04. Chuyện về Sir John Falstaff - Phần 2
CHUYỆN XƠ JOHN FALSTAFF VÀ CÁC BÀ LẮM
ĐIỀU VUI VẺ Ở WINDSOR.
Xơ John Falstaff, vẫn béo phị và phục
phịch, đến cư trú ở Windsor(1) tại khách sạn Jarretière, nơi mà một
cơn dông tố tài chính nào đó đã xô đẩy ngài đến, y như một con cá voi bụng đầy
hàng tấn dầu bị dạt trên bãi biển. Không tiền, ngài phải nhượng tên giám mã
Baldolph cho chủ quán để làm anh hầu rượu. Bản thân ngài cũng buộc phải đi tìm
vài kẻ khù khờ để kiếm chác. Cuối cùng, ngài cho rằng ngài đã nắm được hai: bà
Page và bà Ford, những bà mà với cái tính tự phụ cố hữu của ngài, ngài cho rằng
họ sững sờ thán phục cái dáng vẻ sĩ quan oai vệ, cái tiếng tăm ăn to uống lớn,
cái phong thái ung dung của ngài trong cung đình, cái tật ba hoa tán phét của
ngài. Cả hai bà đều nắm giữ quỹ chi tiêu trong gia đình, nên ngài chỉ tính đến
chuyện đào mỏ vàng thôi.
(1) Windsor: một thành phố trên sông
Thames ở Anh.
Ngài bảo: “Ta đã tóm cả đôi và họ sẽ
trở thành những bà thủ quỹ cho ta. Họ sẽ là Ấn Độ của ta và ta muốn buôn bán
với cả hai nước Ấn(2).”
(2) Một lối dùng hình ảnh: Ấn Độ hồi
thế kỷ 17 là nơi thương nhân Anh (công ty Đông Ấn Độ) đến buôn bán kiếm được
nhiều lãi. Đây ý nói Falstaff muốn đào mỏ cả hai bà.
Và ngài viết cho mỗi bà một lá thư tình
quyến rũ.
Thế nhưng, hai bà lại suốt ngày ba hoa
chích chòe với nhau; bà nào cũng một nửa thích thú vì không ngờ được có người
đem lòng yêu dấu, một nửa bất bình vì kẻ đem lòng yêu dấu mình lại là kẻ phì
nộn thảm hại; vì vậy họ đi đến chỗ trao đổi với nhau những lá thư tình và nhận
ra rằng chúng giống hệt nhau. Phẫn nộ vì bị xúc phạm, hai bà mới trù tính một
cuộc trả thù mà hai bà muốn giữ bí mật bởi vì các đức ông chồng của hai bà vốn
là những thị dân đáng kính, sẽ không đùa khi danh dự của họ bị xúc phạm.
Cả hai bà thỏa thuận với nhau sẽ trả
lời xơ John một cách nhã nhặn và hẹn với xơ một cuộc gặp gỡ, và một bà bạn của
họ - bà Quickly - được giao công việc này. Bà mối lái này giải thích cho xơ
John rằng ngài sẽ được tiếp đón ở nhà bà Ford vào lúc từ mười đến mười một giờ
sáng, rằng cần phải tránh mặt ông Ford là người đa nghi và ghen tuông; rằng về
phần mình, bà Page cũng tiếp xơ John khi bà có thể tiếp được, rằng chính bà ta
nắm giữ tất cả tiền bạc và mọi món chi tiêu trong nhà.
Xơ John dương dương tự đắc và tự cho
mình đã ở trong tư thế có thể moi được tiền trong các tủ sắt của các vị tư sản
ở Windsor. Trong cơn hứng khởi, ngài háo hức muốn gởi niềm tâm sự với một người
nào đó, và ngài đã dại dột chọn một kẻ tự xưng tên là Brook, một người mới quen
biết mà xơ muốn dùng làm thủ quỹ. Anh chàng này ngỏ ý rất muốn được làm quen
với vài nhà tư sản ở Windsor và anh ta xin ý kiến của xơ John:
- Ngài là một người có địa vị cao sang,
được giáo dục hoàn chỉnh, nói năng hết sức hoạt bát, giao du với xã hội thượng
lưu, được tuyên dương vì công trạng trong chiến tranh, có phong thái cung đình
và những kiến thức sâu sắc…
- Bác Brook ạ, trước hết là tôi xin
được tự tiện sử dụng cái túi tiền của bác, sau đó thì bác cứ nắm lấy tay tôi.
Và với tư cách là một người quân tử, tôi xin hứa là nếu nhà của các bà ấy làm
cho bác thích thú, tôi sẽ giới thiệu bác vào, - xơ John vênh váo nói, và như
vậy là xơ đã sa vào bẫy, bởi vì cái anh chàng tự xưng là Brook ấy chẳng ai
khác, mà chính là ông Ford. Ông này sinh nghi và lo ngại, muốn tự tìm ra manh
mối và bố trí đón tiếp vị khách của vợ mình theo cung cách của ông ta.
Xơ John đến nhà bà Ford đúng giờ hẹn,
bằng cửa sau, và ngài lịch sự giãi bày:
- Thưa bà Ford, tôi không biết ba hoa
mà cũng chẳng biết nịnh bợ. Dù có nguy cơ mắc phải trọng tội, tôi cũng xin thú
thật ước vọng của tôi: cầu Chúa cho chồng bà chết đi! Bấy giờ tôi sẽ lấy bà làm
phu nhân của tôi. Ngay cả triều đình nước Pháp cũng không thể nào có được một
vị phu nhân như vậy. Tôi như đã nhìn thấy đôi mắt đẹp này át đi ánh nhấp nháy
của kim cương, thấy hai hàng mi cong của bà dưới cái mũ vẽ trong các bức chân
dung, mũ có giải, mũ hình bướm, tất cả các loại mũ thêu của Venise(3).
(3) Venise: thành phố ở Ý nổi tiếng về
nghề thêu ren, hàng thủy tinh.
Nhưng lúc đó bà Ford nhà ta lại đội một
chiếc mùi xoa bên trên cái mũ vải xô!
Giữa lúc ngài đang thao thao tán tụng
như vậy thì bà Page đâm bổ vào, hoảng hốt, hổn hển báo tin ông chồng đa nghi
đang đến cùng với nhân viên tư pháp được điều động đến để bắt kẻ gian xâm nhập.
Làm như tình cờ phải gấp rút tìm ra chỗ để che giấu xơ John, hai bà tìm được
một cái sọt lớn dùng để đựng quần áo bẩn mà người ta đã cố ý để sẵn đó. Hai bà
khó khăn lắm mới đặt được cái thân hình đồ sộ của xơ John vào sọt rồi sau đó
cẩn thận phủ lên trên - mà không sợ ngài ngạt thở - ra phủ giường, khăn bàn, sơ
mi, mùi xoa để đưa đi giặt. Rồi, hấp! Hai tên gia nhân cho một cái đòn xuyên
qua hai quai của cái sọt, khó nhọc cho lên vai, khập khà khập khiễng, vừa đi
vừa chạy, khiêng đến chỗ các cô thợ giặt ở bãi Datchet. Ở đây, bên bờ một con
sông, lúc ngài còn đang toát mồ hôi vì sợ, vì cuộc tháo chạy cuống cuồng, người
ta đã vất ngài xuống nước; cái thân hình phì nộn của ngài đã chìm y như một lứa
chó con bị người ta buộc đá vào cổ để dìm chết. Cố thoát lên, mình đầy bùn,
người lạnh cóng, ngạt thở và bực tức, ngài đi thẳng một mạch về quán trọ, nhấp
nháp chén rượu để tiêu sầu(4).
(4) Nguyên văn: Để hòa một ít rượu vang
Tây Ban Nha vào nước sông Tamis.
Trong khi đó, ông Ford trở về nhà thật,
vừa đúng lúc để bắt gặp cái sọt quần áo mà ông chẳng nghi ngờ gì; ông đã sục
sạo khắp cả nhà mà chẳng tìm thấy ông khách quý, làm cho hai bà càng vui mừng
hớn hở vì một lúc đã đánh lừa được hai đấng mày râu. Nhưng các bà chưa muốn
dừng lại ở đó và lại tiếp tục trò đùa của họ. Bà Quickly lại đến năn nỉ, hết
lời xin lỗi anh chàng tán gái đang âu sầu và đề nghị một lần hội ngộ khác, lần
này vào khoảng từ tám đến chín giờ sáng vì vào giờ đó, ông Ford đi săn chim.
Sau bà Quickly, lại đến lượt ông Brook đến thăm và một lần nữa, xơ John vừa
khoác lác về vận may của mình, vừa thuật lại cho ông chủ nợ của mình biết về
điều xúi quẩy ngày hôm qua cũng như về mưu toan trả thù sắp đến, nhờ vậy ông
chồng bà Ford mới biết được là ông ta bị lừa vào ngày hôm trước, và quyết trở
về coi chừng mọi sự trong nhà.
Hôm sau, xơ John chỉ vừa mới đến thì đã
thấy bà Page - con người luôn đem tin dữ - chạy đến, trước cả ông Ford, báo
rằng ông Ford “y như thuở xưa” đang kéo đến cùng với anh em, bạn bè và… súng
lục. Làm sao bây giờ với xơ John, khó che giấu như một cái thùng tôn - no, ngóc
nghách nào cũng chẳng có thể giúp xơ ẩn náu được. Người ta nói đến lò sưởi, hầm
rượu, kho thóc, nhưng không nơi nào không có nguy cơ bị phát hiện. Bà Page bèn
nghĩ ra cách cải trang xơ John thành phụ nữ, nếu như trên thế giới này; - theo
bà nói - có một cái váy đủ rộng để ngài mặc cho vừa. Mà vừa hay như các bạn
thấy đấy, các bà nhà ta đã dự liệu mọi thứ - bà cô của cô hầu phòng, bà
Brentford to béo đã để lại một cái váy trên kia. Các bà khoác chiếc áo đó cho
xơ John, làm cho nó phồng ra, đội cho xơ cái mặt nạ, đưa cho xơ cái mùi xoa rồi
đẩy xơ xuống cầu thang.
Ông Ford đi vào lên giọng ông chủ, ngây
ngô đi bởi trong cái sọt chứa quần áo bẩn, làm như các bà tinh ranh đến vậy lại
đi lặp lại cái trò ma mãnh của họ lần thứ hai. Và ông ta điên tiết lên vì chẳng
tìm thấy cái gì cả xơ John. Do vậy, khi ông ta trông thấy bà lão Brentford,
người mà ông ta vốn không ưa, cho là một mụ phù thủy, mà ông ta đã nhiều lần
hăm dọa sẽ đập cho vỡ sọ nếu ông ta thấy bén mảng đến nhà - và bà Ford biết rõ
điều này, đấy là cái láu cá của bà! - ông ta nổi giận lên, đánh cho “bà già”
một trận, trước khi tống cổ bà ra ngoài.
Thế là xơ John khốn khổ ăn mặc như vậy,
bị ăn đòn như vậy, tiu nghỉu trở lại khách sạn Jarretière để nhận ra rằng toàn
bộ diện tích da của mình được trang điểm bằng bảy sắc cầu vồng! Một giờ sau,
ông chủ khách sạn ngạc nhiên sao không thấy bà lão cao lớn và to béo đã lên
phòng của xơ John Falstaff trở xuống.
Nhưng hai bà nhà ta vẫn còn chưa lấy
thế làm đủ và trù tính, lần này có sự đồng ý của các đức ông chồng của họ, chơi
cho xơ John một vố cuối để cho bàn dân thiên hạ biết sự hỗn láo và thất sủng
của ngài. Một lần nữa, bà Quickly lại được phái đến làm mối lái và khó khăn lắm
mới thuyết phục được “nhà hiệp sĩ to béo” chấp nhận một cuộc hội kiến thứ ba.
Nhưng rồi bà ta cũng thành công trong việc làm cho xơ John tin vào một kế hoạch
huyễn hoặc. Đó là lợi dụng một câu chuyện hoang đường cũ. Ngày xưa, có một tên
Herne nào đó được trao nhiệm vụ canh giữ khu rừng Windsor. Các ông già bà lão
trong vùng kể lại rằng bóng ma của hắn đêm nào cũng hiện về vào lúc nửa đêm.
Con ma ấy có hai cái sừng, lượn quanh một gốc cây, vừa đi vừa rung một sợi dây
xích phát ra tiếng kêu khủng khiếp. Không một ai dám bén mảng gần gốc cây của
Herne vào ban đêm.
Tuy vậy, chính là tại nơi đó mà bà Ford
chờ đợi xơ John, và để tránh bị bắt gặp, bà yêu cầu ngài cải trang thành Herne,
người đi săn, con ngáo ộp đối với những người qua đường. Bà Quickly tốt bụng
cung cấp cho ngài một đôi sừng lớn mà ngài đeo lên trán và một sợi dây xích
nặng kêu loảng xoảng rất to.
Nhưng đêm hôm đó không phải chỉ một
mình Falstaff cải trang. Người ta tổ chức một cuộc hội hóa trang để trêu chọc
ngài, và đám thanh niên ở Windsor đã có một đêm hội vui vẻ kèm theo một cuộc
đánh lừa tao nhã. Khi nửa đêm đã điểm, trời tối như mực, ngài Falstaff của
chúng ta lò dò tiến đến, ngồi dưới gốc cây sồi, miệng cười duyên, thì một bầy
ác ma, yêu quái, tiên nữ từ các bụi rậm ùa ra và xông vào ngài. Tất cả bọn trẻ
ở thành phố mặc quần áo màu trắng, màu xanh, đầu đeo những ngọn bấc cháy đỏ,
tay mang đuốc sáp, lồng đèn hoặc lục lạc, đã cử hành chung quanh ngài một trận
náo động khủng khiếp. Chúng thốt lên những tiếng kêu hoang dã, đè lên và cấu
véo vị “hiệp sĩ phì nộn” đã nghẹt thở vì sợ, chúng lấy đuốc đốt ngài, lấy kim
chích ngài, trêu ghẹo ngài; quấy rầy ngài và gào lên những đoạn thơ đả kích
được sáng tác riêng cho ngài. Ngài hiệp sĩ vốn chẳng dũng cảm gì, đêm hôm ấy
cảm thấy mình có phần nào mê tín dị đoan, đứng lặng im trước hết vì không chắc
rằng mình bị những con người trần tục trêu đùa và cuối cùng lại tin rằng các
tiên nữ đã bỏ công để đánh lừa ngài.
Cuối cùng người ta đốt đèn lên, để cho
ngài thở và ngài thấy mình ở giữa một đám các nhà tư sản đang chế nhạo ngài,
còn bà Page thì hỏi: “Bây giờ thì ông nghĩ thế nào về các bà phụ nữ Windsor?”
Nhưng ngài còn phật ý hơn khi nghe những người vừa khiêu vũ gọi ngài là đồ cá
voi, đồ thùng rượu, đồ bị thịt, thằng già hụt hơi cùng những lời chửi rủa khó
chịu khác nữa.
Tuy vậy, nói cho cùng, người vùng
Windsor là những người tốt bụng. Sau khi đã nhạo báng ngài như vậy, họ lại tha
thứ cho ngài; ông Ford biếu hẳn ngài số tiền mà ông ta đã cho ngài vay dưới cái
tên Brook, rồi còn mời ngài cùng với những người khác đến ăn nhậu thân mật ở
nhà ông. Và xơ John, chắc hẳn vẫn không có đủ can đảm từ chối một bữa ăn ngon.
Do vậy, ngài đến dự cùng với họ và còn uống nhiều hơn bọn họ để quên đi cái câu
chuyện rủi ro mà chẳng bao giờ ngài đem ra khoác lác.
NHỮNG CHUYỆN KHỐN KHỔ CUỐI CÙNG CỦA XƠ
JOHN FALSTAFF.
Một ngày nào đó, xơ John gặp lại một
trong những người bạn học cũ ở trường Saint Clément, quan tòa Shallow. Cả hai
đều hết sức vui mừng gặp lại nhau và tán gẫu về thời xa xưa, về những “chiến
công” thời học sinh và về những cuộc phiêu lưu của những người bạn khác. Trong
khi nghe Shallow ba hoa về thời kỳ học sinh của anh ta, xơ John đã nhận ra rằng:
“quả thật là cánh già bọn mình thích nói phét”. Tuy vậy, điều đó vẫn không giảm
chút nào tính khoác lác một tấc đến trời của ngài. Ngài chủ tâm lòe viên quan
tòa tỉnh lẻ đã bị sự ba hoa của ngài hiệp sĩ to béo làm cho lóa mắt. Ngài được
mời đến lưu lại vài ngày ở nhà Shallow tại quận Gloster và Shallow đã phá tan
gia sản để thết đãi ông bạn vàng. Ngài hiệp sĩ “cao quý” đã ngốn một cách ngon
lành chim câu, gà mái béo, đùi cừu và bánh kẹo, nốc từng vại rượu vang ngon Tây
Ban Nha và trong thâm tâm, ngài vui mừng khi nhớ đến hoàng tử Henry, tự nhủ
rằng mình sẽ làm cho hoàng tử cười đến nôn ruột khi miêu tả cho hoàng tử hình
của Shallow, một con sếu có râu, gầy đến nỗi nếu người ta xẻ thịt mình ra thì
có thể nặn được bốn tá “con sếu” như vậy.
Thế rồi, vào một buổi tối, giữa lúc
ngài đang hóng mát ở trong vườn của viên quan tòa, một chiến hữu cũ của ngài là
Pistol hộc tốc chạy đến, nói rằng anh ta mang theo một cái tin quý như vàng,
rồi sau khi nhăn nhăn nhó nhó mới nói ra điều bí mật: vua Henry đệ tứ vừa mới
băng hà.
- Xơ John ơi! Bây giờ con cừu non của
xơ đã thành vua rồi. Đó là Henry đệ ngũ.
Xơ John đứng phắt dậy, đầy vẻ kiêu kỳ
ra lệnh cho dắt ngựa đến và bắt đầu hứa hươu hứa vượn với kẻ này người khác:
- Ta chắc chắn đức vua trẻ đang héo hon
mong chờ ta. Bây giờ thì các huân tước của nước Anh phải tuân lệnh ta. Những
người nào từng là bạn cũ của ta sẽ sung sướng bao nhiêu. Này, bác Shallow, bác
hãy chọn những chức vụ nào mà bác thích nhất trong nước đi, bác sẽ được cử vào
những chức vụ đó; còn chú, Pistol, ta sẽ làm cho chú ngợp đầu vì chức tước!
Xơ John đến Luân Đôn, cùng đi có viên
quan tòa, Pistol và một số người khác. Họ đi vào trung tâm thành phố đúng vào
lúc đám gia nhân đang rải lau sậy ra đường và dẹp chỗ, bởi vì theo tiếng kèn
đồng, đoàn xa giá sắp rời nhà thờ Westminster, nơi mà Henry đệ ngũ vừa làm lễ
đăng quang. Shallow choáng ngợp vì biến cố này, đã cho Falstaff vay một nghìn
đồng Pix-tôn(1) để chi phí cho cuộc hành trình và xơ John than thở
rằng không đủ thì giờ để sửa sang lại trang phục, để mua sắm quần áo mới. Ngài
tiếc phải ăn mặc theo trang phục đi đường, nhưng lại tự an ủi:
- Việc ăn mặc luộm thuộm để bệ kiến đức
vua càng thích hợp. Nó chứng tỏ ta đã vội vàng biết bao để gặp người. Ta sẽ có
cái dáng dấp của một kẻ chạy trạm suốt ngày, suốt đêm, không có ý nghĩa nào
khác hơn, công việc nào khác hơn là đến gặp người.
(1) Pix-tôn: đơn vị tiền tệ cũ ở một số
nước châu Âu (Anh, Pháp, Ý…).
Tiếng kèn đồng rú lên và họ xếp hàng
đứng trên lề đường. Nhưng xơ John khốn khổ được biết rằng vua Henry đệ ngũ không
trả các món nợ của hoàng tử Henry, rằng người không còn biết đến những chiến
hữu vui vẻ thuở nào của chàng Hal! Đáp lại những lời thắm thiết của ngài hiệp
sĩ to béo, đức vua mới nói một cách nghiêm khắc:
- Ta không biết đến nhà ngươi, hỡi lão
già kia! Lão hãy nghĩ đến việc cầu nguyện đi! Những sợi tóc bạc kia chẳng thích
hợp chút nào với một thằng hề! Trong cơn mộng của một giấc ngủ dài ta đã thấy
một người giống thằng hề ấy, cũng to béo quái dị như thế, cũng già như thế,
cũng ba hoa độ như hắn. Nhưng khi tỉnh dậy, ta đã quên giấc mộng đó. Hãy từ bỏ
cuộc sống phàm ăn phàm uống của ngươi đi! Ngươi hãy nhớ rằng nấm mồ sẽ mở ra
cho nhà ngươi một lỗ huyệt rộng gấp ba lần so với người khác. Nhà ngươi đừng
đáp lại ta bằng những lỡi giễu cợt. Nhà ngươi chớ có nghĩ rằng ngày nay ta vẫn
là con người của ngày hôm qua. Trời đất biết và vũ trụ cũng sẽ biết rằng con
người của ta vào thời trai trẻ đã trở thành hoàn toàn xa lạ với ta bây giờ. Ta
sẽ trừ khử tất cả những kẻ trước đây đánh bạn với ta và đã làm cho ta lầm lạc,
ta nghiêm cấm nhà ngươi được đến gần ta, dù là ở ngoài vạn dặm. Còn về phần
cuộc sống của ngươi, ta sẽ đảm bảo để cho ngươi không túng quẫn mà đi làm bậy.
Khi nào ta biết được rằng nhà ngươi đã cải tà quy chánh, lúc đó ta sẵn sàng hứa
rằng sẽ cho ngươi việc làm tùy theo năng lực và phẩm giá của ngươi.
Bị bỏ tù vì những tội lỗi đã phạm rồi
được thả ra, ngài Falstaff to béo uất ức vì bị nhà vua bỏ rơi, không sống được
bao lâu nữa. Ngài lê thân xác về quán trọ Eastcheap, ốm liệt giường vì bị sốt,
rồi như một đứa trẻ con, giữa chính ngọ và một giờ, vào lúc nước triều xuống,
ngài đã qua đời một cách nhẹ nhàng, vừa nhìn những ngón tay của mình vừa nói
đến những cánh đồng xanh:
Phàm ăn, say rượu, nói dối quẩn quanh,
Lừa đảo, ăn sương, báng bổ thần linh.
Giá treo cổ, đáng tội chết trăm lần,
Nhưng chung quy lại là người tốt trên cõi trần.
Không nghi ngờ gì nữa, chính một nhà
thơ già người Pháp chúng ta đã viết nên bài điếu văn tốt nhất như vậy về xơ
John to béo.

