Hai mươi năm sau - Chương 07
Chương 7
D’Artagnan gặp khó khăn, nhưng một người quen
biết của chúng ta đến giúp anh
D’Artagnan trở về vừa
đi vừa đăm chiêu suy nghĩ. Anh thấy hào hứng khi mang túi tiền của giáo chủ
Mazarin và khi nghĩ đến chiếc nhẫn kim cương đẹp trước kia đã từng là của anh
và có một lát anh đã trông thấy nó lấp lánh ở ngón tay ông tể tướng. Anh tự
bảo:
"Giá cái nhẫn kim
cương ấy lại rơi vào tay mình, mình sẽ bán ngay lấy tiền, mình sẽ mua hết bất
động sản ở chung quanh lâu đài của cha mình, ngôi nhà đẹp thật đấy, nhưng về
công trình phụ chỉ có một mảnh vườn lớn gần bằng cái nghĩa trang. Những Kẻ Vô
Tội. Ta sẽ ngồi nhà và đàng hoàng ngồi đợi một nàng thừa kế giàu có say mê cái
tốt mã của ta và đến lấy ta; rồi ta sẽ có ba cậu con trai, ta sẽ nuôi dạy đứa
lớn thành một đại thần như Arthos, đứa thứ hai - một chàng lính bảnh bao như
Porthos, đứa thứ ba - một tu viện trưởng lịch sự duyên dáng như Aramis. Thực
tình mà nói, như thế còn tốt hơn cuộc sống hiện nay của ta, nhưng khốn thay lão
Mazarin là một tên đê tiện, chẳng có hảo ý nhường lại cái nhẫn kim cương ấy cho
ta."
Không biết D’Artagnan
sẽ nói thế nào khi anh biết rõ rằng hoàng hậu đã nhờ Mazarin đưa lại cái nhẫn
ấy cho anh?
Về đến phố Tiquetonne,
anh thấy có tiếng ồn ào và một đám tụ tập lớn ở quanh nhà anh.
- A, a! - Anh nói. -
Hay là cháy ở quán "Con dê cái nhỏ"? Hay là chồng của nàng Madeleine
xinh đẹp dứt khoát trở về.
Chẳng phải chuyện này
cũng chẳng phải chuyện nọ. Đến gần, D’Artagnan mơi rõ là người ta tụ tập không
phải ở trước nhà anh mà trước nhà bên cạnh. Người ta kêu la om xòm, người ta
vác đuốc chạy và dưới ánh đuốc, D’Artagnan nhận ra những bộ quân phục.
Anh hỏi xem có chuyện
gì xảy ra.
Người ta cho biết là có
một thị dân cùng với hai chục người bạn đã tấn công một cỗ xe có các vệ sĩ của
tể tướng đi hộ tống, nhưng có viện binh ập đến, đám thị dân bỏ chạy. Tên cầm
đầu đám ấy trốn vào một nhà ở giáp quán và lính đang sục sạo trong nhà ấy.
Hồi còn trẻ, có lẽ
D’Artagnan đã chạy tới chỗ anh nhìn thấy những bộ quân phục và giúp sức cho bọn
lính chống lại đám thị dân; nhưng bây giờ anh đã ngán tất cả những cơn nóng đầu
ấy rồi. Vả lại, trong túi đang có một trăm pistol của ngài giáo chủ, anh chẳng
muốn mình phiêu lưu vào trong một đám đông.
Anh chẳng hỏi gì thêm
và bước vào quán.
Xưa kia, bao giờ
D’Artagnan cũng muốn biết rõ tất cả, giờ đây bao giờ anh cũng biết rõ khá nhiều.
Anh thấy nàng Madeleine
xinh đẹp không chờ đợi anh, vì tưởng anh ở đêm tại cung Louvre như anh đã dặn.
Thấy anh trở về bất ngờ, bà mừng rỡ và nồng nhiệt đón tiếp anh, càng mừng hơn
vì bà vừa mới trải qua một cơn sợ hãi hết hồn về việc đang xảy ra ở ngoài phố,
mà bà thì không có một người lính Thụy Sĩ nào để bảo vệ cho bà.
Cho nên bà muốn bắt
chuyện với anh và kể lể việc đã xảy ra; nhưng D’Artagnan bảo bà cho mang bữa ăn
tối lên phòng anh và kèm theo một chai rượu vang Bourgogne lâu năm.
Bà Madeleine xinh đẹp
được dạy cho quen với cách tuân lệnh kiểu nhà binh, nghĩa là theo một cử chỉ ra
hiệu. Lần này D’Artagnan lại còn hạ cố nói nên lời, thành ra anh được bà tuân
lệnh nhanh gấp hai lần.
D’Artagnan cầm chìa
khóa và cây nến đi lên phòng mình. Để khỏi ảnh hưởng tới việc cho thuê phòng,
anh tự bằng lòng với một phòng ở tận tầng tư. Vì tôn trọng chân lý, chúng tôi
buộc phải nói thẳng ra rằng căn phòng ở ngay sát dưới ống máng và ở dưới mái
nhà.
Đó là chiếc lều Asin(1)
của anh. D’Artagnan ở lì trong buồng mỗi khi anh muốn trừng phạt Madeleine bằng
sự vắng mặt của mình.
(1) Asin - một danh tướng á thần trong thần thoại Hy
Lạp, trong cuộc chiến tranh thành Troa dựng lều trú quân gần thành.
Sự quan tâm đầu tiên
của anh là nhét túi tiền vào ngăn một cái bàn cổ mà khóa còn mới, anh cũng
chẳng cần kiểm tra xem số tiền là bao nhiêu, rồi một lát sau, bữa cơm tối được dọn ra, chai
rượu vang đem đến, anh cho tên hầu đi ra, đóng cửa và ngồi vào bàn.
Không phải suy nghĩ như
người ta tưởng; nhưng D’Artagnan nghĩ rằng chỉ có thể làm tốt mọi việc bằng
cách làm lần lượt từng việc một. Anh đang đói, anh ăn, rồi sau bữa ăn anh đi nằm.
D’Artagnan cũng chẳng phải loại người cho rằng ban đêm thường đem đến cho người
ta nhiều điều khuyên bổ ích: ban đêm D’Artagnan ngủ khì.
Nhưng trái lại buổi
sáng, trong người tỉnh táo, tinh khôn hẳn, anh tìm thấy những cảm hứng hay
nhất. Từ lâu anh chẳng có cơ hội để suy nghĩ vào buổi sáng, nhưng ban đêm anh
vẫn ngủ.
Sớm tinh mơ, anh thức
giấc, nhảy khỏi giường với một quyết tâm thật là lính và vừa đi lững thững
quanh buồng, vừa ngẫm nghĩ.
"Năm 43 - anh nói - khoảng gần tháng sáu, khi cố giáo
chủ qua đời mình nhận được lá thư của Arthos. Ở đâu nhỉ! Xem nào… à! Đó là tại
cuộc bao vây Besançon, mình nhớ ra rồi… mình đang ở trong hào? Cậu ta nói gì
nhỉ? Cậu ấy ở một mảnh đất nhỏ, phải, đúng thế, một mảnh đất nhỏ; nhưng ở đâu?
Mình đọc đến đấy thì có cơn gió cuốn bay đi. Giá như ngày xưa là hắn mình sẽ đi
tìm, mặc dù gió cuốn lá thư ra một chỗ trống trơn.
Nhưng tuổi trẻ là một
thiếu sót lớn… khi người ta không còn trẻ nứa. Mình đã để cho lá thư bay đi đến
chỗ quân Tây Ban Nha, mang theo địạ chỉ của Arthos mà chúng chẳng cần đến và lẽ
ra phải trả lại mình chứ. Vậy là không nghĩ đến Arthos nữa. Xem nào… Porthos.
Mình đã nhận được bức thư của cậu ta, cậu ấy mời mình đến dự một hội săn lớn
trong vùng đất đai của cậu ấy, vào tháng Chín năm 1646. Rủi thay. Hồi ấy mình
đang về quê ở Bearn vì ông bố mình mất, lá thư đuổi theo mình, khi
mình đi thì nó lại đến. Rồi nó lại theo mình và đến Montmédy mấy ngày sau khi
mình rời thành phố này. Cuối cùng nó tới tay mình vào tháng Tư, nhưng lại là
tháng Tư năm 1667 mà giấy mời đến dự vào tháng chín cuối năm 1646, cho nên
chẳng còn tác dụng gì. Nào ta hãy tìm bức thư ấy và chắc nó phải có tước hiệu
trang ấp?"
D’Artagnan mở một cái
hòm nhỏ cũ kĩ nằm ở góc buồng đầy những giấy tờ liên quan đến đất đai của D’Artagnan, từ hai
trăm năm nay giấy tờ ấy hoàn toàn ra khỏi gia đình anh, và anh thốt ra một
tiếng kêu mừng rỡ: anh vừa nhận ra một nét chữ to đùng của Porthos và ở dưới có
mấy dòng chữ nhỏ li ti do bàn tay khô héo của bà phu nhân xứng đáng của cậu ta
viết.
D’Artagnan không buồn
đọc chơi lại lá thư, anh biết nó viết gì, anh xem vội địa chỉ.
Địa chỉ là: ở lâu đài Du Vallon.
Porthos đã quên béng
một chỉ dẫn khác. Trong niềm kiêu hãnh của mình, anh ta tưởng tất cả thiên hạ
đều phái biết cái lâu đài mà anh ta đã lấy tên mình đặt cho nó.
"Quỷ bắt cái thằng
huênh hoang này? - D’Artagnan nói, - bao giờ nó cũng vẫn thế! Tuy nhiên mình
cần bắt đầu từ cậu ta, chắc nó chẳng cần đến tiền nong, nó đã thừa kế tám trăm
nghìn livres của ông Coquenard(2). Này, đó là người cần nhất mà mình đang thiếu.
Arthos uống rượu lắm vào chắc đến đần độn người ra rồi. Còn Aramis hẳn đang
chìm ngập trong việc cầu nguyện!"
(2) Chồng cũ đã chết của vợ Porthos.
D’Artagnan lại đưa mắt
nhìn bức thư của Porthos.
Dưới thư có một dòng
tái bút như sau:
"Cùng với chuyến
thư này, tôi viết cho Aramis, anh bạn xứng đáng của chúng ta ở tu viện của anh
ta."
"Ở tu viện của anh
ta! Ừ, nhưng mà tu viện nào? Có đến hai trăm tu viện ở Paris và ba
nghìn tu viện ở nước Pháp. Lại nữa khi vào tu viện cậu ta có thể đồi tên đến ba
lần. A! Ví phỏng mình thông thái về thần học và chỉ cần nhớ cái chủ đề các luận
án cậu ta tranh cãi rất hay với với ông linh mục Montdidie ở Crèvecoeur và ông
tăng viện trưởng dòng Jesus, mình sẽ biết cậu ta thuộc phái nào. Và từ đó suy
ra cậu ta thờ phụng thánh nào. Kể ra nếu mình đến ông giáo chủ, xin ông ta cấp
cho một giấy thông hành có thể vào bất cứ tu viện nào, kể cả tu viện các nữ tu
sĩ nhỉ! Đó cũng là một ý hay và có khi mình sẽ tìm thấy cậu ta. Ở đấy giống như
Asin… Ô, nhưng mà như thế khác gì thú nhận ngay từ đầu sự bất lực của mình, và
ngay từ việc đầu tiên
mình đã đi đứt trong tâm trí của giáo chủ.
Những quan to chỉ biết
ơn khi nào người ta làm cho họ cái việc không có thể. Họ sẽ bảo chúng ta rằng:
"Nếu là việc có thể thì tôi tự làm lấy mình cũng được." Và những quan
to nói phải. Nhưng hãy đợi tí và xem nào. Mình cũng đã nhận một bức thư của cậu
ta, người bạn thân thiết, đúng thế nên cậu ta mới nhờ mình một việc nhỏ và mình
đã giúp. À, đúng rồi, nhưng mình đã nhét cái thư ấy vào đâu chứ?
D’Artagnan ngẫm nghĩ
một lát, rồi tiến về phía cái mắc áo treo những áo cũ của anh. Anh tìm chiếc áo
khoác ngắn của mình dùng năm 1646, và do là một chàng trai có trật tự ngăn nắp,
anh thấy nó được móc ở một cái đinh. Anh móc túi áo ra một mảnh giấy, đúng là
thư của Aramis. Thư viết:
"Anh D’Artagnan,
xin anh biết cho rằng tôi đang có chuyện xích mích với một người quý tộc, hắn
đã hẹn tôi chiều nay đến quảng trường Hoàng cung. Vì tôi là một người tu hành
và việc ấy có thể hại cho tôi nếu tôi cho người khác biết, ngoài một người bạn
thật tin cậy như anh, nên tôi viết cho anh để nhờ anh làm người trợ thủ cho
tôi.
Anh sẽ đến đường
Neuve-Sainte-Catherine; tới ngọn đèn thứ hai bên phải, anh sẽ thấy địch thủ của
anh. Tôi sẽ cùng địch thủ của tôi ở dưới ngọn đèn thứ ba.
Tận tình với anh,
Aramis!"
Lần ấy chẳng có đến lời
từ biệt. D’Artagnan cố nhớ lại kỉ niệm ấy. Anh đi đến chỗ hẹn, gặp địch thủ như
đã dặn và anh chẳng biết tên, tặng hắn một nhát kiếm nên thân vào cánh tay, rồi
anh đến chỗ Aramis thì Aramis cũng đã kết thúc cuộc đấu của mình rồi và đang đi
đến với anh. Aramis nói:
- Xong rồi, tôi chắc là
đã giết chết tên hỗn láo. Nhưng bạn thân mến ơi, nếu anh cần đến tôi thì anh
biết rằng tôi hết lòng tận tụy với anh.
Nói xong Aramis bắt tay
anh và biến đi dưới những ô cửa tò vò.
Thế là về chỗ ở của
Aramis, D’Artagnan cũng chẳng biết rõ hơn chỗ ở của Porthos và Arthos. Vấn đề
bắt đầu trở nên rối rắm, thì anh nghe như có tiếng một tấm kính ở phòng anh bị
đập vỡ. Lập tức anh nghĩ ngay đến túi tiền ở trong bàn và lao ngay vào phòng.
Anh không lầm: lúc anh
vào bằng cửa chính thì có một người vào qua cửa sổ.
- A! Tên khốn nạn! -
D’Artagnan kêu lên, anh tưởng đó là một kẻ trộm và vớ lấy thanh kiếm.
- Ấy thưa ông? - Người
kia kêu lên. - Lạy trời, xin ông hãy tra kiếm vào bao và chớ giết tôi mà không
nghe tôi nói! Tôi không phải là một tên ăn trộm, trái lại, tôi là một thị dân
hẳn hoi, có nhà cửa đàng hoàng. Tôi tên là… Ơ này, nếu tôi không lầm thì ông là
ông D’Artagnan.
- Còn cậu, Planchet hả!
- Viên trung úy kêu
lên.
- Để hầu hạ ông, nếu
tôi còn làm được, - Planchet mừng quýnh lên nói.
- Có thể lắm, -
D’Artagnan đáp, - nhưng mà làm thế quái nào mà cậu lại chạy trên mái nhà vào
lúc bảy giờ sáng giữa tiết tháng Giêng này?
- Thưa ông, ông cần
biết rằng - Planchet nói, - nhưng xét ra có lẽ ông không nên biết.
- Ô hay, sao thế! Nhưng
trước hết hãy đặt một cái khăn trước ô kính và kéo rèm lại.
Planchet vâng lời và
khi làm xong, D’Artagnan hỏi:
- Thế nào?
Tên Planchet khôn ngoan
đáp:
- Thưa ông, trước hết,
ông đối với ông Rochefort thế nào?
- Rất tốt! Sao vậy?
Rochefort ư, cậu có biết rằng ông ta bây giờ là một trong những người tốt nhất
của tôi không?
- A, càng hay.
- Nhưng giữa Rochefort
với cái cách đột nhập vào phòng tôi thì có liên quan gì với nhau hả?
- Ấy đấy thưa ông? Cần
phải thưa với ông rằng ông de Rochefort…
- Mẹ kiếp! - D’Artagnan
kêu - Tôi thừa biết ông ấy ở ngục Bastille.
- Nghĩa là ông ta đã ở
đó, - Planchet đáp.
- Thế nào? Ông ta đã ở
đó! - D’Artagnan kêu lên. - Phải chăng ông ta có diễm phúc thoát rồi?
- A, thưa ông, - đến
lượt Planchet kêu lên, - nếu ông gọi đó là diễm phúc, thì mọi sự đều ổn, vậy
phải nói với ông rằng, hình như hôm qua người ta cho người đến Bastille đem ông
Rochefort đi.
- Mẹ kiếp, ta biết
thừa, bởi vì chính ta tới kiếm ông ấy.
- Nhưng không phải ông
đã đưa ông ta trở lại đó, thật may cho ông; bởi vì nếu tôi nhận ra ông trong
đoàn hộ tống thì ông hãy tin rằng bao giờ tôi cũng kính trọng ông quá.
- Nói nốt đi, con khỉ!
Nào, thế rồi sao?
- Ấy! Thế rồi khi đến
giữa phố Hàng Sắt, nhân xe chở ông Rochefort đi qua một đám dân chúng và bọn
lính áp giải hành hạ những người thị dân, thế là người ta ồn ào lên; người tù
nghĩ cơ hội thật là thuận tiện, bèn tự xưng tên và kêu cứu. Lúc ấy tôi đang ở
đó, tôi nhận ra tên ông bá tước de Rochefort và nhớ rằng chính ông ấy đã cử tôi
làm viên đội trong trung đoàn Piémont, tôi bèn nói to lên rằng người tù này là
bạn của quận công de Beaufort. Mọi người liền nổi dậy, chặn ngựa lại, đánh tan
đoàn áp giải. Trong khi tôi mở cửa xe, ông Rochefort nhảy xuống đất lẫn vào đám
đông. Khốn thay khi ấy một đội tuần tra đi qua, chúng hợp với toán vệ sĩ và tấn
công chúng tôi. Tôi vừa đánh vừa rút về phía phố Tiquetonne, tôi bị đuổi riết
phải trốn vào một nhà ở cạnh nhà này; bọn chúng đã bao vây, sục sạo nhưng uổng
công. Tôi đã gặp ở tầng năm một người tốt bụng giấu tôi giữa hai tấm nệm. Tôi
đã nằm lại trong chỗ ẩn nấp của tôi, hoặc gần như thế, cho đến sáng, và nghĩ
rằng đến chiều họ lại bắt đầu những cuộc lục soát, tôi đánh liều bò lên ống
máng, tìm kiếm một lối vào sau đó một lối ra trong một ngôi nhà nào đó không bị
canh gác. Câu chuyện của tôi là thế đấy và thưa ông, xin lấy danh dự mà thề
rằng tôi sẽ rất thất vọng nếu nó làm ông chán tai.
- Không đâu, -
D’Artagnan nói, - thực sự tôi rất mừng là Rochefort đã được tự do, nhưng cậu có
biết rõ điều này không: nếu cậu rơi vào tay những người của nhà vua, cậu sẽ bị
treo cổ không dung tha.
- Mẹ kiếp, tôi biết lắm
chứ! - Planchet nói - Đó chính là điều làm cho tôi sợ hết hồn, và đấy, về sau
tôi rất mừng khi gặp lại ông; bởi vì nếu ông mà muốn giấu tôi thì chẳng có ai
làm việc đó tốt hơn ông.
- Phải, - D’Artagnan
nói, - tôi không đòi hỏi gì hơn, dù rằng tôi chỉ phải hy sinh không hơn không
kém cái chức vị của tôi, nếu như người ta biết rằng tôi đã cho một tên phiến
loạn ẩn náu.
- Ôi, thưa ông, xin ông
biết cho rằng tôi có thể liều mạng vì ông.
- Cậu có thể thêm hẳn
vào là cậu liều mạng rồi, Planchet ạ. Tôi chỉ quên những điều tôi cần phải
quên, nhưng còn điều này, tôi muốn nhớ lại: Cậu ngồi xuống đây, bình tĩnh mà ăn
đi, bởi vì tôi nhận thấy cậu nhìn những món ăn thừa của bữa ăn của tôi với một
cái nhìn biểu hiện cảm xúc nhất.
- Vâng, thưa ông, bởi cái tủ buffet của nhà
bên cạnh rất hiếm của chất bột, và vì trưa hôm qua tôi mới ăn có một lát bánh
với mứt. Mặc dầu tôi chẳng chê các của ngọt khi nó đến đúng nơi đúng chốn, tôi
thấy bữa ăn tối hơi nhẹ.
- Khổ thân cậu! -
D’Artagnan nói. - Bình tâm lại đi.
- Ôi, ông ơi, ông đã
cứu mạng tôi hai lần, - Planchet nói.
Rồi anh ta ngồi xuống
bàn và ăn nghiến ngấu như những ngày nào ở phố Phu đào huyệt.
D’Artagnan tiếp tục đi
đi lại lại, anh cố moi trong óc xem có cách nào tận dụng được Planchet trong
những tình huống hiện nay của anh. Trong lúc đó Planchet ra sức hoạt động để bù
lại những giờ đã mất.
Cuối cùng anh ta trút
một hơi thở phào khoan khoái của một người đói lả báo hiệu rằng sau khi được
chén một đợt đầu tiên và chắc dạ, anh ta tạm ngừng một chút.
D’Artagnan nghĩ đến lúc
bắt đầu cuộc lục vấn, bèn nói:
- Nào, ta hãy tuần tự:
cậu có biết Arthos ở đâu không?
- Không, ông ạ, -
Planchet đáp.
- Đồ quỷ! Cậu có biết
Porthos ở đâu không.
- Cũng không.
- Đò quỷ! Đồ quỷ! Còn Aramis?
- Cũng không nốt.
- Đồ quỷ! Đồ quỷ! Đồ quỷ!
- Nhưng, - Planchet nói
với vẻ láu cá, - tôi biết Bazin ở đâu.
- Sao, cậu biết Bazin ở
đâu à?
- Thưa vâng.
- Thế hắn ở đâu nào?
- Ở Nhà thờ Đức Bà.
- Làm gì ở Nhà thờ Đức
Bà?
- Làm phụ thủ.
- Bazin phụ thủ ở nhà
thờ Đức Bà? Cậu chắc chắn như vậy ư?
- Hoàn toàn chắc chắn,
tôi đã trông thấy anh ta, tôi đã nói chuyện với anh ta.
- Hẳn là hắn ta phải biết hắn ta ở đâu chứ?
- Chắc thế.
D’Artagnan ngẫm nghĩ,
rôi lấy áo choàng và thanh kiếm, anh sửa soạn đi ra.
- Ông ơi, - Planchet
với vẻ mặt thiểu não nói, - Ông bỏ rơi tôi thế này ư? Xin ông nhớ rằng, tôi chỉ
còn hi vọng ở ông thôi.
- Nhưng người ta sẽ
chẳng đến đây tìm cậu đâu, - D’Artagnan bảo.
Anh chàng Planchet thận
trọng nói:
- Cuối cùng người ta
đến, ông nhớ cho rằng đối với những người trong nhà không trông thấy tôi vào,
tôi ắt là một kẻ trộm.
- Đúng đấy, -
D’Artagnan nói. - Này thế cậu có nói được một thổ ngữ nào không?
- Tôi còn biết hơn ấy
chứ, thưa ông, - Planchet đáp. - Tôi nói một ngôn ngữ, ngôn ngữ Flamant.
- Cậu học nó ở nơi quái
quỷ nào thế?
- Ở Artois, nơi
tôi đã dự cuộc chiến tranh hai năm. Ông nghe xem: Goeden morgen, mynheer! ltk
ben begeeray te weeten the ge sond hects omstand.
- Nghĩa là gì?
- Chào ông! Tôi nóng
lòng muốn biết tình trạng sức khỏe của ông thế nào?
- Nó gọi đấy là ngôn
ngữ? Nhưng không sao! - D’Artagnan nói, - thế mà tuyệt đấy?
D’Artagnan đi ra cửa
gọi một thằng hầu và bảo nó mời bà Madeleine xinh đẹp lên.
- Ông ơi, ông làm gì
đấy, - Planchet nói, - Ông định trao cái điều bí mật của chúng ta cho một người
đàn bà sao?
- Cứ yên tâm, bà ta sẽ
chẳng hé nửa lời.
Lúc ấy bà chủ quán vào.
Bà tươi cười chạy đến, tưởng rằng sẽ thấy D’Artagnan một mình, nhưng vừa nhác
thấy Planchet, bà kinh ngạc lùi lại.
- Bà chủ thân mến của
tôi, - D’Artagnan nói, - tôi xin giới thiệu ông anh của bà từ xứ Flandre đến,
tôi nhờ ông ấy đến giúp việc tôi mấy ngày.
- Anh tôi! - Bà chủ
nói, giọng mỗi lúc một sửng sốt.
- Hãy chào cô em đi,
master Peter.
- Vilkom zueter! -
Planchet nói.
- Goeden day, broer! -
Bà chủ ngạc nhiên đáp lại.
- Câu chuyện là thế
này! - D’Artagnan nói. - Ông đây là anh bà, có thể bà không biết. Ông ấy từ
Amsterdam đến. Trong khi tôi đi vắng, bà sẽ sắm sửa quần áo cho ông ấy; khi tôi
về, nghĩa là độ một giờ nữa, bà sẽ giới thiệu ông ta với tôi và theo sự gửi gắm
của bà. Mặc đầu ông ta sẽ chẳng nói một tiếng Pháp nào, do tôi chẳng có gì từ
chối bà, tôi sẽ nhận ông ta vào giúp việc cho tôi, bà hiểu chứ!
- Nghĩa là tôi đoán ra
điều ông mong muốn và chỉ cần có vậy, - Madeleine nói.
- Bà là một người phụ
nữ quý hóa, bà chủ
xinh đẹp của tôi ạ, và tôi tin cậy ở bà.
Nói xong, D’Artagnan
làm hiệu riêng với Planchet, rồi ra để đi đến Nhà thờ Đức Bà.

