Hai mươi năm sau - Chương 36
Chương 36
Đêm trước trận đánh
Chủ quán đã đem Raoul
ra khỏi những sự suy tư u ám khi bác vội vã bước vào căn phòng nơi vừa diễn ra
cảnh tượng mà chúng tôi đã kể; bác la lên:
- Quân Tây Ban Nha!
Quân Tây Ban Nha!
Tiếng kêu ấy khá nghiêm
trọng để buộc mọi sự bận tâm phải nhường chỗ cho sự bận tâm mà tiếng kêu ấy ắt
gây ra. Hai chàng thanh niên hỏi han tin tức và được biết rằng quả thật quân
thù đang tiến qua Houdin và Béthune.
Trong khi ông Arminges
sai bảo gia nhân sửa soạn cho những con ngựa đã được nghỉ ngơi sẵn sàng lên
đường, hai chàng thanh niên trèo lên mấy cửa sổ cao nhất của ngôi nhà bao quát
vùng chung quanh và. Quả nhiên trông thấy ở phía Hersin và Lens hiện lên
một đoàn rất đông bộ binh và kỵ binh. Lần này không còn phải là một toán du
kích lẻ tẻ nữa, mà là cả một đội quân.
- Thế là không còn cách
nào khác hơn là nghe theo những lời chỉ bảo khôn ngoan của ông Arminges và vừa
đánh vừa rút lui.
Hai thanh niên vội vàng
xuống nhà. Ông Arminges đã lên ngựa. Olivain dắt hai con ngựa của hai anh, và
bọn gia nhân của Bá tước de Guise đang canh giữ cẩn thận tên tù binh Tây Ban
Nha, hắn cưỡi trên lưng một con ngựa nhỏ mà người ta vừa mới mua theo ý của nó.
Để cẩn thận hơn nữa, họ trói tay nó lại.
Toán nhỏ ấy chạy nước
kiệu theo đường đi Cambrin nơi họ tưởng sẽ tìm thấy hoàng thân nhưng tù hôm qua
ông không còn ở đấy và đã rút về La Bassée vì một tin tức sai đã báo cho ông
biết là quân địch phải qua sông Lys ở Estaire.
Quả thật do bị lầm về
những tin tức đó, hoàng thân de Condé đã cho rút quân mình khi Béthune, tập
trung mọi lực lượng của mình ở vùng giữa Vielll - Chapelle và Venthie. Sau khi
đích thân ông cùng với thống chế Grammont đi quan sát suốt dọc trận tuyển, ông
vừa mới trở về và ngồi vào bàn ăn, hỏi han các sĩ quan ngồi gần về những tình
hình mà ông đã sai họ thu thập; nhưng chẳng ai có được những tin tức xác thực.
Quân đội địch đã biến đi đâu từ bốn mươi tám giờ và dường như đã tiêu tán mất
rồi.
Không bao giờ một quân
đội địch lại rất gần và do đó rất là đe dọa bằng khi nó bỗng nhiên biến mất
hoàn toàn. Cho nên hoàng thân vừa trở nên cau có và băn khoăn trái với thói
quen của mình thì một sĩ quan trực vào bảo rằng có người nào đó xin gặp thống
chế Grammont.
Quận công đưa mắt xin
phép hoàng thân và đi ra.
Hoàng thân nhìn theo,
dán mắt vào cánh cửa, chẳng ai dám ho he, sợ làm ông lãng ý khỏi mối bận tâm
của mình.
Bất thình lình một
tiếng động vang lên. Hoàng thân vội vàng đứng dậy và giơ bàn tay về phía có
tiếng động. Tiếng động ấy quá quen thuộc đối với ông, đó là tiếng súng đại bác.
Ai nấy đều đứng cả dậy.
Vừa lúc ấy cửa mở,
thống chế Grammont mặt mày rạng rỡ bước vào và nói:
- Thưa Đức ông, Điện hạ
có vui lòng cho phép con trai tôi, bá tước de Guise và bạn đồng hành là tử tước
de Bragelonne vào để đem đến cho Điện hạ những tin tức về quân địch mà chính
chúng ta đang tìm kiếm và chính họ đã lượm được?
- Thế là thế nào nhỉ? -
Hoàng thân vội vã nói. - Tôi cho phép chứ. Không những tôi cho phép và tôi còn
mong muốn nữa. Bảo họ vào đi.
Thống chế đầy hai thanh
niên đến trước mặt hoàng thân. Hoàng thân chào họ và bảo:
- Các ông hãy nói đi,
nói trước đã; rồi sau chúng ta hãy chúc mừng nhau theo tục lệ. Điều cấp bách
nhất đối với tất cả chúng ta bây giờ là biết được quân địch ở đâu và đang làm
gì.
Dĩ nhiên là bá tước de
Guise lên tiếng không những vì anh lớn tuổi hơn mà còn vì anh được cha mình
giới thiệu với hoàng thân. Và lại anh đã quen hoàng thân từ lâu, còn Raoul thì
mới gặp lần đầu.
Anh kể cho hoàng thân
nghe điều họ đã trông thấy từ quán Mazingarbe.
Trong lúc ấy, Raoul
nhìn vị tướng trẻ mà đã lừng danh về nhưng trận Roroy, Fribourg et và
Nordlingen.
Từ sau khi cha mình và
Henri de Bourbon chết, Louis de Bourbon, hoàng thân de Condé được người ta gọi
tắt theo thói quen thời bấy giờ là Ngài Hoàng thân là một người trẻ trạc hai
mươi sáu hai mươi bảy tuổi, mắt sắc như mắt phượng hoàng; agl'occhi griphani,
như nhà thơ Dante nói, mũi khoằm, tóc dài bồng bềnh thành búp, tầm vóc nhỏ
nhưng rắn rỏi, có tất cả những phẩm chất của một nhà chiến tranh vĩ đại, tức là
cái nhìn sắc sảo, quyết định nhanh chóng, tinh thần dũng cảm truyền thuyết.
Điều đó chẳng ngăn cản ông đồng thời là người phong nhã và trí tuệ, đến nỗi
ngoài cuộc cách mạng mà ông đã làm trong chiến tranh bằng những yếu lĩnh mới mà
ông đưa vào đó, ông còn làm cách mạng ở Paris trong hàng ngũ những vị công hầu
trẻ ở triều đình mà ông là người thủ lĩnh tự nhiên.
Và đối lại với những
người phong nhã của triều đình cũ mà Bassompierre, Bellegarde và quận công
D’Angoulême là những người mẫu, người ta gọi các vị công hầu trẻ kia là những
ông chúa nhỏ bé.
Mới nghe vài lời đầu
tiên của bá tước de Guise và theo hướng có tiếng súng đại bác, hoàng thân đã
hiểu cả.
Quân địch ắt đã qua
sông Lys ở Saint-Venant và tiến về Lens hắn là với ý đồ chiểm thị trấn này để
tách quân đội Pháp ra khỏi nước Pháp. Tiếng đại bác mà người ta nghe thấy chốc
chốc nổ vang át cả những tiếng nổ khác của những khẩại bác cỡ nòng lớn đáp lại
những đại bác Tây Ban Nha và Lorrain.
Những toán quân đó là
thuộc lực lượng nào? Phải chăng chỉ là một đội dùng để nghi binh? Hay đó là
toàn thể quân đội?
Đó là câu hỏi cuối cùng
của hoàng thân mà de Guise không thể nào trả lời được.
- Do đó là câu hỏi quan
trọng nhất đó cũng là câu hỏi mà hoàng thân muốn có được một câu trả lời chính
xác, rõ ràng và chắc chắn.
Đứng trước mặt Hoàng thân,
Raoul bị một tình cảm nhút nhát rất tự nhiên xâm chiếm ngoài ý mình. Lúc ấy anh
cố vượt qua và tiến lại hoàng thân, anh nói:
- Về vấn đề này. Hoàng
thân có cho phép tôi mạo muội đưa ra vài lời may ra có giúp ngài được chút nào
không?
Hoàng thân quay lại và
như bao trùm toàn thân chàng thanh niên trong một cái nhìn; ông mỉm cười nhận
ra ở chảng một đứa trẻ suýt soát mười lăm tuổi.
Hoàng thân bèn dịu bớt
cái giọng cộc lốc và rành rọt của mình và như đang phải nói với một phụ nữ, ông
bảo:
- Tất nhiên rồi, ông cứ
nói đi nào.
Raoul đỏ mặt đáp:
- Đức ông có thể tra
hỏi tên tù binh Tây Ban Nha.
- Các ông bắt được một
tù binh Tây Ban Nha à! - Hoàng thân reo lên.
- Vâng, thưa Đức ông.
- A, đúng rồi? - de
Guise nói, - tôi đã quên đi mất.
- Có gì đâu, chính bá
tước đã bắt nó mà, - Raoul mỉm cười nói.
Vị thống chế già quay
lại phía tử tước, tỏ vẻ biết ơn về lời chúc mừng ấy đối với con trai mình, còn
hoàng thân thì nói:
- Chàng thanh niên nói
đúng đấy! Dẫn tù binh ra đây.
Trong lúc ấy Hoàng thân
gọi riêng de Guise ra, hỏi anh về việc tên tù binh ấy bị bắt như thế nào, và
hỏi xem chàng thanh niên kia là ai.
Rồi hoàng thân trở lại
phía Raoul và nói:
- Này ông, tôi biết
rằng ông có mang một bức thư của em gái tôi bà de Longueville, nhưng tôi thấy
rõ là ông thích tự giới thiệu mình hơn bằng cách nêu cho tôi một ý kiến hay.
- Thưa Đức ông, - Raoul
đỏ mặt đáp - Tôi không muốn Đức ông phải bỏ dở một cuộc chuyện trò thật là quan
trọng như câu chuyện ngài đã trao đổi với Bá tước. Thưa, bức thư đây ạ.
- Được rồi, - hoàng
thân nói, - Ông sẽ đưa tôi sau. Tù binh đây rồi, ta hãy nghĩ đến việc cấp bách
nhất.
Người ra dẫn tên du
kích đến. Đó là một tên trong bọn lính đánh thuê thời ấy vẫn còn, chúng bán máu
cho bất kỳ ai muốn mua và già đời trong chuyện mưu mô và cướp phá. Từ lúc bị
bắt, nó không nói nửa lời đến nỗi những người đã giữ nó cũng chẳng biết nó
thuộc quốc gia nào nữa.
Hoàng thân nhìn nó với
vẻ nghi ngờ khó tả.
- Mày là người nước
nào? - Hoàng thân hỏi.
Tên tù binh trả lời
bằng vài tiếng nước ngoài.
- A! Hình như nó nói tiếng
Tây Ban Nha, Grammont, ông nói được tiếng Tây Ban Nha không?
- Thưa Đức ông, thực
tình là rất ít.
- Còn tôi chẳng biết tí
nào, - hoàng thân cười nói.
Rồi quay nhìn những
người xung quanh, ông nói tiếp:
- Này các ông, ở đây có
ai nói tiếng Tây Ban Nha và phiên dịch giúp cho tôi được không?
- Thưa Đức ông, tôi ạ,
- Raoul đáp.
- A! Ông nói được tiếng
Tây Ban Nha à?
- Thưa cũng tàm tạm, để
thực hiện mệnh lệnh của điện hạ trong dịp này.
Trong suốt thời gian
ấy, tên tù binh vẫn thản nhiên cứ như là hắn không hiểu gì hết về điều người ta
đang bàn.
Raoul nói tiếng Tây Ban
Nha bằng cái giọng xứ Castillan thuần túy nhất:
- Đức ông muốn hỏi anh
là ngươi nước nào?
- Ich bin ein
Deutscher, - Tên tù binh đáp.
- Nó nói cái quỷ gì
thế? - Hoàng thân hỏi. - Và cái tiếng nói lố lăng ấy là tiếng gì?
- Thưa Đức ông nó nói
nó là người Đức, - Raoul đáp, - tuy nhiên tôi hoài nghi vì giọng nó dở quá và
phát âm sai bét.
- Thế ông cũng nói được
tiếng Đức nữa à? - Hoàng thân hỏi.
- Vâng, thưa Đức ông -
Raoul đáp.
- Đủ để hỏi cung nó
bằng tiếng ấy chứ?
- Vâng ạ.
- Vậy thì hỏi nó đi.
Raoul bắt đầu cuộc hỏi
cung nhưng thực tế đã củng cố nhận định của anh. Tên tù binh không hiểu hoặc
giả vờ không hiểu Raoul nói gì với hắn. Về phía mình Raoul cũng không hiểu rõ
những câu trả lời của nó pha trộn hẩu lốn tiếng Flamand và Alsacien. Tuy nhiên
giữa tất cả những cố gắng của tên tù binh để lẩn tránh một cuộc hỏi cung đúng
qui cách. Raoul nhận ra cái giọng tự nhiên của người đó. Anh nói:
- Non siete Spagnuolo,
non siet Tedesco; Siete Italiano (1).
(1) Tiếng Ý: Mày chẳng phải người Tây Ban Nha, chẳng
phải người Đức, mày là người Ý.
Tên tù binh làm một
động tác và cắn môi.
- A! Cái tiếng này thì
tôi thạo lắm, - hoàng thân de Condé nói.
- Và vì rằng nó là
người Ý, tôi sẽ tiếp tục cuộc hỏi cung. Cảm ơn Tử tước nhé, - Hoàng thân cười
và nói tiếp - Từ giờ phút này, tôi cử ông làm người phiên dịch của tôi.
Nhưng tên tù binh không
sẵn sàng trả lời bằng tiếng Ý cũng như bằng các thứ tiếng khác; nó chỉ muốn
lảng tránh các câu hỏi mà thôi.
Cho nên nó chẳng biết
gì hết, từ số lượng quân địch, tên họ những người chỉ huy, cho đến ý đồ của
cuộc tiến quân.
- Thôi được, - Hoàng
thân nói, ông hiểu những nguyên do của sự không biết ấy, - người này bị bắt
trong lúc đang cướp phá và ám sát; hắn đã có thể chuộc mạng sống bằng cách nói
ra, nhưng hắn không muốn nói. Hãy dẫn nó đi và đem bắn.
Tên tù binh tái mặt;
hai người lính đã dẫn nó đến, mỗi người túm một tay nó và đưa ra cửa; còn hoàng
thân thì quay lại với thống chế Grammont dường như đã quên hẳn mệnh lệnh ông
vừa mới ban ra.
Tới ngưỡng cửa, tên tù
binh dừng lại: hai người lính chỉ biết thi hành mệnh lệnh, muốn lôi nó ra đi
tiếp.
- Khoan đã, - tên tù
binh nói bằng tiếng Pháp - Thưa Đức ông, tôi xin nói.
- A, a! - Hoàng thân
cười nói, - tôi biết rõ thế nào rồi cũng đến đấy mà. Tôi có một bí quyết kỳ
diệu để gỡ những cái lưỡi này, các chàng thanh niên hãy tận dụng nhé, để sau
này đến lượt mình còn chỉ huy.
- Nhưng với điều kiện
là, - tên tù binh nói tiếp, - Điện hạ hãy thề là để tôi sống.
- Ta lấy đanh dự quý
tộc mà thề, - hoàng thân nói.
- Vậy Đức ông hãy hỏi
đi.
- Đội quân vượt qua
sông Lys ở chỗ nào?
- Giữa Saint-Venant và
Aire.
- Ai là người chỉ huy?
- Bá tước de
Fuensaldagna, tướng général Beck và đích thân Đại công thân vương.
- Đội quân có bao nhiêu
người?
- Mười tám nghìn người
và ba mươi sáu khẩu đại bác.
- Nó tiến về đâu?
- Về Lens.
- Các ông thấy chưa -
Với vẻ đắc thắng, Hoàng thân vừa nói vừa quay lại phía thống chế Grammont và
các sĩ quan khác.
- Vâng, thưa Đức ông -
thống chế nói, - ngài đã đoán đúng tất cả những gì mà thiên tàỉ của con người
có thể đoán được.
Hoàng thân nói:
- Hãy nhắc Le Plessis,
Bellièvre, Villequier et D’Erlac, và hãy nhắc tất cả các toàn quân ở bên kia
sông Lys rằng họ phải sẵn sàng để hành quân đêm nay; rất có khả năng ngày mai
chúng ta tấn công quân thù.
- Nhưng, thưa Đức ông,
- thống chế Grammont nói, - xin ngài nhớ cho rằng có tập hợp tất cả những người
của chúng ta lại, cũng chỉ đạt xấp xỉ con số mười ba nghìn người.
- Ông thống chế ơi, -
hoàng thân nói với cái nhìn tuyệt vời mà chỉ ông mới có, - chính là với những
đội quân nhỏ mà người ta giành những trận thắng lớn.
Rồi quay về phía tên tù
binh, ông bảo:
- Dẫn người này đi và
phải canh giữ cẩn thận. Tính mạng nó trông vào những tin tức nó đã cung cấp:
nếu tin tức đúng nó sẽ được tự do, nếu sai thì nó sẽ bị bắn.
Người ta dẫn tù binh
đi.
- Bá tước de Guise, -
Hoàng thân nói,
- Đã lâu rồi anh
không được gặp cha anh, hãy đến với cha anh đi. Còn anh, - ông nói tiếp với
Raoul, - Nếu anh không mệt quá thì hãy đi theo tôi.
- Đến cùng trời cuối đất
thưa Đức ông! - Raoul reo lên, anh cảm thấy một niềm nhiệt thành mới lạ, đối
với vị tướng trẻ tỏ ra rất xứng đáng với danh tiếng của ông.
Hoàng thân mỉm cười;
ông ghét những kẻ xu nịnh, nhưng rất yêu quý nhưng người nhiệt tâm.
- Này anh bạn, - Ông
nói, - anh giỏi về góp ý kiến, điều ấy vừa được thử thách; ngày mai chúng ta sẽ
xem anh hành động thế nào.
- Thế còn tôi, thưa Đức
ông, - Thống chế nói, - tôi sẽ làm gì?
- Ông ở lại đây để tiếp
nhận các toán quân hoặc tự tôi sẽ lại tìm họ hoặc tôi sẽ cử một người liên lạc
về để ông dẫn họ đến cho tôi.
- Hai mươi vệ sĩ có
ngựa tốt nhất, đoàn tuỳ tùng của tôi chỉ cần thế thôi.
- Ít quá đấy - thống
chế nói.
- Thế là đủ rồi, -
Hoàng thân đáp. - Bragelonne, anh có ngựa tốt không?
- Con ngựa của tôi bị
giết sáng nay tạm thời tôi cưỡi con ngựa của tên hầu.
- Anh hãy hỏi và tự
mình chọn ở trong chuồng ngựa của tôi con ngựa nào vừa ý anh nhất. Đừng có sĩ
diện hão nhé hãy lấy con ngựa mà anh thấy là tốt nhất ấy. Tối nay anh có thể
cần dùng đến nó và ngày mai thì chắc chắn đấy.
Raoul chẳng đợi bảo đến
hai lần anh biết rằng đối với cấp trên nhất là khi các vị cấp trên đó lại là
Hoàng thân, thì sự việc lễ phép cao nhất là tuân theo không chạm trễ và đừng có
lý sự gì cả. Anh xuống chuồng ngựa, chọn một con ngựa andalou màu vàng nhạt, tự
mình thắng yên cương cho nó - vì Arthos đã dặn anh là trong lúc nguy hiểm thì
đừng có giao những việc quan trọng ấy cho ai cả. Rồi anh đến với hoàng thân lúc
ấy đã lên ngựa.
- Bây giờ, - Hoàng thân
bảo Raoul. - Anh hãy đưa tôi bức thư mà anh mang theo.
Raoul đưa thư cho hoàng
thân.
- Anh hãy đi bên tôi
nhé, - Ông bảo.
Hoàng thân thúc ngựa,
móc dây cương vào chuôi kiếm như ông vẫn thường làm khi muốn tay mình được tự
do, bóc phong thư của bà Longueville và phi nước đại trên con đường đi Lens, đi
theo có Raoul và đỏàn tùy
tùng nhỏ, trong khi những phái viên phái đi gọi các toán quân thì phóng băng
băng theo các hướng ngược nhau.
Hoàng thân vừa phi ngựa
vừa đọc. Một lát sau ông nói:
- Người ta nói những
điều hay nhất về anh, tôi chỉ nói với anh một điều, đó là theo chút ít mà tôi
đã trông thấy và nghe thấy, tôi nghĩ còn nhiều hơn người ta nói với tôi.
Raoul cúi mình.
Trong khi đó, toán
người đi cứ mỗi bước tiến về Lens thì tiếng đại bác nghe càng gần lại. Mặt
hoàng thân dán chặt về phía tiếng súng như mắt một con chim mồi. Dường như mắt
của ông có sức mạnh xuyên quạ các rặng cây đang giăng ra trước mặt ông và bịt
kín chân trời. Chốc chốc hai lỗ mũi của hoàng thân lại dãn ra như là ông háu
ngửi mùi thuốc súng và ông thở phì phò như con ngựa của mình.
Cuối cùng người ta nghe
tiếng đại bác gần quá và thấy rành rành là mình chỉ còn cách trận địa chừng một
dặm. Thật vậy, đến
chỗ ngoặt của con đường thì trông thấy cái làng nhỏ Annay. Dân làng hết sức bối
rối, lộn xộn, tin đồn về những sự tàn bạo của bọn Tây Ban Nha lan rộng và khiến
ai nấy đều sợ hãi; đàn bà đã chạy trốn, đi về Vitry, có mấy người đàn ông ở
lại.
Trông thấy hoàng thân,
họ chạy đến, một người nhận ra ông và nói:
- A, Đức ông, ngài đến
đánh đuổi tất cả lũ Tây Ban Nha đê tiện và lũ kẻ cướp Lorain phải không?
- Phải, nếu anh muốn
làm người dẫn đường cho tôi.
- Rất sẵn lòng, Đức ông
ạ. Điện hạ muốn tôi dẫn ngài đến đâu?
- Đến một chỗ nào cao
để tôi có thế nhìn
thấy Lens và các vùng xung quanh.
- Tôi làm được.
- Tôi có thể tin ở anh
anh là một người Pháp tốt chứ?
- Thưa Đức ông tôi là
lính cũ ở trận Rocroy.
- Này cầm lấy, - hoàng
thân vừa nói vừa đưa cho người lính túi tiền của mình, - đây là thưởng cho
chiến công Rocroy. Bây giờ anh có muốn một con ngựa không hay là thích đi bộ?
- Đi bộ, Đức ông ạ trước
tôi ở bộ binh mãi. Vả lại tôi tính dẫn Đức ông đi qua những con đường mà ngài
phải xuống ngựa.
- Đi nào, - Hoàng thân
nói, - Ta chớ nên để mất thì giờ.
Người nông dân chạy
trước con ngựa của hoàng thân; rồi ra khỏi làng một trăm bước bác ta đi vào một
con đường mòn ở cuối một thung lũng nhỏ xinh đẹp. Trong khoảng nửa dặm họ đi
như vậy dưới lùm cây. Những phát súng đại bác vang lên rất gần, đến nỗi cứ mỗi
tiếng nổ người ta tưởng như sắp nghe thấy tiếng đạn rít trên không. Cuối cùng
người ta thấy một lối nhỏ rời con đường đang đi để bám vào thành núi. Bác nông
dân đi vào lối ấy và mời hoàng thân đi theo mình. Hoàng thân xuống ngựa, bảo
người phụ tá và Raoul cũng làm như vậy, dặn những người khác đợi lệnh của ông
và phải đề phòng thủ thế cẩn thận, rồi ông bắt đầu leo lên lối dốc.
Mười phút sau đến một
tòa lâu đài cổ hoang tàn, nó bao quanh một ngọn đồi, đứng trên đó nhìn được bao quát cả
vùng chung quanh. Cách xa độ một phần tư dặm trông thấy rõ Lys đang ở thế nguy,
và phía trước Lens là cả đạo quân thù.
Nhìn thoáng một cái
hoàng thân đã bao quát khoảng không gian mở ra trước mắt ông từ Lens cho đến
Vitry. Một lát sau đã díễn ra trong trí óc ông tất cả kế hoạch của một trận
đánh vào ngày hôm sau ắt là nó sẽ cứu nước Pháp lần thứ hai khỏi cuộc xâm lăng.
Ông lẩy bút chì, xé một
tờ giấy trong cặp và viết.
"Ông thống chế
thân mến,
Trong một giờ nữa Lens
sẽ rơi vào tay quân địch. Ông hãy đến chỗ tôi, mang theo tất cả quân đội. Tôi
sẽ tới Vendin để bố trí quân. Ngài mai chúng ta sẽ chiếm lại Lens và đánh bại
quân thù!"
Rồi quay lại phía
Raoul, ông bảo:
- Đi đi phi thật nhanh
và trao bức thư này cho ông de Grammont.
Raoul cúi mình cầm mảnh
giấy đi nhanh xuống núi, nhảy phốc lên ngựa và phi nước đại.
Mười lăm phút sau anh
đã về tới chỗ thống chế.
Một phần lực lượng đã tới
nơi. Người ta đợi phần còn lại từng giây từng phút.
Thống chế de Grammont dẫn đầu tất cả
số lục quân và kỵ binh có sẵn và đi theo đường Vendin, để lại quận công
Châtillon để chờ số quân còn lại và đưa họ đi sau.
Tất cả pháo binh đều đã
sẵn sàng và lên đường.
Bảy giờ tối thì thống
chế đến chỗ hẹn. Hoàng thân đang đợi.
Như ông đã đoán trước,
Lens rơi vào tay quân địch gần như ngay sau khi Raoul đi. Việc ngừng pháo kích
cũng đã nói lên sự kiện đó.
Người ta chờ đêm tới.
Trời càng tối dần thì những toán quân mà Hoàng thân gọi cũng lần lượt tới nơi.
Họ đã được lệnh là tuyệt đối không đánh trống thổi kèn.
Chín giờ thì tối hẳn.
Tuy nhiên một ánh hoàng hôn cuối cùng còn chiếu sáng cánh đồng.
Đoàn quân do hoàng thân
dẫn đi bắt đầu hành quân lặng lẽ.
Đi tới bên kia Annay
thì trông thấy Lens; vài ba ngôi nhà đang cháy và một tiếng xôn xao âm thầm chỉ
rõ sự hấp hối của một thành phố bị chiểm lĩnh dội đến tai những người lính.
Hoàng thân cắt đặt vị
trí cho mỗi người; thống chế de giữ đầu cánh trái và phải dựa vào Méricourt;
quận công de Châtillon ở trung tâm; cuối cùng hoàng thân ở phía trước Annay
hình thành cánh phải.
Trật tự của trận đánh
ngày hôm sau phải giữ nguyên như trật tự các vị trí đã bố trí đêm hôm trước.
Mỗi người khi tỉnh giấc phải ở đúng nơi mà mình cần hành động.
Cuộc vận động được thực
hiện trong yên lặng như tờ và với sụ chính xác cao nhất. Mười giờ ai nấy đã giữ
vị trí của mình, mười giờ rưỡi hoàng thân đi kiểm tra các vị trí và ban mệnh
lệnh cho ngày hôm sau.
Ba điều được căn dặn kĩ
càng nhất cho tất cả các chỉ huy, và họ phải lo sao cho tất cả binh sĩ tuân
theo nghiêm ngặt. Thứ nhất là các đơn vị phải trông nhau mà hành quân cho đúng,
sao cho kỵ binh và bộ binh ở trên cùng một tuyến và mỗi đơn vị giữ đúng các
khoảng cách của mình.
Thứ hai là đi công kích
chỉ đi bước thường.
Thứ ba là để quân địch
nổ súng trước.
Hoàng thân giao de
Guise cho cha anh, và giữ Bragelonne ở với mình, nhưng hai thanh niên xin cho
ngủ cùng với nhau đêm nay và được chấp thuận.
Một tấm lều được dựng
lên cho họ bên cạnh lều của thống chế.
Ban ngày mệt nhọc thế,
mà chẳng cậu nào buồn ngủ.
Vả chăng đêm trước của
một trận đánh bao giờ chẳng là một điều trang nghiêm và trịnh trọng, ngay cả đối với những người lính già
cũng vậy, huống hồ là cả hai thanh niên lần đầu tiên đi ra nơi chiến trường
khủng khiếp ấy.
Đêm trước một trận
đánh, người ta nghĩ đến trăm điều lãng quên cho đến lúc ấy lại vụt lên trong
trí óc. Đêm trước một trận đánh, những người dưng trở thành bạn bè và bạn bè
trở thành anh em.
Chẳng cần phải nói rằng
nếu như người ta giữ ở trong tim một tình cảm nào đó trìu mến hơn thì dĩ nhiên
tình cảm ấy sẽ đạt tới mức phấn khích cao nhất mà nó có thể đạt.
Chắc rằng hai thanh
niên ấy mỗi người đều cảm thấy một tình cảm nào đó, vì rằng một lát sau mỗi
người ra ngồi ở một góc lều và tì lên đầu gối để viết.
Thư văn lai láng, bốn
trang giấy lần lượt đầy những dòng chữ nhỏ li ti và sít nhau. Chốc chốc hai
thanh niên lại nhìn nhau mỉm cười. Họ hiểu nhau mà không nói gì cả; hai tư cách
phong nhã và dễ thương ấy sinh ra để thông cảm với nhau mà chẳng nói thành lời.
Viết thư xong, mỗi
người bỏ thư của mình vào hai lần phong bì, chỉ khi nào xé phong bì ngoài cùng
ra người ta mới biết được thư viết cho ai. Rồi cả hai tiến lại gần nhau, trao
đổi các phong thư và mim cười.
- Nếu như sự bất hạnh
đến với tôi. - Bragelonne nói.
- Nếu như tôi bị giết,
- de Guise nói.
- Cứ yên trí, - cả hai
cùng nói.
Rồi họ ôm hôn nhau như
hai anh em. Xong mỗi người trùm áo choàng mà ngủ cái giấc ngủ trẻ trung và
duyên dáng của những cánh chim, những bông hoa và những em bé.

