Bê Bối Toàn Cầu: Hồ Sơ Panama - Chương 4
7. Số vàng bí ẩn và vụ bê bối Siemens
Theo “Hồ sơ Panama”, tháng 11/2013, 375.077,83 ounce vàng trị giá 480 triệu USD thời bấy giờ được gửi vào một tài khoản ngân hàng ở Bahamas. Tài khoản mở tại chi nhánh Bahamas của ngân hàng Pháp Societe Generale là của ông Hans-Joachim Kohlsdorf – một lãnh đạo cấp cao tại Tập đoàn Siemens.
Số tài sản 480 triệu USD là một trong những bí ẩn lớn nhất được phát hiện trong “Hồ sơ Panama”. Một câu hỏi được đặt ra là liệu số vàng này có liên hệ gì với vụ Siemens lập quỹ đen để hối lộ – vụ việc bị coi là bê bối hối lộ lớn nhất trong ngành kinh doanh Đức. Trong vài chục năm liền, hàng trăm lãnh đạo Siemens đã vận hành một mạng lưới tài khoản và công ty bí mật toàn cầu để hối lộ quan chức nhà nước, chính trị gia và đối tác kinh doanh.
Soi lại vụ bê bối Siemens
Ông Kohlsdorf từng là một trong số những người bị điều tra. Trong phiên giải trình tại văn phòng công tố nhà nước ở Munich, ông này thừa nhận đã quản lý các quỹ đen cho một số chi nhánh của Siemens tại Mỹ Latinh. Tuy nhiên, ông thoát tội vì không ai chứng minh được ông đích thân hối lộ ai đó. Ngoài ra, nhờ ông Kohlsdorf hợp tác với chính quyền mà công tố viên nhà nước Munich đã kết thúc điều tra ông này năm 2012 do vụ việc không nghiêm trọng. Cuối cùng, ông này chỉ phải nộp phạt 40.000 euro.
Nhưng liệu cuộc điều tra có công bằng và liệu ông Kohlsdorf có thực sự trả lại toàn bộ số tiền quỹ đen? Những gì có trong “Hồ sơ Panama” cho thấy ông Kohlsdorf không trả hết và có thể đã biển thủ một phần quỹ đen làm của riêng.
Xét theo thông tin mới này thì tài liệu rò rỉ của Mossack Fonseca đã làm sáng tỏ thêm vụ bê bối Siemens. Nó cho thấy các điều tra viên ở Munich không làm rõ nhiều điều tại thời điểm điều tra. Ví dụ như thông tin Mossack Fonseca là một đối tác quan trọng của Siemens và quản lý một loạt công ty bình phong cho Siemens.
Từ lâu, Kohlsdorf là một trong những lãnh đạo Siemens quan trọng nhất ở khu vực. Ông điều hành kinh doanh tại khu vực Andes từ năm 1997 trở đi và tại Mexico từ năm 2003 đến 2009. Theo lời khai của ông Kohlsdorf, ông đã tiếp cận các quỹ đen trị giá hơn 100 triệu USD, trong đó một phần được dùng để “lại quả” cho đối tác làm ăn và quan chức chính phủ đã giúp Siemens giành được hợp đồng.
Theo tài liệu rò rỉ, tại Mossack Fonseca, ông Kohlsdorf và các lãnh đạo Siemens khác được coi là khách hàng đặc biệt, tức là người có rất nhiều tiền. Các thỏa thuận làm ăn của họ được công ty luật giữ kín tuyệt đối. Nhân viên công ty không bao giờ được gửi bất kỳ tài liệu nào cho ông Kohlsdorf và phải để tất cả ở Panama. Dịch vụ của Mossack Fonseca gồm mọi thứ cần thiết để bảo vệ khách hàng Siemens. Ví dụ, trong các tài liệu tên ông Kohlsdorf gần như lúc nào cũng được viết tắt là Señor K. Mossack Fonseca còn tạo các tài khoản thư điện tử với các mật danh như Azkaban – nhà tù giam giữ các phù thủy phạm tội trong loạt truyện Harry Potter.
Hệ thống bí mật của Mossack Fonseca rất có hiệu quả. Ngay cả khi vụ bê bối hối lộ của Siemens bị phát giác tháng 11/2006, các điều tra viên, luật sư và kiểm toán viên dù kiểm tra kỹ cũng không phát hiện ra toàn bộ câu chuyện. Họ chỉ nhìn thấy những gì liên quan tới Đức trong vụ việc. Còn cái tên Mossack Fonseca lọt khỏi con mắt các điều tra viên. Kết quả là mối liên hệ của Siemens cũng như của ông Kohldorf với Mossack Fonseca nằm im trong bóng tối suốt 9 năm, cho đến khi quả bom “Hồ sơ Panama” phát nổ.
Ngày 10/6/2008, ông Kohldorf giải trình ba tiếng liền tại văn phòng công tố viên nhà nước. Khi đó, các điều tra viên vẫn không hay biết về mối liên hệ với Mossack Fonseca. Theo tài liệu bị rò rỉ, vào đúng ngày ông này giải trình, người chịu trách nhiệm liên lạc với ông Kohldorf ở Mossack Fonseca đã gửi thư điện tử cho đồng nghiệp tại công ty luật nói rằng mình vừa nhận “tin xấu”. Đó là có thể hàng triệu USD của Siemens sẽ phải được chuyển về Đức và điều này có nghĩa là Mossack Fonseca sẽ mất số tiền này và khách hàng Gillard – tên một công ty bình phong có tài khoản ở Panama, Singapore và Thụy Sỹ. Ông Kohlsdorf và các nhân viên khác của Siemens đã tham gia quản lý công ty Gillard.
Điều kỳ cục là công ty này mãi đến năm 2007 mới được thành lập, tức là vài tháng sau khi vụ bê bối Siemens vỡ lở tháng 11/2006. Sau đó, hàng triệu USD đã được chuyển vào các tài khoản của Gillard nhưng lý do cụ thể vẫn còn chưa rõ. Mossack Fonseca từ chối trả lời bình luận của tờ Süddeutsche Zeitung về các thông tin mới được phát giác trong “Hồ sơ Panama’. Ông Kohlsdorf cũng khẳng định mình không hề biết công ty Gillard mặc dù trong thư nội bộ, một nhân viên Mossack Fonseca đã nhắc tên ông này với tư cách là người sáng lập Gillard.
Bí ẩn số vàng 480 triệu USD
Mối liên hệ giữa Siemens và Mossack Fonseca không phải là bí ẩn duy nhất. Điều khiến người ta đau đầu hơn là số vàng trị giá 480 triệu USD ở đâu ra. Kohlsdorf và Société Générale đều bác bỏ liên quan tới số vàng này.
Có một sự trùng hợp lạ kỳ là việc giao dịch vàng bị gián đoạn tạm thời tại Sàn giao dịch chứng khoán London vào đúng ngày số vàng được cho là xuất hiện trong tài khoản của ông Kohlsdorf. Trong vòng 10 giây, giá vàng giảm 10 USD/ounce, một dấu hiệu cho thấy có sự thao túng thị trường. Việc chuyển một số vàng trị giá gần nửa tỷ USD vào thị trường chắc chắn sẽ gây ra những diễn biến này. Hiện chưa rõ liệu vụ chuyển vàng vào tài khoản của ông Kohlsdorf có liên quan tới các diễn biến này tại London hay không. Ngoài những thông tin có trong “Hồ sơ Panama”, không có dấu vết nào khác về số vàng này và không có gì chứng minh là nó thực sự tồn tại.
Tại thời điểm giải trình với công tố viên, ông Kohlsdorf cho biết có 4.189.696,17 USD trong tài khoản ngày 30/6/2008 và đã hoàn lại số tiền trong quỹ đen này. Trước đó, ông này lại bảo có 6 triệu USD. Trong tài liệu của Mossack Fonseca, tính đến ngày đó, số tiền trong tài khoản của ông Kohlsdorf là 6.141.461,79 USD, nhiều hơn 2 triệu so với số tiền hoàn lại. Số chênh lệch 2 triệu USD này vẫn nằm nguyên đó sau khi ông Kohlsdorf hoàn lại Siemens hơn 4 triệu USD. Theo tài liệu của Mossack Fonseca, số tiền này đã được ông Kohlsdorf dùng để mua trái phiếu cho mình và thực hiện các khoản đầu tư khác. Sau này, số tiền được gửi vào một tài khoản mới của công ty Gillard ở Andbanc – một ngân hàng tại Andorra.
Mọi chuyện phức tạp hơn khi mùa hè năm 2012, 2 triệu USD từ Andorra đã chuyển tới ngân hàng UBS ở Zurich sau khi ông Kohlsdorf được ngừng điều tra. Tài khoản nhận tiền là của một nhân viên ngân hàng UBS. Lúc đó, ông Kohlsdorf không làm cho Siemens được ba năm. Một nguồn tin nội bộ UBS cho biết ông Hans-Joachim Kohlsdorf là chủ tài khoản.
Nếu đúng vậy thì ông Kohlsdorf đã chuyển toàn bộ phần còn lại của quỹ đen vào Thụy Sỹ sau khi không còn bị điều tra. Cuối tháng 2, ông Kohlsdorf vẫn còn tuyên bố không hay biết gì về số vàng trị giá 480 triệu USD và nói ông sẽ lấy thông tin từ Société Générale để trả lời bí ẩn này. Tuy nhiên, từ đó tới nay, Kohlsdorf nhất định không trả lời thêm bất kỳ đề nghị bình luận nào nữa.
8. Thế giới của các giám đốc bình phong
Một mẫu giám đốc bình phong điển hình: Là người ít học, không có khả năng hiểu các tài liệu mình ký. Họ thường là người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội Panama, hiếm khi nói tiếng Anh.
Mỗi công ty trong số 21.000 công ty bình phong do Mossack Fonseca lập ra cho khách hàng lại có một hoặc vài giám đốc hoạt động theo kiểu bù nhìn. Nhiệm vụ của họ là ký các hợp đồng quan trọng, thông qua tài liệu cho dù không có quyền quyết định. Họ thực hiện các nhiệm vụ mà chủ thực sự của công ty bình phong giao phó. Và họ làm nhiệm vụ này cho hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn công ty.
Cho thuê tên và chữ ký
Giám đốc bình phong thực chất chỉ là nghề cho chủ thực sự mượn tên. Khi các điều tra viên muốn phát hiện ra ai đứng đằng sau một công ty bình phong, họ thường lúng túng vì không biết bắt đầu từ đâu trong hệ thống giám đốc bình phong nhằng nhịt. Mossack Fonseca và các công ty luật khác ở Panama đều dùng hệ thống này. Trong khi đó, các điều tra viên chỉ có thể tiếp cận dữ liệu được đăng ký công khai ít ỏi, còn thông tin họ cần lại không có. Nhiều khi, danh sách đăng ký chỉ liệt kê thông tin tối thiểu gồm tên các giám đốc cùng với tên công ty. Mà tên giám đốc cũng không phải là tên thật. Có trường hợp như ở nhà máy bánh quy Bavaria đăng ký tại Panama có tên giám đốc là Michael Jackson (tất nhiên không phải là cố ca sĩ nổi tiếng).
Theo thuật ngữ “lịch sự”, các giám đốc bù nhìn này được gọi là người được ủy thác. Trong thực tế, họ là các “bộ binh” của các công ty bình phong tại nước ngoài. Việc gì cũng liên quan tới họ và họ có thể được thay thế cho nhau dễ dàng, chi phí thuê họ cũng vô cùng rẻ.
Một mẫu giám đốc bình phong điển hình: Thường là người ít học, không có khả năng hiểu các tài liệu mình ký. Họ thường là người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội Panama, hiếm khi nói tiếng Anh. Ví dụ như Leticia Montoya – một trong những giám đốc bình phong mà tên xuất hiện nhiều nhất trong “Hồ sơ Panama”. Trong nhiều thập kỷ liền, người phụ nữ này làm giám đốc cho hàng chục nghìn công ty. Dữ liệu bị rò rỉ của Mossack Fonseca còn có một bản sao hộ chiếu của Leticia Montoya. Cách đây không lâu, bà này nói qua điện thoại với phóng viên tờ Süddeutsche Zeitung rằng bà không biết chi tiết về các công ty bình phong mà bà làm giám đốc. Bà này cũng từ chối trả lời phóng viên dưới dạng văn bản.
Leticia Montoya sống ở ngoại ô thủ đô Panama City, nơi mà giới nhà giàu không bao giờ đặt chân tới. Bà thường được trả khoản tiền ít ỏi 500 USD/tháng cho công việc giám đốc bình phong. Trong khi đó, Mossack Fonseca kiếm được hàng triệu USD nhờ công việc của những người như bà. Công ty luật này tính phí dịch vụ cung cấp giám đốc bình phong là 150 USD/năm. Trong phần lớn trường hợp, Mossack Fonseca sử dụng hai hoặc ba giám đốc cho mỗi công ty. Theo “Hồ sơ Panama”, bà Montoya làm giám đốc cho gần 3.200 công ty. Nhân với số tiền 150 USD/năm/công ty, bà này đã kiếm về cho Mossack Fonseca gần nửa triệu USD mỗi năm. Bà làm giám đốc bình phong tại Mossack Fonseca từ đầu những năm 1980.
Tại nhiều “thiên đường trốn thuế”, giám đốc bù nhìn là một nghề phổ biến, một phần là do đó là một nghề dễ làm, không cần được đào tạo chính thức. Mọi thứ họ cần chỉ là một cây bút và một cái tên chưa từng dính líu tới bất kỳ hoạt động kinh doanh bất hợp pháp nào. Khi một công ty bình phong được thành lập, giám đốc bù nhìn sẽ ký vào ba tài liệu ban đầu để gửi cho chủ sở hữu thực của công ty. Tài liệu đầu tiên là một giấy tuyên bố họ sẽ không đòi hỏi gì từ chủ thực sự và công ty bình phong. Giấy thứ hai là giấy ủy quyền đảm bảo giám đốc bình phong chuyển giao quyền kiểm soát công ty cho chủ sở hữu thực. Giấy thứ ba là thư chấm dứt tuyển dụng giám đốc bình phong. Giấy này không có ngày tháng. Nhờ đó, chủ sở hữu thực có thể tùy ý điền ngày sa thải giám đốc bình phong.
Ngoài ba giấy tờ trên, giám đốc bình phong còn ký giấy tờ như tờ khai mở tài khoản ngân hàng, biên bản họp hàng năm. Các biên bản này là không thể thiếu cho dù ai cũng biết chúng là biên bản giả.
Các tầng lớp bí mật
Xét về một số khía cạnh, giám đốc bình phong chính là một dạng trá hình. Các bên muốn giữ bí mật ở mức độ cao hơn sẽ thêm một lớp bảo vệ nữa dưới dạng cổ phiếu vô danh. Loại hình sở hữu cổ phiếu ẩn danh này hợp pháp ở một số “thiên đường trốn thuế”. Cổ phiếu vô danh chỉ là một mảnh giấy đơn giản mà ai sở hữu toàn bộ cổ phiếu này sẽ sở hữu công ty. Loại cổ phiếu này là một công cụ lý tưởng cho bất kỳ loại giao dịch làm ăn nào cần che giấu dấu vết.
Dưới áp lực quốc tế, phần lớn các “thiên đường trốn thuế” giờ đã cấm cổ phiếu vô danh. Nguyên nhân là ngày càng khó biện minh rằng cổ phiếu vô danh là hợp pháp trong khi nó là một công cụ lý tưởng để rửa tiền. Tuy nhiên, có nhiều cách khác để che giấu thân phận thật của chủ công ty. Nhiều công ty được nhắc tên trong “Hồ sơ Panama” được thành lập kiểu như búp bê Matryoshka của Nga: lật hết lớp này lại thấy lớp khác nhỏ hơn.
Cổ đông “ma” cũng có thể được sử dụng để che giấu sự thật. Cổ đông này có thể là người hoặc công ty bình phong nắm cổ phiếu ủy thác, tức là nắm cổ phiếu của một ai đó. Điều này nhìn chung là hợp pháp, trái với dịch vụ giám đốc bình phong của Mossack Fonseca. Cho dù có nhiều lớp bí mật hợp pháp, luật chống rửa tiền đòi hỏi phải có người thật sở hữu công ty. Ngày nay, các ngân hàng uy tín chỉ mở tài khoản cho các công ty ở nước ngoài nếu họ biết ai là chủ thực sự. Sau đó, ngân hàng sẽ kiểm tra lý lịch để đảm bảo biết đang làm ăn với ai.
Theo “Hồ sơ Panama”, Mossack Fonseca liên tục gợi ý khách hàng tránh khả năng bị kiểm tra lý lịch này. Với một số tiền chừng 5 con số, công ty luật này cung cấp cho khách hàng một người đóng vai chủ sở hữu thật của công ty. Một trong số những giám đốc bình phong “thượng hạng” này là một người đàn ông tên là Edmund W., bố vợ cũ của Ramon Fonseca – một trong hai chủ sở hữu của Mossack Fonseca. Việc của ông Edmund là đóng giả làm người chủ thực sự. Tuy nhiên, Mossack Fonseca cho biết mình không có dịch vụ này và bản thân ông Edmund thì từ chối bình luận.
Tóm lại, thế giới công ty bình phong ở nước ngoài có thể chỉ thành công là vì có một lượng người dồi dào sẵn sàng cho thuê tên và chữ ký cho mọi hoạt động kinh doanh mờ ám. Họ làm việc này cho dù về mặt lý thuyết, họ có thể bị truy tố vì hành vi vi phạm luật pháp của chính công ty họ làm chủ trên giấy tờ. Giám đốc bình phong thậm chí có thể bị phạt hàng triệu USD tiền thiệt hại. Nếu họ phải ra tòa vì các hoạt động mờ ám của một công ty thôi thì đã đủ để họ sống dở chết dở.
9. Thế lực giật dây “Hồ sơ Panama”
Thời điểm báo chí khai thác “Hồ sơ Panama” ồ ạt cũng là lúc một loạt nghi vấn và thuyết âm mưu xuất hiện.
Một người tên là John Doe cung cấp 11,5 triệu tài liệu “Hồ sơ Panama” cho báo Đức và hơn 400 nhà báo sau đó đã phối hợp điều tra miệt mài hơn một năm trời rồi mới chính thức tung “quả bom” gây sốc. Thời điểm báo chí khai thác “Hồ sơ Panama” ồ ạt cũng là lúc một loạt nghi vấn và thuyết âm mưu xuất hiện.
CIA giật dây
Đó là khẳng định chắc nịch của Bradley Birkenfeld, cựu nhân viên người Mỹ của ngân hàng Thụy Sỹ UBS AG và là người tố giác âm mưu trốn thuế của ngân hàng này trong năm 2009 với giới chức Mỹ. Trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với kênh CNBC từ Munich, ông Birkenfeld nhận định: Vụ rò rỉ hơn 11 triệu tài liệu mật của công ty luật Mossack Fonseca ở Panama gần như chắc chắn không phải từ một người tố giác như ông, mà là của một cơ quan tình báo. “Tôi chắc Cục Tình báo Trung ương Mỹ đứng sau vụ này. Ý kiến của tôi là thế”, ông Birkenfeld nói.
Lý giải của ông Birkenfeld là những thông tin được phơi bày ra trước dư luận không mảy may tác động tới Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào. CNBC dẫn lời ông Birkenfeld: “Đó là vì thực tế mà chúng ta thấy mọi cái tên xuất hiện đều là ‘kẻ thù’ trực tiếp của Mỹ: nào Nga, nào Trung Quốc, nào Pakistan, nào Argentina… và rồi ta không thấy cái tên Mỹ nào… Có một điều đặc biệt nham hiểm đằng sau vụ này”.
Khi được hỏi nếu CIA của Mỹ giật dây vụ việc thì tạo sao Mỹ lại làm ảnh hưởng cả tới cả đồng minh thân cận là Thủ tướng Anh David Cameron – người cũng có tên trong “Hồ sơ Panama” và đang chịu sức ép từ dư luận trong nước, ông Birkenfeld nói nhà lãnh đạo Anh có thể bị thiệt hại “lây” không thể tránh được để phục vụ một chiến dịch tình báo lớn hơn của Mỹ. Văn phòng quan hệ công chúng của CIA không trả lời bình luận về nhận định của ông Birkenfeld.
Ông Birkenfeld đã được cơ quan thuế của Mỹ thưởng 104 triệu USD vì đã giúp họ điều tra vụ trốn thuế của các công dân Mỹ, dẫn tới việc UBS bị phạt 780 triệu USD. Ngân hàng này cũng buộc phải tiết lộ tên của 4.700 khách hàng Mỹ có tài khoản bí mật ở Thụy Sỹ. Ông Birkenfeld hiện sống ở Bavaria, Đức và không thích nói chuyện với báo chí. Tuy nhiên, trong vụ “Hồ sơ Panama”, ông đã ngoại lệ trả lời phỏng vấn kênh CNBC.
Thực tế, nhận định của ông Birkenfeld chỉ là một giả thiết cá nhân. Lý giải về việc vắng bóng những cái tên Mỹ, một số người cho rằng các nhà báo cần phải mất nhiều thời gian “ngụp lặn” trong kho 11,5 triệu tài liệu khổng lồ đó. Do hệ thống mạng lưới công ty bình phong của Mossack Fonseca rất phức tạp, việc tìm ra ngay một cái tên người Mỹ nào đứng đằng sau một công ty bình phong không phải là điều đơn giản.
Ngoài ra, còn một giải thích khác nữa theo nhà kinh tế Mỹ Gabriel Zucman ở thành phố Berkeley là bản thân Mỹ đã là một địa điểm hàng đầu cho các công ty bình phong và người trung gian bị nhắc tới trong “Hồ sơ Panama”. Các bang như Nevada có tới 1.260 công ty được liệt kê trong tài liệu rò rỉ, còn bang Wyoming vốn có luật doanh nghiệp lỏng lẻo là một “thiên đường trốn thuế” hoàn hảo không kém Panama. Theo ông Zucman, có một bộ phận ngân hàng và công dân Mỹ đã lợi dụng kẽ hở trong hệ thống để rửa tiền, trốn thuế mà không cần phải ra nước ngoài.
Nga giấu mặt sau “Hồ sơ Panama”
Trong khi đó, ông Clifford Gaddy, một nhà kinh tế làm việc cho Viện Brookings, một trong những chuyên gia phương Tây hàng đầu về kinh tế Nga và là cựu cố vấn của Bộ Tài chính Nga trong những năm 1990, lại cho rằng Nga đứng đằng sau vụ rò rỉ thông tin.
Ông Gaddy chỉ ra một số luận điểm đăng trên trang web của Viện Brookings. Thứ nhất, một tin tặc do chính phủ Nga hậu thuẫn đã viết thư cho tờ báo Đức Süddeutsche Zeitung để cung cấp tài liệu rò rỉ. Thứ hai, hầu như không có mấy thông tin trong “Hồ sơ Panama”, kể cả thông tin bạn thân tham nhũng, có thể làm ảnh hưởng tới Tổng thống Nga Vladimir Putin, nhưng vụ việc lại ảnh hưởng tới sự ổn định của phương Tây. Trước đây, ông Putin còn bị phương Tây cáo buộc tham nhũng nghiêm trọng hơn. Thứ ba, có hàng núi thông tin trong “Hồ sơ Panama” khiến các lãnh đạo thế giới lao đao và điều này khẳng định một điều ở đâu cũng có tham nhũng, không chỉ ở riêng Nga. Thứ tư, không có tên người Mỹ nổi bật nào trong “Hồ sơ Panama” có thể là do các thông tin này đã bị xóa trong tài liệu đưa cho tờ Süddeutsche Zeitung, được Nga giữ lại để tống tiền sau này.
Chốt lại, ông Gaddy phân tích: Mục đích của người đứng sau “Hồ sơ Panama” không phải là nhằm vào những người đã bị nêu tên, mà nhằm vào những người chưa bị nêu tên. Câu chuyện thực sự nằm ở những thông tin đang bị ém lại, chứ không phải thông tin đã được bung ra. Người ta tiết lộ bí mật để phá hủy, che giấu bí mật để kiểm soát. Ông Putin không phải là người phá hủy mà là người kiểm soát. Thông điệp của phía Nga có thể là: “Chúng tôi có thông tin về hành vi tài chính mờ ám của ông. Chúng tôi có thể giữ bí mật hộ nếu ông hợp tác”.
Tuy nhiên, các luận điểm của ông Gaddy đã khiến giới quan sát tình hình Nga không phục. Ví dụ như bà Karen Dawisha, một học giả cũng nghiên cứu kỹ về nạn tham nhũng ở Nga, đã nói: Dù rất kính trọng ông Gaddy nhưng ý kiến mới nhất của ông nói trên không thuyết phục bà. Về phần mình, Tổng thống Putin cho rằng “Hồ sơ Panama” có mục đích làm nước Nga bất ổn và chắc chắn có người bảo trợ cho vụ rò rỉ thông tin này.
Riêng về ICIJ – hiệp hội nhà báo điều tra điều phối nghiên cứu “Hồ sơ Panama”, nhiều người cũng tỏ ra hoài nghi về động cơ của hiệp hội này. Đây là một tổ chức do Trung tâm minh bạch Công (CPI, Mỹ) bảo trợ về tài chính và tổ chức. Những người chống lưng cho ICIJ gồm có Quỹ Ford, Quỹ Carnegie Endowment; Quỹ W.K. Kellogg Foundation; Viện Xã hội mở (của trùm tài phiệt G.Soros). ICIJ lại là một thành viên của Đề án Điều tra tham nhũng và Tội phạm có tổ chức (OCCRP), được chính quyền Mỹ bảo trợ tài chính thông qua Cơ quan Hỗ trợ Phát triển Mỹ (USAID). Do được chính quyền Mỹ tài trợ nên người ta không thể không nghi ngờ ICIJ sẽ phục vụ lợi ích Mỹ trong vụ “Hồ sơ Panama”. Tuy nhiên, giám đốc ICIJ Gerard Ryle cho biết có một bức tường lửa giữa hiệp hội và nhà tài trợ và hiệp hội không chấp nhận tiền từ những nguồn muốn kiểm soát các bài báo.
Cho dù ai đứng đằng sau và với động cơ gì thì vụ “Hồ sơ Panama” cũng đã trở thành vụ rò rỉ dữ liệu lớn nhất lịch sử và những diễn biến chắc chắn sẽ chưa dừng tại đây.
HẾT.
* * *

