Bán Khống - Chương 1

Một câu chuyện có xuất xứ bí mật

Eisman đặt chân vào giới tài chính khi tôi rời khỏi đó. Anh lớn lên ở New York, đi học ở các trường dòng, tốt nghiệp loại xuất sắc tại Đại học Pennsylvania, và sau đó nhận bằng danh dự của Trường Luật Harvard. Năm 1991, anh trở thành một luật sư 30 tuổi chuyên về luật doanh nghiệp và luôn tự hỏi tại sao anh lại nghĩ mình thích trở thành luật sư. “Tôi ghét nó,” anh nói. “Tôi ghét trở thành một luật sư. Bố mẹ tôi là các nhà môi giới ở công ty chứng khoán Oppenheimer. Họ đã lừa được tôi chấp nhận một công việc. Thật chẳng tốt đẹp gì, nhưng đó là sự thật.”

Oppenheimer là một trong số những công ty Phố Wall kiểu cũ cuối cùng và nó sống sót nhờ vào những “đầu thừa đuôi thẹo” mà Goldman Sachs và Morgan Stanley bỏ lại. Nó có vẻ giống một doanh nghiệp gia đình hơn là một công ty. Lillian và Elliot Eisman đã đại diện cho Oppenheimer tư vấn về tài chính cho các nhà đầu tư cá nhân kể từ đầu những năm 1960. Do được các đồng nghiệp cũng như khách hàng tôn trọng và quý mến, họ có thể thuê bất cứ ai họ muốn. Tuy nhiên, Oppenheimer hoạt động theo quy tắc gia đình trị; nếu Lillian và Elliot muốn tuyển dụng con trai họ, họ phải trả lương cho cậu trong năm đầu tiên, trong khi những người khác sẽ đánh giá xem liệu cậu có xứng đáng được trả lương hay không.

Cha mẹ của Eisman, bản chất là những nhà đầu tư giá trị kiểu cũ, đã luôn dặn dò anh rằng cách tốt nhất để tìm hiểu về Phố Wall chính là làm một nhà phân tích cổ phiếu. Anh đã bắt đầu bằng công việc này, làm việc cho những người định hình nên dư luận về các công ty đại chúng. Oppenheimer tuyển dụng khoảng 25 nhà phân tích, mà hầu hết phân tích của họ đều bị phần còn lại của Phố Wall lờ đi. “Cách duy nhất để một nhà phân tích tại Oppenheimer được trả lương là hãy làm đúng và gây ra đủ ồn ào để mọi người chú ý,” Alice Schroeder, người phụ trách các công ty bảo hiểm cho Oppenheimer, đã chuyển tới Morgan Stanley, và cuối cùng trở thành người viết tiểu sử chính thức cho Warren Buffett, nói. Cô nói thêm, “Có một yếu tố phản văn hóa ở Oppenheimer. Nhân viên ở các công ty lớn đều được trả lương để đồng thuận.” Eisman hóa ra lại có khiếu gây ồn ào và phản đối các quan điểm đồng thuận. Anh khởi đầu là một nhà phân tích cổ phiếu cấp thấp, một người phụ việc, chẳng mong gì được đưa ra ý kiến riêng. Điều này đã thay đổi vào tháng 12 năm 1991, chưa đầy một năm kể từ khi anh làm công việc mới này. Một nhà cho vay thế chấp dưới chuẩn có tên là Aames Financial đã phát hành cổ phiếu ra công chúng, nhưng không ai ở Oppenheimer quan tâm đến vấn đề này. Một trong những nhân viên ngân hàng của Oppenheimer, người hy vọng được Aames tuyển dụng, đã đi xung quanh bộ phận nghiên cứu để tìm người biết bất cứ điều gì về mảng kinh doanh cho vay thế chấp. “Tôi là một nhà phân tích cấp thấp và chỉ đang trong quá trình học hỏi,” Eisman nói, “nhưng tôi đã nói với anh ta rằng khi còn là một luật sư, tôi đã làm một vụ cho The Money Store.” Anh ta đã nhanh chóng được bổ nhiệm là nhà phân tích chính cho Aames Financial. “Tôi đã không nói với anh ta rằng công việc của tôi chỉ là đọc tìm lỗi trong các tài liệu và tôi chẳng hiểu quái gì về những thứ chết tiệt đó.”

Aames Financial, giống như The Money Store, nằm trong một hạng mục mới gồm các công ty mở rộng việc cho vay đối với những người Mỹ thiếu tiền mặt, hay còn được gọi một cách hoa mỹ là tài chính chuyên biệt. Hạng mục này không gồm Goldman Sachs hay J.P. Morgan mà gồm nhiều công ty ít được biết đến và đều có liên quan đến sự bùng nổ cho vay thế chấp dưới chuẩn vào đầu những năm 1990. Aames là công ty cho vay thế chấp dưới chuẩn đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng. Công ty thứ hai mà Eisman được giao nhiệm vụ phụ trách là Lomas Financial. Lomas vừa mới thoát khỏi cảnh phá sản. “Tôi đưa ra khuyến nghị bán thứ này bởi nó là thứ rác rưởi. Tôi không biết là anh không được khuyến nghị bán những công ty này. Tôi nghĩ rằng có ba chiếc hộp – mua, giữ và bán – và anh có thể chọn cái mà anh nghĩ là anh nên chọn.” Steve Eisman bị buộc phải lạc quan hơn, nhưng sự lạc quan không đến với anh một cách tự nhiên. Anh có thể giả vờ lạc quan, và thỉnh thoảng có làm vậy, nhưng anh sẽ thoải mái hơn nếu không phải bận tâm vì điều đó. “Tôi có thể nghe thấy tiếng anh ta hét vào điện thoại từ cuối hành lang,” một đồng nghiệp cũ của anh chia sẻ. “Anh ta vui vẻ chỉ ra những điểm tiêu cực về cổ phiếu của các công ty anh ta phụ trách. Anh ta nghĩ gì, nói nấy.” Eisman vẫn giữ nguyên khuyến nghị bán đối với Lomas Financial, ngay cả sau khi nó thông báo rằng các nhà đầu tư không cần lo lắng về tình hình tài chính của nó, bởi nó đã phòng ngừa rủi ro thị trường. Eisman nói, “Câu đơn tuyệt vời nhất tôi đã từng viết ở cương vị một nhà phân tích là sau khi Lomas nói họ đã được phòng ngừa khỏi rủi ro.” Anh trích dẫn lại câu đó từ trong trí nhớ của mình: “’Lomas Financial là một định chế tài chính được phòng ngừa khỏi rủi ro một cách hoàn hảo: nó thua lỗ ở mọi môi trường lãi suất có thể nhận thức được.’ Tôi thích viết câu đó hơn bất cứ câu nào tôi từng viết.” Một vài tháng sau khi anh xuất bản câu nói này, Lomas Financial trở lại tình trạng phá sản.

Eisman nhanh chóng khẳng định mình là một trong số ít các nhà phân tích tại Oppenheimer có quan điểm có thể khuấy đảo thị trường. “Nó giống việc tôi được quay trở lại thời đi học vậy,” anh nói. “Tôi sẽ tìm hiểu về một ngành nào đó, và tôi sẽ đi và viết về nó.” Mọi người ở Phố Wall bắt đầu coi anh là một nhân vật chân thật. Anh ăn mặc kiểu nửa mùa, như thể có ai đó đã phải rất khó khăn mới mua được cho anh những bộ quần áo mới và đẹp nhưng không chỉ cho anh cách mặc chúng. Mái tóc vàng được cắt ngắn của anh trông như thể anh đã tự cắt chúng. Tâm điểm trên khuôn mặt nhẵn nhụi, biểu cảm và không thân thiện của anh chính là cái miệng, bởi lúc nào nó cũng mở hờ ngay cả khi anh ăn. Cứ như thể anh sợ không thể tuôn ra hết những suy nghĩ vừa thoáng qua đầu trước khi suy nghĩ khác ập đến, nên luôn phải giữ cho kênh đó thông suốt.

Khi anh tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một khuôn mẫu sẽ xuất hiện. Ngày càng có nhiều người làm việc cho Steve Eisman yêu mến anh, hoặc ít nhất bị anh làm cho buồn cười. Họ đánh giá cao sự sẵn sàng và khả năng từ bỏ cả tiền bạc và kiến thức của anh.“Anh ấy là một nhà giáo bẩm sinh,” một phụ nữ từng làm việc cho anh nói. “Và anh ấy bảo vệ phụ nữ một cách dữ dội.” Anh đồng cảm với những người bé nhỏ và những người luôn bị thua thiệt dù cho bản thân anh chưa bao giờ như vậy. Mặc khác, những người quan trọng mà hy vọng rằng sẽ nhận được sự tôn kính từ Eisman lại thường rời khỏi cuộc gặp mặt với anh trong tâm trạng bị sốc và phẫn nộ. “Rất nhiều người không hiểu Steve,” Meredith Whitney nói với tôi, “nhưng ai hiểu anh ấy đều quý mến anh ấy.” Một trong số những người không hiểu Steve là giám đốc một công ty môi giới lớn của Mỹ, người đã nghe Eisman giải thích trước hàng tá các nhà đầu tư vào bữa trưa về lý do tại sao ông ta, vị giám đốc đó, lại không hiểu chính công việc kinh doanh của mình, và sau đó nhìn anh ấy rời đi giữa bữa ăn trưa và không bao giờ quay lại. (“Tôi phải vào nhà vệ sinh,” Eisman nói. “Tôi không hiểu tại sao tôi không bao giờ quay lại.”) Sau bữa trưa đó, vị giám đốc này đã tuyên bố rằng ông ta sẽ không bao giờ bước chân vào bất cứ căn phòng nào có Steve Eisman ở đó. Chủ tịch một công ty bất động sản lớn của Nhật Bản là một ví dụ nữa. Ông đã gửi cho Eisman các báo cáo tài chính của công ty mình và sau đó đã cùng với một phiên dịch viên đến để mời Eisman đầu tư. “Ông thậm chí còn không sở hữu cố phiếu ở công ty mình,” Eisman nói, sau phần giới thiệu rất tỉ mỉ điển hình của vị doanh nhân Nhật Bản này. Người phiên dịch đã nói nhỏ với vị CEO.

“Ở Nhật, các nhà quản lý thường không sở hữu cổ phiếu,” cuối cùng anh ta nói.

Eisman cho rằng các báo cáo tài chính của gã này chẳng cho thấy bất cứ chi tiết thực sự quan trọng nào về công ty của hắn; nhưng thay vì chỉ đơn giản nói như vậy, anh tung bản báo cáo lên không, như thể vứt một thứ rác rưởi. “Đây… là đống giấy chùi toilet,” anh nói. “Dịch đi.”

“Quý ông Nhật Bản bỏ kính ra,” một người chứng kiến cuộc gặp gỡ kì lạ này nhớ lại. “Môi ông ấy run lên. Chiến tranh Thế giới III như sắp nổ ra. ‘Giấy toy-lay? Giấy toy-lay ư?’”

Một nhà quản lý quỹ phòng hộ, người coi Eisman như một người bạn, đã giải thích cho tôi về con người anh nhưng chỉ một phút sau đó – sau khi ông mô tả việc Eisman đang vạch trần nhiều nhân vật quan trọng là những kẻ nói dối hoặc những tên đần độn – ông bắt đầu cười. “Anh ta là một người thích châm chọc xét về mặt nào đó, nhưng anh ấy cũng thông minh, trung thực và không biết sợ.”

“Ngay cả ở Phố Wall, người ta cũng nghĩ anh ấy là kẻ thô lỗ, đáng ghét và hiếu chiến,” vợ của Eisman, Valerie Feigen nói. “Anh ấy không quan tâm đến cách cư xử. Tin tôi đi, tôi đã rất, rất cố gắng.” Sau khi cô dẫn anh về nhà ra mắt lần đầu tiên, mẹ cô đã nói, “Ồ, chúng ta không thể dùng cậu ta nhưng hoàn toàn có thể bán đấu giá cậu ta tại UJA.” Eisman được cho là có tài làm mất lòng người khác. “Anh ấy không thô lỗ một cách giả tạo,” vợ anh giải thích. “Anh ấy thô lỗ một cách chân thật. Anh ấy biết mọi người nghĩ anh ấy là người như thế nào nhưng anh ấy không nghĩ mình như vậy. Steven sống theo cách riêng của mình.”

Khi được hỏi về sự khó chịu mà anh thường để lại phía sau mình, Eisman trông như không hiểu gì, thậm chí có chút như bị xúc phạm. “Có lúc, tôi quên cả chính bản thân mình,” anh trả lời với một cái nhún vai.

Đây là giả thuyết đầu tiên trong rất nhiều giả thuyết về Eisman: Anh ấy chỉ đơn thuần là quan tâm đến bất cứ điều gì nảy ra trong đầu hơn là ai đang đứng trước mặt mình và mối quan tâm thứ nhất luôn áp đảo cái còn lại. Giả thuyết này đã giáng một đòn mạnh vào những người biết rõ Eisman là người không hoàn hảo. Mẹ của anh, Lillian, đã đưa ra giả thuyết thứ hai. “Trong Steven thực sự tồn tại 2 con người,” bà nói một cách thận trọng. Một là cậu bé đã được bà mua cho chiếc xe đạp đời mới mà cậu rất khát khao, chỉ để cậu đạp xe đến Công viên Trung tâm, cho một đứa trẻ mà cậu chưa từng gặp mặt mượn, và nhìn chiếc xe mất hút khỏi tầm mắt. Còn người còn lại là chàng thanh niên trẻ muốn nghiên cứu về Talmud, không phải bởi anh có chút quan tâm gì đến Chúa mà bởi anh rất tò mò về những mâu thuẫn bên trong đó.

Với những thông tin thu thập được thì có vẻ Eisman là một nhân vật kỳ lạ. Và anh cũng đến Phố Wall vào đầu một giai đoạn kỳ lạ. Thị trường trái phiếu thế chấp ra đời một thập niên trước đã mở rộng Phố Wall tới một điểm mà nó chưa từng đến trước đó: các khoản nợ của những người dân Mỹ bình thường. Lúc đầu, cỗ máy thị trường trái phiếu mới chỉ quan tâm tới nửa dân số Mỹ có khả năng thanh toán tốt hơn. Giờ đây, với việc mở rộng thị trường trái phiếu thế chấp sang nhóm dân Mỹ có uy tín tín dụng thấp hơn, nó đã tìm được nguồn nhiên liệu nằm trong những món nợ của nửa còn lại có khả năng thanh toán kém hơn.

Trái phiếu thế chấp khác trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ kiểu cũ ở những khía cạnh rất quan trọng. Trái phiếu thế chấp không phải là một khoản vay lớn có thời hạn cố định rõ ràng. Một trái phiếu thế chấp là một quyền đối với các dòng tiền từ một rổ gồm hàng ngàn khoản cho vay mua nhà có thế chấp. Những dòng tiền này luôn có vấn đề, bởi người vay có quyền trả hết bất cứ lúc nào họ muốn. Đây là lý do lớn nhất duy nhất mà các nhà đầu tư trái phiếu ban đầu cảm thấy rất miễn cưỡng khi đầu tư vào các khoản cho vay mua nhà có thế chấp: Những người đi vay các khoản vay có thế chấp thường hoàn trả các khoản vay chỉ khi lãi suất giảm, và họ có thể đổi nợ với giá rẻ hơn, khiến chủ sở hữu trái phiếu thế chấp phải cầm một đống tiền mặt và đầu tư với lãi suất thấp hơn. Nhà đầu tư vào các khoản cho vay mua nhà có thế chấp không biết khoản đầu tư của họ sẽ kéo dài được bao lâu, chỉ biết rằng anh ta/cô ta sẽ nhận lại tiền của mình vào thời điểm họ ít mong muốn nhất. Để hạn chế sự không chắc chắn này, những người mà tôi từng làm việc cùng ở Salomon Brothers, những người tạo ra thị trường trái phiếu thế chấp, đã đưa ra một giải pháp thông minh. Họ lấy các rổ những khoản cho vay mua nhà có thế chấp khổng lồ và chia các khoản thanh toán của chủ nhà thành từng lát nhỏ, gọi là các tranche. Người mua tranche đầu tiên giống như chủ sở hữu tầng trệt của một tòa nhà trong cơn lũ: Họ sẽ bị nhấn chìm bởi đợt sóng trả trước các khoản vay thế chấp đầu tiên. Đổi lại, họ nhận được mức lãi suất cao hơn. Những người mua tranche thứ hai – tầng 2 của toà nhà – nhận được đợt sóng trả trước tiếp theo và đổi lại, cũng nhận được mức lãi suất cao thứ hai, v.v... Nhà đầu tư ở tầng trên cùng của tòa nhà nhận được lãi suất thấp nhất nhưng có sự đảm bảo lớn nhất rằng khoản đầu tư của họ sẽ không chấm dứt trước khi họ muốn.

Nỗi sợ hãi lớn của nhà đầu tư trái phiếu thế chấp trong những năm 1980 là họ được hoàn trả quá nhanh, chứ không phải là không được hoàn trả. Các rổ gồm những khoản vay làm cơ sở cho trái phiếu thế chấp phải tuân thủ các tiêu chuẩn, cả về quy mô lẫn chất lượng tín dụng của người đi vay, được đưa ra bởi một trong các cơ quan của chính phủ: Freddie Mac, Fannie Mae và Ginnie Mae. Khi được chấp nhận, các khoản vay này nhận được sự bảo lãnh từ chính phủ; nếu chủ nhà vỡ nợ, chính phủ sẽ phải trả nợ thay. Khi Steve Eisman nhảy vào ngành tài chính chuyên biệt mới mẻ và đang phát triển rất nhanh chóng này, trái phiếu thế chấp sắp được sử dụng theo cách mới: cho vay những khoản vay không đủ điều kiện để chính phủ bảo lãnh. Mục đích của việc này là mở rộng tín dụng đến các chủ hộ có uy tín tín dụng ngày càng thấp, không phải để họ có thể mua một ngôi nhà mà để họ có thể đổi thành tiền mặt bất cứ giá trị chủ sở hữu nào mà họ có trong căn nhà của họ.

Những trái phiếu thế chấp được hình thành từ các khoản cho vay mua nhà dưới chuẩn đã mở rộng logic, vốn được phát minh ra nhằm làm rõ vấn đề trả trước sớm, để đối phó với vấn đề không hề trả trước chút nào. Nhà đầu tư ở tầng trệt, hay tranche đầu tiên, sẽ dễ phải đối mặt không phải với những khoản trả trước mà là với những khoản lỗ thực sự. Anh ta sẽ phải gánh chịu những khoản thua lỗ đầu tiên đến khi khoản đầu tư của anh ta hoàn toàn bị xóa sổ, tiếp đến, thua lỗ sẽ tấn công anh chàng ở tầng thứ hai. Và cứ tiếp tục như vậy.

Vào đầu những năm 1990, chỉ có hai nhà phân tích của Phố Wall làm công việc tìm hiểu ảnh hưởng của việc mở rộng tín dụng đến những nơi không có đủ điều kiện vay tiền. Đó là Steve Eisman và Sy Jacobs. Jacobs cũng tham gia chương trình đào tạo của Salomon Brothers như tôi, và hiện làm việc cho một ngân hàng đầu tư nhỏ có tên là Alex Brown. “Tôi đã từng tham dự chương trình đào tạo của Salomon và được nghe về những điều mà mô hình chứng khoán hóa mới tuyệt vời do Lewie Ranieri tạo ra sẽ thực hiện,” anh nhớ lại. (Ranieri được coi là cha đẻ của thị trường trái phiếu thế chấp.) Việc biến các khoản cho vay mua nhà có thế chấp thành trái phiếu có tác động vô cùng lớn. Nợ của người này luôn là tài sản của người khác, nhưng hiện nay, ngày càng nhiều khoản nợ được biến thành những mảnh giấy mà bạn có thể bán cho bất cứ ai. Chỉ trong một thời gian ngắn, sàn giao dịch Salomon Brothers đã sinh ra các thị trường trái phiếu nhỏ được đảm bảo bằng rất nhiều thứ kì lạ: các khoản phải thu từ thẻ tín dụng, các hợp đồng cho thuê máy bay, các khoản vay mua xe ô tô, phí câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe. Giờ đây, để tạo ra thị trường mới, chỉ cần tìm ra một loại tài sản cầm cố mới. Loại tài sản chưa được khai thác rõ ràng nhất ở Mỹ vẫn là nhà ở. Những người vay thế chấp đầu tiên có một lượng lớn giá trị chủ sở hữu bị ứ đọng trong nhà; tại sao không chứng khoán hóa những giá trị chủ sở hữu chưa được khai thác này? Jacobs nói, “Xã hội vẫn kì thị khách hàng vay thế chấp thứ hai và điều này thực sự không nên. Nếu đánh giá tín dụng của bạn tệ hơn, bạn phải trả nhiều hơn. Nếu chúng tôi có thể biến trái phiếu thành thị trường đại trà, chúng tôi có thể giảm chi phí cho người vay. Họ có thể thay thế các khoản nợ thẻ tín dụng lãi suất cao bằng khoản nợ vay có thế chấp lãi suất thấp hơn. Và đó sẽ là lời tiên đoán tự trở thành hiện thực.”

Sự tương đồng ngày càng tăng giữa tầng lớp giàu có và hạ lưu ở Mỹ được cho là có lợi cho tầng lớp hạ lưu ở Mỹ. Tính hiệu quả mới này trong các thị trường vốn sẽ cho phép tầng lớp hạ lưu ở Mỹ trả lãi suất ngày càng thấp cho các khoản nợ của họ. Vào đầu những năm 1990, những nhà cho vay thế chấp dưới chuẩn đầu tiên – The Money Store, Greentree, Aames – đã bán cổ phiếu ra công chúng để phát triển nhanh hơn. Đến giữa những năm 1990, mỗi năm có hàng tá các công ty cho vay tiêu dùng nhỏ gia nhập thị trường. Ngành cho vay dưới chuẩn bị phân mảnh. Do những người cho vay bán lại rất nhiều – dù không phải tất cả – các khoản cho vay của họ cho các nhà đầu tư khác dưới dạng trái phiếu thế chấp, nên ngành này đầy rẫy các rủi ro về đạo đức. “Đó là ngành kinh doanh dễ kiếm tiền,” Jacobs nói. “Bất kì ngành kinh doanh nào mà bạn có thể bán sản phẩm để kiếm tiền nhưng không phải lo lắng về việc sản phẩm đó hoạt động ra sao chắc chắn sẽ thu hút những kẻ bẩn thỉu. Eisman và tôi đều tin vào ý tưởng lớn đó và cả hai đều gặp một vài kẻ thực sự bẩn thỉu. Đó là công việc của chúng tôi: tìm ra những người phù hợp có thể thực hiện thành công ý tưởng lớn đó.”

Cho vay có thế chấp dưới chuẩn vẫn chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thị trường tín dụng Mỹ – vài chục tỉ cho vay mỗi năm – nhưng sự tồn tại của nó lại rất có ý nghĩa, ngay cả với Steven Eisman. “Tôi nghĩ đó là một phần câu trả lời cho sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng gia tăng,” anh nói. “Sự phân chia thu nhập ở đất nước này vốn đã mất cân bằng và đang ngày càng mất cân bằng, vậy nên, ngày càng có nhiều khách hàng dưới chuẩn.” Tất nhiên, Eisman được trả tiền để nắm bắt được ý nghĩa của việc cho vay dưới chuẩn: Oppenheimer nhanh chóng trở thành một trong những ngân hàng hàng đầu trong ngành công nghiệp mới này, một phần không nhỏ là nhờ có Eisman là một trong những người khởi xướng chủ chốt trong đó. “Tôi đã biến rất nhiều công ty dưới chuẩn trở thành công ty đại chúng,” Eisman nói. “Và câu chuyện mà họ thích kể là ‘chúng tôi đang giúp đỡ khách hàng. Bởi chúng tôi kéo họ ra khỏi khoản nợ thẻ tín dụng lãi suất cao và đặt họ vào khoản nợ vay có thế chấp lãi suất thấp hơn’. Và tôi tin câu chuyện này.” Rồi có thứ gì đó đã thay đổi.

Vincent Daniel lớn lên ở Queens, không có bất cứ đặc quyền nào mà Steve Eisman coi là hiển nhiên. Song nếu bạn gặp họ, bạn có thể cho rằng Vinny đã lớn lên trong xa hoa ở Đại lộ Park trong khi Eisman được nuôi dạy trong căn hộ ở ghép tại Đại lộ 82.. Eisman là kẻ trắng trợn, phô trương và tập trung vào những phi vụ lớn. Vinny lại cẩn trọng, cảnh giác và ưa thích các chi tiết. Anh còn trẻ tuổi, cơ thể cân đối với mái tóc đen, dày và điển trai, nhưng ngoại hình của anh đã bị che lấp bởi những biểu cảm lo lắng trên khuôn mặt. Anh không có gì để mất nhưng dường như lúc nào cũng lo lắng rằng mình sắp mất một thứ gì đó rất quan trọng. Bố của Vinny đã bị sát hại khi anh còn nhỏ – dù không ai nói về chuyện đó – còn mẹ anh là người giữ sổ sách ở một công ty giao dịch hàng hóa. Bà đã một mình nuôi dạy anh em Vinny. Có thể là do mảnh đất Queens, có thể là do những gì đã xảy ra với người cha, hoặc có thể chỉ là do bản chất con người Vincent Daniel, nhưng anh luôn hồ nghi các đồng nghiệp của mình. Với sự nể phục của một nhà vô địch dành cho một nhà vô địch vĩ đại hơn, Steve Eisman đã nói, “Vinny là bóng tối.”

Eisman là một đứa trẻ thuộc tầng lớp thượng lưu, người không mấy ngạc nhiên khi anh được vào học tại Penn thay vì Yale. Vinny là một đứa trẻ thuộc tầng lớp hạ lưu, có người mẹ luôn cảm thấy tự hào vì anh được nhận vào đại học dù đó là trường nào đi chăng nữa và còn tự hào hơn khi, vào năm 1994, sau khi Vinny tốt nghiệp SUNY-Binghamton, anh đã tự mình xin được vào làm tại Arthur Andersen ở Manhattan, một công ty kế toán phá sản vài năm sau đó trong vụ bê bối Enron. “Lớn lên ở đất Queens này, bạn sẽ nhanh chóng biết nơi nào có tiền,” Vinny nói. “Đó chính là Manhattan.” Nhiệm vụ đầu tiên của anh ở Manhattan với cương vị một nhân viên kế toán cấp thấp là kiểm toán Salomon Brothers. Anh ngay lập tức bị choáng váng trước sự mờ ám trong sổ sách của một ngân hàng đầu tư. Không một kế toán đồng sự nào của anh có thể giải thích tại sao các nhân viên giao dịch lại làm những gì họ đang làm. “Tôi không biết mình đang làm gì nữa,” Vinny nói. “Nhưng điều đáng sợ là các sếp của tôi cũng chẳng biết gì. Tôi đã đặt ra những câu hỏi cơ bản như, Tại sao họ lại sở hữu trái phiếu thế chấp này? Liệu họ chỉ đang đặt cược trên nó, hay đó là một phần trong một chiến lược lớn hơn? Tôi nghĩ mình cần phải biết. Thật khó để có thể kiểm toán một công ty nếu bạn không thể tìm ra một bức tranh lớn.”

Anh cho rằng chẳng có cách nào hiệu quả để một kế toán viên được giao nhiệm vụ kiểm toán một công ty lớn ở Phố Wall có thể chỉ ra công ty đó đang lãi hay lỗ. Chúng là những hộp đen khổng lồ với những bánh răng được giấu kín đang chuyển động liên tục. Vài tháng sau khi bắt đầu đợt kiểm toán, sếp của Vinny đã quá ngán ngẩm trước những câu hỏi của anh. “Ông ta không thể giải thích cho tôi. Ông ta nói, ‘Vinny, đó không phải việc của anh. Tôi thuê anh để làm việc XYZ, hãy làm việc XYZ và câm miệng lại.’ Tôi bước ra khỏi văn phòng của ông ta và nói, ‘Tôi phải đi khỏi đây.’”

Vinny tìm một công việc khác. Một người bạn học cũ của anh làm tại Oppenheimer and Co. đang kiếm được nhiều tiền. Anh ta đã nộp hồ sơ của Vinny đến bộ phận nhân sự, và nó đã đến tay Steve Eisman, người hóa ra cũng đang tìm kiếm ai đó giúp anh phân tích được những phương pháp kế toán ngày càng phức tạp của những người khởi tạo ra các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn. “Tôi không biết cộng,” Eisman nói. “Tôi nghĩ về các câu chuyện. Tôi cần người giúp tôi giải quyết các con số.” Vinny nghe nói rằng Eisman rất khó tính và đã thực sự ngạc nhiên khi họ gặp mặt vì Eisman dường như chỉ quan tâm đến việc liệu họ có thể hòa hợp với nhau không. “Anh ấy dường như chỉ chăm chú vào việc tìm được một người đáng tin cậy,” Vinny nói. Họ gặp nhau lần thứ hai khi Eisman đột nhiên gọi điện thoại cho Vinny. Vinny cho rằng anh sắp nhận được đề nghị làm việc, nhưng khi họ vừa mới bắt đầu nói chuyện, Eisman nhận được một cuộc gọi khẩn cấp khác và Vinny phải chờ máy. Vinny ngồi đợi 15 phút trong yên lặng, nhưng Eisman đã không bao giờ trả lời lại.

Hai tháng sau, Eisman gọi lại cho anh hỏi khi nào Vinny có thể bắt đầu công việc?

Eisman không hề nhớ tại sao anh lại để Vinny chờ máy rồi không gọi lại như thế, cũng giống như việc anh không nhớ tại sao anh lại vào nhà vệ sinh giữa bữa trưa với một vị CEO có tiếng và cũng không trở lại. Vinny đã nhanh chóng tự tìm ra câu trả lời: Khi Eisman nhận được cuộc gọi cắt ngang cuộc nói chuyện giữa họ, anh hay tin Max, cậu con trai đầu lòng vừa mới sinh của anh, đã qua đời. Một người y tá trực đêm đã lăn đè lên đứa trẻ khi cô ta đang ngủ và khiến nó bị ngạt. 10 năm sau, những người thân thiết nhất với Eisman đã nói rằng đó là một sự kiện đã làm thay đổi mối quan hệ của anh với thế giới xung quanh. “Steven nghĩ rằng có một thiên thần luôn phù hộ anh ấy,” Valerie nói. “Không có bất cứ điều gì tồi tệ từng xảy ra với Steven. Anh ấy được bảo vệ và an toàn. Sau khi Max ra đi, thiên thần ấy cũng biến mất. Mọi điều tồi tệ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.” Từ đó, cô nhận thấy nhiều thay đổi ở chồng mình, dù lớn hay nhỏ, và Eisman cũng không phải là không đồng ý. “Từ góc nhìn lịch sử vũ trụ, sự ra đi của Max không phải là một vấn đề lớn,” Eisman nói. “Nhưng đó là một vấn đề rất lớn đối với riêng tôi.”

Dù vậy, Vinny và Eisman không bao giờ nói về những gì đã xảy ra. Tất cả những gì Vinny biết đó là Eisman mà anh đang làm việc cùng không hề giống một Eisman mà anh đã từng gặp trước đó vài tháng. Eisman mà Vinny đã từng phỏng vấn cùng, theo tiêu chuẩn của các nhà phân tích Phố Wall, là người rất trung thực. Anh không hoàn toàn là người bất hợp tác. Oppenheimer là một trong những ngân hàng hàng đầu trong ngành công nghiệp cho vay thế chấp dưới chuẩn. Họ sẽ không bao giờ có được vị trí đó nếu Eisman, nhà phân tích ồn ào nhất của họ, không sẵn sàng dành những lời có cánh cho họ. Cũng giống như việc anh thích giáng đòn vào các công ty kém hiệu quả, anh chấp nhận rằng ngành công nghiệp cho vay dưới chuẩn là một sự bổ sung hữu ích cho nền kinh tế Mỹ. Theo một cách nào đó, việc sẵn sàng tỏ ra thô lỗ với một vài người khởi xướng loại cho vay dưới chuẩn này hóa ra lại rất hữu ích. Nó làm tăng uy tín cho các khuyến nghị của anh về những người khác.

Eisman hiện ngày càng trở nên nhạy cảm một cách tiêu cực, mà theo sếp anh, thì điều này gây phản tác dụng về mặt tài chính. “Nó giống như việc anh ấy sẽ đánh hơi thấy điều gì đó,” Vinny nói. “Nhưng anh ấy cần tôi giúp xem anh ấy đã đánh hơi được cái gì.” Eisman muốn viết một bản báo cáo chỉ trích toàn ngành công nghiệp, nhưng anh cần phải thận trọng hơn bình thường. “Bạn có thể thể hiện sự tích cực và nói sai về bên bán,” Vinny nói. “Nhưng nếu bạn thể hiện sự tiêu cực và nói sai, bạn sẽ bị sa thải.” Một vài tháng trước, anh nhận được tin tức anh cần từ Moody’s: Cơ quan xếp hạng này hiện đang sở hữu và chào bán mọi loại thông tin mới về các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn. Dù cơ sở dữ liệu của Moody’s không cho phép anh kiểm tra các khoản vay riêng lẻ, nhưng nó mang lại một bức tranh tổng thể về các rổ bao gồm những khoản cho vay làm bảo đảm cho các trái phiếu thế chấp riêng lẻ: lãi suất thả nổi là bao nhiêu, bao nhiêu ngôi nhà được mua bằng cách vay thế chấp được dùng để ở. Quan trọng nhất: Bao nhiêu khoản vay không được trả nợ đúng hạn. “Cơ sở dữ liệu đây,” Eisman nói một cách đơn giản. “Hãy vào phòng đó. Đừng trở ra cho đến khi anh biết được nó có nghĩa là gì.” Vinny có cảm giác rằng Eisman đã biết nó có nghĩa là gì.

Vinny đã phải tự lực cánh sinh. “Tôi mới chỉ 26 tuổi,” anh nói, “và tôi còn không biết chứng khoán có đảm bảo bằng thế chấp thực sự là cái gì.” Eisman cũng chẳng biết gì về chúng – anh ấy chỉ là một gã chơi cổ phiếu, và Oppenheimer thậm chí còn không có cả bộ phận trái phiếu. Vinny đành phải tự mày mò học. Khi học xong, anh đã có được lời giải thích cho cái thứ mùi khó chịu bốc ra từ ngành công nghiệp thế chấp dưới chuẩn mà Eisman đã phát hiện ra. Những công ty này chỉ công khai thu nhập ngày càng gia tăng của họ, ngoài ra không tiết lộ gì thêm. Một trong nhiều điểm mà họ không tiết lộ chính là tỉ lệ không trả nợ đúng hạn của các khoản vay mua nhà mà họ đang cho vay. Khi Eisman đã đặt máy ghi âm và nghe trộm được điều này thì họ lại giả vờ rằng nó chả liên quan gì cả, vì họ đã bán mọi khoản vay cho những người đóng gói chúng thành trái phiếu thế chấp: Rủi ro không còn là của họ nữa. Điều này không đúng. Tất cả đều giữ lại một phần nhỏ các khoản vay gốc, và các công ty được phép ghi giá trị tương lai kỳ vọng của các khoản vay này vào lợi nhuận trong sổ sách. Luật kế toán cho phép họ giả định rằng các khoản vay sẽ được hoàn trả, và không phải bị hoàn trả trước hạn. Giả định này trở thành động cơ cho số phận bất hạnh của họ.

Điều đầu tiên đập vào mắt Vinny chính là tỉ lệ trả trước cao ngất ở một khu vực mang tên “nhà nhân tạo.” (“Nó nghe có vẻ khá hơn ‘nhà di động’”) Nhà di động khác với các loại tài sản không có bánh: Giống như ô tô, giá trị của chúng giảm ngay khi chúng được đưa ra khỏi cửa hàng. Người mua nhà di động, không giống như người mua nhà bình thường, không mong sẽ có thể đổi nợ trong vòng hai năm và lấy tiền ra. Tại sao họ lại trả trước quá nhanh như vậy? Vinny tự hỏi. “Tôi thấy nó thật vô lý. Và rồi tôi phát hiện ra lý do các khoản thanh toán sớm cao như vậy là do chúng mang tính không tự nguyện.” “Trả trước không tự nguyện” nghe khá hơn là “vỡ nợ”. Những người mua nhà di động đang không thể trả nợ đúng hạn, nhà của họ đang bị thu hồi, và những người cho họ vay tiền chỉ đang nhận được phần rất nhỏ của khoản vay gốc. “Cuối cùng, tôi thấy rằng tất cả các khu vực cho vay dưới chuẩn đều đang bị trả trước hoặc đang xấu đi với tốc độ đáng kinh ngạc,” Vinny nói. “Tôi đang được chứng kiến một tỉ lệ không trả nợ đúng hạn rất cao ở các rổ này.” Lãi suất của các khoản vay này không đủ cao để tương xứng với rủi ro của việc cho phân khúc dân số Mỹ đặc biệt này vay. Nó giống như thể là các quy tắc thông thường về tài chính đã bị hoãn lại để giải quyết một vấn đề xã hội. Một ý nghĩ thoáng qua đầu anh ta: Làm thế nào để khiến người nghèo cảm thấy giàu có với mức tiền lương không đổi? Hãy cho họ vay với giá rẻ.

Anh mất 6 tháng để sàng lọc mọi rổ vay thế chấp dưới chuẩn, nhưng khi hoàn thành, anh đã ra khỏi phòng và báo tin cho Eisman. Tất cả các công ty cho vay dưới chuẩn này đều đang phát triển rất nhanh, và sử dụng các phương thức kế toán ngớ ngẩn đến mức họ đã giấu đi một thực tế rằng họ không có lợi nhuận thực, mà tất cả chỉ là ảo, do kế toán tạo ra. Họ sở hữu đặc điểm thiết yếu của một mô hình Ponzi: Để duy trì ảo tưởng rằng họ là những doanh nghiệp sinh lời, họ cần thêm nhiều vốn hơn nữa để tạo ra ngày càng nhiều các khoản vay dưới chuẩn. “Tôi không chắc chắn 100% rằng tôi đúng,” Vinny nói, “nhưng tôi đã đến chỗ Steve và nói, ‘Điều này chẳng tốt đẹp gì cả.’ Đó là tất cả những gì anh cần biết. Tôi nghĩ thứ anh cần là bằng chứng để hạ điểm cổ phiếu.”

Báo cáo của Eisman đã đả kích mọi nhà khởi xướng dưới chuẩn; anh lần lượt phơi bày sự lừa đảo của hàng tá các công ty. Anh nói, “đây là sự khác biệt giữa cái nhìn về thế giới mà họ trưng trước mắt bạn và các con số thực tế.” Các công ty dưới chuẩn không đánh giá cao nỗ lực của anh. “Anh ấy đã tạo ra một trận cuồng phong,” Vinny nói. “Tất cả những công ty dưới chuẩn này đều gọi điện và la lối anh ấy: Mày sai rồi, số liệu của mày cũng vậy. Và anh ấy cũng hét lại vào mặt họ, ‘Đấy là số liệu chết tiệt của BỌN MÀY!” Một trong những lý do khiến bản báo cáo của Eisman đụng chạm đến quá nhiều người là anh đã không đưa ra cảnh báo phù hợp cho những công ty mà anh xúc phạm. Anh đã vi phạm luật của Phố Wall. “Steve biết điều đó chắc chắn sẽ tạo bão,” Vinny nói. “Và anh ấy muốn tạo bão. Anh ấy không muốn bị ngăn cản. Nếu anh cảnh báo họ, tất cả những người này sẽ ngăn cản anh làm việc đó.”

“Trước đây, chúng ta không bao giờ có thể đánh giá được các khoản vay bởi chúng ta không có dữ liệu,” Eisman nói sau đó. “Tên tuổi của tôi đã gắn liền với ngành công nghiệp này. Danh tiếng của tôi đã được xây dựng dựa trên việc theo dõi các cổ phiếu này. Nếu tôi sai, đó sẽ là dấu chấm hết cho sự nghiệp của Steve Eisman.”

Eisman công bố bản báo cáo của mình vào tháng 9 năm 1997, thời điểm giữa của một thời kì có vẻ như là một trong những cuộc bùng nổ kinh tế lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Chưa đầy một năm sau, Nga vỡ nợ và quỹ phòng hộ mang tên Long-Term Capital Management bị phá sản. Sau đó, những nhà cho vay dưới chuẩn đầu tiên bị từ chối cấp vốn và ngay lập tức đổ bể hàng loạt. Thất bại của họ được cho là một bản cáo trạng về cách họ áp dụng các phương pháp kế toán, thứ cho phép họ ghi sổ các khoản lợi nhuận trước khi chúng thành hiện thực. Theo như Vinny biết thì không một ai ngoại trừ Vinny thực sự hiểu được sự tồi tệ của các khoản cho vay mà họ đã thực hiện. “Tôi cảm thấy vui khi thị trường này vẫn có điểm không hiệu quả như vậy,” anh nói. “Bởi nếu thị trường nắm bắt được mọi thứ, tôi có thể đã chọn sai nghề. Bạn không thể hiểu thêm bất cứ điều gì bằng cách quan sát vấn đề phức tạp này, vậy sao phải bận tâm cơ chứ? Nhưng tôi là người duy nhất mà tôi biết đang theo dõi các công ty mà chắc chắn sẽ sụp đổ trong cuộc bùng nổ kinh tế lớn nhất mà chúng ta từng được chứng kiến trong đời. Tôi biết nền kinh tế này đã hình thành ra sao và nó thực sự rất quái đản.”

Một vài năm sau, Eisman thôi việc và xin làm cho một quỹ phòng hộ lớn mang tên Chilton Investment. Anh đã không còn hứng thú với việc mách những người khác nên đặt tiền vào đâu nữa. Anh nghĩ anh thích việc tự quản lý tiền và đánh cược dựa trên những phán đoán của bản thân hơn. Khi tuyển dụng Eisman, Chilton Investment lại có suy nghĩ khác. “Vấn đề về Steve,” một đồng nghiệp tại Chilton nói, “đó là anh ấy thực sự rất thông minh. Nhưng liệu anh ấy có thể chọn cổ phiếu không?” Chilton đã quyết định rằng anh không thể và sắp xếp anh vào vị trí cũ với công việc phân tích các công ty, hỗ trợ người thực sự đưa ra các quyết định đầu tư. Eisman không thích việc này, nhưng anh vẫn làm, và trong khi làm việc, anh đã học được những điều giúp anh có được sự chuẩn bị độc nhất cho cuộc khủng hoảng sắp diễn ra. Anh đã biết được những gì thực sự đang diễn ra bên trong thị trường cho vay tiêu dùng.

Đó là năm 2002. Không còn công ty cho vay dưới chuẩn đại chúng nào ở Mỹ. Tuy nhiên, có một gã khổng lồ cho vay tiêu dùng lâu đời mang tên Household Finance Corporation. Được thành lập vào những năm 1870, công ty này từ lâu đã là người đi đầu trong lĩnh vực này. Eisman đã nghĩ anh hiểu rất rõ về công ty này cho đến khi anh nhận ra rằng không phải vậy. Đầu năm 2002, anh có được hồ sơ các giao dịch mới của Household liên quan đến hoạt động cung cấp các khoản vay giá trị chủ sở hữu nhà. CEO của công ty, Bill Aldinger, đã lèo lái Household phát triển ngay cả khi các đối thủ cạnh tranh của ông đều phá sản. Người Mỹ, vốn đang phải chịu đựng cuộc khủng hoảng Internet, có vẻ không ở vào vị thế có thể gánh thêm các khoản nợ mới, thế nhưng Household lại vẫn đang cung cấp các khoản vay với tốc độ nhanh chưa từng có. Sự tăng trưởng này bắt nguồn phần lớn từ khoản thế chấp thứ hai. Hồ sơ cho vay có thời hạn 15 năm với lãi suất vay cố định, nhưng nó được ngụy trang một cách kì lạ thành khoản vay có thời hạn 30 năm. Nó lấy các khoản thanh toán mà chủ hộ trả cho Household trong vòng 15 năm để san một cách lý thuyết ra 30 năm và đặt câu hỏi: Nếu bạn được thanh toán trong vòng 30 năm cùng một lượng tiền mà thực tế bạn đang thanh toán trong 15 năm, thì “lãi suất thực” là bao nhiêu? Đó là một lời rao hàng không trung thực và kỳ lạ. Họ nói rằng người vay sẽ phải trả “lãi suất thực là 7%” nhưng trong thực tế, anh ta sẽ phải trả khoảng 12,5%. “Đó là trò gian lận trắng trợn,” Eisman nói. “Họ đang lừa phỉnh chính khách hàng của mình.”

Eisman không mất quá nhiều thời gian để tìm được các khiếu nại từ những người vay vốn đã phát hiện ra trò gian lận đó. Anh lùng sục các tờ báo nhỏ trên cả nước. Tại thị trấn Bellingham, Washington, anh tìm được một phóng viên tên là John Stark của tờ Bellingham News. Trước khi Eisman bất ngờ gọi điện cho anh ta, Stark đã viết một mẩu tin ngắn về 4 người dân địa phương, những người nghĩ rằng họ đã bị Household lừa và tìm được một luật sư nguyên đơn sẵn lòng kiện công ty và làm mất hiệu lực các hợp đồng thế chấp. “Lúc đầu tôi còn hoài nghi,” Stark nói. “Tôi nghĩ, lại thêm một người nữa đã vay quá nhiều tiền và muốn thuê luật sư. Tôi không thông cảm với hoàn cảnh của họ lắm.” Khi mẩu tin được đăng, nó đã thu hút được dư luận: Hàng trăm người ở Bellingham và các khu vực xung quanh đó đã đọc báo và phát hiện ra rằng khoản thế chấp 7% của họ thực chất là 12,5%. “Mọi người thình lình xuất hiện,” Stark nói. “Họ rất tức giận. Rất nhiều người trong số họ đã không hề hay biết chuyện gì đã xảy ra với mình.”

Bất cứ điều gì Eisman định làm đều được đẩy đến đỉnh điểm. Anh chuyên tâm tập trung chống lại Household Finance Corporation. Anh thông báo cho cánh phóng viên báo chí, anh gọi cho những tay viết cho các tạp chí, anh trở nên thân thiện với Hiệp hội các Tổ chức Cộng đồng vì Cải cách Đương đại (ACORN – Association of Community Organizations for Reform Now), đây là lần đầu tiên có một người đàn ông xuất thân từ một quỹ phòng hộ ở Phố Wall thể hiện sự quan tâm tới một tổ chức bảo vệ quyền lợi của người nghèo. Anh liên tục ghé qua văn phòng trưởng lý của bang Washington. Anh cảm thấy ngờ vực khi biết rằng viên trưởng lý đã điều tra Household nhưng sau đó bị một thẩm phán bang ngăn chặn việc công bố kết quả điều tra. Eisman thu thập được một bản sao tài liệu và nội dung của nó đã xác nhận những nghi vấn tồi tệ nhất của anh. “Tôi nói với cái gã đang ngồi trong văn phòng chưởng lý rằng, ‘Tại sao ông không bắt giữ những người này?’ Ông ta nói, ‘Họ là một công ty quyền lực. Nếu họ sụp đổ, ai sẽ là người cung cấp các khoản vay dưới chuẩn tại bang Washington?’ Tôi nói, ‘Tin tôi đi, sẽ có đầy người sẵn sàng làm việc đó.’”

Thực sự, đây là một vấn đề liên bang. Household đang rao bán các khoản thế chấp lừa đảo trên toàn nước Mỹ. Nhưng chính phủ liên bang vẫn không có động thái gì. Thay vào đó, cuối năm 2002, Household đã giải quyết ổn thỏa một vụ kiện bên ngoài tòa án và đồng ý trả 484 triệu dollar tiền phạt cho 12 bang. Một năm sau đó, nó bán công ty kèm theo danh mục các khoản vay dưới chuẩn khổng lồ với giá 15,5 tỉ dollar cho một tập đoàn tài chính của Anh mang tên HSBC Group.

Eisman đã thực sự bị sốc. “Tôi không bao giờ nghĩ điều này có thể xảy ra,” anh nói. “Đây không chỉ đơn thuần là lại một công ty nữa – mà là một công ty cho vay dưới chuẩn lớn nhất từ trước đến giờ. Và nó đã tham gia vào trò gian lận trắng trợn. Đáng ra phải đuổi việc tên CEO và treo cổ hắn. Thế mà thay vào đó, chúng đã bán công ty còn tên CEO đút túi 100 triệu dollar. Và tôi nghĩ, Ôi! Đây không phải là cái kết đáng ra phải có.” Sự bi quan của anh đối với hệ thống tài chính cao cấp đang dần bị nhuốm màu bởi các ý tưởng chính trị. “Đó là khi tôi bắt đầu thấy được những tác động xã hội,” anh nói. “Nếu bạn định khai sinh ra một chế độ cai trị từ con số 0, hãy thiết kế nó sao cho nó có thể bảo vệ được những người dân có thu nhập từ tầm trung đến thấp, bởi khả năng họ bị lừa dối là quá cao. Nhưng thay vào đó, chúng ta lại đang có một chế độ mà ở đó, nhân dân là những người ít được bảo vệ nhất.”

Một câu chuyện cổ tích đang được dựng lại trước mắt anh trong thị trường tài chính. “Tôi bắt đầu tìm hiểu kỹ hơn xem hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn thực sự là gì,” anh nói. “Ở vài phương diện nào đó, một khoản cho vay mua xe dưới chuẩn có tính trung thực bởi lãi suất của nó cố định. Họ có thể tính phí bạn cao ngất ngưởng, nhưng ít nhất bạn biết điều đó. Còn các khoản vay thế chấp dưới chuẩn là trò lừa đảo. Về cơ bản, bạn kéo ai đó vào trò lừa đảo này bằng cách nói với họ rằng, ‘Anh/chị sẽ thanh toán được hết mọi khoản vay khác của mình – nợ thẻ tín dụng, vay mua xe – bằng việc vay một khoản này. Hãy nhìn mức lãi suất thấp này xem!’ Nhưng lãi suất thấp đó không phải là lãi suất thực tế.”

Bị ám ảnh bởi Household, anh đã tham gia một bữa ăn trưa do một công ty lớn ở Phố Wall tổ chức. Diễn giả chính là Herb Sandler, CEO của một quỹ tiết kiệm và cho vay khổng lồ mang tên Golden West Financial Corporation. “Một ai đó đã hỏi anh ta rằng liệu anh ta có tin vào mô hình séc miễn phí,” Eisman nhớ lại. “Và anh ta nói, ‘Tắt máy ghi âm của các anh/chị đi.’ Mọi người tắt hết máy ghi âm của mình. Và anh ta giải thích rằng họ tránh sử dụng séc miễn phí bởi đó thực sự là loại thuế đánh vào người nghèo – dưới dạng tiền phạt do rút quá số tiền trong tài khoản séc của họ. Và rằng các ngân hàng sử dụng nó thực sự chỉ đang hoạt động ngân hàng dựa trên khả năng ‘ăn cướp’ của người nghèo nhiều hơn mức họ có thể nếu tính phí séc.”

Eisman hỏi, “Có nhà làm luật nào quan tâm đến điều này không?”

“Không,” Sandler đáp.

“Đó là khi tôi khẳng định rằng hệ thống này thực sự, ‘Làm trò bẩn thỉu với người nghèo.’”

Khi CEO của Household, Bill Aldinger, kiếm được 100 triệu dollar, thì Eisman đang trên hành trình trở thành người theo chủ nghĩa xã hội đầu tiên của thị trường tài chính. “Khi bạn là một thành viên Đảng Cộng hòa bảo thủ, bạn không bao giờ nghĩ người ta đang kiếm tiền bằng cách bóc lột người khác,” anh nói. Tư tưởng của anh hiện hoàn toàn cởi mở với khả năng này. “Hiện tại, tôi nhận ra rằng có hẳn một ngành công nghiệp, mang tên tài chính tiêu dùng, mà về cơ bản là tồn tại bằng cách bóc lột người khác.”

Bị người quản lý quỹ phòng hộ từ chối cơ hội quản lý tài chính, anh bỏ việc và tìm cách mở quỹ phòng hộ riêng. Một hãng có tên là FrontPoint Partners – hãng này sẽ nhanh chóng thuộc quyền sở hữu hoàn toàn của Morgan Stanley – là ông chủ của một bộ sưu tập các quỹ phòng hộ. Vào đầu năm 2004, Morgan Stanley đồng ý để Eisman thành lập một quỹ chỉ tập trung vào các công ty tài chính: các ngân hàng Phố Wall, các nhà thầu xây dựng, các nhà khởi tạo thế chấp, các công ty có bộ phận dịch vụ tài chính lớn – ví dụ như General Electric (GE) – và bất cứ ai liên quan đến tài chính Mỹ. Họ cung cấp cho anh văn phòng, đồ nội thất và nhân viên hỗ trợ. Thứ duy nhất anh không nhận được là tiền. Họ kỳ vọng anh sẽ tự huy động được nó. Anh đã đi khắp thế giới, và gặp gỡ hàng trăm nhà đầu tư lớn. “Về cơ bản, chúng tôi đã rất cố gắng gọi vốn, nhưng không thực sự thành công,” anh nói. “Tất cả mọi người đều nói, ‘Thật vinh dự được gặp anh. Hãy xem anh làm thế nào nào.’”

Vào mùa xuân năm 2004, anh thực sự lo lắng. Anh đã không gọi được vốn. Anh không hề tin rằng thế giới này công bằng, mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp, hay sẽ có một sự bảo vệ đặc biệt nào đó che chở anh khỏi các tai nạn của cuộc đời. Anh thức dậy vào 4 giờ sáng, người đầm đìa mồ hôi. Anh vẫn đang trong giai đoạn điều trị. Tuy nhiên, anh vẫn là Eisman và vì vậy đó không phải là phương pháp điều trị thông thường. Nó được gọi là “nhóm làm việc.” Những người chuyên nghiệp sẽ gặp gỡ một bác sỹ tâm lý được đào tạo để chia sẻ về các vấn đề của họ trong một môi trường an toàn. Eisman sẽ đột ngột xuất hiện vào cuối các cuộc gặp mặt này, nói liên tục về bất cứ điều gì khiến anh phiền não, và sau đó lao vọt ra ngoài trước khi những người khác có cơ hội chia sẻ với anh về những vấn đề của họ. Sau một vài lần như vậy, vị bác sỹ điều trị đã nói điều gì đó với anh, nhưng có vẻ như anh đã không hề nghe cô nói. Vì vậy, cô phải gọi điện cho vợ Eisman, người mà cô biết, để đề nghị cô ấy nói chuyện với chồng mình. Điều này cũng không có tác dụng. “Tôi luôn biết khi nào anh ấy đến gặp nhóm,” Valerie nói, “bởi cô ấy sẽ gọi điện thoại và nói, ‘Anh ấy lại thế rồi!’”

Valerie rõ ràng đã rất mệt mỏi với vòng luẩn quẩn này. Cô nói với Eisman rằng nếu vụ Phố Wall này không thành công, họ sẽ rời New York đến Rhode Island và mở một nhà trọ nhỏ. Valerie đã tìm hiểu các địa điểm và thường xuyên nói về việc cô muốn dành thêm thời gian cho 2 đứa con sinh đôi, hay thậm chí là nuôi gà. Thật khó để Eisman và cả những người biết anh có thể tưởng tượng ra cảnh anh sẽ ‘về vườn’ và nuôi gà, nhưng anh đã đồng ý. “Anh ấy không thích ý tưởng đó,” vợ anh nói, “đến mức anh ấy bắt đầu làm việc chăm chỉ hơn.” Eisman đi khắp châu Âu và nước Mỹ để tìm kiếm người sẵn sàng đầu tư với anh và đã tìm thấy một tổ chức duy nhất: một công ty bảo hiểm, đầu tư cho anh 50 triệu dollar. Số tiền đó không đủ để tạo dựng được một quỹ đầu tư cổ phiếu bền vững, nhưng đó là một sự khởi đầu.

Thay vì tiền, Eisman đã thu hút những người cũng nhìn thế giới dưới con mắt bi quan giống anh. Vinny đã xuất hiện ngay lập tức. Porter Collins, người từng làm việc với Eisman tại Chilton Investment và lúc nào cũng thắc mắc tại sao một gã đầy ắp những ý tưởng tuyệt vời như thế này lại không được trao thêm quyền, cũng đến gia nhập. Danny Moses, nhân viên giao dịch đứng đầu của Eisman, là người thứ ba tham gia. Danny từng làm nhân viên kinh doanh tại Oppenheimer and Co. và vẫn nhớ những gì Eisman đã làm và nói mà các nhà phân tích bên bán hiếm khi thực hiện được. Ví dụ, vào giữa ngày giao dịch, Eisman sẽ bước đến bục phát biểu ở giữa sàn giao dịch của Oppenheimer, kêu gọi sự chú ý của mọi người, thông báo rằng “8 cố phiểu sau sẽ về mức 0,” và sau đó liệt kê ra 8 công ty mà thực sự đã phá sản. Lớn lên ở Georgia, là con trai của một giáo sư về tài chính, Danny không có khiếu thiên bẩm hơn Vinny hay Steve, nhưng anh cũng cho rằng những điều tồi tệ có thể và chắc chắn sẽ xảy ra, đặc biệt là ở Phố Wall. Khi một công ty Phố Wall giúp anh tham gia một giao dịch gần như hoàn hảo về mọi mặt, anh đã hỏi nhân viên kinh doanh rằng, “Tôi đánh giá rất cao việc này, nhưng tôi chỉ muốn biết một điều: Các anh định chơi tôi như thế nào?”

Ha ha, thôi nào, chúng tôi sẽ không bao giờ làm điều đó, người nhân viên kinh doanh bắt đầu nói, nhưng Danny vẫn kiên quyết dù rất lịch sự.

Chúng ta đều biết rằng những điều tốt đẹp trọn vẹn giống như giao dịch này không chỉ diễn ra giữa các quỹ phòng hộ nhỏ và những công ty lớn Phố Wall. Tôi sẽ làm, nhưng chỉ sau khi anh giải thích hết với tôi anh định chơi tôi như thế nào. Và nhân viên kinh doanh buộc phải giải thích ý định của mình với Danny. Và Danny đã thực hiện giao dịch.

Tất cả mấy người họ đều vô cùng thích thú với ý tưởng được quản lý tiền cùng Steve Eisman. Làm việc cho Eisman, bạn không bao giờ cảm thấy mình đang làm việc cho Eisman. Anh ấy sẽ hướng dẫn bạn nhưng sẽ không giám sát bạn. Eisman cũng luôn nói thẳng ra những sự ngu xuẩn mà họ thấy khắp nơi xung quanh mình. “Steve luôn hài hước khi tham dự bất cứ cuộc họp nào của Phố Wall,” Vinny nói. “Anh ấy sẽ nói ‘giải thích điều đó cho tôi’ 30 lần khác nhau. Hoặc ‘anh có thể giải thích điều đó thêm không, bằng tiếng Anh?’ Mỗi lần bạn làm điều đó, bạn sẽ học được vài điều. Lúc mới đầu, bạn sẽ băn khoăn không biết họ có hiểu những gì họ đang nói hay không. Và thường là họ không hề hiểu!”

Vào đầu năm 2005, nhóm nhỏ của Eisman đều cho rằng rất nhiều người làm việc ở Phố Wall không hiểu họ đang làm gì. Cỗ máy thế chấp dưới chuẩn được nâng lên và vận hành lại, như thể nó chưa bao giờ bị hỏng hóc từ đầu. Nếu kiểu cho vay dưới chuẩn ban đầu thực sự kỳ quái, thì hồi sau nó lại rất đáng sợ. Vào giữa những năm 1990, với 30 tỉ dollar, đó là một năm lớn đối với hoạt động cho vay dưới chuẩn. Vào năm 2000, có 130 tỉ dollar cho vay thế chấp dưới chuẩn, và 55 tỉ dollar giá trị của những khoản vay này được đóng gói lại thành trái phiếu thế chấp. Vào năm 2005, có 625 tỉ dollar vay thế chấp dưới chuẩn, 507 tỉ dollar trong số này dưới dạng trái phiếu thế chấp. 500 tỉ dollar dưới dạng trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp dưới chuẩn trong một năm duy nhất. Cho vay dưới chuẩn đang bùng nổ ngay cả khi lãi suất đang tăng – điều này cực kỳ vô lý. Điều còn sốc hơn nữa là các điều khoản của khoản vay đang thay đổi theo chiều hướng làm tăng khả năng khoản vay sẽ xấu đi. Quay lại năm 1996, 65% các khoản vay dưới chuẩn có lãi suất cố định, có nghĩa là những người đi vay dưới chuẩn điển hình có thể đang bị vắt kiệt, nhưng ít nhất họ biết chắc mỗi tháng họ nợ bao nhiêu tiền cho đến khi họ trả hết khoản vay. Đến năm 2005, 75% các khoản vay dưới chuẩn ở dạng lãi suất thả nổi và thường chỉ cố định trong 2 năm đầu.

Đội ngũ những nhà tài chính dưới chuẩn ban đầu đã bị nhấn chìm bởi một phần nhỏ các khoản vay mà họ thực hiện vẫn được lưu trong sổ sách. Thị trường đáng ra đã phải học được một bài học đơn giản: Đừng cho những người không thể trả nợ vay tiền. Nhưng thay vào đó, nó lại học được một bài học phức tạp: Bạn có thể tiếp tục cho vay, nhưng đừng giữ chúng trên sổ sách của bạn. Hãy cho vay, sau đó bán hết chúng cho bộ phận thu nhập cố định của các ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall. Các ngân hàng này sẽ lần lượt đóng gói chúng thành trái phiếu và bán chúng cho các nhà đầu tư. Long Beach Savings là ngân hàng đầu tiên áp dụng những gì được gọi là mô hình “khởi tạo và bán”. Điều này minh chứng cho một sự thật phũ phàng – Phố Wall sẽ mua các khoản vay của bạn, ngay cả khi bạn còn không muốn mua chúng! – đến mức mà một công ty mới, mang tên Công ty Thế chấp B&C, đã được thành lập với mục đích duy nhất là khởi tạo và bán. Lehman Brothers nghĩ rằng việc mua Thế chấp B&C là một ý tưởng tuyệt vời. Vào đầu năm 2005, mọi ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall đều đắm chìm vào trò chơi dưới chuẩn. Bear Stearns, Merrill Lynch, Goldman Sachs và Morgan Stanley đều có “những kệ” bày các loại hàng hóa dưới chuẩn của mình với những cái tên kì lạ như HEAT, SAIL và GSAMP, khiến khán giả bình dân gặp khó khăn trong việc nhận ra những trái phiếu dưới chuẩn này được bảo lãnh phát hành bởi những cái tên lớn nhất tại Phố Wall.

Eisman và nhóm của mình hiểu tường tận về cả thị trường nhà đất Mỹ lẫn Phố Wall. Họ biết hầu hết các nhà cho vay dưới chuẩn – những gã thực sự đang tạo ra các khoản vay. Nhiều người trong số đó cũng chính là các nhân vật đã tạo ra sự sụp đổ vào cuối những năm 1990. Eisman luôn nghĩ đến những mặt xấu nhất trong bất cứ điều gì mà Goldman Sachs có thể làm với những khoản nợ của tầng lớp hạ lưu Mỹ. “Anh phải hiểu,” anh nói. “Tôi làm về dưới chuẩn đầu tiên. Tôi sống với những mặt xấu nhất đầu tiên. Những gã này là lũ người lừa đảo. Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi biết được rằng Phố Wall sẽ không thèm đếm xỉa gì đến những gì nó bán ra.” Điều anh không thể hiểu là ai đang mua trái phiếu từ đợt sóng cho vay thế chấp dưới chuẩn thứ hai này. “Ngay từ ngày đầu tiên, chúng tôi đã nói, ‘Sắp đến lúc chúng ta phát tài nhờ bán khống thứ này rồi. Nó sẽ bùng nổ. Chúng ta chỉ không biết làm cách nào hay khi nào mà thôi.’”

Khi dùng từ “thứ này,” Eisman muốn nói đến cổ phiếu của các công ty tham gia vào hoạt động cho vay dưới chuẩn. Giá cố phiếu có thể gây ra mọi điều điên rồ: Anh không muốn bán khống chúng cho đến khi các khoản nợ này bắt đầu xấu đi. Vì vậy, Vinny đã theo dõi sát sao các hành vi của những người dân Mỹ vay thế chấp dưới chuẩn. Cứ vào ngày 25 hàng tháng, các báo cáo chuyển tiền xuất hiện trên màn hình máy tính của anh, và anh sẽ “soi” xem có bất cứ dấu hiệu trả nợ không đúng hạn nào không. “Theo những gì chúng tôi đang theo dõi,” Vinny nói, “thì chất lượng tín dụng vẫn tốt. Ít nhất cho đến nửa cuối năm 2005.”

Trong 18 tháng đầu tiên điều hành công ty riêng, Eisman đã nhận ra rằng mình đang bỏ lỡ một điều rất rõ ràng. Đó là trong khi anh đang cố gắng cân nhắc xem nên chọn cổ phiếu nào thì số phận của các cổ phiếu đó ngày càng phụ thuộc vào trái phiếu. Khi thị trường thế chấp dưới chuẩn phát triển, mọi công ty tài chính, bằng cách này hay cách khác, đều sẽ chịu tác động bởi điều này. Anh nói, “Thị trường cổ phiếu chẳng là gì so với thị trường trái phiếu.” Gần như mọi ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall đều được điều hành hiệu quả bởi bộ phận trái phiếu của nó. Trong hầu hết các trường hợp – Dick Fuld ở Lehman Brothers, John Mack ở Morgan Stanley, Jimmy Cayne ở Bear Stearns – CEO đều nguyên là những gã chơi trái phiếu. Kể từ những năm 1980, khi công ty trái phiếu hàng đầu Salomon Brothers kiếm được nhiều tiền đến mức như thể nó đang hoạt động trong một ngành công nghiệp khác, thì thị trường trái phiếu đã trở thành chiếc ao béo bở. “Đó là quy tắc vàng,” Eisman nói. “Những người có tiền là những người đề ra các quy tắc.”

Hầu hết mọi người đều không hiểu những thứ tạo nên vụ bùng nổ trong thị trường trái phiếu suốt hai thập kỷ đã lấn át mọi thứ khác bằng cách nào. Lúc đó, Eisman chắc chắn cũng không hiểu. Nhưng giờ, anh đã hiểu. Anh cần phải học mọi thứ có thể về thế giới thu nhập cố định. Anh đặt ra những kế hoạch về thị trường trái phiếu. Nhưng anh không biết rằng thị trường trái phiếu cũng có những kế hoạch dành cho anh. Nó đã chuẩn bị tạo ra một cái hố hình Eisman.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.