằm nguyên chỗ đó. Bà ta bảo: "Vậy là nó
không muốn đi ấy thôi". Bà ta vui lên vì bà ta muốn tiếp tục tưởng nhớ đến
người yêu đã quá cố như y đã đề nghị đêm trước khi y ngừng viết thư lại và đắm
đuối nhìn bà ta:
- Hãy nhớ anh bằng bông hồng đỏ thắm em
nhé! - Y nói.
Bà ta trở về nhà mình quá nửa đêm một chút.
Mặc nguyên quần áo, bà ta nằm xuống giường, rồi châm một điếu thuốc lá nối thêm
đầu mẩu điếu thuốc hút dở để có thêm thời gian đợi cho đến khi y kết thúc lá
thư mà bà ta biết rằng nó dài và khó viết. Trước lúc ba giờ một ít, khi con chó
bỗng nhiên bắt đầu sủa rộ lên, bà ta đi đặt nước để pha cà phê, mặc đồ tang rồi
ra vườn hái một bông hồng thắm đỏ vừa nở lúc khuya. Bác sĩ Huvênan Ucbinô bỗng
hiểu rằng mình đã dần dần từ bỏ ký ức về một người đàn bà cố chấp từ lúc nào và
ngài tin rằng mình đã biết được nguyên nhân: đó chẳng qua chỉ tại vì là một người
đàn bà không có nguyên tắc sống thì mới vui vẻ chịu đựng nỗi đau đến như vậy.
Bà ta còn nói thêm một số chuyện nữa cho
đến cuối buổi viếng thăm của bác sĩ. Bà ta không đi dự đám tang vì đã hứa điều
ấy với người yêu của mình mặc dù bác sĩ Huvênan Ucbinô lại hiểu ngược lại theo
như đoạn cuối trong lá chúc thư. Bà ta sẽ không chảy một giọt nước mắt, sẽ
không phí hoài một phút giây trong quãng đời còn lại của mình để chỉ tâm tâm
niệm niệm đến người đã khuất, sẽ không tự chôn sống mình trong bốn bức tường nhà này để khâu vải
liệm cho mình như các bà góa ở đây vẫn thường làm. Bà ta nghĩ đến việc bán đi
ngôi nhà của Giêrêmia mà từ bây giờ nó đã là của bà với tất cả những gì có
trong ngôi nhà ấy, theo như đã ghi trong bức chúc thư, và bà sẽ tiếp tục sống
như lâu nay vẫn sống và sẽ không hề ca thán gì ở cái xứ sở tàn tạ này của những
người nghèo mà nhờ đó bà đã sung sướng được hưởng hạnh phúc.
Trên đường trở về nhà mình, câu "cái
xứ sở tàn tạ này" cứ theo miết bác sĩ Huvênan Ucbinô. Câu ấy không phải là
một nhận định vô cớ. Bởi thành phố này, thành phố của ngài, vẫn trường tồn như
thế ở bên lề thời gian: vẫn chính là cái thành phố oi bức và khô cằn, là thành
phố của những nỗi kinh hoàng về ban đêm của máu và những cuộc vui thác loạn cô
đơn của tuổi trẻ, là nơi hoa bị rỉ và muối chảy nước, và là thành phố không hề
có mảy may một sự đổi thay trong suốt bốn thế kỷ nay, ngoại trừ việc nó tự già
cỗi đi giữa những cành nguyệt quế héo úa và đầm lầy sình đọng. Về mùa đông, một
vài trận mưa rào trút nước xuống khiến nước dềnh lên khỏi các ao tù tràn ra
đường làm cho đường phố chìm trong một thứ nước bùn kinh tởm đến nôn mửa. Về
mùa hạ, một thứ bụi không nhìn rõ, khó chịu như bụi phấn màu đỏ tươi, chui vào
tận nơi sâu kín nhất mà ta có thể tưởng tượng, bay mù mịt theo những cơn lốc
điên cuồng làm tốc mái những ngôi nhà và cuốn theo những đứa trẻ nhỏ. Những
ngày thứ bảy, đám dân lai đen ồn ào rời bỏ những túp lều thưng che bằng giấy
các-tông và sắt tây dựng bên bờ các hồ đầm để cùng nhau vui thú kéo ra bãi biển
lởm chởm đá thuộc thành phố thời thuộc địa Tây Ban Nha. Họ mang theo những con
vật nuôi, các đồ ăn và thức uống. Trong số các cụ già nhất có một số người còn
mang trên ngực vết sẹo cháy do người ta đóng vào đấy con dấu nô lệ. Trong những
ngày cuối tuần họ nhảy như điên dại, họ say cho đến chết bằng thứ rượu cất lấy
ở nhà mình, họ ân ái với nhau ngay giữa những bụi cây iccô, rồi đến nửa đêm
ngày chủ nhật, họ phá đám các cuộc nhảy phanđanggô bằng chính những cuộc ẩu đả
đẫm máu giữa họ với nhau. Đó vẫn là đám dân ngổ ngáo vào những ngày cuối tuần
thường vẫn tràn vào các quảng trường và các đường phố nhỏ trong các khu phố cổ
với những quán hàng có thể mua và bán, và như vậy, họ khiến cho cả thành phố
vốn im lìm như chết này, chìm trong niềm vui buông thả của hội chợ nhân loại sực
nức mùi cá rán: đó là cuộc sống mới.

