Hai mươi năm sau - Chương 37
Chương 37
Một bữa ăn ngày xưa
Cuộc hội kiến thứ hai
của bốn chàng ngự lâm quân cũ không long trọng và rần rộ như cuộc đầu tiên. Với
lý lẽ bao giờ cũng trội hơn của mình, Arthos phán đoán rằng bàn ăn sẽ là trung
tâm tụ họp nhanh chóng nhất và đầy đủ nhất. Và vào cái lúc mà bạn bè anh kiêng
nể sự tao nhã và tiết độ của anh chàng dám đá động đến một trong số những bữa
thịnh soạn ngày xưa ăn, thì anh là người đầu tiên đề nghị gặp nhau quanh một
bàn ăn thật đàng hoàng và mỗi người có thể buông theo tính tình và phong cách
của riêng mình, sự buông thả tự nhiên ấy đã duy trì sự thông cảm và hòa hợp nó
khiến các anh được người ta gọi là những người bạn nối khố.
Lời đề nghị thật là thú
vị đối với mọi người nhất là D’Artagnan, anh đang khao khát thấy lại những bữa
ăn ngon và niềm vui vẻ chuyện trò của thời trai trẻ; bởi vì đã từ lâu, tâm hồn
tinh tế và khoái hoạt của anh chỉ toàn gặp những thỏa mãn nửa vời, những thức
ăn tồi, như anh thường nói. Porthos vào lúc có cơ làm Nam tước rất vui mừng có
được cơ hội để nghiên cứu ở Arthos và Aramis lời ăn tiếng nói và các cung cách
của những người cao sang. Aramis muốn qua D’Artagnan và Porthos để biết tin tức
trong hoàng cung và trong mọi cơ hội muốn giành cho mình những người bạn thật
là tận tụy ngày xưa và từng hỗ trợ anh trong các cuộc quyết đấu với những đường
kiếm đến là nhanh nhẹn và không ai có thể thắng nổi.
Còn về Arthos, anh là
người duy nhất không có chút gì chờ đợi hoặc thu nhận ở những người kia, mà chỉ
được thúc đẩy bằng một tinh thần cao thượng giản đơn và tình bạn bè thuần túy.
Thế là họ thỏa thuận
với nhau rằng mỗi người sẽ cho biết địa chỉ rất rõ ràng của mình và khi nào một
người cần đến thì cuộc hội họp sẽ được triệu tập tại nhà một chủ quán nổi tiếng
ở phố Monnais có tấm biển đề L'Ermitage. Cuộc hẹn dầu tiên ấn định vào thứ tư
sau, đúng tám giờ tối.
Đúng ngày hôm ấy, bốn
người bạn đến rất đúng giờ và mỗi người từ một phía. Porthos cần thử một con
ngựa mới, D’Artagnan rời phiên gác ở cung Louvre, Aramis đã phải đi thăm một bà
sám hối của mình trong xóm, còn Arthos đã thuê nhà ở phố Guénégaud, hầu như ở
sát gần, họ rất bất ngờ gặp nhau ở ngay cửa quán L'Ermitage, Arthos từ Cầu Mới
ra, Porthos từ phố Gỗ xẻ đến, D’Artagnan từ phố Hào Saint-Germain-L'Auxerrois -
và Aramis từ phố Béthisy tới.
Những lời lẽ đầu tiên
trao đổi giữa bốn người bạn đúng là do cố ý làm bộ dạng cho nên có phần hơi
gượng gạo và ngay bữa ăn cũng bắt đầu với một vẻ tẻ nhạt, cứng ngắt thế nào ấy.
Người ta thấy rõ là D’Artagnan cố gượng để cười, Arthos để uống, Aramis để kể
chuyện và Porthos để im tiếng. Arthos nhận thấy sự lúng túng ấy và đề có phương
thuốc cứu chữa ngay anh gọi mang đến bốn chai rượu sâm-banh.
Trước tiếng gọi ấy ban
ra với vẻ điềm tĩnh
thông thường của Arthos, người ta thấy khuôn mặt chàng Gascon dãn ra, và vầng
trán Porthos rạng rỡ hẳn.
Aramis ngạc nhiên. Anh
biết rằng Arthos không những không uống rượu nữa, mà còn cảm thấy phần nào ghê
sợ rượu.
Aramis càng ngạc nhiên
gấp bội khi thấy Arthos rót rượu đầy phè và uống với niềm hào hứng xưa kia.
D’Artagnan rót rượu ra cốc và cạn ngay; Porthos và Aramis chạm cốc nhau. Loáng
một cái, bốn chai rượu đã rỗng không. Dường như các thực khách vội vã tuyệt
giao với những ẩn ý của mình.
Thoáng một cái môn
thuốc đặc hiệu ấy đã xua tan đến những bóng mây nhỏ nhất còn đọng lại trong
lòng họ. Bốn người bạn bắt đầu nói to hơn, chẳng đợi người này dứt lời, người
kia đã lên tiếng, và mỗi người ngồi ăn theo kiểu mình thích. Chẳng mấy chốc,
thật là điều ghê gớm. Aramis tháo hai sợi dây ngù buộc áo chẽn của mình, thấy
vậy Porthos cởi phăng tất cả dây áo của anh.
Những trận đánh, những
chặng đường dài, những nhát gươm nhận được và ban đi là những điều tươi mát đầu
tiên của cuộc chuyện trò. Rồi người ta chuyển sang nhưng cuộc đấu tranh ngấm
ngầm chống lại người mà bây giờ người ta gọi là vị giáo chủ vĩ đại.
- Thực tình - Aramis
cười nói. - là đã khá nhiều lời ca tụng những người đã chết rồi, bây giờ ta hãy
chê bai người sống một chút.
- Tôi muốn chê bai lão
Mazarin một tí, có
được không?
- Được chứ! -
D’Artagnan bật cười nói - được chứ. Cậu cứ kể chuyện đi, nếu hay tôi sẽ tán
thưởng.
Aramis bắt đầu kể:
- Mazarin đang cần liên
minh với một vị đại hoàng thân. Lão yêu cầu ông ta gửi cho lão bản liệt kê
những điều kiện theo đó hai người có thể kết giao được. Hoàng thân vốn ghét
thương lượng với một kẻ thô bỉ như lão, đành miễn cưỡng làm bản liệt kê và gửi
cho lão. Trong bản đó có ba điều kiện không vừa lòng Mazarin, lão đề nghị ông
từ bỏ ba điều kiện ấy để đổi lấy mười nghìn êquy.
- A, a! - Cả ba người
bạn reo lên, - chẳng đắt đâu, và lão chẳng sợ bị cột vào lời nói hớ đâu. Thế
hoàng thân bảo sao?
- Hoàng thân lập tức
gửi ngay năm mươi nghìn livres cho Mazarin và yêu cầu lão đừng bao giờ viết cho
ông nữa và còn sẵn sàng biếu thêm hai mươi nghìn livres nếu như lão cam kết là
không bao giờ nói gì với ông nữa.
- Thế Mazarin làm gì?
- Lão tức giận chứ? -
Arthos hỏi.
- Chắc là lão cho đánh
đòn người đưa thư? - Porthos hỏi.
- Lão nhận số tiền phải
không? - D’Artagnan nói.
- Cậu đoán đúng,
Artagnan ạ, - Aramis bảo.
Và tất cả phá ra cười
ầm ĩ đến nỗi chứ quán chạy lên và hỏi xem các ông ấy cần gì. Gã cứ tưởng họ
đánh nhau.
Trận cười rồi cũng yên.
- Có thể cho ông de
Beaufort một đòn không nhỉ? - D’Artagnan hỏi, - Tôi rất muốn đây.
- Cứ làm đi, - Aramis
nói, anh biết đến tận gan ruột cái anh chàng Gascon thật là tinh ma và thật là
dũng cảm này, hẳn không bao giờ chịu lùi một bước trên bất cứ đấu trường nào.
- Anh thấy thế nào,
Arthos? - D’Artagnan hỏi.
- Tôi lấy danh dự quý
tộc mà thề, - Arthos đáp, - nếu cậu nói dấm dớ thì chúng tôi sẽ cười cho đấy.
- Tôi xin bắt đầu, - D’Artagnan
nói - Một hôm trong lúc chuyện trò với một người bạn của Ngài Hoàng thân, ông
de Beaufort kể với người ấy rằng; có một lần ông tranh luận với de Chavigny về những cuộc
tranh chấp đầu tiên giữa Mazarin và nghị viện. Thấy Chavigny gắn bó với tể tướng
mới, mà chính hắn xưa kia đã từng ra sức ôm chân tể tướng cũ, ông de Beaufort
bực lắm và đã đánh cho hắn một trận ra trò.
"Người bạn ấy biết
ông de Beaufort vốn có bàn tay rất nhẹ nhàng, nên sửng sốt về việc đó và vội
chạy đến kề lại cho Ngài Hoàng thân nghe. Câu chuyện lan rộng ra ngay và ai nấy
đều quay lưng lại Chavigny. Hắn rất thắc mắc về thái độ lạnh nhạt chung ấy của
mọi người, nhưng người ta ngại cho hắn biết nguyên do. Cuối cùng có một người
đánh bạo nói với hắn rằng mọi người rất lấy làm lạ vì sao hắn để cho ông de
Beaufort thụi hắn, dù ông ta có là hoàng thân chăng nữa.
"Thì ai nói là
Hoàng thân de Beaufort thụi tôi? - Chavigny hỏi.
"Thì chinh Hoàng
thân chứ ai, - người bạn đáp.
"Người ta bèn đi
ngược nguồn tin và tìm thấy người mà hoàng thân đã kể cho nghe chuyện ấy, ông
ta lấy danh dự ra thề là đã nói sự thật, lại còn nhắc lại và khẳng định nữa.
"Chavigny phẫn uất
về một chuyện vu cáo như vậy mà hắn chẳng hiểu tí gì, tuyên bố với bạn bè là
hắn thà chết, chứ không thể chịu dựng một sự lăng nhục đến thế. Cho nên hắn cử
hai người làm chứng đến gặp hoàng thân, với nhiệm vụ là hỏi ông xem có đúng là
ông có nói rằng ông đã thụi de
Chavigny không.
"Tôi đã nói như
thế, - Hoàng thân đáp, - và tôi xin nhắc lại, vì đó là sự thật.
"Thưa Đức ông, -
một người nhà Chavigny bèn nói, - Xin phép cho tôi được thưa với Điện hạ rằng,
những cú đánh vào một người quý tộc làm hạ phẩm giá của cả người đánh lẫn người
bị đánh. Vua Louis XIII trước kia đã không muốn dùng những người quý tộc làm
hầu phòng để có quyền đánh đập hầu phòng.
"Ơ kìa, - ông de
Beaufort ngạc nhiên hỏi, - nhưng mà ai đã bị đánh đòn và ai nói đến chuyện đánh
đòn cơ chứ?
"Thì chính Đức ông
bảo là đã đánh…
"Đánh ai?
"Ông de Chavigny.
"Tôi ấy à?
"Thì ngài đã chẳng
thụi ông de Chavigny rồi sao, ít ra là theo như ngài nói.
"Đúng vậy.
"Ồ! Nhưng ông ta
cải chính.
"À ra thế, - hoàng
thân nói, - tôi đã thụi cho ông ta ra trò, mà nguyên văn lời tôi nói như thế
này. - Ông de Beaufort nói với tất cả về oai nghiêm mà các cậu đã biết đây!
"Ông Chavigny thân
mến ơi, ông thật là đáng chê trách vì đã giúp sức cho một tên vô lại như lão
Mazarin kia".
"A! Thưa Đức ông,
- nhân chứng thứ hai reo lên, tôi hiểu rồi, chắc là ý ngài muốn nói quở trách.
"Quở trách với
thụi(1) thì có sao nào? - Hoàng thân nói - chẳng phải cũng đúng cả ư? Quả các
nhà soạn chữ nghĩa của các ông thực là thông thái rởm!"
(1) De Beaufort có tật nói hay lẫn những từ gần
giống nhau: Gourmer là thụi, đánh; còn Gourmander là quở trách, la mắng.
Mọi người cười đến vỡ bụng về điều sai lầm
ngôn ngữ học đó của ông Beaufort mà những sai lầm loại ấy bắt đầu trở thành
truyền thuyết. Cũng như thừa nhận rằng ý thức đảng phái đã bị loại trừ lẫn nhau
ra khỏi các cuộc hội họp thân mật này, D’Artagnan và Porthos có thể chế giễu
các ông hoàng với điều kiện là Arthos và Aramis có thể thụi cho lão Mazarin.
- Thực tình -
D’Artagnan nói với hai bạn, - các anh muốn điều ác cho Mazarin cũng đúng thôi,
bởi vì về phía lão ta, tôi xin thề rằng lão cũng chẳng muốn điều lành cho các
anh.
- Lạ nhỉ! Thật không? -
Arthos nói. - Nếu tôi biết rằng, cái lão đê tiện ấy biết tên tôi, thì có lẽ tôi
sẽ phải đổi tên, vì sợ rằng người ta sẽ tưởng là tôi quen biết hắn.
- Lão ta không biết anh
do tên tuổi, mà do việc làm của anh. Lão biết rằng có hai người quý tộc tham gia một cách đặc
biệt vào vụ vượt ngục của ông de Beaufort và đang ráo riết cho tìm kiếm; tôi
xin bảo đảm với anh như vậy.
- Cho ai đi tìm kiếm?
- Tôi.
- Sao, cậu à?
- Phải, mới sáng nay
thôi lão cho gọi tôi đến để hỏi xem có tin tức gì chưa?
- Về hai người quý tộc
ấy à?
- Phải.
- Thế cậu trả lời thế
nào?
- Là tôi chưa có tin
tức gì, nhưng tôi ăn cùng với hai người họ có thể cung cấp tin cho tôi.
- Cậu bảo lão ta thế à?
- Porthos hỏi với cái cười hô hố nở nang trên khuôn mặt to bè của anh. - Hoan
hô! Thế việc ấy không làm cho anh lo sợ à, Arthos?
- Không? - Arthos nói,
- chẳng phải tôi sợ việc tìm kiếm của Mazarin.
- Thế anh hãy cho tôi
biết một chút anh sợ cái gì nào? - Aramis hỏi.
- Chẳng sợ gì đâu, ít
ra là trong hiện tại thật đấy.
- Thế còn trong quá
khứ? - Porthos vặn lại.
- A! Trong quá khứ lại
là chuyện khác - Arthos thở dài nói, - trong quá khứ và trong tương lai…
- Phải chăng anh lo sợ
cho Raoul của anh? - Aramis hỏi.
- Không? - D’Artagnan
nói - chẳng ai chết trong trận đầu tiên đâu.
- Trận thứ hai cũng
vậy, - Aramis nói.
- Cả trận thứ ba cũng
thế thôi, - Porthos nói. - Và lại khi người ta bị giết thì người ta khỏi chết,
chứng cớ là chúng ta vẫn còn cả đây.
- Không, Arthos nói, -
cũng không phải chuyện Raoul làm tôi lo ngại bởi vì tôi hi vọng rằng nó sẽ cư
xử như người quý tộc và nếu nó bị giết thì chắc là chết một cách dũng cảm,
nhưng này, nếu như tai họa ấy đến với nó, thì… - Arthos đưa bàn tay lên vầng
trán tái xanh.
- Thì sao? - Aramis
hỏi.
- Thì tôi sẽ coi cái
tai họa ấy như một sự chuộc tội.
- A, a! - D’Artagnan
nói, - tôi biết anh định nói gì rồi.
- Và tôi cũng vậy, -
Aramis nói - nhưng không nên nghĩ đến chuyện đó, Arthos ạ: quá khứ đã qua rồi.
- Tôi không hiểu, -
Porthos nói.
- Chuyện ở Armentières
ấy mà, - D’Artagnan khẽ nói.
- Chuyện ở Armentières
nào nhỉ? - Porthos hỏi.
- Milady…
- A! Phải rồi, -
Porthos nói, - tôi quên bẵng đi mất rồi.
Arthos nhìn anh bằng
con mắt sâu xa và hỏi:
- Cậu đã quên chuyện ấy
rồi ư?
- Thực tình, - Porthos
đáp, - chuyện ấy cũng xa xôi lắm rồi.
- Điều ấy chẳng đè nặng
lên lương tâm cậu hay sao?
- Quả là không! -
Porthos nói.
- Thế, còn cậu,
Aramis?…
- Ấy thỉnh thoảng tôi
cũng có nghĩ đến, nhưng giống như một trong những điều khó xử nó có tính cách
giúp cho sự nghị luận nhiều hơn.
- Còn cậu thì sao,
D’Artagnan?
- Tôi thú thật là khi
nào nghĩ lại thời kỳ khủng khiếp ấy, tôi chỉ nhớ đến kỉ niệm về tấm thân lạnh
giá của bà Bonacieux tội nghiệp mà thôi. Đúng, đúng, biết bao lần tôi thương
tiếc nạn nhân, nhưng không bao giờ hối hận đối với kẻ ám sát nàng.
Arthos lắc đầu, vẻ hoài
nghi.
- Anh hãy nhớ rằng, -
Aramis nói, - nếu như anh chấp nhận công lý của Trời và sự tham gia của nó vào
các việc ở trên đời này, thì người đàn bà ấy đã bị trừng phạt theo ý Chúa. Chúng ta chỉ là
nhưng công cụ, có thế thôi.
- Thế còn sự tự do ý
chí thì sao, Aramis?
- Quan tòa làm gì nào?
Ông ta có tự do ý chí của mình và kết tội mà chẳng sợ hãi gì. Đao phủ làm gì
nào? Hắn làm chủ cánh tay của hắn và chém mà không ân hận.
- Đao phủ… - Arthos lẩm
bẩm.
Và người ta trông thấy
anh dừng lại ở một kỉ niệm.
- Tôi biết là chuyện ấy
kinh hoàng thật, - D’Artagnan nói - nhưng khi nghĩ rằng chúng ta đã giết những
người Anh, những người dân thành La Rochelle, bọn Tây Ban Nha, Rochelais cả
người Pháp nữa, họ chẳng làm điều gì ác nào khác ngoài việc nhằm bắn chúng ta
nhưng bắn hụt họ chẳng có điều sai lầm nào khác ngoài việc chạm kiếm với chúng
ta và không kịp đỡ, tôi xin tự biện giải cho mình trong vụ giết người đàn bà
ấy, xin lấy danh dự mà thề như vậy.
- Còn tôi, - Porthos
nói, - bây giờ các anh nhắc lại chuyện ấy. Arthos ạ, tôi thấy quang cảnh ấy
hiện lại rành rành như lúc mình đã chứng kiến: Milady ở chỗ kia, anh ở đấy
(Arthos tái mặt); còn tôi ở chỗ D’Artagnan đang ngồi đây. Tôi đeo bên mình một
thanh kiếm sắc như nước… Aramis, cậu còn nhớ thanh kiếm ấy chứ? Cậu vẫn gọi nó
là Balizarde mà. Thật đấy, tôi xin thề với cả ba anh rằng nếu như không có gã
đao phủ xứ Béthune ở đấy… Xứ Béthune phải không nhỉ?… Phải, nếu không có hắn ở
đấy, thi thực tình tôi đã chém cổ con mụ phản trắc ấy một nhát đứt phăng không
cần làm lại, mà dù có phải làm lại đi nữa… Đó là một mụ đàn bà độc ác.
Với các giọng điệu
triết lý vô tư mà anh có từ khi đi tu nhà thờ và trong đó chất vô thần nhiều
hơn tin tưởng ở Chúa, Aramis nói:
- Mà nghĩ đến tất cả
những chuyện ấy làm gì kia chứ. Việc gì đã xong là xong rồi. Việc ấy chúng ta
sẽ xưng tội vào lúc lâm chung và Chúa sẽ hiểu rõ hơn chúng ta đó là một tội ác,
một lỗi lầm hay là một hành động đáng khen thưởng. Các anh bảo tôi có hối hận
không ư? Thực tình là không. Xin thề trên danh dự và trên cây thánh giá vả tôi
chỉ ân hận vì người ấy là đàn bà.
- Cái điều đáng yên tâm
nhất trong tất cả câu chuyện ấy, - D’Artagnan nói, - là nó không còn để lại một
dấu tích gì.
- Mụ ấy có một đứa con
trai, - Arthos nói.
- À phải, tôi biết rõ,
- D’Artagnan nói, - và anh cũng đã nói với tôi: nhưng ai biết nó bây giờ ra
sao? Rắn chết thì hết đời ổ trứng? Anh tưởng rằng de Winter bác của nó đã nuôi
nấng con rắn con đó sao? De Winter sẽ kết tội đứa con trai như đã kết tội mẹ nó.
- Thế thì, - Arthos
nói, - thật tai họa cho de Winter, bởi vì đứa con chưa thấy làm gì.
- Thằng bé ấy chết rồi,
không thì quỷ bắt tôi đi, - Porthos nói. - Theo D’Artagnan nói thì ở cái xứ sở
khốn khổ ấy, sương mù lúc nào cũng dày đặc, ít ra thì…
Vào cái lúc mà câu kết
luận ấy của Porthos có lẽ sắp tô lại niềm vui trên những vầng trán ít nhiều u
ám ấy, thì có tiếng động vang lên ở cầu thang và có tiếng gõ cửa.
- Cứ vào. - Arthos bảo.
- Thưa các ông, - chủ
quán nói - có một tên hầu có việc rất gấp xin gặp một trong các ông ở đây.
- Gặp ai? - Cả bốn
người cùng hỏi.
- Gặp vị nào là bá tước
de La Fère.
- Tôi đây, - Arthos
nói, - thế tên hầu ấy tên là gì?
- Grimaud.
- A! - Arthos tái mặt
thốt lên. - Hắn đã về rồi ư? Có chuyện gì xảy ra với Bragelonne rồi chăng?
- Cho hắn vào! -
D’Artagnan bảo. - Cho hắn vào!
Nhưng Grimaud đã lên
hết cầu thang và đang đợi ở thềm; bác lao vào trong phòng và ra hiệu bảo chủ
quán đi ra.
Chủ quán đóng cửa lại.
Bốn người bạn đợi chờ. Vẻ xáo động của Grimaud, khuôn mặt tái mét và ròng ròng
mồ hôi bụi bậm lẩm đầy quần áo bác, tất cả báo hiệu rằng bác mang đến một tin
quan trọng và khủng khiếp nào đó.
- Thưa các ông, - bác
nói - người đàn bà ấy có một đứa con, đứa con ấy đã thành người lớn; hổ cái có
một hổ con, con hổ ấy đã được thả ra, nó sẽ tìm đến các ông, phải đề phòng!
Arthos nhìn các bạn với
một nụ cười buồn thảm.
Porthos tìm thanh kiếm
ở bên mình, nó được treo ở tường.
Aramis vớ con dao;
D’Artagnan đứng dậy và hỏi:
- Bác định nói gì vậy,
Grimaud?
- Con trai của Milady
đã rời nước Anh, nó đang ở Pháp, đi đến Paris nếu không phải là nó đã có mặt ở
đây rồi.
- Quái quỷ thật! -
Porthos nói, - bác có chắc chắn không?
- Chắc! - Grimaud đáp.
Một lát im lặng dài
tiếp đón điều tuyên bố ấy.
Grimaud thở hổn hển,
mệt rã rời ra và ngồi phịch xuống ghế. Arthos rót một cốc sâm-banh và đưa bác.
- Ồ! Dù sao, -
D’Artagnan nói, - nếu nó còn sống, nếu nó đến Paris: thì chúng ta cũng đã thấy
lắm chuyện ghê gớm hơn thế! Nó cứ việc đến!
- Phải, - Porthos vuốt
ve bằng ánh mắt thanh kiếm treo trên tường và nói - Chúng ta chờ đợi, nó cứ
việc đến.
- Vả chăng nó cũng chỉ
là một đứa trẻ con, - Aramis nói.
- Trẻ con? - Grimaud
nói. - Ông có biết cái thằng trẻ con ấy đã làm gì không? Cải trang làm mục sư
hắn đã khám phá ra tất cả câu chuyện do nghe đao phủ xứ Béthune xưng tội, và
sau khi đã nghe xong, sau khi đã biết rõ tất cả, để xá tội, hắn đã cắm vào tim
kẻ sám hối lưỡi dao găm này đây. Các ông xem, lưỡi dao vẫn còn đỏ lòm và ẩm ướt, vì nó được
rút ra khỏi vết thương chưa đầy ba mươi tiếng đồng hồ.
Và Grimaud quẳng lên
giường con dao mà gã mục sư đã để quên trong vết thương của tên đao phủ.
D’Artagnan, Portox và
Aramis đứng bật dậy và thình lình chạy cả ra chỗ để kiếm.
Riêng Arthos vẫn ngồi ở
ghế, bình tĩnh và trầm ngâm.
- Grimaud, bác bảo là
hắn mặc áo mục sư à?
- Vâng, mục sư
Augustins.
- Người như thế nào?
- Theo chủ quán nói thì
hắn trạc vóc người tôi, gầy, da tai tái, mắt xanh nhạt và tóc hoe vàng.
- Và hắn không gặp
Raoul chứ? - Arthos hỏi.
- Trái lại họ đã gặp
nhau và chính Tử tước đích thân dẫn hắn đến bên giường kẻ sắp chết.
Arthos không nói một
lời, đứng dậy và đến lượt mình ra lấy thanh gươm.
- Ái chà! Các cậu ơi! -
D’Artagnan gượng cười nói, - các cậu có thấy rằng chúng ta có vẻ giống như các
tiểu thư liễu yếu đào tơ không? Thế nào mà chúng ta, bốn người đàn ông đã từng
đương đầu với những đội quân mà chăng hề phải chau mày, bây giờ lại run sợ
trước một đứa trẻ con ư!
- Ừ! - Arthos nói, -
nhưng đứa trẻ con ấy nhân danh Chúa mà đến.
Và họ vội vã ra khỏi
khách sạn.

