Quán Trọ Hoang Thôn - Chương 10
NGÀY THỨ MƯỜI
Mười…
Đây là một con số đặc biệt, tôi cảm thấy nó giống một cánh
cổng hơn, trước “mười” tôi từ từ đi đi lại lại trước cổng lớn, có thể chờ đợi
cũng có thể quay đầu. Nhưng chỉ cần chúng ta bước vào phía trong cánh cổng đó,
con số “mười” này sẽ biến thành một sợi dây thừng thòng vào cổ chúng ta rồi dắt
chúng ta lao điên cuồng về phía trước, bất luận phía trước là thiên đường hay
địa ngục.
Hôm nay, ngày thứ mười của câu chuyện này.
Tròn mười ngày trước, bốn sinh viên đó đột nhiên ghé thăm nhà
tôi, kể cho tôi nghe về kế hoạch thám hiểm to gan của họ. Trong cùng một buổi
tối, tôi lại nhận được một email thần bí, email này đến từ một cô gái tên là
“Nhiếp Tiểu Sảnh.” Kể từ đó, bọn họ đã kéo tôi vào trong vòng xoáy, từng bước
từng bước dẫn tôi tới trước cánh cổng khủng khiếp đó.
Tôi có nên tiến vào bên trong không?
Vấn đề này quấn lấy tôi cả ngày, khiến tâm trạng tôi hoang
mang buồn phiền. Đến sẩm tối, tôi thực sự không thể ngồi yên được nữa, căn
phòng dường như vẫn đang dừng lại vào buổi sáng hôm đó, vẫn còn đó tiếng chuông
điện thoại và sự khủng hoảng lạc cả giọng của Hàn Tiểu Phong đến từ Hoang thôn.
Sau đó, tôi vội vã ra khỏi nhà, đi tới đường Thiểm Tây Nam.
Tôi đi tìm một người.
Tôi dừng bước trước quán trà đường Thiểm Tây Nam, đứng cách
con đường xe chảy cuồn cuộn, tôi nhìn thấy quán kem, ánh đèn cầu vồng chiếu rọi
ánh sáng màu đỏ vào cửa hàng, vài cô gái không sợ béo đang ăn kem. Cô gái mặc
bộ đồng phục màu cam đang bận rộn làm kem trong quầy bán hàng, cột tóc đuôi
ngựa phía sau tung tăng theo nhịp.
Cô ấy chính là “Nhiếp Tiểu Sảnh bán kem.”
Tối nay quán kem này đông khách lạ thường, mãi lâu sau trước
quầy kem mới có chỗ trống, cô ấy cuối cùng đã có cơ hội ngẩng đầu lên. Tôi vẫn
đứng bên đường, giống như đang nhìn ngắm hình ảnh đường phố về đêm, im lặng
nhìn vào đôi mắt cô ta, cứ như vậy khoảng một phút qua đi, cho tới khi cô ta
nhìn thấy tôi.
Tôi vốn không quen đối mắt với người khác, nhất là lại đối mắt
với người cách hẳn một con đường xe cộ nườm nượp như mắc cửi. Rất nhiều chiếc
xe nhấn còi lướt qua tôi và cô ta, nhưng kì lạ ở chỗ, ánh đèn cầu vòng góc phố
vẫn cứ chiếu rọi vào mặt cô ấy, và ánh mắt cô ta rõ ràng đang chỉ dừng lại
trước ánh mắt tôi.
Đèn xanh bật sáng.
Tôi ung dung đi qua đường, đến trước quầy kem. Cô lặng lẽ
nhìn tôi, không hề có biểu hiện ngạc nhiên, cạnh quầy kem chẳng còn ai, tôi cố
ý tạo vẻ hững hờ nói: “Lấy cho tôi một chiếc kem dâu tây.”
Cô ta lạnh lùng nhìn tôi một cái, sau đó im lặng quay đi rồi
đưa kem dâu tây vào tay tôi.
“Cảm ơn.”
Tôi đứng trước quầy kem cắn một miếng nói: “Ưm, lâu lắm rồi
chưa ăn thứ gì vị dâu tây.”
Rốt cuộc, cô ta cũng mở miệng nói chuyện: “Anh thích ăn kem?”
“Không, rất ít ăn.” Tôi vừa nói chuyện, vừa liếm kem: “Nhưng,
hôm nay ngoại lệ.”
Cô ta vẫn biểu hiện như trước, bình tĩnh nhìn tôi ăn từng
chút kem một, đột nhiên nói: “Xin lỗi, anh vẫn chưa trả tiền.”
“Ngại quá.” Tôi vội vàng móc tiền ra đưa cho cô ta, có chút
bối rối nói: “Khi nào cô hết giờ làm, tôi muốn nói chuyện với cô.”
“Thế thì có thể anh phải đợi rất lâu vì tôi phải đợi người
tiếp ca tới.”
Tôi trả lời có vẻ bất cần: “Đợi bao lâu cũng được.”
Sau đó, tôi né sang bên cạnh quầy bán kem, dùng khóe mắt liếc
nhìn cô ta đang ở trong cửa hàng.
Nhưng người tiếp ca lại tới rất sớm, cô ta đang ở trong quầy
tỏ ra chán nản. Hai phút sau, cô ấy đã thay trang phục đi ra.
Vẫn là bộ quần áo đen bó, đèn cầu vồng soi rọi lên từng đường
nét trên cơ thể cô. Cô cúi đầu đến bên cạnh tôi: “Hay là vẫn sang bên đối diện
nhé?”
“Ừm, được thôi.”
Chúng tôi đi qua đường, bước vào quán trà nhỏ.
Sau khi ngồi xuống, cô ấy tỏ ra vẻ bình thường nói: “Trong
truyện anh, anh viết chính là chỗ này sao?”
“Cái gì?”
“Trong truyện ‘Hoang thôn,’ sau lần đầu tiên anh và Tiểu Chi
gặp nhau, anh đã đưa cô ta tới một quán trà nhỏ gần ga tàu điện ngầm và đề nghị
cô ấy đưa mình tới Hoang thôn.”
“Đúng, tuy là những nội dung này đều là hư cấu, nhưng quán
trà nhỏ này lại là thật, thực tế là tôi thường xuyên tới đây, nhưng từ trước
tới nay không hề chú ý tới cô ở đối diện.” Nói xong, tôi nhìn sang bên kia
đường.
Cửa hàng kem bên đấy hiện giờ người đang xếp hàng dài trước
quầy.
“Tôi tháng trước mới đến làm thuê ở đấy.”
“Xem ra chắc là cô vẫn đang đi học? Trường nào vậy?”
Cô ta úp mở: “Thôi đi. Nhưng tôi sẽ không nói cho anh biết
tôi học trường nào đâu.”
“Cô rốt cuộc là ai?”
“Cái này có quan trọng
không?” Cô ta lảng tránh ánh mắt tôi.
“Được rồi, mặc cô
không chịu nói, vậy thì tôi sẽ thay bằng một câu hỏi khác, cô thực sự biết
chuyện ở Hoang thôn? Hay đó đều chỉ là hoang tưởng của cô?”
“Đương nhiên không
phải.” Biểu hiện của cô ta chuyển hướng nghiêm túc lạ thường. “Tôi thề, mỗi câu
nói liên quan tới Hoang thôn của tôi đều là sự thật. Hoang thôn, không phải ai
cũng đùa cợt được.”
Câu cuối cùng của cô
ấy khiến tôi cũng phải thừa nhận, tôi lập tức cũng trở nên nghiêm túc: “Thế thì
mong cô hãy nói về miệng giếng ở Hoang thôn, rốt cuộc đấy là hoang tưởng của cô
sau khi đọc truyện hay là nghe đồn phong phanh thế?”
"Anh thật sự nhìn
thấy miệng giếng đó rồi?”
"Đương nhiên nhìn
thấy rồi, chính tại sân đằng sau của ngôi nhà cổ Tiến Sĩ Đệ. Nhưng tôi cảm thấy
miệng giếng đó có một mùi rất đặc biệt, tôi không dám viết vào trong truyện.”
“Mùi đặc biệt?”
“Đúng thế, khi tôi đối
diện với miệng giếng này, tôi lập túc cảm thấy rất buồn nôn, ngoài việc ngửi
thấy mùi đặc biệt đó, hình như tôi còn nghe thấy một âm thanh rất kì quái.”
Tôi đột nhiên nhớ ra
gì đó, lập tức câm nín, những câu này sao lại có thể nói trước mặt cô ta nhỉ?
Cô ta nhìn xoáy vào mắt
tôi, có vẻ như là đang chờ đợi tôi nói tiếp, nhưng tôi không tiếp lời. Sau giây
phút bế tắc, cô ta rốt cuộc chậm rãi nói: “Tôi biết đấy là mùi đặc biệt gì rồi,
mùi người chết.”
Tức khắc, lời của cô
ta như băng giá đâm vào lòng tôi, khiến tim tôi bất giác loạn nhịp, đập thình
thịch liên hồi. Tôi lắc đầu nói: “Cô lại cố ý hù dọa tôi đấy à?”
Cô ta lắc đầu, lạnh
lùng lạ thường: “Bây giờ để tôi nói với anh bí mật của miệng giếng đó.”
“Bí mật giếng cổ?”
Nhiếp Tiểu Sảnh gật
đầu nhấp môi một ngụm trà, rủ rỉ rù rì kể: ‘Vào cuối thời nhà Thanh, tuy Hoang
thôn vốn là vùng đất cằn cỗi, nhưng gia tộc Âu Dương lại buôn lậu bằng đường
biển và trở thành gia tộc giàu có nhất Hoang thôn. Gia tộc Âu Dương sống cuộc
sống xa hoa quý tộc trong ngôi nhà cổ Tiến Sĩ Đệ, ba dãy nhà trước sau đều
trang hoàng cao sang quý phái, tại vùng Hoang thôn này thì đây chẳng khác gì
một cung điện. Sân sau của ngôi nhà cổ Tiến Sĩ Đệ trước đây là một vườn hoa
nhỏ, bên trong trồng toàn những cây cối và hoa cỏ quý hiếm, trên mặt đất là
những con đường nhỏ rải bằng đá trứng ngỗng, giữa những lùm hoa cỏ lá có những
hòn đá gia sơn Thái Hồ, hàng năm vào những lúc giá lạnh nhất, cây hoa mai trong
vườn lại lặng lẽ bung nở.”
“Hoa mai?” Theo lời
tường thuật nhẹ nhàng của cô ta, trước mắt tôi dường như đang dần hiện lên cảnh
tượng của sân sau ngôi nhà cổ Tiến Sĩ Đệ.
“Anh đã nhìn thấy hoa
mai nở chưa?”
“Thấy rồi. Tôi nhìn
thấy trong sân đằng sau ngôi nhà cổ, đấy vốn dĩ không phải là vườn hoa nhỏ mà
cô miêu tả mà chỉ là một cái sân hoang dại thê lương. Miệng giếng cổ nằm chính
giữa sân, bên cạnh giếng là một cây hoa mai, vẫn còn một vài cánh hoa rơi rụng
trên miệng giếng. Có lẽ là do trùng hợp, tôi đến Hoang thôn đúng vào lúc trời
lạnh nhất, cây hoa mai đó dường như đợi tôi đến. Cảm giác đó thật kì lạ, trong
sân nhỏ hoang vắng của ngôi nhà cổ, chỉ có một miệng giếng và một cây hoa mai,
giống như cảnh tượng của một thời khắc khác.”
“Một thời khắc khác?”
Cô ta ngẫm nghĩ rồi gật đầu: “Ví von này của anh rất hay, vậy thì hãy nói về
Hoang thôn của một thời khắc khác nhé. Đầu năm Dân quốc, ông lớn của gia đình Âu
Dương đã ngoài bốn mươi tuổi, nhưng mãi vẫn chưa có người thừa kế. Lúc đó gia
đình Âu Dương vốn đơn truyền, một đời chỉ có duy nhất một người con trai, ông
lớn cũng không có anh em trai, gia tộc lâu đời này đứng trước nguy cơ đứt đoạn hương
khói. Tuy nhiên, việc buôn bán của gia đình Âu Dương buôn may bán đắt, nghiễm
nhiên là vua một vùng Hoang thôn, nhưng ông lớn Âu Dương không sao vui vẻ nổi,
kết hôn đã bao năm nhưng bà vợ mãi vẫn chưa mang bầu, ngày ngày đầm đìa nước
mắt. Để kế tục huyết mạch cho gia tộc Âu Dương, bà vợ cuối cùng đã nghĩ ra một
cách: thế vợ.”
“Tôi nhớ ra rồi, tôi
đã xem cuốn tiểu thuyết “Vì người mẹ nô lệ” của Nhu Thạch.” Phút chốc, những
câu chữ trong sách hiện lên trước mắt tôi, tôi chau mày nhớ lại cuốn tiểu
thuyết bi thảm. Những năm Dân quốc, vùng nông thôn phía đông Chiết Giang có một
thiếu phụ bất hạnh, chồng bà cờ bạc rượu chè, con trai Xuân Bảo bị bệnh lâu
ngày không khỏi, người chồng đã vì một trăm đồng tiền tây đem vợ cho một lão
học giả khát con trai “thuê.” Thiếu phụ sinh hạ cho lão học giả một thằng con
trai, đặt tên là Thu Bảo, lão học giả cũng rất thích thiếu phụ này, nhưng vợ cả
của lão học giả không cho phép giữ cô ta lại. Thiếu phụ chỉ có thể cô độc trở
về với người chồng khiếp nhược, ôm lấy con trai Xuân Bảo đau ốm vật vờ sống qua
những đêm dài…
Nhưng tôi vẫn lắc lắc
đầu: “Nhưng cái này có liên qua gì tới Hoang thôn?”
Cô ta lạnh lùng thốt
ra hai chữ: “Vợ thế.”
“Cô nói cái gì?”
“Truyện ‘Vì người mẹ nô
lệ’ nói về phong tục ‘thế vợ,’ theo một giá nhất định đem vợ cho người khác
thuê, sau khi hết hạn thuê sẽ trả lại vợ cho người chồng trước đây. Nhu Thạch
là người vùng ven biển đông bộ Chiết Giang, lúc đó ‘thế vợ’ là tập tục thịnh
hành tại vùng ven biển Chiết Giang.”
“Hoang thôn cũng là
ven biển Chiết Giang, tôi đã hiểu ý cô rồi, năm đó Hoang thôn cũng thịnh hành
phong tục ‘thế vợ’ quái ác này sao?”
Cô ta gật đầu: “Đúng,
năm đó ông lớn Âu Dương và bà cả vì để tiếp nối hương khói của gia tộc bèn chọn
ra một đôi vợ chồng nông dân nghèo ở Hoang thôn. Đôi vợ chồng đó có một đứa con
trai khỏe mạnh, nhưng người chồng ốm yếu bệnh tật, người vợ trẻ vất vả lo toan
mọi việc trong nhà. Ông lớn Âu Dương bỏ ra tám mươi đồng tiền tây, và người
thiếu phụ đó đã trở thành ‘vợ thế’ của ông ấy, thời gian thuê là ba năm. Người
thiếu phụ này được đưa tới ngôi nhà cổ Tiến Sĩ Đệ, ngay đêm bước vào cửa là đã
phải hầu hạ chăn gối cho lão gia. ‘Vợ thế’ tuy sinh ra trong một gia đình nghèo
khó, nhưng cũng có chút vốn nhan sắc trời phú, đẹp hơn rất nhiều so với bà cả
trát phấn tô son đậm đà, bởi vậy ‘vợ thế’ rất được lão gia yêu thích. Một năm
sau, ‘vợ thế’ quả nhiên sinh cho lão gia một cậu con trai, gia tộc Âu Dương rốt
cuộc cũng đã có người nối dõi.”
“Cổ nhân nói: mẹ hưởng
phú quý nhờ con. Bà ‘vợ thế’ này nhất định sẽ được sống những ngày tháng tốt
đẹp.”
“Làm gì có chuyện đó,
sau khi sinh được con trai, bà cả liền trở mặt với ‘vợ thế,’ thường xuyên đánh
đập cô ta, lão gia Âu Dương vốn sợ vợ nên cũng không dám bảo vệ ‘vợ thế.’ Thời
gian thuê là ba năm, ‘vợ thế’ vẫn còn ở lại trong Tiến Sĩ Đệ, bà rất nhớ chồng
và con trai mình, nhưng lão gia lại không cho phép bà gặp mặt họ, ‘vợ thế’ bị
nhốt trong sân sau của Tiến Sĩ Đệ, sống cuộc sống chẳng khác gì nô lệ. Bà bắt
đầu nguyền rủa ngôi nhà cổ này, nguyền rủa gia tộc Âu Dương đã đem khổ nạn tới
cho mình, đã mấy lần bà muốn trốn thoát khỏi Tiến Sĩ Đệ nhưng cuối cùng đều
thất bại, lần nào cũng bị đánh đập thương tích đầy mình.”
Nghe đến đây, tôi bất
giác thở dài: “Xem ra, bà ta còn thảm hơn cả ‘vợ thế’ trong tiểu thuyết.”
“Đúng vậy, sau đó rốt
cuộc tới một ngày, bà ta trốn thoát được khỏi Tiến Sĩ Đệ, tìm thấy chồng và con
trai trước đây, họ muốn cùng nhau trốn thoát khỏi Hoang thôn, đi tìm tự do ở
thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, thế lực gia đình Âu Dương ở Hoang thôn rất lớn
mạnh, sao có thể dễ dàng để cho ‘vợ thế’ tháo chạy như vậy. Chẳng mấy chốc, họ
đã bị gia đình Âu Dương tóm gọn trên ngọn núi gần đó, người chồng đáng thương
bị đánh què chân, còn ‘vợ thế’ bị áp giải về Tiến Sĩ Đệ. Bà cả từ trước vốn đã
soi mói ‘vợ thế,’ cho rằng ‘vợ thế’ đã không trung thành với gia đình Âu Dương
trong thời gian được thuê, Hoang thôn vốn là một vùng đất bảo thủ lạc hậu, tự
đặt ra hình phạt dìm xuống giếng để trừng phạt những người đàn bà bất trung.
“Dìm giếng?”
"Mặc cho lão gia Âu
Dương có chút không nỡ, nhưng bà cả vốn từ lâu đã mất hết nhân tính, sai người
trói chặt tay chân rồi áp giải ‘vợ thế’ tới sân sau, sau đó tự tay mình đẩy bà
ta xuống giếng cổ!”
“Trời ơi!”
Đột nhiên, tôi dường
như nghe thấy tiếng nước chảy, nước giếng bắn tung tóe lên thành giếng ẩm ướt, sau
đó là một màu đen vĩnh cữu… Tôi ôm lấy ngực mình, mãi không thốt nổi nên lời.
“Anh sao thế?” Đôi mắt
ngời sáng của cô ta kề lại gần tôi chút nữa.
“Không sao cả, chỉ là
câu chuyện mà cô kể bi thảm quá, tôi nghe mà thấy tức ngực.”
Cô ta bỗng nhiên cười
lạnh lùng mỉa mai: “Anh không phải nhà văn sao? Viết bao nhiêu là truyện kinh
dị, bao nhiêu là truyện bi thảm như thế, sao lại sợ cái này chứ?”
“Tôi chẳng hiểu thế
nào nữa, chắc tại tôi là người đa sầu đa cảm.” Tôi lắc lắc đầu, cười đau khổ.
“Được rồi, về bí mật
của miệng giếng cổ ở Hoang thôn tôi đã nói với anh rồi đấy.”
“Thế sau này thì sao?
Miệng giếng đó không bao giờ dùng nữa sao?”
“Giếng dìm chết người
thì có người nào dám uống nước trong đó không? Không chỉ là miệng giếng đó, đến
cả vườn hoa nhỏ ở sân sau cũng chẳng ai dám đến, người ta truyền nhau, linh hồn
chết oan của bà ‘vợ thế’ đó không siêu thoát, ban đêm thường xuyên kêu khóc ở
vườn hoa.”
“Thế nên vườn hoa ở
sân sau dần dần trở nên hoang tàn, chỉ còn sót lại miệng giếng và cây hoa mai.”
Bỗng nhiên, tôi nhớ đến một vật gì đó rất khủng khiếp. “Thảo nào, cây hoa mai
đó nở rộ và tươi đẹp một cách khác thường, nguyên nhân là do ‘vợ thế’ dưới đáy
giếng.”
Nói đến đây, bản thân
tôi cũng có chút sợ hãi.
“Đừng có đa sầu đa cảm
quá, bây giờ anh đã tin tôi rồi chứ?”
“Đây chính là bí mật
của Hoang thôn?”
“Đương nhiên không
phải, đây chỉ là một phần nhỏ của bí mật. Đối với những người như chúng ta mà
nói, Hoang thôn vĩnh viễn là một câu đố.”
“Ý cô bảo: Hoang thôn
vẫn còn có rất nhiều bí mật quan trọng khác nữa?”
Cô ta trịnh trọng gật
đầu: “Anh vĩnh viễn không bao giờ có thể tưởng tượng nổi, bí mật của Hoang thôn
đáng sợ tới mức nào.”
Tôi bán tín bán nghi
hỏi: “Thật sự đáng sợ thế nào?”
Cô ta nhìn chằm chằm
vào mắt tôi một lúc, đột nhiên đứng phắt dậy: “Xin lỗi, tôi phải đi đây.”
“Nhưng cô vẫn chưa trả
lời câu hỏi của tôi cơ mà?” Tôi có chút bất ngờ.
“Đợi lần sau nhé, tôi
sẽ trả lời tất cả các câu hỏi của anh.” Cô ta miệng nói còn chân thì đã bước ra
tới cửa quán trà.
“Hôm nay thật sự muộn
quá rồi, tôi phải về nhà đây.”
Trên đường Thiểm Tây
Nam, cách đó không xa, đường Hoài Hải vẫn đèn hoa sáng trưng, chiếu sáng khuôn
mặt của Nhiếp Tiểu Sảnh.
Rốt cuộc, tôi đã không
kìm nén được gọi một tiếng: “Tiểu Sảnh.”
Cô ta quay đầu lại,
nhìn tôi bằng ánh mắt hết sức kì quái.
“Xin lỗi, tôi có thể
gọi cô như vậy không?”
Cô ấy ngừng lại một
lúc lâu sau mới nói: “Đương nhiên có thể.”
“Cô sống ở đâu? Tôi
đưa cô về nhé.”
“Đừng, nhất định không
được…,” lời nói của cô ta bỗng nhiên đứt đoạn, hình như là nhớ ra điều gì đó,
“Nhớ kĩ, tối nay không được nghe điện thoại.”
“Ý cô là gì?”
Nhưng Tiểu Sảnh không
trả lời, cô vội vàng len vào dòng người đang đi trên phố, chẳng mấy chốc chìm
nghỉm giữa nam thanh nữ tú trên đường Hoài Hải.
Tôi không thể nhìn
thấy cô nữa, một mình đứng ven đường, cơn gió đêm lành lạnh thổi qua bất giác
khiến tôi nhớ lại câu chuyện “vợ thế.”
Trên đường về nhà, tôi
hồi tưởng đi hồi tưởng lại câu nói của Tiểu Sảnh, còn cả hình ảnh của miệng
giếng đó nữa. Không, có lẽ đấy chỉ là do cô ấy tưởng tượng ra, có thể là do cô
ta sau khi xem xong truyện ngắn Hoang thôn của tôi đã liên tưởng tới tiểu
thuyết của Nhu Thạch rồi đem tình tiết của “Vì người mẹ nô lệ” đặt vào hoàn
cảnh của Hoang thôn và Tiến Sĩ Đệ, thêu dệt nên câu chuyện đáng sợ về Hoang
thôn và "vợ thế.”
Nhưng miệng giếng đó
thật sự tồn tại mà? Còn cả cây hoa mai đó nữa, tôi chưa từng nói với bất kì ai.
Hơn nữa, ánh mắt cô ta nói cho tôi biết, từng câu cô ta nói đều rất chân thật,
dáng vẻ của cô ấy thật sự không giống kẻ quấy rối.
Không, tôi không nên
bị vẻ ngoài của cô ta lừa dối, có trời mới biết được cô ta có thể nói những gì?
Cỏ đường suy nghĩ mông
lung, cuối cùng cũng về được đến nhà. Đã không còn sớm nữa, tôi thấy mình vô
cùng mệt mỏi, chưa kịp bật máy tính tôi đã đi ngủ.
Dù là ngủ trên giường
nhưng tôi vẫn cảm thấy thấp thỏm bất an, trằn trọc trở mình mãi vẫn chưa ngủ
được. Không biết bao lâu sau tôi thấy mình càng lúc càng khó chịu, trong lòng
âm thầm đếm cừu.
Một con cừu, hai con
cừu… một trăm con cừu…
Điện thoại đột ngột đổ
chuông!
Tôi theo phản xạ bật
dậy khỏi giường, trong đêm tối tôi mở to mắt, hình như nhìn thấy vật gì đó. Lúc
này tôi mới định thần lại, trong tức khắc tất cả số cừu đều biến mất, chỉ còn
lại tiếng chuông điện thoại vang vọng bên tai.
“Đêm nay không được
nghe điện thoại.”
Đột nhiên, tôi nhớ lại
câu nói cuối cùng của cô ta trước khi tạm biệt, chắc không phải là điện thoại
của cô ta gọi tới đâu nhỉ?
Nghĩ tới đây, tôi lập
tức nghe máy: “Tiểu Sảnh, là cô à?”
Nhưng tôi không thể
ngờ tới, trong điện thoại truyền lại một giọng nam.
“Không, tôi là Hoắc
Cường.”
“Hoắc Cường?” Là chàng
sinh viên tới Hoang thôn, nghe thấy cái tên này, bản nửa tim tôi cũng lập tức
lạnh toát, nhưng tôi vẫn cố ý trấn tĩnh hỏi: “Các cậu ở đâu?”
“Bọn tôi đã về Thượng
Hải rồi?”
“Về sớm thế sao?”
Tin này khiến tôi vô
cùng bất ngờ, họ đã trở về Thượng Hải rồi, tôi đáng nhẽ ra phải cảm thấy vui
mừng thay họ mới đúng, nhưng tôi lại không thốt ra được bất cứ câu hỏi vui vẻ
nào.
“Đúng thế, chúng tôi
đang xuống xe ở bến xe khách đường Hán Trung, bây giờ chuẩn bị ngồi xe về
trường học.”
Tôi nghe thấy có rất
nhiều tiếng còi xe trong điện thoại, chắc là đang ở bến xe thật.
“Bốn người các cậu đều
không có chuyện gì chứ?”
Hoắc Cường trầm ngâm
một lúc mới chậm rãi nói: “Không… không việc gì, mọi người đều rất bình an.”
Trái tim treo ngược rốt
cuộc cũng được hạ xuống, tôi thốt ra một câu mà nhẹ cả người: “Bình an thì tốt
rồi, tôi đã khuyên các cậu về sớm. Được rồi, bây giờ về trường nhanh đi.”
Đối phương im lặng,
tôi chỉ nghe thấy tiếng người và tiếng xe cộ ồn ào.
Tim tôi đột nhiên co
thắt lại: “Alô, các cậu sao thế? Nói gì đi chứ?”
Nhưng trong điện thoại
vẫn không có hồi âm, tôi chờ đợi mấy phút rồi ngắt máy.
Kì lạ, sao đằng sau
lưng lại chảy bao nhiêu là mồ hôi?
Trong bóng tối, tôi mò
mẫm bật đèn, bảy giờ là mười hai giờ đêm. Tức là bốn sinh viên đó đã đi cả đêm
từ Hoang thôn để về Thượng Hải.
Tôi thở một hơi thật
dài, bỗng nhiên nhớ tới Tiểu Sảnh, cô ta nói đêm nay không được nghe điện
thoại, chắc là nói về cú điện thoại này, nhưng tại sao Tiểu Sảnh lại biết được?
Tôi lắc lắc đầu, thật
là không cách nào có thể giải thích nổi. Tôi lại tắt đèn nằm xuống.
Cầu cho tất cả bọn họ
đều bình an.

