Hỏa ngục - Chương 084 + 085
Chương 84
Đêm đã buông xuống cố đô
Byzantine.
Suốt dọc bờ biển Marmara,
những ngọn đèn pha nhấp nháy chiếu sáng, soi tỏ đường chân trời với những giáo
đường sáng đèn và những ngọn tháp mảnh mai. Lúc này là giờ aksam – giờ hành lễ
tối, và những chiếc loa phóng thanh bố trí khắp thành phố đang ngân vang lên
tiếng adhãn, lời mời gọi đến cầu nguyện.
La-ilaha-illa-Allah.
Không có thần thánh nào ngoài
Đức Thánh.
Trong khi các tín đồ hối hả
tới các giáo đường thì bộ phận còn lại của thành phố vẫn tiếp tục mọi việc mà
chẳng hề bận tâm: Đám sinh viên đại học tiếp tục uống bia, giới doanh nhân chốt
lại những thỏa thuận làm ăn, những nhà buôn rạp bán gia vị và thảm, còn khách
du lịch thì ngỡ ngàng nhìn ngắm tất cả.
Đây là một thế giới bị chia
rẽ, một thành phố của những đối nghịch – tôn giáo và thế tục, cổ xưa và hiện
đại, phương Đông và phương Tây. Với biên giới địa lý trải ra giữa châu Âu và
châu Á, thành phố không chịu ảnh hưởng của thời gian này đúng là cây cầu từ Cựu
Thế giới, nổi sang một thế giới thậm chí còn xưa cũ hơn nữa.
Istanbul.
Mặc dù không còn là thủ đô
của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng trong nhiều thế kỷ, nơi đây là tâm điểm của ba đế chế
tách biệt – Byzantine, La Mã và Ottoman. Vì lý do này, Istanbul vẫn được xem là
một trong những địa điểm có lịch sử phong phú nhất trên trái đất. Từ cung điện
Topkapi cho đến Giáo đường Xanh hay lâu đài Bảy ngọn tháp, thành phố này có vô
số câu chuyện dân gian về các trận đánh, niềm vinh quang và cả thất bại.
Tối nay, tít cao trên bầu
trời đêm phía trên những đám đông náo nhiệt của thành phố, một chiếc máy bay
vận tải C-130 đang hạ thấp dần qua một vùng biên bão đang hình thành, tiếp cận
sân bay Ataturk. Trong khoang lái, Robert Langdon ngồi chắc chắn trong chiếc
ghế phụ lật phía sau phi công, nhìn qua kính chắn gió, cảm thấy nhẹ nhõm vì anh
được dành một ghế ngồi có thể nhìn ra ngoài.
Sau khi được ăn một chút và
ngủ gà gật ở phía cuối máy bay trong gần một tiếng nghỉ ngơi quý giá, Langdon
đã phần nào tỉnh táo trở lại.
Lúc này, ở phía bên phải,
Langdon nhìn rõ những ánh đèn của Istanbul, một bán đảo lấp lánh ánh sáng hình
chiếc sừng nhô ra vùng đen thẫm của biển Marmara. Đây là phần phía châu Âu,
tách biệt với phần châu Á bằng một dải tối chạy ngoằn nghoèo.
Thủy lộ Bosporus.
Mới nhìn qua, Bosporus có vẻ
chỉ là một dòng nước rộng chia tách Istanbul làm đôi. Nhưng thực tế, Langdon
biết con kênh này chính là huyết mạch thương mại của Istanbul. Bên cạnh việc
cung cấp cho thành phố hai đường bờ biển thay vì chỉ có một, kênh Bosporus còn
giúp tàu bè đi từ Địa Trung Hải vào Hắc Hải, cho phép Istanbul trở thành một
trạm dừng giữa hai thế giới.
Khi máy bay hạ thấp qua một
lớp sương mờ, Langdon dõi mắt nhìn về thành phố phía xa, cố xác định vị trí tòa
nhà đồ sộ mà họ đang tìm kiếm.
Vị trí phần mộ của Enrico
Dandolo.
Hóa ra Enrico Dandolo – vị
tổng chấn bội bạc của Venice – lại không được an táng ở Venice, thay vào đó,
hài cốt của ông ta được chôn ngay chính giữa pháo đài mà ông ta chinh phục được
năm 1202 – thành phố trải dài bên dưới họ. Rất thích hợp là Dandolo lại yên
nghỉ trong ngôi đền kỳ vĩ nhất ở thành phố này – một công trình cho đến ngày
hôm nay vẫn là báu vật của cả vùng.
Hagia Sophia.
Được xây dựng vào năm 360 sau
Công nguyên, Hagia Sophia tùng là một thánh đường Chính thống giáo phương Đông
cho tới tận năm 1204. Khi Enrico Dandolo chiếm được thành phố và biến nó thành
một nhà thờ Thiên Chúa giáo vào cuộc Thập tự chinh lần thứ tư. Sau đó, vào thế
kỷ XV, sau khi Fatih Sultan Mehmed chiếm được Constantinople, nó trở thành một
giáo đường Hồi giáo, và vẫn là nơi thờ nguyện của đạo Hồi cho tới năm 1935, khi
tòa nhà được thế tục hóa và trở thành một bảo tàng.
Tòa bảo quán mạ vàng của tri
thức thánh thiêng, Langdon thầm nghĩ.
Hagia Sophia không chỉ được
trang hoàng bằng số gạch lát vàng nhiều hơn cả thánh đường St. Mark mà tên gọi
của nó – Hagia Sophia – theo đúng nghĩa đen cũng là “Tri thức thánh thiêng”.
Langdon hình dung ra tòa nhà
đồ sộ, cố gắng nghĩ về thực tế rằng đâu đó bên dưới nó, có cái dầm tối tăm chứa
một chiếc túi đang dập dờn trong nước, từ từ tan dần và chuẩn bị giải phóng
những gì đựng bên trong.
Langdon cầu mong họ không đến
quá muộn.
“Những tầng dưới của tòa nhà
đã bị ngập”, Sinskey đã nói trước đó trong lúc bay, phấn chấn ra hiệu cho
Langdon theo bà trở lại khu vực làm việc. “Anh sẽ không thể tin nổi những gì
chúng tôi phát hiện ra đâu. Anh đã bao giờ nghe nói về một đạo diễn phim tài
liệu tên là Goksel Gulensoy chưa?”
Langdon lắc đầu.
“Trong lúc nghiên cứu về
Hagia Sophia”, Sinskey giải thích, “tôi phát hiện ra rằng đã có một bộ phim
được làm về địa diểm này. Một phim tài liệu do Gulensoy thực hiện vài năm
trước”.
“Có hàng chục bộ phim đã được
làm về Hagia Sophia.”
“Đúng”, bà nói lúc đến khu vực
làm việc của mình, “nhưng không có bộ phim nào như thế này”. Bà xoay máy tính
của mình để anh có thể nhìn rõ. “ Hãy đọc nội dung này đi.”
Langdon ngồi xuống và xem bài
viết – một bài tổng hợp từ vài nguồn tin thời sự khác nhau, trong đó có tờ
Hurriyet Daily News, nói về bộ phim mới nhất của Gulensoy: Dưới những tầng sâu
của Hagia Sophia.
Lúc bắt đầu đọc, Langdon lập
tức nhận ra tại sao Sinskey lại phấn khích đến vậy. Chỉ mấy từ đầu tiên đã làm
cho Langdon phải ngước lên nhìn bà đầy ngạc nhiên. Lặn bằng bình khí?
“Tôi biết”, bà ấy nói. “Cứ
đọc đi.”
“LẶN BẰNG BÌNH KHÍ BÊN DƯỚI
HAGIA SOPHIA: Nhà làm phim tài liệu Goksel Gulensoy và đội thám hiểm lặn bình
khí của ông đã xác định được vị trí những bồn trũng ngập nước nằm sâu hàng trăm
sải bên dưới công trình tôn giáo thu hút nhiều du khách của Istanbul.
Trong quá trình ấy, họ đã
phát hiện ra nhiều kỳ quan kiến trúc, trong đó có những mộ phần chìm dưới nước
có tuổi đời đã tám trăm năm của các trẻ em tử đạo, cũng như những đường hầm
chìm nổi Hagia Sophia với Cung điện Topkapi, Cung điện Tekfur, và những không
gian mở rộng dưới lồng đất của nhà ngục Anemas người ta vẫn đồn đại bấy lâu
nay.
“Tôi tin những gì bên dưới
Hagia Sophia còn thú vị hơn cả những gì nổi trên bề mặt”, Gulensoy giải thích,
mô tả rõ anh lấy cảm hứng để làm bộ phim sau khi nhìn thấy một bức ảnh cũ chụp
các nhà nghiên cứu đang khảo sát phần móng của Hagia Sophia bằng thuyền, bơi
qua một đại sảnh bị ngập một phần dưới nước”.
“Rõ ràng anh đã tìm đúng tòa
nhà rồi!”, Sinskey kêu lên. “Và có vẻ như những không gian lớn bơi thuyền được
ở bên dưới tòa nhà đó, nhiều chỗ có thể tiếp cận được mà không cần thiết bị lặn
bình… Điều đó có thể giải thích cho những gì chúng ta thấy trong đoạn video của
Zobrist”.
Đặc vụ Brüder đứng phía sau
họ, nghiên cứu màn hình máy tính, “Cũng có vẻ như bên dưới tòa nhà có những
thủy lộ tỏa ra ngoài tới mọi khu vực khác. Nếu túi Solublon đó bị tan trước khi
chúng ta đến thì sẽ không có cách gì ngăn được những thứ chứa bên trong loang
rộng ra.”
“Thứ bên trong…”, Langdon
đánh bạo, “Các vị có ý kiến gì về nó không? Ý tôi là đích xác ấy? Tôi biết
chúng ta đang phải giải quyết một thứ bệnh dịch, nhưng…”
“Chúng tôi đang phân tích
đoạn phim”, Brüder nói, “gợi ý rằng thực tế thứ đó là sinh học chứ không phải
hóa học… nói thế tức là một thứ gì đó sống. Nếu xét số lượng ít ỏi trong cái
túi thì chúng tôi cho rằng nó có khả năng lây nhiễm rất cao và có khả năng sinh
sôi nảy nở. Chúng tôi chưa dám chắc đó là một loại dịch bệnh dựa vào nước giống
như một loại vi khuẩn, hay nó có khả năng lan truyền trong không khí như một
loại vi rút khi được giải phóng, nhưng khả năng nào cũng có thể xảy ra”.
Sinskey nói, “Giờ chúng ta
đang thu thập dữ liệu về nhiệt độ nước ngầm trong khu vực, cố gắng đánh giá xem
những loại chất truyền nhiễm nào có thể phát triển mạnh trong các khu vực dưới
lòng đất đó, nhưng Zobrist là người vô cùng tài năng và có thể dễ dàng tạo ra
thứ gì đó có những khả năng độc nhất vô nhị. Và tôi dám chắc rằng Zobrist chọn
địa điểm này là có lý do”.
Brüder gật đầu rồi nhanh nhẹn
trình bày tiếp đánh giá của anh ta về cơ chế phát tán khác thường của cái túi
Solublon chìm dưới nước. Và tất cả bọn họ chỉ mới bắt đầu nhận ra sự tài tình đơn
giản của nó mà thôi. Bằng cách để cho cái túi ở dưới nước và ngâm trong lòng
đất, Zobrist đã tạo ra một môi trường ủ bệnh cực kỳ ổn định: Nơi có nhiệt độ
nước không đổi, không có bức xạ mặt trời, có lớp đệm động lực học, và hoàn toàn
kín đáo. Bằng cách chọn một cái túi có độ bền đúng mức, Zobrist có thể để mặc
thứ bệnh dịch ấy sinh trưởng trong một khoảng thời gian nhất định mà không cần
trông coi trước khi nó tự giải thoát đúng hạn định.
Kể cả khi Zobrist không bao
giờ quay trở lại nơi đó nữa.
Cú xóc bất ngờ khi máy bay
tiếp đất làm Langdon chúi trở lại ghế phụ của mình trong khoang lái. Phi công
đạp mạnh phanh và sau đó cho máy bay dừng hẳn lại một nhà chứa khá cách biệt.
Langdon hy vọng sẽ được đón
chào bởi cả một đội quân nhân viên WHO trong trang phục phòng dịch. Nhưng lạ
thay, người duy nhất đợi họ đến lại là tài xế một chiếc xe thùng màu trắng lớn,
mang biểu trưng là một chữ thập cân đối màu đỏ tươi.
Chữ thập đỏ ở đây sao?
Langdon nhìn lại, nhận ra còn một chủ thể nữa cũng sử dụng chữ thập đỏ. Đại sứ
quán Thụy Sĩ.
Anh tháo khóa ghế ngồi và tìm
kiếm Sinskey khi mọi người chuẩn bị rời máy bay. “Mọi người đâu cả rồi?”,
Langdon hỏi, “Nhóm WHO ấy? Rồi cả cơ quan chức năng Thổ Nhĩ Kỳ nữa? Không nhẽ
tất cả đều đã đến Hagia Sophia rồi sao?”.
Sinskey nhìn anh lo lắng.
“Thực ra”, bà giải thích, “chúng tôi quyết định không đánh động giới chức địa
phương. Chúng ta đã có nhóm SRS cừ nhất của Trung tâm Ngăn ngừa và Kiếm soát
dịch bệnh châu Âu đi cùng rồi, và có vẻ giữ kín nhiệm vụ này một thời gian thì
tốt hơn là tạo ra một cơn hoảng loạn có khả năng lan rộng”.
Gần đó, Langdon nhìn thấy Brüder
cùng nhóm của anh ta đang kéo khóa những chiếc túi đen có chứa đầy đủ các dụng
cụ đối phó với độc chất – quần áo chống khuẩn, mặt nạ phòng độc, và cả thiết bị
dò tìm điện tử.
Brüder xốc túi của mình lên
vai và bước lại. “Chúng tôi sẽ thử. Chúng tôi sẽ vào trong tòa nhà, tìm mộ của
Dandolo, nghe tiếng nước như bài thơ gợi ý, sau đó sẽ đánh giá lại và quyết
định xem liệu có nên gọi những đơn vị chức năng khác đến hỗ trợ không.”
Langdon nhìn ra kế hoạch có
vấn đề. “Hagia Sophia sẽ đóng cửa vào buổi chiều, cho nên nếu không có giới
chức địa phương, chúng ta không thể vào trong được.”
“Không sao đâu”, Sinskey nói.
“Tôi có một đầu mối liên lạc trong sứ quán Thụy Sĩ. Người đó dã liên lạc với
người phụ trách Bảo tàng Hagia Sophia và đề nghị một cuộc tham quan riêng hạng
VIP ngay khi chúng ta đến nơi. Người phụ trách đã đồng ý rồi.”
Langdon gần như cười phá lên.
“Một chuyến tham quan hạng VIP cho giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới sao? Và cả
một đội quân mang theo đồ nghề ứng phó với độc chất nữa à? Các vị không nghĩ
điều đó có thể khiến một vài người thắc mắc sao?”
“Đội SRS và đồ nghề sẽ ở
nguyên trong xe trong khi Brüder, anh và tôi đánh giá tình hình”, Sinskey nói.
“Thêm nữa, để cho thật chính xác, tôi không phải là VIP. Chính anh đấy.”
“Bà nói sao cơ?”
“Chúng tôi đã nói với bảo
tàng rằng có một vị giáo sư Mỹ nổi tiếng bay tới cùng một nhóm nghiên cứu để
viết bài về những biểu tượng của Hagia Sophia, nhưng máy bay của họ bị trễ năm
tiếng và anh ta lỡ mất giờ tới tham quan tòa nhà. Vì anh ta cùng nhóm của mình
sẽ đi ngay vào sáng mai nên chúng tôi hy vọng…”
“Được rồi”, Langdon nói. “Tôi
hiểu ý rồi.”
“Bảo tàng đang cử một nhân
viên tới đó để gặp riêng chúng ta. Quả nhiên, anh ta là người rất hâm mộ những
bài viết của anh về nghệ thuật Hồi giáo”. Sinskey mỉm cười mỏi mệt với anh, rõ
ràng đang cố tỏ ra lạc quan. “ Chúng ta được đảm bảo rằng anh có thể tiếp cận
tất cả ngóc ngách của tòa nhà.”
“Và quan trọng hơn”, Brüder
nói, “sẽ chỉ có chúng ta làm chủ toàn bộ không gian đó”.
Chương 85
Robert Langdon trân trân nhìn
ra ngoài cửa sổ chiếc xe thùng khi nó lao vùn vụt dọc theo xa lộ kề bên bờ nước
nối sân bay Ataturk với trung tâm của Istanbul. Các quan chức Thụy Sĩ bằng cách
nào đó đã giúp cho thủ tục hải quan dễ dàng, và Langdon, Sinskey cùng những
thàng viên khác trong nhóm đã lên đường chỉ trong vài phút.
Sinskey ra lệnh cho Thị
trưởng và Ferris ở lại trên chiếc C-130 cùng với vài nhân viên WHO và tiếp tục
truy tìm dấu vết của Sienna Brooks.
Mặc dù không tin Sienna có
thể đến Istanbul kịp thời gian nhưng mọi người vẫn có tâm lý e ngại rằng trước
khi nhóm Sinskey có thể can thiệp, cô đã kịp gọi điện cho một trong những đệ tử
của Zobrist ở Thổ Nhĩ Kỳ và đề nghị trợ giúp thực hiện kế hoạch đầy hoang tưởng
của Zobrist.
Liệu có thật sự Sienna dính
vào việc giết người hàng loạt không? Langdon vẫn không sao chấp nhận được tất
cả những gì đang diễn ra ngày hôm nay. Anh cảm thấy đau đớn khi phải nghĩ về cô
như vậy, nhưng anh buộc phải chấp nhận sự thật. Mày chưa bao giờ hiểu cô ta,
Robert ạ. Cô ta dắt mũi mày.
Một cơn mưa nhẹ bắt đầu trút
xuống thành phố, và Langdon bỗng cảm thấy mệt mỏi khi nghe thấy tiếng rít lặp
đi lặp lại của những cần gạt nước trên kính chắn gió. Bên phải anh, trên biển
Marmara ngoài kia, anh có thể nhìn thấy ánh đèn quét qua của những du thuyền
sang trọng và những tàu chở dầu đồ sộ ra vào hải cảng phía trước mặt. Dọc bờ
cảng là những tòa tháp mảnh mai và trang nhã vươn cao phía trên các giáo đường
có mái vòm, như âm thầm nhắc người ta nhở rằng mặc dù Istanbul là một thành phố
thế tục hiện đại, nhưng cốt lõi của nó vẫn dựa vào tôn giáo.
Langdon luôn thấy đoạn cao
tốc dài mười dặm này là một trong những đoạn đường đẹp nhất ở châu Âu. Là một
ví dụ hoàn hảo cho sự va chạm giữa cái cũ và cái mới của Istanbul, cung đường
này bám theo một phần bức tường của Constantine, được xây dựng trước cả khi
nhân vật được lấy tên cho đại lộ này – John F.Kennedy – cất tiếng khóc chào đời
hơn mười sáu thế kỷ. Vị Tổng thống Hoa Kỳ rất ngưỡng mộ tầm nhìn của Kemal
Ataturk (54), người đưa nước cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ vươn lên từ đống tro tàn của
một đế chế đã sụp đổ.
(54) Mustafa Kemal Ataturk (1881-1938) là nhà cách
mạng, tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. sau khi đế quốc Ottoman thất
bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông lãnh đạo Phong trào Quốc gia Thổ
Nhĩ Kỳ, và kết quả là nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời năm 1923. Sau chiến
tranh, Ataturk tiến hành cải cách chính trị, kinh tế và văn hóa nhằm biến cựu
đế quốc Ottoman thành một nhà nước hiện đại và thế tục. Những nguyên tắc cải
cách đó đươc biết đến với tên “chủ nghĩa Kemal”.
Với những góc nhìn ra biển
không đâu sánh bằng, Đại lộ Kennedy uốn mình qua những trảng cây tuyệt đẹp cùng
các công viên lịch sử, chạy qua bến cảng ở Yenikapi, và cuối cùng len lỏi giữa
ranh giới của thành phố với vịnh Bosporus, nơi nó tiếp tục chạy lên phía bắc
tới tận mũi Vàng (55). Ở đó, sừng sững phía trên thành phố là pháo đài của đế
chế Ottoman, Cung điện Topkapi. Với tầm nhìn chiến lược cho toàn bộ thủy lộ của
Bosporus, cung điện này là một trong những nơi được du khách rất ưa chuộng. Họ
tới đây để chiêm ngưỡng cả khung cảnh lẫn bộ sưu tập báu vật Ottoman có một
không hai, trong đó có cả áo choàng và thanh gươm được đồn là những vật thuộc
về nhà tiên tri Muhammad.
(55) Mũi Vàng: Golden Horn là một vịnh nhỏ chia thành
phố Istanbul và tạo thành một hải cảng tự nhiên cho các tàu thuyền của Hy Lạp,
La Mã, Byzantine, Ottoman và các nước khác suốt hàng nghìn năm. Đây là cửa biển
có hình thanh đao, của các sông Alibeykoy và Kagithane, nối với Bosphorus đúng
vị trí eo biển nhập vào biển Marmara, hình thành nên một bán đảo với phần đầu
mút chính là “Istanbul” cũ (Byzantium cổ và Constantinople).
Chúng ta sẽ không đi xa đến
thế, Langdon biết như vậy, trong đầu hình dung ra điểm đến của họ ở phía trước,
Hagia Sophia, cách trung tâm thành phố không xa lắm.
Khi họ rời khỏi Đại lộ
Kennedy và bắt đầu len lỏi vào thành phố dân cư đông đúc, Langdon nhìn những
đường phố và vỉa hè tấp nập người, cảm thấy bị ám ảnh bởi những cuộc trò chuyện
trong ngày.
Quá tải dân số.
Dịch bệnh.
Những nguyện vọng lệch lạc
của Zobrist.
Mặc dù hiểu rõ địa điểm nhóm
SRS này đang hướng tới, nhưng cho tới lúc này Langdon mới đánh giá được đầy đủ
về nó. Chúng ta đang tiến tới tâm chấn. Anh hình dung ra cái túi đang từ từ tan
dần, bên trong chứa chất dịch màu vàng nâu, và tự hỏi làm cách nào anh lại rơi
vào tình cảnh này.
Bài thơ lạ lùng mà Langdon và
Sienna phát hiện ở mặt sau chiếc mặt nạ người chết của Dante cuối cùng chỉ dẫn
anh tới đây, Istanbul. Langdon đã hướng dẫn nhóm SRS tới Hagia Sophia, và biết
sẽ có nhiều việc cần làm khi tới đó.
“Hãy quỳ gối bên trong bảo
quán mạ vàng của tri thức thánh thiêng,
và áp tai xuống đất,
lắng nghe tiếng nước nhỏ
giọt,
Hãy lần sâu vào tòa cung điện
bị chìm…
vì ở đây, trong bóng tối, con
quái vật chốn địa phủ chờ đợi,
lặn ngụp trong thứ nước đỏ
như máu…
của cái đầm không hề phản
chiếu ánh sao.”
Langdon lại cảm thấy run bắn
khi biết rằng khổ cuối Hỏa ngục của Dante kết thúc bằng một cảnh tượng gần như
giống hệt: Sau một hành trình dài đi xuyên qua địa phủ, Dante và Virgil đến
điểm thấp nhất của địa ngục. Ở đây không có lối ra, họ nghe thấy tiếng nước
chảy nhỏ giọt qua những khối đá dưới chân. Họ đi theo khe nước qua các kẽ nứt
và khe hở để rồi tìm được chỗ an toàn.
Dante viết: “Một nơi dưới đó…
nơi không thể nhận biết bằng mắt, mà qua tiếng khe nước, chảy xuôi theo chỗ
trũng của tảng đá… và theo con đường ẩn kín đó, người dẫn đường của ta và ta
bước vào, để trở lại thế giới dương gian”.
Cảnh tượng của Dante rõ ràng
chính là cảm hứng cho bài thơ của Zobrist, mặc dù trong trường hợp này, dường
như Zobrist đã đảo ngược mọi thứ. Thực tế, Langdon và những người khác đang
theo tiếng nước nhỏ giọt, nhưng khác với Dante, họ không rời khỏi hỏa ngục… mà
đi thẳng vào trong đó.
Khi chiếc xe thùng chạy qua
những đường phố hẹp hơn và đông đúc hơn, Langdon bắt đầu hiểu ra cái logic khác
thường khiến Zobrist lựa chọn trung tâm Istanbul là tâm chấn của một đại dịch.
Đông gặp Tây.
Giao lộ của thế giới.
Trong rất nhiều thời điểm của
lịch sử, Istanbul từng bị những đại dịch giết người hoành hành, cướp đi số
lượng lớn dân cư. Thực tế, trong giai đoạn cuối cùng của Cái chết Đen, thành
phố được gọi là “tâm dịch” của cả đế chế và người ta nói đại dịch này đã giết
hơn một vạn dân cư một ngày. Đã có một vài bức vẽ Ottoman nổi tiếng mô tả người
dân thành phố tuyệt vọng đào những hố dịch hạch để chôn hàng núi xác chết tại
các cánh đồng ở Taksim gần đó.
Langdon hy vọng Karl Marx đã
sai khi nói, “Lịch sử luôn lặp lại”.
Dọc những con phố mưa rơi,
các sinh linh vô tư lự vẫn đang bận rộn với công việc buổi tối của mình. Một
phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ xinh đẹp gọi con cái về ăn tối, hai ông già cùng nhâm nhi tại
một quán cà phê ngoài trời, một cặp đôi ăn mặc chỉnh tề tay trong tay đi dạo
dưới ô, và một người đàn ông mặc áo lễ phục nhảy xuống từ xe buýt và chạy dọc
phố, cố giấu hộp đàn vĩ cầm của mình bên dưới áo khoác, rõ ràng vì đến muộn một
buổi hòa nhạc.
Langdon xem xét những gương
mặt quanh mình, cố gắng hình dung ra những điều phức tạp trong cuộc đời mỗi
người.
Đám đông được hình thành từ
những cá nhân.
Anh nhắm mắt lại, ngoảnh mặt
khỏi cửa sổ và cố gắng gạt bỏ chiều hướng u ám trong suy nghĩ. Nhưng vết thương
đã hằn sâu. Trong khoảng tối tâm trí của anh, một hình ảnh không mong muốn hiện
rõ – cảnh tượng hoang tàn trong bức tranh Chiến thắng của Tử thần của Bruegel –
một bức đại cảnh gớm ghiếc về dịch hạch, nỗi thống khổ và đau đớn tàn phá một
thành phố ven biển.
Chiếc xe thùng ngoặt sang
phải vào Đại lộ Torun, và trong khoảnh khắc Langdon nghĩ họ đã đến đích. Bên
trái anh, một giáo đường sừng sững xuất hiện trong màn sương.
Nhưng đó không phải là Hagia
Sophia.
Giáo đường Xanh, anh nhanh
chóng nhận ra nó khi nhìn thấy sáu tòa tháp hình bút chì của đền thờ với nhiều
tầng ban công vươn lên bầu trời với chỏm tháp nhọn hoắt. Langdon đã từng đọc
được rằng vẻ đẹp như trong chuyện thần tiên của các tòa tháp có ban công ở Giáo
đường Xanh đã truyền cảm hứng cho việc thiết kế tòa lâu đài của nàng Cinderella
trong công viên Thế giới Disney. Giáo đường Xanh có tên gọi như vậy là do những
bức tường bên trong đều được ốp gạch màu xanh dương, chẳng khác gì một vùng
biển đẹp đến sững sờ.
Chúng ta đến gần lắm rồi,
Langdon nghĩ khi chiếc xe thùng lao vùn vụt về phía trước, ngoặt sang Đại lộ
Kabasakal và chạy dọc theo quảng trường Công viên Sultanahmet rộng rãi nằm giữa
Giáo đường Xanh và Hagia Sophia, vốn nổi tiếng vì có thể quan sát được hai kỳ
quan ấy.
Langdon nheo mắt nhìn qua lớp
kính chắn gió ướt mưa, cố tìm kiếm hình dáng Hagia Sophia ở đường chân trời,
nhưng mưa và ánh đèn pha làm cho thị lực trở nên khó khăn. Tệ hơn nữa, xe cộ
dọc đại lộ dường như đang dừng lại.
Phía trước, Langdon chẳng
nhìn thấy gì ngoài một hàng đèn hậu đỏ lòe.
“Có sự kiện gì đó rồi”, người
lái xe thông báo. “Tôi nghĩ là một buổi hòa nhạc. Có lẽ đi bộ nhanh hơn.”
“Bao xa?”, Sinskey hỏi.
“Chỉ cần qua công viên này
thôi. Ba phút. Rất an toàn.”
Sinskey gật đầu với Brüder và
sau đó quay sang đội SRS. “Cứ ở trong xe. Tới càng gần tòa nhà càng tốt. Đặc vụ
Brüder sẽ liên lạc lại ngay.”
Nói xong, Sinskey, Bruder và
Langdon nhảy ra khỏi chiếc xe thùng xuống phố và tiến thẳng qua công viên.
Những hàng cây lá rộng trong
Công viên Sultanah-met che chắn cả nhóm khỏi thời tiết đang càng lúc càng xấu
đi khi họ hối hả bước dọc những lối đi dưới vòm lá của công viên. Các lối đi
thỉnh thoảng lại có biển chỉ dẫn cho du khách tới nhiều điểm tham quan trong
công viên – cột tháp Ai Cập lấy từ quần thể Đền Luxor, cột đồng Rắn biển (56)
lấy từ Đền Apollo ở Delphi, và cột mốc Milion từng được xem như “điểm số 0” để
đo mọi khoảng cách ở đế quốc Byzantine.
Cuối cùng, họ ra khỏi những
tán cây ngay chân một bể nước hình tròn ở trung tâm công viên. Langdon bước ra
chỗ trống và ngước mắt nhìn về phái đông.
(56) Cột đông Rắn biển (Serpent Column) là cột đồng cổ
tại Hippodrome thuộc Constantinople, khu vực nay là Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Đây
là một phần của tháp ba chân hiến tế thời Hy Lạp cổ đại, nguyên đặt tại Delphi
và được Constantine I Đại đế dời tới Constantinople năm 324. Tháp được xây dựng
để tưởng niệm những người Hy Lạp đã chiến đấu và đánh bại đế quốc Ba Tư trong
trận Plataea (479 trước Công nguyên). Phần đầu rắn của cây cột cao tám mét này
vẫn còn nguyên vẹn cho đến cuối thế kỷ XVII và nay được trưng bày tại Bảo tàng
Khảo cổ Istanbul gần đó.
Hagia Sophia.
Không giống một tòa nhà mà
giống như một trái núi.
Vẫn lấp lánh trong màn mưa,
hình dáng đồ sộ của Hagia Sophia chẳng khác gì cả một thành phố. Mái vòm trung
tâm của tòa nhà lớn đến khó tin và được chống đỡ bằng khung màu xám bạc, như
dựa trên cả khối kết hợp gồm những tòa nhà có mái vòm khác được chồng lên xung
quanh nó. Bốn ngọn tháp cao vút – mỗi tháp đều chỉ có một ban công duy nhất và
phần chóp nhọn màu xám bạc – vươn lên ở bốn góc tòa nhà, cách xa hẳn mái vòm
trung tâm khiến cho người ta khó xác định được chúng chính là điểm hợp phần của
một tòa nhà duy nhất.
Cả Sinskey và Brüder, cho đến
lúc này vẫn chăm chú bước đều, bỗng cùng vượt lên, ngước mắt nhìn lên trên… lên
trên nữa… như thể tâm trí của họ cố gắng thu hết toàn bộ chiều cao và bề rộng
của công trình sừng sững trước mắt họ
“Lạy Chúa lòng lành”, Brüder
khẽ thốt lên như không tin nổi. “Chúng ta sẽ phải tìm kiếm… chỗ đó sao?”

