Bán Khống - Chương 10

Hai người trên một chiếc thuyền

Hầu như không có ai – dù là chủ nhà, các tổ chức tài chính, các cơ quan xếp hạng, các cơ quan chức năng hay các nhà đầu tư – dự đoán được những gì đang xảy ra.

– DEVEN SHARMA, CHỦ TỊCH CỦA S&P

ĐIỀU TRẦN TRƯỚC HẠ VIỆN MỸ

22 THÁNG 10 NĂM 2008

Giáo hoàng Benedict XVI là người đầu tiên dự đoán được cuộc khủng hoảng trong hệ thống tài chính toàn cầu… Bộ trưởng Tài Chính của Ý, Giulio Tremonti nói. “Lời dự đoán rằng một nền kinh tế vô kỷ luật sẽ sụp đổ bởi chính các quy tắc riêng của nó có thể được tìm thấy,” trong một bài báo của Hồng y Joseph Ratzinger [năm 1985], Tremonti cho biết vào ngày hôm qua tại Đại học Cattolica, Milan.

– BLOOMBERG NEWS, 20 THÁNG 11 NĂM 2008

G

reg Lippmann đã nghĩ thị trường thế chấp dưới chuẩn giống như một trò chơi kéo co tài chính khổng lồ: Một bên là cỗ máy Phố Wall tạo ra các khoản cho vay, đóng gói các trái phiếu, đóng gói lại những trái phiếu tồi tệ nhất thành các CDO và sau đó, khi chúng hết sạch các khoản vay, tạo ra những khoản giả mạo mà không biết có nguồn gốc từ đâu; còn bên kia là quân đội cao quý của anh, gồm những người bán khống đánh cược chống lại những khoản cho vay. Những kẻ lạc quan đấu với những người bi quan. Những kẻ ảo tưởng đấu với những người thực tế. Những kẻ bán các hợp đồng hoán đổi nợ xấu đấu với những người đi mua. Cái sai đấu với cái đúng. Phép ẩn dụ này thích hợp cho đến thời điểm này. Bây giờ phép ẩn dụ là hai người trên một chiếc thuyền, buộc lại với nhau bởi 1 sợi dây, đánh nhau đến chết. Người này tiêu diệt người kia, lật cơ thể nặng trịch của đối phương sang một bên – chỉ để nhận thấy rằng chính anh ta cũng đang bị quăng mạnh sang một bên. “Bán khống vào năm 2007 và kiếm được tiền từ nó thật vui vẻ, bởi chúng tôi là những gã tồi chuyên đi bán khống,” Steve Eisman nói. “Năm 2008 là năm toàn bộ hệ thống tài chính có rủi ro. Chúng tôi vẫn bán khống. Nhưng bạn không muốn hệ thống sụp đổ. Nó giống như là một trận lũ sắp xảy ra và bạn là Noah. Bạn đang ở trên tàu. Vâng, bạn ổn. Nhưng bạn không vui vẻ khi quan sát cơn lũ. Đó không phải là khoảnh khắc hạnh phúc đối với Noah.”

Vào cuối năm 2007, các cuộc đặt cược của FrontPoint chống lại các thế chấp dưới chuẩn đã thành công ngoạn mục đến mức họ mở rộng được quy mô của quỹ lên gấp đôi, từ khoảng hơn 700 triệu dollar thành 1,5 tỉ dollar. Thời điểm đó, thời điểm mà rõ ràng họ đã kiếm được cả đống tiền, cả Danny và Vinny đều muốn chuyển các cuộc cá cược của họ thành tiền mặt. Không ai trong số họ từng tin tưởng tuyệt đối vào Greg Lippmann, và sự mất lòng tin này thậm chí đã lấn sang cả món quà tuyệt vời mà anh ta đã tặng cho họ. “Tôi sẽ không bao giờ mua ô tô từ Lippmann,” Danny nói. “Nhưng tôi đã mua 500 triệu dollar các hợp đồng hoán đổi nợ xấu từ anh ta.” Vinny lo lắng rằng anh sẽ bị quả báo vì đã kiếm quá nhiều tiền một cách quá nhanh. “Đó là một giao dịch cả đời người,” anh nói. “Nếu chúng tôi từ bỏ giao dịch của cả một đời người chỉ vì sự tham lam, tôi hẳn là đã phải tự sát.”

Tất cả họ, gồm cả Eisman, nghĩ Eisman không phù hợp với việc đưa ra các đánh giá giao dịch ngắn hạn. Anh là người cảm tính, và thường hành động dựa theo cảm xúc của mình. Các cuộc cá cược của anh chống lại các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đối với anh không chỉ là các cuộc cá cược; mà anh coi chúng gần như là những sự lăng mạ. Bất cứ khi nào những người Phố Wall cố gắng tranh luận – như họ vẫn thường làm – rằng vấn đề cho vay dưới chuẩn là do sự xuyên tạc và thiếu trách nhiệm về tài chính của những người dân Mỹ bình thường, anh sẽ nói, “Gì cơ – toàn bộ người dân Mỹ tỉnh dậy vào buổi sáng và nói, ‘Vâng, tôi sẽ khai man trong đơn vay tiền của tôi’ ư? Vâng, mọi người nói dối. Họ nói dối vì họ được bảo phải nói dối.” Sự phẫn nộ châm ngòi cho canh bạc của anh đó không phải nhắm vào toàn bộ hệ thống tài chính mà nhắm vào những người đứng đầu của nó, những người biết rõ, hoặc nên biết rõ: những người bên trong các công ty lớn ở Phố Wall. “Đó không chỉ là một cuộc tranh luận,” Eisman nói. “Đó là một cuộc thập tự chinh về đạo đức. Thế giới đang bị đảo lộn.” Anh cho rằng các khoản vay dưới chuẩn ở dưới đáy canh bạc của họ không có giá trị gì và nếu những khoản vay này không có giá trị, các bảo hiểm mà họ sở hữu cho những khoản vay này chỉ có tăng lên. Và vì vậy họ nắm giữ các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của mình, và chờ đợi càng nhiều khoản vay vỡ nợ càng tốt. “Vinny và tôi đã đầu tư 50 triệu dollar và kiếm được 25 triệu dollar,” Danny nói. “Steve đã đầu tư 550 triệu dollar và kiếm được 400 triệu dollar.”

Cuộc truy tìm kho báu khổng lồ đã mang lại một danh sách dài các công ty có liên quan đến các khoản vay dưới chuẩn. Vào ngày 14 tháng 3 năm 2008, họ đã bán khống các cổ phiếu của hầu hết các công ty tài chính bằng mọi cách liên quan đến cỗ máy ngày tận thế. “Chúng tôi được chuẩn bị cho ngày tận thế,” Eisman nói, “nhưng thẳm sâu trong tâm trí, chúng tôi luôn nghĩ, nhỡ ngày tận thế không diễn ra thì sao?”

Ngày 14 tháng 3, câu hỏi này trở thành cuộc tranh luận. Kể từ thời điểm các quỹ phòng hộ dưới chuẩn của Bear Stearns sụp đổ vào tháng 6 năm 2007, thị trường đang đặt câu hỏi về phần còn lại của Bear Stearns. Trong thập kỷ qua, giống như mọi công ty Phố Wall khác, Bear Stearns đã mở rộng quy mô các cuộc đặt cược mà nó thực hiện bằng toàn bộ tiền vốn. Chỉ trong vòng 5 năm qua, đòn bẩy của Bear Stearns đã đi từ 20:1 sang 40:1. Đòn bẩy của Merrill Lynch đã đi từ 16:1 trong năm 2001 sang 32:1 năm 2007. Morgan Stanley và Citigroup bây giờ đang ở mức 33:1, Goldman Sachs có vẻ thận trọng ở mức 25:1, nhưng thật ra, Goldman có năng khiếu ngụy trang mức độ đòn bẩy thực sự của nó là như thế nào. Để phá sản bất kỳ công ty nào trong các công ty này, tất cả những gì cần thiết là một sự suy giảm rất nhỏ trong giá trị tài sản của họ. Câu hỏi đáng giá hàng nghìn tỷ dollar là, Tài sản đó là những gì? Cho đến tận ngày 14 tháng 3, thị trường cổ phiếu đã trao cho các công ty lớn ở Phố Wall lợi ích của việc nghi ngờ. Không ai biết điều gì đang diễn ra bên trong nội bộ Bear Stearns, Merrill Lynch hay Citigroup, nhưng những nơi này luôn là những tổ chức thông minh, do vậy các cuộc đặt cược của họ chắc cũng phải là những cuộc đặt cược thông minh. Ngày 14 tháng 3, thị trường đã thay đổi quan điểm của mình.

Sáng hôm đó, Eisman đã được một nhà phân tích ngân hàng nổi bật của Deutsche Bank, Mike Mayo, mời tham gia trò chuyện với rất nhiều các nhà đầu tư lớn. Trong khán phòng tại trụ sở Phố Wall của Deutsche Bank, Eisman đã được sắp xếp phát biểu trước vị chủ tịch đã nghỉ hưu của Cục Dự trữ Liên bang, Alan Greenspan, và được ghép cặp với một nhà đầu tư nổi tiếng tên là Bill Miller – người vô tình sở hữu hơn 200 triệu dollar cổ phiếu của Bear Stearns. Eisman nghĩ rằng thật điên rồ khi ai đó ném những khoản tiền lớn vào bất kỳ công ty Phố Wall nào. Trong mắt anh, Greenspan không đáng chú ý. “Tôi nghĩ Alan Greenspan sẽ trở thành chủ tịch tồi tệ nhất trong lịch sử của Cục Dự trữ Liên bang,” anh nói, khi có cơ hội dù là nhỏ nhất. “Việc ông giữ mức lãi suất quá thấp trong quá lâu là phần nhỏ nhất trong đó. Tôi tin rằng ông biết những gì đang xảy ra với dưới chuẩn, nhưng ông ta lờ nó đi, bởi việc người tiêu dùng bị lừa không phải là việc của ông. Tôi cảm thấy tiếc thay ông bởi ông ta thực sự là một gã thông minh nhưng về cơ bản đã sai về mọi thứ.”

Hiện tại hầu như không có một nhân vật quan trọng nào ở Phố Wall mà Eisman không xúc phạm, hay cố gắng xúc phạm. Tại một sự kiện ở Hong Kong, sau khi Chủ tịch Ngân hàng HSBC tuyên bố rằng các thua lỗ dưới chuẩn của ngân hàng này đã được “kiềm chế,” Eisman đã giơ tay và nói, “Ông không thực sự tin điều đó đúng không? Bởi toàn bộ sổ sách của các ông là thứ bỏ đi.” Eisman đã mời một nhà phân tích lạc quan về dưới chuẩn của Bear Stearns, Gyan Sinha, tới văn phòng của mình và tra hỏi anh ta dồn dập tới mức một nhân viên kinh doanh của Bear Stearns phải gọi điện thoại ngay sau đó và phàn nàn.

“Gyan rất giận,” anh ta nói.

“Hãy nói anh ta không cần phải thế,” Eisman nói. “Chúng tôi thích vậy!”

Vào cuối năm 2007, Bear Stearns vẫn mời Eisman tới một cuộc gặp gỡ thân mật và chào hỏi CEO mới của họ, Alan Schwartz. Giáng sinh với Bear, họ gọi như vậy. Schwartz nói với những người tham gia về mức độ “điên rồ” của thị trường trái phiếu dưới chuẩn, vì không ai ở đó có thể đồng ý về mức giá của bất kỳ trái phiếu nhất định nào.

“Vậy đó là lỗi của ai?” Eisman đã buột miệng nói ra. “Đây là cách các anh muốn. Để các anh có thể bóc lột khách hàng của mình.”

CEO mới đáp lại, “Tôi không muốn đổ lỗi cho ai cả.”

Việc những ông lớn Phố Wall nào bị Eisman xúc phạm hoàn toàn phụ thuộc vào việc Eisman được phép gặp mặt những ông lớn Phố Wall nào. Vào ngày 14 tháng 3 năm 2008, anh được mời tham dự sự kiện cùng với một trong những nhà đầu tư đánh lên nổi tiếng nhất và lớn nhất trong các ngân hàng Phố Wall, và cựu chủ tịch lừng lẫy của Cục Dự trữ Liên bang. Đó là một ngày bận rộn ở các thị trường – có những tin đồn cho rằng Bear Stearns có thể đang gặp rắc rối – nhưng, khi được lựa chọn giữa việc quan sát thị trường và quan sát Eisman, Danny Moses, Vincent Daniel và Porter Collins không cần nghĩ nhiều. “Hãy thành thật,” Vinny nói. “Chúng tôi đi vì vui. Nó giống như trận đấu giữa Ali và Frasier. Tại sao anh không muốn ở đó chứ?” Họ lái xe đến xem cuộc đấu với Ali, nhưng lại ngồi ở dãy sau, và sẵn sàng trốn.

Eisman ngồi ở một chiếc bàn dài với Bill Miller huyền thoại. Miller nói trong khoảng 3 phút, và giải thích về sự khôn ngoan của anh trong việc đầu tư vào Bear Stearns. “Và bây giờ đến lượt con gấu của chúng ta,” Mike Mayo nói. “Steve Eisman.”

“Tôi phải đứng lên mới nói được,” Eisman nói.

Miller đã ngồi khi nói. Sự kiện này giống một cuộc thảo luận nhiều hơn là một bài phát biểu, nhưng Eisman đã tạo một bục phát biểu. Anh đã mổ xẻ hệ thống tài chính Mỹ một cách hợp lý và tàn nhẫn. “Tại sao thời kỳ này lại khác” là tiêu đề bài phát biểu của anh – mặc dù không rõ có phải anh muốn đưa ra một thứ gì đó trang trọng như một bài phát biểu hay không. “Chúng ta đang trải qua giai đoạn giảm nợ lớn nhất trong lịch sử dịch vụ tài chính và nó sẽ còn tiếp diễn, tiếp diễn và tiếp diễn,” anh nói. “Không có giải pháp nào ngoại trừ thời gian. Thời gian để chịu đựng cơn đau này…”

Khi Eisman đứng lên, theo bản năng, Danny ngồi thụt vào trong ghế. “Luôn có khả năng tôi sẽ cảm thấy ngượng,” Danny nói. “Nhưng nó giống như bạn đang xem một tai nạn xe hơi. Bạn không thể không xem.” Tất cả những gã xung quanh đều cắm cúi vào chiếc điện thoại. Họ muốn nghe những gì Eisman phải nói, rất rõ ràng, nhưng thị trường chứng khoán đang khiến họ xao nhãng khỏi chương trình. Vào lúc 9 giờ 13 phút, khi Eisman đang tìm chỗ của anh ở phía trước căn phòng, Bear Stearns đã thông báo nó đã nhận được một khoản vay từ J.P. Morgan. 9 phút sau đó, khi Bill Miller giải thích tại sao việc sở hữu chứng khoán ở Bear Stearns là một ý tưởng hay thì Alan Schwartz đã ban hành một thông cáo báo chí. “Bear Stearns từng là chủ đề của vô số tin đồn liên quan đến tính thanh khoản của chúng tôi,” thông cáo bắt đầu. Tính thanh khoản. Khi một nhà điều hành nói ngân hàng của anh ta có nhiều tính thanh khoản, nó luôn hàm ý rằng không phải vậy.

Vào lúc 9 giờ 41 phút, hay khoảng thời gian mà Eisman tạo bục phát biểu, Danny đã bán một vài cổ phiếu của Bear Stearns mà Eisman, kỳ lạ hơn, đã mua vào đêm trước, với giá 53 dollar một cổ phiếu. Họ đã kiếm được vài dollar, nhưng không hiểu sao Eisman đã mua chúng, mặc cho những người khác phản đối. Thỉnh thoảng, Eisman thực hiện vài cuộc giao dịch ngắn hạn với khối lượng không đáng kể mà hoàn toàn mâu thuẫn với những gì họ tin tượng. Cả Danny và Vinny đều nghĩ vấn đề trong trường hợp này chính là sư tương đồng của Eisman với Bear Stearns. Công ty đáng ghét bỏ nhất ở Phố Wall này nổi tiếng chủ yếu vì nó nói chung không quan tâm tới những quan điểm tích cực của các đối thủ cạnh tranh, do đó Eisman đồng cảm với nơi này! “Anh ta luôn nói Bear Stearns có thể không bao giờ được người ta mua lại bởi nền văn hóa của công ty không bao giờ có thể bị đồng hóa thành bất kì điều gì khác,” Vinny nói. “Tôi nghĩ anh ta nhìn thấy một phần chính mình trong đó.” Vợ của Eisman, Valerie, có cách giải thích riêng. “Đó là thứ thuốc giải độc kỳ lạ mà anh ấy dành cho lý thuyết ‘thế giới sắp nổ tung’ của mình,” cô nói. “Thỉnh thoảng, anh ấy sẽ xuất hiện ở nhà với cuộc mua bán hoàn toàn kỳ lạ này.”

Vào buổi chiều trước đó, cho dù nguồn gốc tâm lý của ham muốn đột ngột này của Eisman, dẫn đến việc mua một vài cổ phiếu của Bear Stearns, đến từ đâu, thì Danny cũng rất vui mừng khi giải quyết xong vấn đề này. Eisman bây giờ đang giải thích tại sao thế giới sắp nổ tung, nhưng những cộng sự của anh chỉ lắng nghe một cách nửa vời… bởi thế giới tài chính đang nổ tung. “Khi Steve bắt đầu nói,” Vinny nói, “cổ phiếu bắt đầu giảm giá.” Khi Eisman giải thích tại sao không ai trong tâm trí anh sẽ sở hữu những cổ phần anh đã mua 16 tiếng trước, Danny đã soạn vội một vài tin nhắn gửi cho các đối tác của mình.

9:49. Ôi, Bear ở mức 47

“Nếu [hệ thống tài chính Mỹ] có vẻ giống một mô hình Ponzi thì đó là bởi nó đúng là vậy.”

9:55. Trời ạ, Bear cuối cùng ở 43.

“Các ngân hàng ở Mỹ chỉ mới bắt đầu thấu hiểu vấn đề liên quan đến các khoản vay khổng lồ của họ. Ví dụ, tôi sẽ không sở hữu một ngân hàng đơn lẻ ở bang Florida vì tôi nghĩ chúng có thể bị tiêu đời.”

10:02. Bear, giá cuối, 29!!!

“Các tầng lớp thượng lưu của đất nước này đang bóc lột chính đất nước này. Những lũ người chết tiệt. Chúng xây một tòa lâu đài để bóc lột mọi người. Trong suốt những năm qua, tôi chưa từng gặp một ai trong nội bộ một công ty Phố Wall lớn bị dằn vặt lương tâm. Chưa ai từng nói, ‘Điều này là sai.’ Và chưa ai từng dám nói những gì tôi phải nói.”

Trên thực tế, Eisman không nói những câu cuối này vào buổi sáng hôm đó; anh chỉ nghĩ đến chúng. Và anh không thực sự biết điều gì đang xảy ra trong thị trường cổ phiếu; anh không thể kiểm tra chiếc điện thoại của mình vì anh đang nói. Nhưng khi anh nói, một ngân hàng đầu tư Phố Wall đang thất bại, vì một lý do nào đó hơn là gian lận. Và câu hỏi rõ ràng, Tại sao?

Sự sụp đổ của Bear Stearns sau này được xác định là do đột biến rút tiền gửi (mọi người đổ xô đi rút tiền vì sợ Bear Stearns sẽ vỡ nợ), và theo một cách nào đó điều này đúng – các ngân hàng khác đang từ chối hợp tác với nó, các quỹ phòng hộ đang rút cạn tài khoản của họ. Tuy nhiên, nó dấy lên một câu hỏi, và câu hỏi đó sẽ được đặt ra một lần nữa sáu tháng sau đó: Tại sao thị trường đột nhiên mất lòng tin vào một công ty khổng lồ ở Phố Wall mà sự vĩnh cửu của nó sắp được cho là đương nhiên? Sự sụp đổ của Bear Stearns vào tháng 3 năm 2007 bất ngờ đến mức Cornwall Capital đã mua bảo hiểm chống lại sự sụp đổ của nó với mức giá chưa đến 0,3%. Họ đã bỏ ra 300.000 dollar để kiếm được 105 triệu dollar.

“Đòn bẩy” chính là câu trả lời của Eisman vào ngày hôm đó. Để tạo ra lợi nhuận, Bear Stearns, giống như mọi công ty Phố Wall khác, xây dựng ngày càng nhiều các cuộc cá cược đầu cơ lớn trên mỗi đồng dollar vốn của họ. Nhưng vấn đề rõ ràng phức tạp hơn thế nhiều. Vấn đề này cũng chính là bản chất của những khoản đặt cược đầu cơ này.

Thị trường thế chấp dưới chuẩn đã trải qua ít nhất hai giai đoạn khác biệt. Giai đoạn đầu tiên, trong đó AIG đã phải chịu hầu hết rủi ro thị trường sụp đổ, kéo dài đến tận cuối năm 2005. Khi AIG đột ngột thay đổi quyết định, các nhân viên giao dịch trong nội bộ AIG FP cho rằng quyết định của họ có thể đóng cửa hoàn toàn thị trường thế chấp dưới chuẩn. Tất nhiên, điều đó đã không xảy ra. Khi sử dụng các CDO để chuyển các trái phiếu dưới chuẩn xếp hạng BBB dở tệ thành các trái phiếu xếp hạng AAA được cho là không rủi ro, Phố Wall đã kiếm được quá nhiều tiền đến mức họ đơn giản là không thể ngừng lại. Những người điều hành bộ máy CDO ở các công ty khác nhau đã dành được quá nhiều quyền lực. Từ cuối năm 2005 cho đến giữa năm 2007, các công ty Phố Wall đã tạo ra một khoản vào khoảng từ 200 tỉ dollar đến 400 tỉ dollar các CDO được bảo đảm bằng dưới chuẩn: Không ai biết chính xác đó là bao nhiêu. Cứ cho là 300 tỉ dollar, trong đó có khoảng 240 tỉ dollar được xếp hạng AAA, vì vậy được coi là không có rủi ro và do đó không cần thiết phải tiết lộ. Rất nhiều trong số đó, nếu không muốn nói là tất cả, được để ngoài bảng cân đối kế toán.

Vào tháng 3 năm 2008, thị trường cổ phiếu cuối cùng cũng nắm bắt được những gì mà mọi nhân viên kinh doanh trái phiếu thế chấp đã biết từ trước: Ai đó đã mất ít nhất 240 tỉ dollar. Nhưng ai? Morgan Stanley vẫn sở hữu 13 tỉ dollar hoặc nhiều hơn ở các CDO, nhờ ơn của Howie Hubler. Những kẻ ngốc người Đức cũng sở hữu một số, Wing Chau và những quản lý CDO như anh ta sở hữu nhiều hơn một chút, dù họ đang sử dụng tiền của ai để mua những trái phiếu này thì có “trời mới biết.” Ambac Financial Group và MBIA Inc., các công ty từ lâu kiếm sống bằng cách bảo hiểm cho các trái phiếu chính quyền địa phương, đã tiếp quản nơi AIG bỏ lại, và mỗi bên sở hữu có lẽ khoảng 10 tỉ dollar. Sự thật là không thể biết được các tổn thất này lớn như thế nào, hay ai bị tổn thất. Tất cả những gì mọi người biết đó là bất kỳ công ty Phố Wall nào chìm sâu vào thị trường dưới chuẩn có thể gặp khó khăn nhiều hơn nhiều so với những gì họ thú nhận. Bear Stearns đã chìm sâu trong thị trường dưới chuẩn. Nó có 40 dollar trong các cuộc đặt cược vào các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn trên mỗi dollar vốn họ nắm giữ chống lại những cuộc cá cược này. Câu hỏi không phải là Bear Stearns có thể thất bại như thế nào mà là nó có thể sống sót như thế nào.

Kết thúc bài phát biểu ngắn và quay trở lại ghế của mình, Steve Eisman đi qua Bill Miller và vỗ nhẹ vào lưng anh ta, ra vẻ rất cảm thông. Trong phần hỏi và trả lời ngắn gọn sau đó, Miller chỉ ra mức độ thiếu chắn chắn của việc Bear Stearns thất bại, bởi cho đến nay, các ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall chỉ thất bại khi họ bị bắt trong các hoạt động tội phạm. Eisman buột miệng nói, “Mới chỉ 10 giờ 5 phút. Hãy cho nó thêm thời gian.” Nếu không kể việc này thì anh nhìn chung rất lịch sự. Ở phía sau căn phòng, Vinny và Danny cảm thấy vừa nhẹ nhõm vừa thất vọng sau khi một cơn lốc đã bỏ qua thành phố lớn này trong gang tấc.

Không phải Eisman phá vỡ không khí trong phòng, mà là một đứa trẻ nào đó ở phía sau. Anh ta nhìn như thể mới 20 tuổi, và anh, giống như những người khác, cắm cúi vào chiếc điện thoại của mình trong suốt thời gian Miller và Eisman nói chuyện. “Ngài Miller,” anh nói. “Từ lúc ngài bắt đầu nói, cổ phiếu của Bear Stearns đã giảm hơn 20 điểm. Ngài sẽ mua thêm bây giờ chứ?”

Miller sững sờ. “Ông ta rõ ràng không biết những gì đã xảy ra,” Vinny nói. “Ông ta nói, ‘Vâng, chắc chắn rồi, tôi sẽ mua thêm ngay tại đây.’”

Sau đó, những người đàn ông trong phòng vội vã lao ra lối ra, rõ ràng để bán cổ phiếu của họ ở Bear Stearns. Cùng lúc đó, Alan Greenspan đã đến để phát biểu, nhưng hầu như không còn bất cứ ai nghe những gì ông ta phải nói. Khán giả đã biến mất. Vào thứ 2, tất nhiên, Bear Stearns cũng biến mất, và được bán cho J.P. Morgan với giá 2 dollar một cổ phiếu.

Những người đi lên khỏi đường hầm ở góc phía đông bắc của Đại lộ Madison và Phố 47 lúc 6 giờ 40 phút mỗi sáng tiết lộ rất nhiều điều về bản thân họ, nếu bạn biết mình cần tìm kiếm gì. Ví dụ, bất cứ ai ở khu vực đó vào thời gian đó đều có thể làm việc ở Phố Wall. Những người ra khỏi các đường hầm xung quanh Nhà ga Penn, nơi chuyến tàu của Vincent Daniel đến vào chính xác thời gian đó, lại không dễ đoán. “Chuyến tàu sáng của Vinny chỉ có 55% là dân tài chính, bởi đó là nơi các công nhân xây dựng đi vào,” Danny Moses nói. “Chuyến tàu của tôi thì có 95%.” Đối với những người chưa qua đào tạo, những người ở Phố Wall đi từ những vùng ngoại ô Connecticut đến Grand Central là đám đông rất khó phân biệt được, nhưng Danny chú ý thấy rất nhiều điểm khác biệt nhỏ nhưng quan trọng trong đám đông đó. Nếu họ dùng BlackBerry, họ có thể là những gã đến từ các quỹ phòng hộ, đang kiểm tra lãi lỗ ở các thị trường châu Á. Nếu ngủ trên tàu, họ có thể thuộc bên bán – các nhà môi giới, những người không chịu bất cứ rủi ro nào. Bất cứ ai mang một chiếc cặp hoặc túi có thể không phải là nhân viên bên bán, vì một lý do duy nhất đó là họ mang theo túi để đựng các nghiên cứu môi giới, và những nhà môi giới không bao giờ đọc các bản báo cáo của chính họ − ít nhất là trong thời gian rảnh. Bất cứ ai cầm theo một tờ New York Times có thể là một luật sư, một nhân viên văn phòng, hay bất cứ ai làm việc trong các thị trường tài chính mà không thực sự ở trong các thị trường.

Quần áo của họ cũng cho bạn biết rất nhiều điều. Những gã quản lý tiền tệ thường ăn vận như thể họ chuẩn bị đến một trận đấu của đội Yankees. Hoạt động tài chính của họ được cho là tất cả những gì quan trọng về họ, và vì vậy nó gây ra nghi ngờ nếu họ ăn vận quá đẹp. Nếu bạn thấy một gã thuộc bên mua mặc một bộ com-lê, điều đó thường có nghĩa là anh ta đang gặp rắc rối, hay đang lên kế hoạch gặp gỡ ai đó có thể mang lại tiền cho anh ta, hoặc cả hai. Ngoài ra, thật khó đoán về một người thuộc bên mua qua những gì anh ta đang mặc. Mặt khác, bên bán lại như đang đeo danh thiếp của họ: Anh chàng mặc blazer, quần kaki là một nhà môi giới tại một công ty hạng hai; anh chàng mặc bộ com-lê 3.000 dollar và mái tóc bóng mượt là một nhân viên ngân hàng đầu tư ở J.P. Morgan hoặc nơi tương tự như thế. Danny có thể đoán nơi làm việc của mọi người qua vị trí họ ngồi trên tàu. Những người ở Goldman Sachs, Deutsche Bank, và Merrill Lynch hướng đến phía dưới thành phố thì chen lên phía trước – mặc dù khi Danny nghĩ về điều đó, hiếm có ai ở Goldman đi tàu. Tất cả họ đều có ô tô riêng. Những gã làm việc ở các quỹ phòng hộ như chính anh thường làm việc ở khu phố trên, và vì thế rời Grand Central để đi lên phía bắc, nơi tràn ngập các loại taxi. Những người ở Lehman và Bear Stearns đã từng hướng tới cùng một lối ra như anh giờ không còn nữa. Đó là một lý do giải thích tại sao, vào ngày 18 tháng 9 năm 2008, số người có mặt ở góc đông bắc giao giữa Phố 47 và Đại lộ Madison vào lúc 6 giờ 40 phút sáng không nhiều như vào ngày 18 tháng 9 năm 2007.

Danny quan sát thấy rất nhiều thứ nhỏ nhặt về người đồng nghiệp trong lĩnh vực tài chính của mình – theo một cách nào đấy, đó cũng là công việc của anh. Quan sát những thứ nhỏ nhặt. Eisman luôn có cái nhìn đại cục. Vinny là một nhà phân tích. Danny, nhân viên giao dịch đứng đầu, chính là tai mắt của họ trong thị trường này. Nguồn của họ cho loại thông tin không bao giờ được phát sóng hay ghi chép lại: những tin đồn, các hành vi của những nhà môi giới bên bán, các mô hình trên màn hình. Công việc của anh là chú ý đến từng chi tiết, nắm bắt nhanh chóng các con số – và tránh bị lừa.

Vì thế anh để 5 màn hình máy tính trên bàn làm việc của mình. Một cái cập nhật tin tức liên tục, một cái cho thấy mọi dao động từng giây trong danh mục đầu tư, ba cái còn lại cho thấy mọi cuộc trò chuyện của Danny với khoảng 40 nhà môi giới Phố Wall và các nhà đầu tư đồng sự. Hộp thư đến của anh có khoảng 33.000 tin nhắn/tháng. Đối với người ngoài cuộc, khối lượng khổng lồ những chi tiết nhỏ nhặt về thị trường tài chính như thế này có thể sẽ gây mất phương hướng. Đối với anh, chúng đều có thể hiểu được. Danny luôn chú ý đến tiểu tiết.

Tuy nhiên, đến thứ 5, ngày 18 tháng 9 năm 2008, bức tranh toàn cảnh đã phát triển không ổn định đến mức các tiểu tiết trở nên lộn xộn, thiếu mạch lạc. Vào thứ 2, Lehman Brothers đã nộp đơn xin phá sản; Merrill Lynch thông báo thua lỗ 55,2 tỉ dollar trên các CDO được đảm bảo bằng trái phiếu dưới chuẩn và được bán cho Bank of America. Thị trường cổ phiếu Mỹ trải qua đợt suy giảm mạnh nhất kể từ ngày đầu tiên giao dịch sau cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới. Vào thứ Ba, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thông báo đã cho AIG vay 85 tỉ dollar, để trả hết các khoản thua lỗ liên quan đến các hợp đồng hoán đổi nợ xấu dưới chuẩn mà AIG đã bán cho các ngân hàng Phố Wall – trong đó lớn nhất là 13,9 tỉ dollar AIG nợ Goldman Sachs. Khi thêm 8,4 tỉ dollar tiền mặt mà AIG đã trả cho Goldman dưới dạng tài sản thế chấp, Goldman đã chuyển hơn 20 tỉ dollar rủi ro trái phiếu thế chấp dưới chuẩn sang cho công ty bảo hiểm này, thứ mà đang được trang trải bởi thuế của những người dân Mỹ bằng cách này hay cách khác. Chỉ riêng sự thật này đã đủ để khiến tất cả mọi người ngay lập tức tự hỏi rằng có bao nhiêu thứ này ở ngoài kia và ai là người sở hữu chúng.

Cục Dự trữ Liên bang và Bộ Tài chính đang làm hết sức mình để trấn an các nhà đầu tư, nhưng đến thứ Tư, rõ ràng không ai có thể bình tĩnh. Một quỹ thị trường tiền tệ mang tên Reserve Primary Fund công bố rằng nó đã bị lỗ lớn ở các khoản cho vay ngắn hạn cho Lehman Brothers đến mức các nhà đầu tư của nó khó có thể rút được tất cả tiền về, và đã đóng băng khả năng rút vốn. Thị trường tiền tệ không phải là tiền mặt – họ trả lãi, và do đó chịu rủi ro – nhưng cho đến tận thời điểm đó, người ta vẫn coi chúng là tiền mặt. Bạn thậm chí không thể tin tưởng chính tiền mặt của mình. Tất cả các doanh nghiệp trên toàn thế giới bắt đầu rút mạnh tiền của họ khỏi các quỹ thị trường tiền tệ, và lãi suất ngắn hạn đạt mức tăng chưa từng có trong lịch sử. Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones đã giảm 449 điểm, chạm mức thấp nhất trong 4 năm, và hầu hết tin tức làm xáo trộn thị trường không đến từ khu vực tư nhân mà từ các quan chức chính phủ. Vào lúc 6 giờ 50 phút sáng thứ Năm, khi Danny đến, anh biết được rằng Bộ trưởng Tài chính Anh đang cân nhắc việc cấm bán khống – một hành động mà, trong rất nhiều thứ khác, sẽ đưa ngành công nghiệp quỹ phòng hộ ra khỏi thị trường – nhưng đó không phải là nguồn cơn dẫn đến những gì đang xảy ra bây giờ. “Tất cả điều tồi tệ đều đang xảy ra theo một cách mà tôi chưa từng thấy trong sự nghiệp của mình,” Danny nói.

FrontPoint được đặt ở vị trí hoàn hảo cho chính xác thời điểm này. Theo thỏa thuận với các nhà đầu tư, quỹ của họ có thể bán khống ròng 25% hoặc mua ròng 50% thị trường cổ phiếu, và tổng các vị thế không vượt quá 200%. Ví dụ, với mỗi 100 triệu dollar họ phải đầu tư, họ có thể bán khống ròng 25 triệu dollar hay mua ròng 50 triệu dollar, và tổng các cuộc đặt cược này không được vượt quá 200 triệu dollar. Không có gì trong thỏa thuận nói về các hợp đồng hoán đổi nợ xấu, nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Họ đã bán hợp đồng cuối cùng của họ lại cho Greg Lippmann 2 tháng trước, vào đầu tháng 7. Họ bây giờ quay trở lại chỉ với tư cách là các nhà đầu tư thị trường cổ phiếu.

Thời điểm đó, họ bán khống gần như tất cả những gì họ được phép bán khống, và tất cả các cuộc đặt cược của họ đều chống lại các ngân hàng, chính các công ty đang sụp đổ nhanh nhất: một vài phút sau khi thị trường mở cửa, họ đã tăng được 10 triệu dollar. Các cuộc bán khống đang giảm, các cuộc mua – chủ yếu các ngân hàng nhỏ hơn bị xóa sổ khỏi thị trường dưới chuẩn – bị sụt giảm ít hơn. Danny lẽ ra nên phấn khởi: Mọi thứ họ nghĩ có thể diễn ra đều đang diễn ra. Tuy nhiên, anh không lấy gì làm vui mừng, mà trái lại rất lo lắng. Vào lúc 10 giờ 30 phút, một giờ sau khi bắt đầu giờ giao dịch, mọi cổ phiếu tài chính đều rơi tự do, cho dù nó xứng đáng bị như vậy hay không. “Tất cả thông tin này đều truyền qua tôi,” anh nói. “Tôi phải biết làm thế nào để truyền tải thông tin. Các mức giá đang chuyển dịch quá nhanh đến mức tôi không thể có được một mức giá cố định. Nó giống như một cái hố đen. Một vực thẳm.”

Đã 4 ngày kể từ khi Lehman Brothers được cho phép thất bại, nhưng bây giờ người ta mới đang cảm nhận được những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của cuộc sụp đổ đó. Cổ phiếu của Morgan Stanley và Goldman Sachs đang được bơm đầy, và rõ ràng rằng chỉ có Chính phủ Mỹ mới có thể cứu chúng. “Nó tương đương với một trận động đất,” anh nói, “và sau đó, khá lâu sau đó, sóng thần ập đến.” Cuộc đời giao dịch của Danny là cuộc chiến giữa người với người, nhưng điều này giống như cuộc chiến giữa người với tự nhiên: CDO tổng hợp trở thành một thảm họa tự nhiên tổng hợp. “Thường thì, bạn cảm thấy mình có khả năng kiểm soát môi trường của bạn,” Danny nói. “Bạn ổn bởi bạn biết điều gì đang diễn ra. Bây giờ những gì tôi biết không còn quan trọng. Cảm xúc đã tan biến.”

FrontPoint có khoảng 70 khoản đặt cược khác nhau vào các thị trường cổ phiếu khác nhau trên toàn thế giới. Tất cả đều đặt cược vào các tổ chức tài chính. Anh nỗ lực để hiểu và kiểm soát tất cả, nhưng không thể. Họ sở hữu cổ phần ở KeyBank và đang bán khống cổ phần của Bank of America, cả hai đều đang làm những việc họ chưa bao giờ làm trước đó. “Không có lời chào mua cho bất cứ thứ gì trong thị trường,” Danny nói. “Không có thị trường. Thực sự chỉ khi đó tôi mới nhận ra một vấn đề lớn hơn cả danh mục đầu tư của chúng tôi. Các yếu tố cơ bản không còn quan trọng. Cổ phiếu sẽ lên xuống dựa trên cảm xúc và suy đoán thuần túy về những gì chính phủ sẽ làm.” Suy nghĩ đáng lo ngại nhất cứ dồn dập trong tâm trí anh chính là việc Morgan Stanley sắp sụp đổ. Họ hầu như không có liên quan với Morgan Stanley, và không hề cảm thấy gần gũi với nơi này. Họ không hành động hoặc có cảm nhận như các nhân viên Morgan Stanley – Eisman thường nói anh rất mong muốn được phép bán khống cổ phiếu của Morgan Stanley. Họ hành động và cảm nhận như các nhà quản lý quỹ riêng của họ. Tuy nhiên, nếu Morgan Stanley sụp đổ, cổ phần của nó trong quỹ của họ chắc chắn sẽ bị coi như một tài sản trong quá trình phá sản. “Tôi nghĩ, Chúng ta đã có được thế giới nhưng công ty chúng ta đang làm việc lại sắp phá sản ư?”

Sau đó Danny cảm thấy bản thân anh có thứ gì đó sai lầm nghiêm trọng. Chỉ trước 11 giờ sáng, những đường màu đen gợn sóng xuất hiện trong khoảng không giữa mắt anh và màn hình máy tính. Màn hình có vẻ chập chờn. “Tôi cảm thấy một cơn đau nhói trong đầu mình,” anh nói. “Tôi không bị đau đầu. Tôi nghĩ mình mắc chứng phình động mạch.” Bây giờ anh đã hiểu được trái tim mình – anh nhìn xuống và có thể thấy nó đang đập mạnh. “Tôi dành cả buổi sáng cố gắng kiểm soát tất cả năng lượng này và tất cả những thông tin này,” anh nói, “và tôi mất kiểm soát.”

Anh đã từng có trải nghiệm này chỉ một lần trước đó. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, lúc 8 giờ 46 phút sáng, anh đang ngồi tại bàn làm việc ở tầng trên cùng của Trung tâm Tài chính Thế giới. Một ai đó nói với anh rằng một máy bay chở người đã đâm vào Tháp Bắc. Anh bước đến gần cửa sổ và nhìn lên tòa nhà bên kia đường. Một chiếc máy bay chở người loại nhỏ không đủ sức gây ra thiệt hại nặng đến vậy, và anh kỳ vọng sẽ thấy nó xuyên mũi qua bên kia tòa nhà. Tất cả những gì anh có thể nhìn thấy chỉ là một hố đen và khói. “Suy nghĩ đầu tiên của tôi là, Đó không phải một tai nạn. Không đời nào.” Anh vẫn đang làm việc tại Oppenheimer and Co. – Steve và Vinny đã rời đi – và một giọng nói nghe có vẻ có uy quyền trên loa thông báo rằng không ai được phép rời khỏi tòa nhà. Danny vẫn đứng ở cửa sổ. “Đó là khi mọi người bắt đầu nhảy,” anh nói. “Người đang rơi xuống.” “Khi chiếc máy bay thứ hai đâm vào, tôi giống như, ‘Tạm biệt tất cả mọi người.’” Đến khi anh đến thang máy, anh thấy mình phải dìu 2 phụ nữ mang thai. Anh đưa họ lên khu phố trên, đưa một người về căn hộ của cô trên Phố 14 và một người về Khách sạn Plaza, và sau đó đi bộ về nhà với người vợ đang mang bầu ở phố 72.

Bốn ngày sau đó anh rời đi, hay đúng hơn là chạy trốn, khỏi thành phố New York với vợ và cậu con trai nhỏ của mình. Khi họ đang ở trên đường cao tốc vào ban đêm, ở giữa tâm bão, thì bỗng anh cảm thấy chắc chắn rằng một cái cây sắp đổ sập và nghiền nát xe anh. Anh bắt đầu run rẩy và đổ mồ hôi vì sợ hãi. Những cái cây đang cách xe anh 50 thước: Chúng không bao giờ có thể chạm được vào xe của anh. “Anh cần gặp một ai đó,” vợ anh nói, và anh đã làm vậy. Anh đã nghĩ tim anh có vấn đề, và dành nửa ngày nối với máy đo điện tâm đồ. Việc mất kiểm soát bản thân khiến anh cảm thấy xấu hổ – anh không thích nói về nó – và anh cảm thấy cực kỳ nhẹ nhõm khi các cơn đau ít thường xuyên và ít nghiêm trọng hơn. Cuối cùng, một vài tháng sau vụ tấn công khủng bố, chúng biến mất hoàn toàn.

Vào ngày 18 tháng 9 năm 2008, anh đã không thể kết nối được cảm nhận của bản thân lúc đó và bây giờ. Anh rời khỏi bàn và tìm kiếm một ai đó. Eisman thường ngồi đối diện với anh, nhưng Eisman đang ra ngoài để dự hội nghị huy động vốn nào đó – điều cho thấy họ đều không có sự chuẩn bị cho khoảng khắc sắp tới mà họ nghĩ mình đã được chuẩn bị một cách hoàn hảo. Danny quay sang người đồng nghiệp bên cạnh mình. “Porter, tôi nghĩ tôi đang bị đau tim,” anh nói.

Porter Collins cười và nói, “Không, không thể nào.” Sự nghiệp vận động viện chèo thuyền ở Olympic đã để lại cho Porter Collins chút quen thuộc với nỗi đau của những người khác, bởi anh cho rằng họ thường không biết đau đớn là gì.

“Không,” Danny nói. “Tôi cần phải đến bệnh viện.” Mặt anh tái đi nhưng chân vẫn đứng vững. Nó có thể xấu đi đến mức nào chứ? Danny luôn có chút thất thường.

“Đó là lý do tại sao anh ấy làm tốt công việc của mình,” Porter nói. “Tôi liên tục nói, ‘Anh không bị đau tim đâu.’ Sau đó anh ấy không nói gì. Và tôi nói, ‘Được rồi, có thể anh bị.’” Danny loạng choạng quay sang Vinny, người đang quan sát mọi thứ ở cuối chiếc bàn giao dịch dài và đang nghĩ đến việc gọi cứu thương.

“Tôi phải ra khỏi đây. Ngay bây giờ,” anh nói.

Cuộc đặt cược của Cornwall Capital chống lại các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đã tăng gấp 4 lần số vốn của nó, từ hơn 30 triệu dollar lên 135 triệu dollar, nhưng 3 người sáng lập của nó không bao giờ có được thời khắc ăn mừng. “Chúng tôi tập trung vào câu hỏi, chúng tôi có thể đặt tiền ở đâu thì an toàn?” Ben Hockett nói. Trước đó, họ không có tiền. Hiện họ rất giàu có; nhưng họ sợ không thể bảo vệ được tài sản của mình. Họ thực sự dành thời gian tự hỏi làm sao để những người đã đúng một cách kỳ lạ có thể bảo toàn được sự dè dặt, nghi ngờ và không chắc chắn, những thứ đã khiến họ trở nên đúng đắn. Bạn càng chắc chắn về bản thân và các phán đoán của mình, bạn càng khó tìm ra những cơ hội mà xuất phát từ quan điểm rằng bạn cuối cùng có thể sai.

Theo một cách kỳ lạ, cuộc đặt cược khó thắng là trò chơi của người trẻ tuổi. Charlie Ledley và Jamie Mai không còn cảm thấy hay hành động như thời còn trẻ. Charlie bây giờ phải chịu đựng chứng đau nửa đầu, và héo mòn vì những gì có thể xảy ra tiếp theo. “Tôi nghĩ có một thứ gì đó về cơ bản có vẻ đáng sợ liên quan đến sự dân chủ của chúng tôi,” Charlie nói. “Bởi tôi nghĩ mọi người đều cảm thấy hệ thống này bị gian lận, và nó thật khó để tranh cãi rằng không phải vậy.” Anh và Jamie dành rất nhiều thời gian và năng lượng để nghĩ cách tấn công lại những gì họ cho là một hệ thống tài chính cực kỳ thối nát. Ví dụ, họ đưa ra kế hoạch trả thù các cơ quan xếp hạng. Họ hình thành một thực thể pháp lý phi lợi nhuận có mục đích duy nhất là kiện Moody’s và S&P, đồng thời quyên tặng số tiền thu được cho các nhà đầu tư đã bị mất tiền khi đầu tư vào chứng khoán xếp hạng AAA.

Như Jamie nói, “Kế hoạch của chúng tôi là gặp gỡ các nhà đầu tư và nói, ‘Các anh không biết các anh đã bị đối xử tồi tệ như thế nào sao. Các anh thực sự cần phải khởi kiện.’” Họ đã có rất nhiều trải nghiệm tồi tệ với các công ty lớn ở Phố Wall, và những người phụ thuộc vào họ để kiếm sống, đến mức họ sợ phải chia sẻ ý tưởng đó với các luật sư New York. Họ lái xe đến Portland, Maine, và tìm thấy một công ty luật lắng nghe họ. “Họ nói giống như, ‘Các anh điên rồi,’” Charlie nói. Các luật sư Maine nói với họ rằng, việc khởi kiện các cơ quan xếp hạng vì sự thiếu chính xác trong các xếp hạng của họ sẽ chẳng khác nào việc kiện tập chí Motor Trend vì đã quảng cáo cho một chiếc xe mà cuối cùng đã bị tai nạn.

Charlie biết một sử gia nổi tiếng chuyên về các cuộc khủng hoảng tài chính, một cựu giáo sư của anh, và đã gọi điện cho ông. “Những cuộc điện thoại này thường diễn ra vào lúc đêm muộn,” sử gia nọ, người không muốn tiết lộ danh tính, chia sẻ. “Và họ nói chuyện khá lâu. Tôi nhớ anh ấy đã bắt đầu bằng cách hỏi. ‘Ngài có biết một CDO mezzanine là gì không?’ Và anh ấy bắt đầu giải thích cho tôi cơ chế hoạt động của chúng”: các ngân hàng đầu tư Phố Wall đã lừa các cơ quan xếp hạng để họ phù phép cho những khoản vay không hấp dẫn bằng cách nào; việc này đã kích thích hoạt động cho người dân thường Mỹ vay hàng nghìn tỉ dollar bằng cách nào; những người dân thường Mỹ đã tuân thủ một cách vui vẻ và nói dối những điều họ cần nói để có được các khoản vay ra làm sao; cỗ máy biến các khoản vay này thành các loại chứng khoán được cho là không rủi ro đã trở nên phức tạp đến mức các nhà đầu tư đã từ bỏ việc đánh giá rủi ro như thế nào; sao vấn đề lại trở nên lớn đến mức cái kết gắn liền với một trận đại hồng thủy và kéo theo những hệ quả chính trị và xã hội to lớn. “Anh ta muốn nói chuyện dựa trên các lập luận của anh ta,” sử gia nọ nói, “và xem liệu tôi có coi anh ta là một kẻ điên hay không. Anh ta hỏi liệu Cục Dự trữ Liên bang có bao giờ mua các loại thế chấp không, và theo tôi, điều này khó có thể xảy ra. Đó sẽ là một tai họa lớn đối với Cục Dự trữ Liên bang nếu họ từng cân nhắc làm vậy.” Điều khiến sử gia tài chính này ấn tượng, ngoài các sự kiện đáng báo động của tình huống này, đó là… ông lần đầu tiên nghe chúng từ Charlie Ledley. “Tôi đã từng nghĩ Charlie Ledley sẽ lường trước được cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất kể từ cuộc Đại suy thoái không ư?” ông nói. “Không.” Đó không phải bởi Charlie ngốc nghếch; còn lâu mới vậy. Đó là vì Charlie không phải người thích tiền. “Anh ta không phải là người theo chủ nghĩa vật chất theo bất kỳ cách rõ ràng nào,” vị giáo sư nói. “Anh ấy không bao giờ bị đồng tiền điều khiển. Anh ấy sẽ tức giận. Anh sẽ coi đó là việc cá nhân.”

Mặc dù vậy, vào sáng ngày 18 tháng 9 năm 2008, Charlie Ledley vẫn có khả năng bị bất ngờ. Anh và Jamie không thường ngồi trước màn hình Bloomberg và xem tin tức cập nhật, nhưng họ đã làm vậy vào thứ Tư, ngày 17. Những thua lỗ về trái phiếu thế chấp dưới chuẩn được các công ty lớn Phố Wall thông báo đã dần trở nên khổng lồ và tiếp tục gia tăng. Merrill Lynch, đã bắt đầu bằng cách nói họ đã thua lỗ 7 tỉ dollar, giờ thừa nhận con số này vượt quá 50 tỉ dollar. Citigroup mất khoảng 60 tỉ dollar. Morgan Stanley bị mất hơn 9 tỉ dollar, và ai mà biết được những gì ẩn đằng sau đó. “Chúng tôi đã diễn giải sai những gì đang diễn ra,” Charlie nói. “Chúng tôi luôn cho rằng họ đã bán các CDO xếp hạng AAA cho, giả dụ, Hiệp hội Nông dân Hàn Quốc. Cách tất cả bọn họ đang nổ tung ngụ ý rằng họ đã không làm như vậy. Họ giữ nó cho riêng bản thân.”

Các công ty lớn Phố Wall, có vẻ rất thông minh và tư lợi, bằng cách nào đó đã trở thành những kẻ ngu ngốc về tiền bạc. Những người điều hành chúng không thực sự hiểu ngành kinh doanh của mình, và các cơ quan quản lý của họ rõ ràng còn biết ít hơn. Charlie và Jamie luôn cho rằng có một số người trưởng thành chịu trách nhiệm về hệ thống tài chính mà họ chưa bao giờ gặp mặt; bây giờ, họ biết rằng không có những người như vậy. “Chúng tôi không bao giờ ở trong bụng một con thú,” Charlie nói. “Chúng tôi thấy các xác người đang được mang ra. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ ở bên trong.” Một tiêu đề bản tin Bloomberg News đập vào mắt Jamie, và luẩn quẩn trong tâm trí anh: “Lãnh đạo đa số Thượng viện trong cơn khủng hoảng: Không ai biết phải làm gì.”

Ban đầu, rất lâu trước khi những người khác can thiệp vào thế giới quan của anh, Michael Burry đã lưu ý rằng thật không tốt khi biến danh mục đầu tư của mình thành một cuộc đặt cược vào sự sụp đổ của hệ thống tài chính. Mãi cho đến khi anh trở nên giàu có nhờ sự sụp đổ đó, anh mới bắt đầu tự hỏi về các khía cạnh xã hội trong chiến lược tài chính của mình – và băn khoăn rằng một ngày nào đó, liệu cách nhìn của những người khác về anh có bị bóp méo như cách nhìn của họ về hệ thống tài chính hay không. Vào ngày 19 tháng 6 năm 2008, 3 tháng sau cái chết của Bear Stearns, Ralph Cioffi và Matthew Tannin, hai gã điều hành các quỹ phòng hộ dưới chuẩn bị phá sản của Bear Stearns đã bị FBI bắt và bị còng tay dẫn ra khỏi nhà riêng của họ. Đêm muộn hôm đó, Burry đã gửi nhanh một e-mail cho luật sư riêng của mình, Steve Druskin. “Đối với riêng tôi, đây là trường hợp khá căng thẳng. Tôi sợ rằng mình đủ nhẹ dạ để gửi đi những e-mail mà có khả năng bị xuyên tạc theo cách khiến tôi gặp rắc rối, ngay cả khi những hành động và kết quả cuối cùng của tôi đều chuẩn xác… Tôi không thể tưởng tượng được mình cuối cùng sẽ phải vào tù, dù không làm gì sai ngoài chút bất cẩn vì đã không sàng lọc những suy nghĩ ngẫu nhiên của tôi trong những thời điểm khó khăn ra khỏi những gì tôi viết trong e-mail. Thực tế, tôi cảm thấy lo đến mức tối đó tôi đã nghĩ đến việc đóng các quỹ.”

Bây giờ anh đang tìm kiếm lý do để từ bỏ việc quản lý tài chính. Các nhà đầu tư của anh đang giúp anh tìm ra chúng: Anh đã kiếm cho họ rất nhiều tiền, nhưng họ có vẻ không cảm thấy như thế là đủ bù lại việc anh đã dẫn dắt họ trong 3 năm qua. Vào ngày 30 tháng 6 năm 2008, bất cứ nhà đầu tư nào gắn bó với Scion Capital từ khi nó thành lập, vào ngày 1 tháng 11 năm 2000, đều kiếm được lợi nhuận lên đến 489,34% sau khi trừ đi mọi khoản phí và chi phí. (Tổng lợi nhuận của quỹ là 726%.) So với cùng kỳ, chỉ số S&P 500 chỉ đem lại hơn 2% một chút. Riêng năm 2007, Burry đã kiếm cho các nhà đầu tư của anh 750 triệu dollar – nhưng bây giờ anh chỉ quản lý 600 triệu dollar. Các nhà đầu tư liên tục đòi tiền về. Không có nhà đầu tư mới nào gọi đến – không một ai. Không ai gọi điện cho anh để hỏi về cách anh nhìn thế giới hay các dự đoán về tương lai của anh. Anh nhận thấy, cho đến thời điểm đó, không ai có vẻ muốn biết anh đã thực hiện những việc trước đây như thế nào. “Chúng tôi đã không được nhiều người biết đến,” anh viết.

Anh thấy rất tức giận khi những người có danh tiếng nhờ hiểu biết nhiều hơn lại là những người đã dành hầu hết thời gian để nịnh đầm giới truyền thông. Không có ngành kinh doanh nào khách quan hơn ngành quản lý tiền tệ, nhưng ngay cả trong ngành kinh doanh này, sự thật và tính hợp lý đã bị lấn át bởi khía cạnh xã hội mù mờ của sự vật, sự việc. “Tôi phải nói rằng tôi cảm thấy vô cùng ngạc nhiên trước số lượng người hiện đang nói rằng họ đã thấy được cuộc khủng hoảng dưới chuẩn, sự bùng nổ hàng hóa và nền kinh tế mờ nhạt đang tới,” Burry viết, vào tháng 4 năm 2008, cho những nhà đầu tư còn sót lại của mình. “Và nếu họ không nói dài dòng về nó, họ làm điều đó bằng cách xuất hiện trên truyền hình hay trả lời phỏng vấn với báo chí, lớn tiếng thể hiện sự tự tin của họ vào những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Và chắc chắn, những người này sẽ không bao giờ có can đảm nói với bạn những gì đang xảy ra tiếp theo nếu họ đã sai lầm lớn về những gì đã xảy ra trước đó, phải vậy không? Tuy nhiên, tôi không nhớ rằng có nhiều người đã đồng tình với tôi vào thời điểm trước đó.” Một tờ tạp chí thương mại đã công bố 75 quỹ phòng hộ hàng đầu năm 2007, và không có Scion trong đó – mặc dù lợi nhuận của nó đưa nó đến gần như vị trí dẫn đầu. “Nó giống như việc họ đã loại một vận động viên bơi lội tại Thế Vận hội và để anh bơi ở bể riêng,” Burry nói. “Anh đã về nhất. Nhưng anh không nhận được huy chương. Tôi thành thật nghĩ rằng đó là những gì đã giết chết nó trong tôi. Tôi đang tìm kiếm sự ghi nhận nào đó. Không có bất cứ ghi nhận nào. Tôi được đào tạo để tham gia Thế Vận hội, và sau đó họ bắt tôi ra và bơi ở bể bơi thiếu sự tranh đấu.” Một số nhà đầu tư còn sót lại của anh đã hỏi tại sao anh không tích cực hơn với hoạt động PR – như thế đó là một phần công việc!

Vào đầu tháng 10 tháng 2008, sau khi chính phủ Mỹ đã lên tiếng chịu mọi thiệt hại trong hệ thống tài chính và ngăn chặn bất kỳ công ty lớn Phố Wall nào khỏi việc sụp đổ, Burry đã nhiệt tình mua cổ phiếu lần đầu tiên trong nhiều năm. Sự kích thích chắc chắn dẫn đến lạm phát, anh nghĩ, nhưng cũng dẫn đến sự bùng nổ về giá cổ phiếu. Tất nhiên, anh có thể bị sớm và cổ phiếu có thể giảm một ít trước khi tăng, nhưng điều đó không quan trọng với anh: Giá trị giờ đã ở đó, và cuộc đặt cược sẽ đem lại kết quả trong dài hạn. Ngay lập tức, nhà đầu tư lớn nhất còn sót lại, sở hữu 150 triệu dollar trong quỹ, đặt câu hỏi về nhận định của anh và dọa sẽ rút tiền khỏi quỹ.

Vào ngày 27 tháng 10, Burry viết cho một trong hai người bạn qua e-mail: “Tôi chắc chắn sẽ bán toàn bộ các vị thế vào tối nay. Tôi nghĩ mình đã chạm đến điểm tới hạn. Tôi vẫn chưa ăn uống gì ngày hôm nay, không ngủ, không nói chuyện với vợ con tôi, tôi đang sụp đổ. Căn bệnh Asperger’s đã mang đến cho tôi những món quà tuyệt vời, nhưng cuộc sống lại quá khó khăn trong quá lâu cũng bởi vì căn bệnh đó.” Vào một buổi chiều ngày thứ 6, đầu tháng 11, anh cảm thấy đau ngực và được chuyển đến phòng cấp cứu. Huyết áp của anh tăng vọt. “Tôi cảm thấy mình sắp chết,” anh viết. Một tuần sau đó, vào ngày 12 tháng 11, anh đã gửi bức thư cuối cùng cho các nhà đầu tư. “Tôi đã nhiều lần bị đẩy đến bờ vực bởi chính những hành động của mình, những nhà đầu tư của quỹ, những đối tác kinh doanh, và thậm chí cả những nhân viên trước đây,” anh viết. “Tôi đã luôn có thể thu mình lại và tiếp tục mối quan hệ căng thẳng quá mức thường xuyên với ngành kinh doanh này. Tuy nhiên, giờ đây, tôi đang đối mặt với những vấn đề cá nhân rõ ràng đã vượt quá sức chịu đựng của tôi, và tôi đã nhận thức được rằng tôi phải đóng Quỹ.” Cùng với bức thư đó, anh đã biến mất, khiến rất nhiều người tự hỏi điều gì đã xảy ra.

Anh đã đúng, thế giới đã sai, và thế giới ghét anh vì điều đó. Và do đó Michael Burry đã kết thúc ở nơi anh bắt đầu – một mình cùng với sự cô đơn. Anh vẫn ở bên trong văn phòng ở Cupertino, California, đủ rộng cho đội ngũ nhân viên 25 người, nhưng quỹ đã đóng cửa và văn phòng trống không. Người cuối cùng đi ra là Steve Druskin, và những hành động cuối cùng của Druskin là tìm ra cách xử lý các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn của Michael Burry. “Mike giữ lại một vài hợp đồng, chỉ để cho vui,” anh nói. “Chỉ một vài hợp đồng. Để xem liệu chúng tôi có thể được trả đủ hay không.” Và anh đã làm vậy, mặc dù đó không phải là để cho vui mà là để xác minh: chứng minh cho thế giới rằng các trái phiếu điểm đầu tư anh đã đặt cược chống lại hoàn toàn vô giá trị. Hai cuộc đặt cược anh giữ lại đều chống lại các trái phiếu dưới chuẩn được tạo ra vào năm 2005 bởi Lehman Brothers. Chúng đã biến thành con số 0 cùng lúc với nhà sáng tạo ra chúng. Burry đã đặt cược hơn 100.000 dollar mỗi loại, và kiếm được 5 triệu dollar.

Từ quan điểm của một luật sư đang đóng cửa một quỹ đầu tư, thì vấn đề là những hợp đồng kỳ lạ này không hết hạn cho đến tận năm 2035. Các nhà môi giớ từ lâu đã thanh toán đầy đủ cho họ: 100 xu/dollar. Không có công ty Phố Wall nào thậm chí quan tâm đến việc gửi báo giá về những thứ đó thêm nữa. “Tôi không nhận được báo cáo nào từ một nhà môi giới nói rằng chúng tôi có một vị thế mở với họ,” Druskin nói. “Nhưng chúng tôi có. Nó giống như việc không ai muốn nói thêm về điều này. Nó giống như, ‘Được rồi, anh đã có 10 triệu dollar. Đừng tiếp tục tra tấn tôi về nó nữa.’”

Ở Phố Wall, các luật sư đóng vai trò như các nhân viên y tế trong chiến tranh: Họ đến sau khi giao tranh kết thúc để dọn dẹp đống lộn xộn. Các hợp đồng 30 năm với một số rủi ro trả nợ – chính xác rủi ro này là gì thì anh vẫn đang cố gắng xác định – chính là đống hỗn độn cuối cùng của Michael Burry. “Có thể các nhà môi giới đã ném các hợp đồng này đi,” Druskin nói. “3 năm trước, không ai về phía môi giới nghĩ điều này sẽ xảy ra. Vì thế không ai được huấn luyện để đối phó với điều này. Chúng tôi đã nói khá nhiều rằng, ‘Chúng tôi không kinh doanh nữa.’ Và họ nói, ‘Được thôi.’”

Vào thời điểm cuối thu năm 2007, nhiều người đã thấy rõ rằng Eisman đã đúng, họ đã sai và rằng anh đã trở nên vô cùng giàu có. Anh đã tham gia một hội nghị được tổ chức bởi Merrill Lynch, ngay sau khi họ sa thải CEO, Stan O’Neal, và tiết lộ một khoản lỗ khoảng 20 tỉ dollar trong 52 tỉ dollar liên quan đến dưới chuẩn của họ. Ở đó, anh lén tới gặp CFO của Merrill, Jeff Edwards, chính là Jeff Edwards mà Eisman đã chế giễu, vài tháng trước, về các mô hình rủi ro của Merill Lynch. Hiện tại, Eisman nói, “Anh nhớ những gì tôi đã nói về các mô hình rủi ro này của anh chứ? Tôi nghĩ tôi đúng, phải không?” Ngay lập tức và thật ngạc nhiên, anh cảm thấy hối tiếc khi nói ra điều đó. “Tôi cảm thấy tệ khi làm vậy,” Eisman nói. “Thật đáng ghét. Anh ta là một gã tuyệt vời. Anh ta chỉ sai thôi. Tôi không còn là một kẻ yếu. Và tôi phải thể hiện bản thân mình khác đi.”

Vào buổi chiều ngày 18 tháng 9 năm 2008, một Eisman mới, có thể đang cải thiện, thả bộ về phía các cộng sự của mình ở bậc thềm Nhà thờ Thánh Patrick. Anh bước đi rất chậm rãi. Thời tiết tuyệt đẹp – một trong những ngày hiếm hoi mà bầu trời xanh lan tỏa khắp những tòa nhà cao tầng và sưởi ấm tâm hồn. “Chúng tôi chỉ ngồi ở đó,” Danny nói, “nhìn mọi người qua lại.”

Họ ngồi với nhau trên các bậc thang nhà thờ trong khoảng một giờ liền. “Khi ngồi đó, chúng tôi cảm thấy bình thản kỳ lạ,” Danny nói. “Chúng tôi dường như đã tách biệt với toàn bộ thực tại thị trường. Đó là một trạng thái thoát xác. Chúng tôi chỉ ngồi, ngắm nhìn mọi người qua lại và nói về những gì có thể xảy ra tiếp theo. Có bao nhiêu người trong số những người này chuẩn bị mất việc? Ai sẽ thuê những tòa nhà này, sau khi tất cả các công ty Phố Wall sụp đổ?”

Porter Collins nghĩ rằng “thế giới như đang ngừng lại. Chúng tôi đang nhìn vào tất cả mọi người và nói, ‘Những người này hoặc là bị phá hủy hoặc là sắp bị phá hủy.’” Đây là những gì họ đang chờ đợi: sự sụp đổ hoàn toàn.

“Ngành công nghiệp ngân hàng đầu tư đã bị lừa,” Eisman nói 6 tuần trước đó. “Những người này chỉ mới bắt đầu hiểu họ bị lừa như thế nào. Lehman Brothers đã biến mất, Merrill đã đầu hàng, Goldman Sachs và Morgan Stanley chỉ là các ngân hàng đầu tư trong một tuần nữa. Các nhà ngân hàng đầu tư không chỉ bị lừa: Họ còn bị xóa sổ. “Phố Wall đó đã sụp đổ bởi đây là công lý,” Eisman nói. Người duy nhất trong số họ đã vật lộn với vai trò của mình – giống như những gã đã trở nên giàu có nhờ đánh cược chống lại chính xã hội của họ – là Vincent Daniel. “Vinny, đến từ Queens, cần phải nhìn thấy mặt trái của tất cả mọi thứ,” Eisman nói.

Vinny đáp lại, “Cách chúng ta nghĩ về nó, điều chúng ta không thích, đó là, ‘Bằng việc bán khống thị trường này, chúng ta đang tạo ra tính thanh khoản để giữ thị trường tiếp tục hoạt động.’”

“Nó giống như việc vỗ béo một con quái vật,” Eisman nói. “Chúng tôi vỗ béo con quái vật đó cho đến khi nó nổ tung.”

Con quái vật đang phát nổ. Tuy nhiên, trên các đường phố của Manhattan, không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có thứ gì đó quan trọng vừa mới xảy ra. Lực lượng có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của họ đã khuất mắt họ. Đó là vấn đề tiền bạc: Những gì mọi người làm với nó đều để lại hậu quả, nhưng chúng tách xa hành động ban đầu đến mức trí óc họ không bao giờ kết nối cái này với cái kia. Những khoản vay lãi suất thấp ban đầu bạn cho những người mà không bao giờ có thể trả chúng vay sẽ trở nên xấu đi không phải ngay lập tức mà là trong 2 năm, khi lãi suất của chúng tăng lên. Các trái phiếu khác nhau bạn tạo ra từ các khoản vay này sẽ trở nên xấu đi không phải ngay khi các khoản vay xấu đi mà là vài tháng sau đó, sau khi rất nhiều ngôi nhà bị tịch thu, rất nhiều công ty phá sản, và rất nhiều tài sản buộc phải bán. Các CDO khác nhau bạn tạo ra từ các trái phiếu sẽ xấu đi không phải ngay lúc đó mà là sau khi một vài người được ủy thác tìm hiểu xem liệu họ có đủ tiền mặt trả nợ hay không. Và rồi chủ sở hữu cuối cùng của CDO nhận được một thông báo nhỏ, Thưa quý ngài, chúng tôi rất tiếc phải thông báo với ngài rằng trái phiếu của ngài không còn tồn tại… Nhưng sự chậm trễ lớn nhất trong tất cả chính là ở đây, trên các con phố. Mất bao lâu để những người đang đi tới đi lui trước Nhà thờ Thánh Patrick này biết những gì vừa mới xảy ra với họ?

Phần kết

Mọi thứ đều tương quan với nhau

Khi Eisman và các cộng sự của anh ngồi trên bậc thềm ở nhà thờ trung tâm thành phố, tôi đang ở khu vực phía đông, chờ John Gutfreund, ông chủ cũ của tôi, đến ăn trưa, và tự hỏi tại sao bất cứ nhà hàng nào cũng xếp chỗ ngồi cạnh nhau cho hai gã đàn ông không có hứng thú chạm vào nhau cho dù là nhỏ nhất.

Khi tôi xuất bản cuốn sách về tài chính những năm 1980, thì tài chính những năm 1980 được cho đang kết thúc. Nhờ thời điểm chính xác đó, tôi đã nhận được danh tiếng mà tôi thấy không xứng đáng. Những bất ổn xã hội bắt nguồn từ sự sụp đổ ngành công nghiệp tiết kiệm và cho vay, sự gia tăng những cuộc sáp nhập thù địch và các vụ mua lại dựa trên vay nợ đã mở đường cho một giai đoạn ngắn tố cáo lẫn nhau. Cũng như hầu hết sinh viên ở Đại học bang Ohio đọc cuốn Liar’s Poker như một quyển sách hướng dẫn, hầu hết những phóng viên phát thanh và truyền hình coi tôi là một kẻ tố cáo. (Geraldo Rivera là một ngoại lệ lớn. Anh đưa tôi vào một chương trình, cùng với một số diễn viên nhí, những người tiếp tục trở thành người nghiện ma túy, có tên gọi “Những người thành công quá sớm trong cuộc đời.”) Cảm xúc chống đối Phố Wall sau đó tăng cao đủ cho Rudolph Giuliani bắt đầu một sự nghiệp chính trị dựa vào chúng, nhưng kết quả giống như một cuộc săn phù thủy hơn là một đánh giá lại trung thực về trật tự tài chính. Việc treo cổ công khai của Michael Milken, và sau đó là của Gutfreund, CEO của Salomon Brothers, là những lời bào chữa cho việc không đối phó với các lực nhiễu loạn làm cơ sở cho sự đi lên của họ. Việc như trên làm sạch văn hóa kinh doanh Phố Wall. Các công ty Phố Wall sẽ nhanh chóng không bằng lòng với các hành vi xúc phạm, buộc các nhân viên nam phải đối xử bình đẳng với nhân viên nữ, và sa thải các nhân viên giao dịch thậm chí chỉ vì liếc nhìn cô ả vũ công gợi cảm. Vào năm 2008, Bear Stearns và Lehman Brothers trông giống các công ty bình thường có các giá trị Trung Mỹ bền vững hơn bất kỳ công ty Phố Wall nào vào khoảng năm 1985.

Những thay đổi này chỉ là ngụy trang. Chúng giúp đánh lạc hướng những người ngoài cuộc khỏi một sự thật thực sự gây xúc phạm: chênh lệch lợi ích ngày càng gia tăng giữa những người buôn bán rủi ro tài chính và nền văn hóa rộng lớn hơn. Bề mặt gợn sóng, nhưng ẩn sâu phía dưới, các rổ tiền thưởng vẫn không hề bị ảnh hưởng.

Lý do mà văn hóa tài chính Mỹ rất khó thay đổi – lý do mà tiến trình chính trị được cho là quá chậm và không thể áp đặt sự thay đổi trên nó, ngay cả sau thảm họa thế chấp dưới chuẩn – đó là đã mất rất nhiều thời gian để tạo ra nó, và những giả định của nó đã ăn quá sâu. Có một sợi dây rốn từ bụng con quái thú đã phát nổ nối ngược lại với tài chính những năm 1980. Cuộc khủng hoảng năm 2008 bắt nguồn không chỉ từ các khoản vay dưới chuẩn được thực hiện năm 2005 mà còn từ các ý tưởng được ấp ủ trong năm 1985. Một người bạn của tôi trong chương trình đào tạo của Salomon Brothers đã tạo ra phái sinh thế chấp đầu tiên năm 1986, một năm sau khi chúng tôi rời chương trình này. (“Các phái sinh giống như những khẩu súng,” anh vẫn thích nói vậy. “Vấn đề không phải ở các công cụ mà là ở người đang sử dụng các công cụ đó.”) CDO mezzanine được phát minh bởi bộ phận trái phiếu rác của Michael Milken tại Drexel Burnham năm 1987. CDO được bảo đảm bằng thế chấp đầu tiên được tạo ra tại Credit Suisse năm 2000 bởi một nhân viên giao dịch đã dành rất nhiều năm, từ những năm 1980 đến đầu những năm 1990, làm việc tại bộ phận thế chấp của Salomon Brothers. Tên anh ta là Andy Stone, và mối ràng buộc trí tuệ của anh ta với cuộc khủng hoảng dưới chuẩn đã đi kèm với một mối ràng buộc cá nhân: Anh chính là ông chủ đầu tiên của Greg Lippmann ở Phố Wall.

Tôi không gặp Gutfreund kể từ khi rời Phố Wall. Tôi đã gặp ông ấy, đầy lo lắng, một vài lần ở sàn giao dịch. Một vài tháng trước khi tôi đi, các sếp tôi yêu cầu tôi giải trình trước CEO về thứ mà vào thời điểm đó có vẻ là các giao dịch phái sinh ngoại lai mà tôi đã thực hiện với một quỹ phòng hộ châu Âu, và tôi đã cố. Ông ta đã tuyên bố không đủ thông minh để hiểu bất kì điều gì về nó, và tôi cho rằng đó chỉ là cách mà một CEO Phố Wall tỏ ra là một ông chủ, bằng cách không quan tâm đến chi tiết. Không có lý do gì để ông ta phải nhớ bất kỳ lần gặp gỡ nào trong số này, và đúng thật, ông ta không nhớ: Khi cuốn sách của tôi ra đời, và trở thành sự phiền toái đối với ông về mặt quan hệ công chúng, ông đã nói với các phóng viên rằng chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau. Trong những năm qua, tôi đã nghe nhiều về ông. Tôi biết rằng sau khi bị buộc phải từ chức khỏi Salomon Brothers, ông còn khó khăn hơn. Sau đó, tôi hay tin, một vài năm trước bữa trưa của chúng tôi, ông đã tham gia một hội thảo về Phố Wall tại Trường Kinh doanh Columbia. Khi đến lượt ông chia sẻ, ông đã khuyên các sinh viên hãy tìm việc làm nào đó có ý nghĩa hơn thay vì làm việc ở Phố Wall. Khi bắt đầu mô tả về sự nghiệp của mình, ông đã suy sụp và bật khóc.

Khi tôi gửi e-mail cho Gutfreund để mời ông ăn trưa, ông lịch sự và duyên dáng chưa từng có. Thái độ đó thể hiện ngay từ khi ông được đưa đến bàn ăn, tán gẫu với người chủ bữa tiệc và gọi thực ăn. Vẫn là vẻ bề ngoài nhã nhặn che đậy đi ham muốn trần trụi muốn quan sát thế giới như nó vốn có thay vì nên có.

Chúng tôi đã mất khoảng 20 phút để xác định được rằng sự hiện diện của chúng tôi ở cùng một bàn ăn trưa sẽ không khiến trái đất nổ tung. Chúng tôi phát hiện ra một người bạn chung. Chúng tôi đồng ý rằng CEO Phố Wall đã không có khả năng thực sự trong việc bắt kịp sự đổi mới điên cuồng đang diễn ra trong công ty ông. Ngoài ra, chúng tôi đồng ý rằng CEO của ngân hàng đầu tư Phố Wall có sự kiểm soát ít đến mức đáng ngạc nhiên đối với các cấp dưới của mình. Ông nghĩ nguyên nhân của cuộc khủng hoảng rất đơn giản. “Sự tham lam ở cả hai phía – sự tham lam của các nhà đầu tư và sự tham lam của những nhà ngân hàng.” Tôi nghĩ nó phức tạp hơn. Sự tham lam ở Phố Wall là một thứ tất yếu – gần như một nghĩa vụ. Vấn đề nằm ở hệ thống các động cơ đã định hướng cho sự tham lam đó.

Ranh giới giữa đánh bạc và đầu tư rất mỏng manh và giả tạo. Vụ đầu tư đúng đắn nhất có đặc điểm rõ ràng của một vụ đặt cược (bạn đánh cược toàn bộ tài sản của mình với hy vọng kiếm thêm một chút), và cuộc đầu cơ ngông cuồng nhất có đặc tính nổi bật của một khoản đầu tư (bạn có thể nhận được tiền về kèm với lãi). Có lẽ định nghĩa tốt nhất về “đầu tư” chính là “đánh cược với tỉ lệ cược có lợi cho bạn.” Những người thuộc bên bán của thị trường thế chấp dưới chuẩn đã đánh cược với tỉ lệ ủng hộ họ. Những người ở bên còn lại – gần như toàn bộ hệ thống tài chính – đã đánh cược với tỉ lệ không chống lại họ. Tính đến điểm này, câu chuyện về cuộc bán khống lớn không thể đơn giản hơn. Tuy nhiên, điều lạ lùng và phức tạp liên quan đến nó đó là gần như tất cả những nhân vật quan trọng ở cả hai phía của canh bạc đều trở nên giàu có khi rời khỏi bàn chơi. Tất nhiên, Steve Eisman, Michael Burry và những người đàn ông trẻ tuổi ở Cornwall Capital mỗi người đều kiếm được hàng chục triệu dollar cho bản thân. Greg Lippmann được trả 47 triệu dollar trong năm 2007, mặc dù 24 triệu dollar trong số đó ở dạng cổ phiếu mà anh không thể thu được trừ khi anh làm việc tại Deutsche Bank thêm vài năm nữa. Nhưng tất cả họ đều đúng, họ đã giành phần thắng trong cuộc đặt cược. Hoạt động kinh doanh quản lý CDO của Wing Chau đã bị phá sản, nhưng anh ta cũng kiếm được vài chục triệu dollar – và có can đảm thử tạo dựng một ngành kinh doanh sẽ mua hết với giá rẻ chính các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn mà đã khiến anh làm thua lỗ hàng tỉ dollar giá trị tài sản của những người khác. Howie Hubler đánh mất nhiều tiền hơn bất kỳ một nhân viên giao dịch nào trong lịch sử Phố Wall – tuy nhiên anh vẫn được phép giữ hàng chục triệu dollar anh đã kiếm được. Các CEO của mọi công ty lớn Phố Wall cũng đứng ở phía sai lầm trong canh bạc. Tất cả họ, không có ngoại lệ, hoặc là đưa các công ty đại chúng của mình đến mức phá sản hoặc được chính phủ Mỹ cứu thoát khỏi phá sản. Họ cũng đều trở nên giàu có.

Tỉ lệ mà mọi người sẽ đưa ra những quyết định thông minh về tiền bạc nếu họ không cần phải đưa ra những quyết định thông minh – nếu họ có thể trở nên giàu có dù đưa ra những quyết định ngu ngốc là bao nhiêu? Tất cả những động cơ ở Phố Wall đều sai lầm; tất cả chúng vẫn sai. Nhưng tôi không tranh luận với John Gutfreund. Cũng giống như việc bạn trở lại là một đứa trẻ 9 tuổi khi bạn về nhà thăm cha mẹ, bạn sẽ trở lại hoàn toàn là một cấp dưới khi bạn đối diện với CEO cũ của bạn. John Gutfreund vẫn là Ông vua của Phố Wall và tôi vẫn là một người nhạt nhẽo. Ông nói chuyện bằng các câu trần thuật, tôi nói chuyện bằng các câu hỏi. Nhưng khi ông nói, đôi mắt tôi cứ hướng theo tay ông. Đôi bàn tay đầy đặn đáng sợ của ông. Chúng không phải là đôi bàn tay của một nhà ngân hàng Phố Wall mềm mại mà là tay của một võ sĩ quyền anh. Tôi nhìn lên. Vị võ sĩ quyền anh đang mỉm cười – mặc dù nó giống một biểu hiện để giữ chỗ hơn là một nụ cười. Và ông đang nói, một cách rất thận trọng, “Cuốn sách… chết tiệt… của anh.”

Tôi mỉm cười lại, mặc dù đó không hẳn là một nụ cười.

“Tại sao anh mời tôi ăn trưa?” ông hỏi, mặc dù rất vui vẻ. Ông thực sự tò mò.

Bạn không thể nói với ai đó rằng bạn mời anh ta đi ăn trưa chỉ để cho anh ta biết rằng bạn không nghĩ anh ta là một con quỷ. Bạn cũng không thể nói với anh ta rằng bạn mời anh ta đi ăn trưa vì bạn nghĩ bạn có thể lần ngược trở lại cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong lịch sử thế giới đến một quyết định anh ta đã đưa ra. John Gutfreund đã vi phạm tới trật tự xã hội Phố Wall – và đã được mệnh danh là Ông vua Phố Wall – khi, vào năm 1981, ông đã biến Salomon Brothers từ một công ty hợp danh thành công ty đại chúng đầu tiên ở Phố Wall. Ông đã lờ đi sự phẫn nộ của các đối tác đã về hưu của Salomon. (“Tôi cảm thấy kinh tởm trước chủ nghĩa vật chất của anh ta,” William Salomon, con trai của một trong những nhà sáng lập công ty, người đã đưa Gutfreund trở thành CEO chỉ sau khi ông đã hứa không bao giờ bán công ty, đã nói với tôi như vậy.) Ông đã trỏ ngón giữa to sụ của mình vào sự bất đồng về mặt đạo đức của các CEO đồng nghiệp ở Phố Wall của mình. Và ông đã tận dụng triệt để ngày đó. Ông và các đối tác khác của mình không chỉ thực hiện một cuộc thanh trừng nhanh chóng; họ đã chuyển giao các rủi ro tài chính cuối cùng từ bản thân họ sang các cổ đông. Cuối cùng, nó không mang lại nhiều ý nghĩa cho các cổ đông. (Một cổ phiếu của Salomon Brothers được mua khi tôi đến sàn giao dịch vào năm 1986 với mức giá thị trường khi đó là 42 dollar sẽ có giá trị bằng 2,26 cổ phiếu của Citigroup ngày nay, mà trong ngày giao dịch đầu tiên năm 2010, có tổng giá trị thị trường là 7,48 dollar.) Nhưng nó lại có ý nghĩa tuyệt vời đối với các nhân viên giao dịch trái phiếu.

Nhưng từ thời điểm đó, công ty Phố Wall đã trở thành một chiếc hộp đen. Các cổ đông tài trợ cho việc chấp nhận rủi ro không có bất kì hiểu biết thực sự nào về những gì người chấp nhận rủi ro đang làm và khi việc chấp nhận rủi ro trở nên phức tạp hơn, sự hiểu biết của họ giảm đi. Tất cả những thứ rõ ràng là lợi nhuận có được từ những người thông minh thực hiện những cuộc đặt cược phức tạp đã lấn át bất cứ thứ gì có thể có được từ việc phục vụ khách hàng, hay phân bổ nguồn vốn cho các doanh nghiệp sản xuất. Ngoài ra, thật kỳ lạ, khách hàng bị đặt sang một bên. Trong cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, Salomon Brothers đã có nhiều năm – những năm tuyệt vời! – mà 5 nhân viên giao dịch độc quyền, thế hệ cha anh của Howie Hubler, đã kiếm được nhiều hơn cả lợi nhuận hàng năm của công ty. Điều này nói rằng hơn 10.000 nhân viên khác của công ty, với tư cách một nhóm, đã bị mất tiền.

Thời điểm Salomon Brothers chứng minh lợi ích tiềm năng có được từ việc biến một ngân hàng đầu tư thành một công ty đại chúng và dùng các rủi ro ngoại lai làm đòn bẩy cho bảng cân đối của nó, thì những nền tảng tâm lý của Phố Wall đã được dịch chuyển, từ sự tin tưởng đến niềm tin mù quáng. Không ngân hàng đầu tư nào do nhân viên sở hữu lại sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ 35:1, hay mua và nắm giữ 50 tỉ dollar các CDO mezzanine. Tôi cho rằng sẽ không có bất cứ công ty hợp danh nào tìm cách chơi xấu các cơ quan xếp hạng, hay nhảy vào các khoản cho vay nặng lãi, và thậm chí cho phép bán các CDO mezzanine cho khách hàng. Lợi nhuận dự kiến trong ngắn hạn sẽ không đủ để bào chữa cho thua lỗ dự kiến trong dài hạn.

Không có công ty hợp danh nào, vì vấn đề này, sẽ thuê tôi, hay bất cứ ai không liên quan như tôi. Liệu đã từng có bất kỳ mối tương quan nào giữa khả năng vào và ra khỏi Princeton với tài năng chấp nhận rủi ro tài chính chưa?

Ở trên cùng danh sách các mối quan tâm của Charlie Ledley, sau khi Cornwall Capital đặt cược chống lại các khoản vay dưới chuẩn, là các thế lực lớn có thể nhảy vào bất cứ lúc nào để ngăn chặn những người vay thế chấp dưới chuẩn cá nhân Mỹ khỏi thất bại. Tất nhiên, các thế lực này không bao giờ thực hiện được điều đó. Thay vào đó, họ lại nhảy vào để ngăn chặn sự sụp đổ của các công ty Phố Wall lớn, những công ty đã trù tính việc tự phá sản phá sản bằng cách thực hiện rất nhiều cuộc cá cược ngớ ngẩn vào những người vay dưới chuẩn.

Sau khi Bear Stearns thất bại, chính phủ đã khuyến khích J.P. Morgan mua nó bằng cách đưa ra một mức giá rất thấp và đảm bảo cho các tài sản rủi ro nhất của Bear Stearns. Những trái chủ của Bear Stearns kiếm được toàn bộ còn các cổ đông mất phần lớn số tiền của họ. Sau đó, là sự sụp đổ của các cơ quan được chính phủ bảo trợ, Fannie Mae và Freddie Mac, cả hai đã được quốc hữu hóa nhanh chóng. Ban quản lý được thay thế, các cổ đông bị pha loãng nặng nề, những chủ nợ không bị ảnh hưởng nhưng có phần không chắc chắn. Tiếp đến là Lehman Brothers, mà đơn thuần là được cho phép phá sản – và rồi mọi thứ trở nên thậm chí phức tạp hơn. Đầu tiên, Bộ Tài chính và Cục Dự trữ Liên bang tuyên bố họ cho phép Lehman không gửi tín hiệu rằng các công ty Phố Wall bị quản lý thiếu thận trọng không phải tất cả đều nhận được bảo trợ từ chính phủ; nhưng sau đó, khi mọi thứ rối rung lên, thị trường đóng băng, và mọi người bắt đầu nói rằng việc để Lehman sụp đổ là một việc làm ngu xuẩn nhất, họ đã thay đổi câu chuyện và tuyên bố rằng họ thiếu thẩm quyền pháp lý để giải cứu Lehman. Nhưng rồi AIG đã sụp đổ, hay cố tình sụp đổ, một vài ngày sau đó trước khi Cục dự trữ Liên bang cấp cho nó khoản vay 85 tỉ dollar – và nhanh chóng được tăng lên 180 tỉ dollar – để trang trải cho những tổn thất từ các cuộc đặt cược vào các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Lần này, Bộ Tài chính tính phí rất cao các khoản vay và lấy đi hầu hết vốn chủ sở hữu. Tiếp theo là Washington Mutual bị Bộ Tài chính thâu tóm một cách thô bạo, xóa sổ toàn bộ chủ nợ cũng như các cổ đông. Và sau đó đến Wachovia thất bại; Bộ Tài chính và FDIC đã khuyến khích Citigroup mua nó – lại một lần nữa ở mức giá thấp với sự đảm bảo cho các tài sản xấu.

Tất nhiên, những người ở vị trí giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính cũng chính là những người đã không thể dự đoán trước được điều đó: Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson, Bộ trưởng Tài chính tương lai Timothy Geithner, Chủ tịch FED Ben Bernanke, CEO của Goldman Sachs, Lloyd Blankfein, CEO của Morgan Stanley, John Mack, CEO của Citigroup, Vikram Pandit, v.v… Một vài CEO Phố Wall đã bị sa thải do góp phần tạo nên thảm họa thế chấp dưới chuẩn, nhưng hầu hết vẫn giữ được công việc của họ, và họ đã trở thành những nhân vật quan trọng hoạt động đằng sau cánh cửa được đóng kín, cố gắng tìm ra những gì phải làm tiếp theo. Cùng với họ là một số các quan chức chính phủ – cũng chính là những quan chức chính phủ đáng ra nên biết nhiều hơn về các công ty Phố Wall đang làm gì, khi các công ty này đang làm điều đó. Tất cả đều có chung một đặc điểm: Họ đã chứng minh rằng khả năng nắm bắt những sự thật cơ bản ở trung tâm của hệ thống tài chính Hoa Kỳ của họ kém hơn nhiều so với một nhà quản lý tiền tệ mắc hội chứng Asperger’s.

Vào cuối tháng 9 năm 2008, quan chức tài chính cao cấp nhất quốc gia, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Henry Paulson, đã thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ rằng ông cần 700 tỉ dollar để mua các tài sản thế chấp dưới chuẩn từ các ngân hàng. Do đó TARP, Chương trình Cứu trợ Tài sản có vấn đề (Troubled Asset Relief Program), ra đời. Sau khi nhận được tiền, Paulson đã từ bỏ chiến lược như đã hứa của mình và thay vào đó, về cơ bản, bắt đầu tặng hàng tỉ dollar cho Citigroup, Morgan Stanley, Goldman Sachs và một vài ngân hàng khác được lựa chọn một cách bất thường để duy trì hoạt động của chúng. Ví dụ, 13 tỉ dollar AIG nợ Goldman Sachs, kết quả của vụ cược vào các khoản vay thế chấp dưới chuẩn, được chính phủ Hoa Kỳ trả đầy đủ: 100 xu/dollar.

Những của bố thí tuyệt vời này – cộng thêm sự bảo đảm ngầm của chính phủ – không chỉ ngăn các công ty Phố Wall khỏi thất bại mà còn dung thứ cho họ khỏi việc phải công nhận các thua lỗ trong các danh mục đầu tư thế chấp dưới chuẩn của mình. Nhưng ngay cả vậy thì chỉ vài tuần sau khi nhận được 25 tỉ dollar đầu tư đầu tiên từ người nộp thuế, Citigroup đã trở lại Bộ Tài chính để thú nhận rằng – Trông kìa! – thị trường vẫn không tin Citigroup sống sót. Đáp lại, vào ngày 24 tháng 11, Bộ Tài chính đã ban 20 tỉ dollar nữa từ TARP và đơn giản đảm bảo cho 306 tỉ dollar tài sản của Citigroup. Bộ Tài chính không yêu cầu một hành động, những thay đổi về cách quản lý, hay bất cứ điều gì để đổi lại, ngoại trừ một vài cổ phiếu ưu đãi và chứng quyền không được tiền. 306 tỉ dollar đảm bảo – gần 2% tổng sản phẩm quốc nội Hoa Kỳ, và xấp xỉ tổng ngân sách của Bộ Nông nghiệp, Giáo dục, Năng lượng, An ninh, Nhà ở và Phát triển Đô thị, và Giao thông – được đưa ra công khai như một món quà. Bộ Tài chính không bao giờ có thời gian giải thích cuộc khủng hoảng này là gì, mà chỉ hành động để phản ứng với sự “giảm giá cổ phiếu” của Citigroup.

Tính đến thời điểm đó, rõ ràng rằng 700 tỉ dollar không đủ để giải quyết các tài sản có vấn đề được mua từ vài năm trước bởi các nhân viên giao dịch trái phiếu Phố Wall. Đó là khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực hiện một bước đi chưa từng thấy và gây sốc là mua các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn xấu từ các ngân hàng. Vào đầu năm 2009, các rủi ro và thua lỗ liên quan đến hơn một nghìn tỉ dollar các khoản đầu tư xấu được chuyển từ các công ty lớn Phố Wall sang người nộp thuế Hoa Kỳ. Henry Paulson và Timothy Geithner cả hai đều tuyên bố rằng sự hỗn loạn và hoảng loạn xảy ra do sự sụp đổ của Lehman Brothers này đã chứng minh cho họ thấy rằng hệ thống không thể chịu đựng được sự sụp đổ đầy hỗn loạn của một công ty tài chính lớn khác. Họ cũng tuyên bố thêm, dù không phải ngay lập tức mà là vài tháng sau đó, rằng họ thiếu thẩm quyền pháp lý để xoa dịu và đưa các công ty tài chính khổng lồ vào trật tự – có nghĩa là, đưa một ngân hàng phá sản ra khỏi ngành. Tuy nhiên, ngay cả một năm sau đó, họ vẫn hầu như không làm gì để có được sức mạnh đó. Điều này thật đáng tò mò, bởi họ rõ ràng đã không ngại ngần hỏi xin sức mạnh đó.

Các sự kiện trên Phố Wall vào năm 2008 đã nhanh chóng được tái định hình, không chỉ bởi những nhà lãnh đạo Phố Wall mà còn bởi cả Bộ Tài chính và Cục Dự trữ Liên bang, như là một “cuộc khủng hoảng niềm tin.” Một cơn hoảng loạn tài chính kiểu cũ, đơn giản, được kích hoạt bởi sự sụp đổ của Lehman Brothers. Vào tháng 8 năm 2009, chủ tịch của Goldman Sachs, Gary Cohn, thậm chí còn tuyên bố một cách công khai rằng Goldman Sachs không bao giờ thực sự cần sự giúp đỡ của chính phủ, bởi Goldman đủ lớn mạnh để chịu đựng được bất cứ cuộc hoảng loạn tạm thời nào. Nhưng có một điểm khác biệt giữa một cuộc hoảng loạn tài chính kiểu cũ và những gì đã xảy ra tại Phố Wall vào năm 2008. Trong một cuộc hoảng loạn kiểu cũ, nhận thức tạo ra thực tế của riêng nó: Một ai đó hét lên “Cháy!” trong một nhà hát đông đúc và khán giả sẽ chen lấn nhau đến chết để thoát thân. Ở Phố Wall vào năm 2008, thực tế cuối cùng đã lấn át nhận thức: Một nhà hát đông đúc bị thiêu rụi với rất nhiều người vẫn ngồi im trong chiếc ghế của mình. Mọi công ty lớn trên Phố Wall hoặc là bị phá sản hoặc là bị bám chặt đến chết với một hệ thống phá sản. Vấn đề không phải là Lehman Brothers đã được phép thất bại. Vấn đề là Lehman Brothers đã được phép thành công.

Chế độ mới này – tự do tiền tệ cho các nhà tư bản, thị trường tự do cho tất cả mọi người – cộng với việc ít nhiều ngay lập tức viết lại lịch sử tài chính đã làm phật ý tất cả người dân, nhưng không có mấy ai bị phật ý dữ dội như Steve Eisman. Những nhà tài chính được trả lương cao nhất và quyền lực nhất thế giới đã mất hoàn toàn uy tín; mà nếu không có sự can thiệp của chính phủ thì tất cả họ đều sẽ mất việc làm; nhưng cũng chính những nhà tài chính này đang dùng chính phủ để làm giàu cho chính họ. “Tôi có thể hiểu tại sao Goldman Sachs muốn được tham gia vào cuộc trò chuyện về những gì cần phải làm đối với Phố Wall,” anh nói. “Điều tôi không thể hiểu là tại sao lại có người lắng nghe họ.” Theo quan điểm của Eisman, việc chính phủ Mỹ không muốn để các nhà ngân hàng thất bại không phải là một giải pháp mà là một triệu chứng của một hệ thống tài chính rối loạn sâu sắc. Vấn đề không phải là các ngân hàng đã trở nên quan trọng đối với thành công của nền kinh tế Mỹ. Anh cảm thấy chắc chắn rằng vấn đề là một số lượng các hợp đồng hoán đổi nợ xấu có giá trị khổng lồ và không ai biết đã được mua và bán dựa trên từng ngân hàng đó. “Rủi ro thị trường là không giới hạn,” anh nói. “Một ngân hàng có giá trị vốn hóa thị trường là 1 tỉ dollar có thể có 1 nghìn tỉ dollar giá trị các hợp đồng hoán đổi nợ xấu đang lưu hành. Không ai biết có bao nhiêu! Và không ai biết chúng ở đâu!” Ví dụ, sự thất bại của Citigroup có thể chấp nhận được về mặt kinh tế. Nó sẽ gây ra thiệt hại cho các cổ đông, trái chủ và nhân viên của công ty này – nhưng mọi người đều biết các khoản tiền liên quan trong việc này. Tuy nhiên, sự thất bại của Citigroup cũng sẽ kích hoạt phần thưởng từ một cuộc đặt cược lớn mà không ai biết quy mô của nó: từ những người đã bán các hợp đồng hoán đổi nợ xấu dựa trên Citigroup đến những người đã mua chúng.

Đây lại là một hậu quả nữa của việc biến các công ty hợp danh Phố Wall thành các công ty đại chúng: Nó biến chúng thành các đối tượng để đầu cơ. Điều khiến một ngân hàng trở nên quá lớn để không thể thất bại không còn là sự liên quan của nó về mặt kinh tế xã hội nữa, mà chính là số lượng các cuộc đặt cược bên lề đã được thực hiện dựa trên nó.

Có lúc, tôi không thể không hỏi John Gutfreund về hành động mang tính định mệnh nhất và lớn nhất của ông: Bới đống đổ nát của một trận tuyết lở, quyết định biến công ty hợp danh Phố Wall thành một công ty đại chúng trông rất giống viên đá đầu tiên bị đá ra khỏi đỉnh một ngọn đồi. “Vâng,” ông nói. “Họ – những người đứng đầu các công ty Phố Wall khác – tất cả đều nói việc trở thành công ty đại chúng thật khủng khiếp và làm sao bạn có thể làm một điều như vậy. Nhưng khi sự cám dỗ dâng cao, tất cả họ đều đầu hàng nó.” Dù vậy, ông đồng ý: Tác động chính của việc biến một công ty hợp danh thành một công ty cổ phần chính là để chuyển rủi ro tài chính sang cho các cổ đông. “Khi mọi thứ sai lầm, đó là lỗi của họ.” ông nói – và rõ ràng không phải lỗi của một mình họ. Khi ngân hàng đầu tư Phố Wall trở nên đủ tồi tệ, các rủi ro của nó trở thành vấn đề của chính phủ Mỹ. “Chính phủ sẽ để mặc tư nhân cho đến khi chúng gặp vấn đề lớn,” ông nói, với một tiếng cười nửa khoái trá. Ông đã ra khỏi trò chơi. Giờ đó là lỗi của tất cả những người khác.

Ông nhìn tôi tò mò khi tôi ghi vội lại những từ ông vừa nói. “Để làm gì vậy?” ông hỏi.

Tôi nói với ông rằng tôi nghĩ rất đáng để xem xét lại thế giới tôi đã miêu tả trong cuốn Liar’s Poker, bởi vì cuối cùng nó đang chết. Tôi có thể đưa ra một phiên bản kỉ niệm 20 năm.

“Thật nực cười,” ông nói.

Thật khó để ông có thể thích tính cách của tôi, và càng khó hơn để tôi không thích tính cách của ông: Ông vẫn rất cứng rắn, thẳng thắn, và lỗ mãng như một gã đồ tể. Ông đã giúp tạo ra một con quái vật nhưng ông vẫn giữ lại trong mình rất nhiều thứ của Phố Wall cũ, nơi mọi người nói những thứ kiểu như “lời nói của một người đàn ông là cam kết của anh ta.” Ở Phố Wall đó, mọi người không bước ra khỏi công ty của họ và gây rắc rối cho các ông chủ cũ bằng cách viết một cuốn sách về họ. “Không.” Ông nói, “Tôi nghĩ chúng ta có thể đồng ý về điều này: Cuốn sách chết tiệt của anh đã phá hỏng sự nghiệp của tôi và nó làm nên sự nghiệp củ a anh.” Cùng với đó, Ông Vua cũ của Phố Wall cũ đã nhấc đĩa thức ăn đựng món khai vị của mình và hỏi với giọng điệu đầy ngọt ngào, “Anh có muốn một quả trứng ác quỷ không?”

Cho đến lúc đó, tôi đã không quan tâm nhiều đến những gì ông đang ăn. Bây giờ tôi nhận thấy ông đã gọi món ngon nhất trong nhà hàng, món pha chế sủi bọt tuyệt vời của một thời đại trước. Ai đã nghĩ ra quả trứng ác quỷ này? Ai đã biết rằng một quả trứng đơn giản có thể được làm rất phức tạp mà vẫn quá hấp dẫn? Tôi nhướn người lên và lấy một quả. Có được mọi thứ mà không phải nỗ lực. Điều đó chưa từng thôi quyến rũ.

HẾT2

Notes

←1. Federal Reserve System – Fed

←2. CappuccinoTeam

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.