Tình Yêu Thời Thổ Tả - Chương 44
Chương 44
Hai ngày sau bà lại nhận của ông một bức thư khác hẳn, thư viết tay trên
giấy kẻ dòng và tên họ rõ ràng đàng hoàng ở chỗ người gửi trên bì thư. Đó là
một bức thư được viết với cũng một lối chữ rất đẹp của những lá thư đầu tiên,
cũng một tình cảm trữ tình, nhưng được áp dụng vào một đoạn văn giản dị nói lên
lòng biết ơn vì đã được bà chào hỏi trịnh trọng trong Nhà Thờ lớn. Sau khi đọc
xong lá thư, Phecmina Đaxa còn vẩn vơ lưu luyến nghĩ về nó với lương tri rất
trong sáng đến độ ngày thứ tư bà đã hỏi Lucrêxia đên Rêan, mà không biết có
đúng lúc không, rằng ngộ như bà ta có quen biết Phlôrêntinô Arixa, ông chủ của
những chiếc tàu thủy chạy trên sông. Lucrêxia trả lời rằng có: "Nom ông ta
cứ như một con yêu tinh mất hồn ấy". Bà ta nhắc lại lời đồn đại nói rằng
chẳng bao giờ ông biết tới đàn bà, mặc dù ông là người rất tốt, rất biết chiều
chuộng đàn bà, rằng ông có hẳn một văn phòng bí mật thường vẫn mang bọn trẻ nhỏ
mà ông tìm thấy ở các bến cảng về đấy. Phecmina Đaxa từng nghe chuyện huyền
thoại ấy ngay từ khi bà có trí nhớ nhưng chẳng bao giờ bà tin và không cho điều
ấy là quan trọng. Nhưng khi nghe chuyện huyền thoại ấy được Lucrêxia đên Rêan
nhắc lại với tất cả lòng tin thì bà đã không thể cưỡng lại được cái sức ép buộc
phải để các sự vật vào đúng chỗ của chúng. Bà kể rằng bà quen Phlôrêntinô Arixa
từ thuở bé. Bà lưu ý Lucrêxia nhớ rằng bà mẹ ông có một cửa hàng tạp hóa ở phố
Vênhtanat và rằng bà cụ mua lại áo và vải trải giường cũ rồi tháo sợi ra rũ
thành bông cứu thương để bán trong thời kỳ nội chiến liên miên. Với niềm tin
vững chắc, bà kết luận:."Họ là người đứng đắn, chỉ hành động theo nhịp đập
của trái tim mình". Đó là một kết luận hết sức đúng mức đến độ Lucrêxia
cũng phải nhắc lại điều bà đã nói: "Tóm lại, họ cũng nói về tôi như vậy
đấy". Phecmina Đaxa không tò mò tự hỏi lòng mình rằng vì sao bà đã bảo vệ
một cách nhiệt thành cho một người đàn ông vốn chỉ là một cái bóng trong cuộc
đời mình. Bà vẫn tiếp tục suy nghĩ về ông, nhất là khi người đưa thư đến mà
không có thư mới của ông. Hai tuần lặng lẽ trôi qua, khi ấy có một cô hầu đã
đánh thức bà đang lúc ngủ trưa với một câu nói thầm thì đầy thảng thốt:
- Thưa bà, Đôn
Phlôrêtinô đến đấy.
Ông đã đến thật. Phản ứng đầu tiên của Phecmina Đaxa là sự bối rối. Bà kịp
nghĩ rằng không, rằng hãy trở lại một ngày khác vào giờ thích hợp hơn, rằng bà
chưa có điều kiện để tiếp khách, rằng chẳng có gì cần phải nói. Nhưng bà đã
ngồi đậy, và bảo rằng hãy đưa ông vào phòng khách và mang cho ông cà phê trong
lúc bà sửa soạn để ra tiếp ông. Phlôrêntinô Arixa đang đứng đợi ở ngoài cửa
chính dưới trời nắng như đổ lửa lúc ba giờ chiều, nhưng trong tư thế chuẩn bị
làm nước mã hồi. Ông đã chuẩn bị sẵn để khi không được tiếp, như vậy dù chỉ một
lời xin lỗi đáng yêu cũng được và chính lòng tin chắc ấy đã giúp ông bình tĩnh
đợi chờ. Nhưng việc người hầu gái mở cửa mời ông vào đã khiến ông rung động tới
tận tủy sống và khi bước vào phòng khách rất mát ông vẫn không có thời gian để
mà nghĩ tới phép mầu nhiệm mình đang sống trong nó, bởi vì bỗng nhiên bụng ông
sôi réo quặn thắt lại. Ông nín thở để chịu đựng cơn đau thắt bụng, để sống lại
cái kỉ niệm xúi quẩy về bãi cứt chim rơi đúng vào lá thư tình đầu tiên của
mình, và cứ như thế ông đứng im trong khung cảnh râm mát của phòng khách và
trong lúc chờ cho cơn đau qua đi, sẵn sàng chấp nhận bất cứ một nỗi bất hạnh
nào trong khoảnh khắc
ấy, trừ cơn đau vô lý này.
Ông tự biết mình rất rõ: không kể tới cơn rùng mình ghê gớm ấy, trong rất
nhiều năm bụng dạ ông đã ba hay bốn lần phản ông ngay trước công chúng và cũng
đã ba hoặc bốn lần gì đó ông buộc phải chịu thua nó. Chỉ trong những trường hợp
ấy, và trong một số trường hợp khẩn thiết khác, ông đã nhận ra sự thật của một
câu nói mà ông vẫn bông đùa nhắc lại: "Không tin Thượng đế, nhưng có sợ
Thượng đế". Ông không có thời giờ để nghi ngờ câu nói ấy vì thế ông định
cầu nguyện bằng bất cứ một câu cầu nguyện nào nhưng ông không nhớ ta. Khi còn
nhỏ, có một đứa trẻ dạy ông một câu cầu nguyện có phép mầu, để chỉ bằng một hòn
đá bắn trúng một con chim: "Ẩn đi, ẩn đi kẻo tao bắn mày chết". Ông
đã thử dùng câu cầu nguyện ấy khi lần đầu tiên ông lên núi và với chiếc ná cao su mới ông đã bắn
trúng một con chim. Với nỗi hoảng loạn ông nghĩ rằng mỗi vật đều có mối liên hệ
nhất định với vật khác, ông đã nhắc lại câu cầu nguyện ấy nhưng không đem lại
kết quả gì. Một cơn quặn ruột dữ dội khiến ông phải đứng dậy, bụng ông đầy hơi
đến cứng lại buộc ông phải rên khe khẽ, và khắp người ông mồ hôi lạnh túa ra.
Cô hầu phòng mang cho ông cà phê bỗng giật thột trước gương mặt nhợt nhạt như
mặt tử thi của ông. Ông nói: "Tại trời oi nóng quá đấy". Cô ta mở cửa
sổ mà tin rằng sẽ làm ông hài lòng, nhưng ánh nắng buổi chiều rọi ngay trên mặt
và thế là cô ta lại phải đóng cửa lại. Ông hiểu rằng mình không thể chịu đựng
thêm một phút nữa thì cũng vừa hay Phecmina Đaxa xuất hiện gần như không thể
nhìn rõ ở trong khung cảnh buồng khách hơi tối tối và bà giật thột khi thấy ông
đang ở trong tình trạng ấy.
- Ông có thể cởi áo vextông ra, - bà nói với ông.
Đối với ông còn đau đớn hơn cả cơn đau quặn chết người nếu bà nghe rõ tiếng
sôi réo trong bụng ông. Nhưng ông đã cố kìm nỗi đau lại hầu như chỉ trong
khoảnh khắc để nói rằng không, rằng ông qua đây chỉ là để hỏi xem khi nào bà có
thể tiếp chuyện ông một buổi. Bà đứng, vẫn còn thảng thốt, nói: "Vậy ông
chẳng đã đến đây rồi sao". Và bà mời ông theo mình vào tận hiên trong nhìn
ra sân là nơi mát mẻ hơn. Ông từ chối bằng một giọng mà bà cảm thấy tựa như một
hơi thở dài đáng thương.
- Xin bà để cho đến ngày mai, - ông nói.
Bà nhớ rằng mai là ngày thứ năm, ngày đến chơi đúng hẹn của Lucrêxia đên
Rêan, nhưng bà đã kịp nghĩ ra một giải pháp tức thời: "Ngày kia vào lúc
năm giờ chiều". Phlôrêntinô Arixa cảm tạ bà. Cầm lấy mũ, ông vội vàng từ
biệt bà, không uống cà phê. Bà đứng yên ngay chính giữa phòng khách, còn đang
ngơ ngác chưa hiểu có điều gì xảy ra với ông, cho đến khi ông khuất bóng ở cuối
phố nơi ô tô đậu. Lúc ấy Phlôrêntinô Arixa đang tìm một tư thế dễ chịu hơn trên
ghế sau của chiếc ô tô nhà. Ông nhắm mắt lại, duỗi gân cốt, hoàn toàn thuận
theo ý muốn của cơ thể mình, như thể ông lại được sinh ra một lần nữa. Người
tài xế, sau nhiều năm phục vụ ông không hề ngạc nhiên trước bất cứ điều gì xảy
ra với ông, bỗng lo lắng trong lòng. Nhưng khi mở cánh cửa xe cho ông lúc xe
đậu lại ở trước hiên nhà đã nói với ông:
- Thưa đôn Phlôrêntinô, xin ngài cẩn thận, triệu chứng này giống như ngài
bị bệnh thổ tả.
Ông biết đó là những triệu chứng đã quen thuộc
với ông từ lâu nay. Phlôrêntinô Arixa phải cảm tạ Thượng đế vì năm giờ chiều
ngày thứ sáu cô hầu dẫn ông đi qua phòng khách lờ mờ tới đến hiên trong nhìn ra
sân, rồi tại đây ông thấy Phecmina Đaxa đứng bên cạnh một chiếc bàn nhỏ cho hai
người ngồi nói chuyện. Mời ông dùng trà, sôcôla, hay cà phê? Phlôrêntinô Arixa
xin cà phê thật nóng và thật đậm. Bà bảo người hầu gái: "Còn ta, hãy mang
thức uống hàng ngày". Thức uống hàng ngày của bà là thứ nước trà hỗn hợp
gồm nhiều loại chè búp thường dùng bên phương Đông khiến tâm hồn bà phấn chấn
sau lúc ngủ trưa. Khi bà uống hết chén trà của mình và ông vừa cạn xong tách cà
phê thì cả hai người đã gợi mở và kết thúc vài câu chuyện, đó là những chuyện
không hoàn toàn thú vị đối với cả hai nhưng cần thiết để cả ông lẫn bà không đề
cập đến những đề tài mà cả hai đều muốn lẩn tránh. Cả hai người đều sợ hãi mà
chẳng biết làm gì khi họ ở quá xa thời xuân trẻ của mình trong một sân hiên lát
gạch men đen trắng tạo thành bàn cờ đam, của một ngôi nhà chẳng phải của riêng
ai vẫn còn thơm lựng mùi hoa nghĩa trang. Lần đầu tiên họ đối diện với nhau
trong một khoảng cách rất gần và tương đối lâu để nghiêm trang nhìn nhau sau
một nửa thế kỷ và hai người đã thấy nhau như lâu nay vẫn thấy, hai cụ già đang
bị thần chết vây bọc. Chẳng có gì giống nhau ngoài ký ức về một thời quá khứ
tươi đẹp mà giờ đây không thuộc về họ, đúng hơn nó thuộc về hai thanh niên có
lẽ chỉ đáng là cháu họ. Bà nghĩ rằng ông sẽ nói về tính chất ảo tưởng trong mơ
ước của mình và chính điều đó sẽ giúp ông tránh được hành động xấc xược của bản
thân.
Để tránh không khi yên lặng, gượng gạo về những vấn đề không nên đề cập
tới, bà hỏi ông những câu hỏi rõ ràng về những chiếc tàu thủy chạy trên sông.
Dường như là phi lí điều ông nói rằng tuy là chủ hãng ông chỉ đi tàu thủy có
độc một lần khi ông chẳng có liên quan gì với hãng. Bà không biết nguyên nhân
và ông thành thật kể lại cho bà nghe hết. Bà cũng chẳng biểu biết gì về sông
nước. Chồng bà đồng tình với thành kiến đối với khí hậu vùng núi Anđết và đã an
ủi bà bằng những lý lẽ khác nhau: nỗi nguy hiểm của độ cao đối với bệnh tim,
nỗi nguy hiểm của bệnh phổi, đạo đức giả đối với dân chúng ở đấy và tính chất
bất công của chế độ chuyên chế còn tồn tại ở vùng ấy. Vậy là cả hai người đều
quen biết cả một nửa thế giới nhưng lại không quen biết hết đất nước mình. Hiện
lúc ấy có một chiếc thủy phi cơ Junkera bay từ làng này sang làng kia dọc theo
vịnh Macgơdalêna, nom nó tựa như một chú châu chấu nhôm, có hai người lái, sáu
hành khách cùng các túi bưu kiện. Phlôrêntinô Arixa bình luận: "Nó tựa như
một chiếc quan tài bay trên không ấy". Bà đã từng đi trên bóng thám không
trong chuyến bay đầu tiên của nó và bà không hề phải chịu những cú sóc trên
không nào nhưng hầu như bà không thể nghĩ rằng việc đi trên thủy phi cơ sẽ
giống như việc đi trên bóng thám không. Bà nói: "Khác nhau đấy". Nói
thế có nghĩa là bà muốn nói rằng
người đã thay đổi, không chỉ ở các cách thức du lịch.
Đôi lúc tiếng động cơ máy bay làm bà giật mình. Bà nhìn thấy chúng bay rất
thấp, làm những động tác nhào lộn trong ngày kỉ niệm một trăm năm ngày mất của
Nhà Giải phóng. Một trong những chiếc máy bay ấy đen trũi như một con quạ khổng
lồ, bay sát các nóc nhà khu phố La Măngga, vì vậy đã để lại một chiếc cánh mắc
trên cây bên cạnh và bản thân nó bị treo lủng lẳng dưới hàng dây điện. Nhưng dù
có thế đi nữa, Phecmina Đaxa vẫn không biết đến sự tồn tại đích thực của máy
bay. Trong những năm gần đây bà cũng không tò mò đi đến vịnh Mangxanidô, là nơi
những chiếc thủy phi cơ đỗ xuống sau khi những chiếc canô hộ vệ đợi các thuyền
đánh cá và những chiếc thuyền đua đến ngày càng nhiều. Thế mà sau khi bà đã già
rồi người ta vẫn chọn bà cầm một bó hoa hồng đi đón Sáclơ Limbaê khi ông đã đến trong chuyến
bay tình nguyện của mình, và bà đã không hiểu nổi làm sao một người đàn ông to
cao lực lưỡng, mái tóc vàng mượt mà, rất điển trai lại có thể bay lên được
trong một cỗ máy giống như một tấm sắt tây nhăn nheo, phải cần tới hai người
thợ cơ khí túm lấy đuôi nâng lên để giúp nó cất cánh. Trong đầu bà không chứa
nổi ý nghĩ về một chiếc máy bay không to lớn là bao lại có thể chở được những
tám khách hàng. Trái lại bà từng nghe người ta nói với mình rằng những chiếc
tàu thủy chạy trên sông là một phương tiện du lịch lý thú lắm vì chúng không
tròng trành như những chiếc tàu biển nhưng lại có nhiều nguy hiểm hơn, tỷ như
dễ bị mắc cạn bởi những doi cát ngầm hoặc bị bọn cướp tấn công. Phlôrêntinô
Arixa giải thích cho bà biết rằng tất cả những chuyện ấy là huyền thoại của
thời trước: Hiện nay các tàu thủy đều có một phòng nhảy rộng rãi và sang trọng
như phòng ngủ trong khách sạn, có phòng vệ sinh riêng biệt và quạt điện và kể
từ cuộc nội chiến cuối cùng đến nay chúng không hề bị bọn cướp có vũ trang tấn
công nữa. Ngoài ra với sự hài lòng về thắng lợi của cá nhân mình, ông còn giải
thích rằng những tiến bộ trên là nhờ ở sự giải phóng giao thông đường thủy được
ông ủng hộ, đó là việc làm bao gồm việc cổ vũ sự cạnh tranh, đáng lẽ chỉ có một
hãng duy nhất như trước đây, nay có, tới ba hãng, tất cả đều năng động và giàu
có. Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của máy bay hiện nay lại là một mối
nguy hiểm cho cả ba hãng tàu. Bà cố sức an ủi ông bằng cách nói rằng tàu thủy
bao giờ cũng phải có bởi vì rằng không có quá nhiều kẻ điên rồ sẵn sàng chui
vào một thứ máy móc phản tự nhiên. Cuối cùng Phlôrêntinô Arixa nói đến sự tiến
bộ của bưu điện cả trong lĩnh vực vận chuyển và phân phát thư từ bưu điện. Ông
hi vọng nhân đây Phecmina Đaxa sẽ đề cập tới những thư từ của ông. Nhưng ông đã
không thực hiện được mục đích của mình.
Tuy nhiên, sau đó một lúc, dịp may tự nó đến. Cả hai người đã bỏ qua đề tài
này khá lâu rồi, bỗng người hầu gái đưa cho Phecmina Đaxa một bứ thư vừa nhận từ tay người
đưa thư đặc nhiệm trong thành phố, một chức phận vừa được lập ra sử dụng chính
phương pháp chuyển điện tín. Bà không thể tìm được cặp kính để đọc lá thư, như
lâu nay vẫn thường xảy ra chuyện này. Phlôrêntinô Arixa vẫn giữ được bình tĩnh
và thái độ nghiêm chỉnh.
- Xin bà chẳng cần phải đọc nó, - ông nói. - Bức thư ấy là của tôi đấy.
Đúng thế thật. Ngày hôm trước ông đã viết lá thư này trong tình trạng đau
khổ khủng khiếp vì đã không thể quên được cảm giác xấu hổ trong chuyến đến thăm
bà lần đầu tiên bị thất bại. Trong lá thư này ông xin lỗi bà vì hành động thiếu
thận trọng, đến thăm bà mà không xin phép trước và ông xin bày tỏ ý định trở
lại thăm bà lần sau. Ông bỏ thư vào thùng mà chưa kịp nghĩ kĩ nhưng khi hối thì
đã muộn, không thể nào lấy lại được lá thư ấy nữa. Tuy nhiên, ông thấy không
cần phải giải thích dài dòng mà chỉ yêu cầu Phecmina Đaxa không nên đọc nó nữa.
- Dĩ nhiên, - bà nói. - Cuối cùng, thư từ là của người viết ra chúng. Đúng
thế không nào!
Ông tiến thêm một bước vững mạnh hơn.
- Đúng thế, - ông nói. - Bởi lẽ đó thư từ được trả lại khi giữa hai người
không còn quan hệ với nhau nữa.
Bà làm thinh trước ý định của ông và trả lại ông bức thư ấy, nói rằng:
"Thật đáng tiếc là tôi không thể đọc được nó, vì những lá thư trước giúp
ích cho tôi rất nhiều". Ông thở phào nhẹ nhõm, ngạc nhiên thấy rằng bằng
một hình thức rất gọn gàng bà đã nói nhiều hơn cả điều ông mong đợi và ông nói:
"Bà không thể mường tượng rằng tôi sung sướng biết bao khi được biết điều
đó". Nhưng bà đã thay đổi đề tài và ông cũng không cố ý tìm cách để bà trở
lại đề tài này trong phần còn lại của buổi gặp gỡ.
Ông đứng dậy cáo từ ra về thì đã quá sáu giờ khi trong nhà đã thắp đèn sáng
trưng. Ông cảm thấy vững tin hơn, nhưng không có quá nhiều ảo tưởng bởi vì ông
không quên cá tính dễ thay đổi và những phản ứng bất thường của Phecmina Đaxa
vào tuổi hai mươi, và cũng không phải không có nhiều lý do để ông nghĩ rằng bà
đã thay đổi. Vì lẽ đó, bằng giọng chân thành nhưng vẫn e dè, ông dám mạnh dạn
hỏi bà rằng liệu hôm khác ông có thể đến thăm bà được không, và câu trả lời của
bà lại càng khiến ông ngạc nhiên hơn
- Hãy đến bất cứ lúc nào, - bà nói - Hầu như luôn luôn chỉ có một mình tôi
ở nhà.
Bốn ngày sau, ngày thứ tư, ông trở lại nhà mà không hề báo trước và bà cũng
chẳng phải đợi bọn người nhà pha trà cho mình để đủ hào hứng nói với ông về
những bức thư của ông đã giúp ích bà biết bao nhiêu. Ông bảo rằng đó không phải
là những bức thư theo ý nghĩa chặt chẽ của từ này, mà là những trang sách rời
mà ông rất muốn viết ra. Bà cũng từng nghĩ như vậy. Bà nghĩ nhiều lắm đến độ bà
định trả lại những bức thư ấy nếu như ông không coi đó là một nỗi bất hạnh, để
ông cho chúng một số phận tốt đẹp hơn. Bà tiếp tục nói về những điều tốt đẹp mà
những bức thư ấy mang đến cho mình trong giai đoạn khó khăn bà đang sống. Và bà
đã nói với bao nhiệt huyết, bao lòng biết ơn, và có lẽ với bao lòng tôn trọng
và âu yếm đến mức Phlôrêntinô Arixa dám làm một cái gì đó còn hơn cả một bước
tiến vững mạnh: một cú nhảy liều mạng.
- Trước đây chúng mình xưng hô rất thân mật với nhau, - ông nói.
Đó là một từ cấm trước đây. Bà cảm thấy vị thần tưởng tượng của quá khứ trở
lại và bà định né tránh nó. Nhưng ông lại dấn thêm một bước sâu hơn, nói:
"Tôi muốn nói tới những bức thư trước của chúng mình". Bà khó chịu và
cố nén để ông không nhận ra. Nhưng ông đã nhận ra và hiểu rằng cần phải khôn
khéo tiến sâu thêm. Những cú va vấp vừa rồi dạy ông rằng bà vẫn khó gần như khi
còn trẻ nhưng bà đã học được cách ứng xử để làm cho nó mang vẻ dịu dàng hơn.
- Tội muốn nói rằng nhưng bức thư hiện nay là một cái gì đó khác hẳn, - ông
bảo.
- Trên cõi đời này, tất cả đều thay đổi, - bà nói.
- Nhưng mà tôi không thay đổi, - ông nói - Còn bà thì sao?
Bà dừng lại với chén trà thứ hai đang uống dở và với đôi mắt mở to bà khiển
trách ông.
- Cũng thế thôi, - bà nói. - Tôi vừa tròn bảy mươi hai tuổi.
Phlôtêntinô Arixa cảm nhận một cú đấm ngay ở chính giữa trái tim mình những
mong tìm thấy một lời đối đáp nhanh chóng và sắc nhạy như một mũi tên, nhưng
ông đã bị sức nặng của tuổi già đè bẹp. Chưa bao giờ ông cảm thấy mệt mỏi quá
sức trong một cuộc nói chuyện quá ngắn ngủi. Trái tim ông đau nhói nhói và mỗi
tiếng đáp của nó vang vọng thình thình ngay trong tâm thất. Ông cảm thấy mình
già nua, buồn tủi, vô dụng và muốn khóc ngay đến mức ông không thể nói được. Họ
uống hết chén trà thứ hai trong không khí thanh lặng phảng phất những điềm báo,
ấy là khi bà bảo một trong số những cô hầu gái mang cho mình chiếc cặp đựng thư
từ. Ông suýt nữa yêu cầu bà hãy giữ những bức thư ấy cho chính bà vì ông còn
các bản sao ở nhà rồi nhưng ông lại nghĩ rằng sự thận trọng này sẽ làm ông
không được cao thượng lắm. Chẳng còn gì cần phải nói thêm nữa. Trước khi ra về
ông lại nêu vấn đề mình sẽ trở lại vào ngày thứ ba tới, đúng giờ này. Bà tự hỏi
nếu như thế mình có hạ cố nhiều quá không.
- Tùy ông. Về phần mình tôi hoàn toàn vô tư trong chuyện ông đến thăm tôi
quá nhiều.
- Đúng thế. Tôi cũng hoàn toàn vô tư trong chuyện tôi đến thăm bà quá
nhiều.
Vậy là ngày thứ ba sau, đúng năm giờ chiều, ông trở lại, cũng như tất cả
các ngày thứ ba tiếp đó ông đã trở lại nhà bà mà không cần phải báo trước. Vì
các buổi đến chơi hàng tuần đã trở nên thường lệ kể từ cuối tháng thứ hai,
Phlôrêntinô Arixa mang đến nhà bà nào bánh bích qui sản xuất tại Anh, hạt dẻ đã
rang sẵn, quả ô liu Hy Lạp, và các thứ ngon dùng trong phòng xa lông mà ông mua
trên các tàu viễn dương. Có một ngày thứ ba ông mang tới một bức ảnh do người
thợ ảnh thành Viên chụp cho bà và Hinđêbranđa Săngchêt từ một nửa thế kỷ nay.
Ông mua nó với giá mười làm xu ở một cửa hàng bán bưu thiếp tại phố Excribanôt,
Phecmina Đaxa không hiểu làm sao bức ảnh này lại lọt ra tận đây, và Phlôrêntinô
Arixa hiểu rằng điều đó xảy ra chỉ có thể do phép màu của tình yêu mà thôi. Có một buổi sáng,
trong lúc chăm tỉa vườn hồng của mình, Phlôrêntinô Arixa không thể chống lại ý
định sẽ mang cho bà một bông hồng trong chuyến đến thăm bà sắp tới. Nhưng đó là
một vấn đề hóc búa
trong ngôn từ tặng hoa cho một quả phụ chồng vừa mới chết. Một bông hồng thắm
đỏ, biểu tượng của lòng đam mê cao độ, có thể sẽ là một sự khiêu khích đối với
tấm băng tang của bà. Những bông bồng vàng, mà trong ngôn ngữ khác là hoa của
vận may, nhưng trong ngôn ngữ chung chúng là biểu tượng của lòng ghen tuông. Có
một vài lần người ta nói với ông về thứ hoa hồng đen của Thổ Nhĩ Kỳ, mà có lẽ
chúng là loại hoa thích hợp nhất trong trường hợp này, nhưng ông không thể nào
tìm được giống để trồng trong vườn nhà. Sau khi suy nghĩ lao lung ông tạm bằng
lòng với những bông hồng bạch, vốn là thứ hoa ông không thích bằng các thứ kia,
phần vì chúng không được tươi sắc lắm, phần vì chúng là loài câm: chúng chẳng
nói lên điều gì. Vào giờ chót, để đề phòng Phecmina Đaxa nghĩ xấu về chúng, ông
đã cạo hết gai trên cuống các bông hồng bạch.
Ông được bà đón tiếp chu đáo và coi bó hoa hồng bạch như một món quà vô tư,
và do đó các buổi gặp gỡ hàng tuần của họ ngày càng phong phú thêm đến mức khi
ông đến nhà với bó hoa hồng bạch thì bà đã chuẩn bị sẵn lọ hoa có nước để ở
chính giữa bàn trà. Một thứ ba bất kỳ nào đó, khi cắm hoa vào lọ, với vẻ vô tư
ông nói:
- Vào thời của chúng mình người ta không mang hoa hồng mà chỉ mang hoa bạch
trà.
- Đúng thế đấy, - bà nói, - nhưng ý tứ thì khác hẳn, và ông đã biết rõ.
Vẫn thường xảy ra như vậy: Ông định tiến thêm nhưng bà tìm cách chặn bước
ông lại. Nhưng trong trường hợp này, dù bà trả lời rất kịp thời, Phlôrêntinô
Arixa nhận thấy rằng bà đã để trống, vì bà đã phải quay mặt đi để ông không
nhận ra sắc mặt bỗng nhiên đỏ bừng. Đó là sắc mặt nóng ran, rất trẻ trung, rất
cuộc đời, mà tính chất không đúng lúc của nó khiến bà khó chịu ngay với chính
bản thân mình. Phlôrêntinô Arixa ý nhị lái sang chuyện khác ít khó chịu hơn
nhưng hành động khéo léo ấy của ông lại quá ư lộ liễu đến độ tự bà cũng biết
rằng mình đã bị phát hiện và chính điều đó càng làm tăng thêm nỗi giận trong
lòng bà. Đó là một ngày thứ ba không được vui lắm. Suýt nữa bà yêu cầu ông
không đến nhà mình nữa, nhưng ý nghĩ về một cuộc tranh chấp chẳng đâu vào với
đâu của những kẻ đang yêu là rất đáng cười vào lứa tuổi và hoàn cảnh của hai
người lúc này, khiến bà cười ngây ngất. Ngày thứ ba sau đó, khi Phlôrêntinô
Arixa cắm hoa vào lọ thì bà tự vấn lương tâm mình rất dữ và cuối cùng bà vui vẻ
thấy rằng trong mình không còn lại một biểu hiện nhỏ của nỗi ân hận tuần trước.

