Bong Bóng Kinh Tế Và Làn Sóng Vỡ Nợ Quốc Gia - Chương 1

Phi vụ ăn non lớn nhất

Ý tưởng viết cuốn sách này đến với tôi một cách tình cờ, khi tôi đang viết dở một cuốn sách khác về Phố Wall và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008. Lúc đó, tôi đang quan tâm tới một nhóm nhỏ các nhà đầu tư vừa kiếm được bạc tỉ từ sự sụp đổ của thị trường cho vay thế chấp dưới chuẩn. Quay trở lại năm 2004, các ngân hàng đầu tư lớn Phố Wall đã tạo ra một thứ vũ khí tự sát: dịch vụ bảo hiểm nợ xấu đối với các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Dịch vụ này cho phép nhà đầu tư đánh cược giá trị của bất kỳ loại trái phiếu nào – để “ăn non”. Đây thực ra là một hình thức bảo hiểm song có chút biến tướng: người mua không cần phải là chủ sở hữu của món tài sản được bảo hiểm. Xét về mặt pháp lý, các công ty bảo hiểm không được phép bán cho bạn bảo hiểm hỏa hoạn trên ngôi nhà của người khác, ấy thế mà các thị trường tài chính lại có thể làm được điều đó, và họ sẵn lòng bán cho bạn bảo hiểm vỡ nợ trên các khoản đầu tư của người khác. Hàng trăm nhà đầu tư đã lao vào thị trường bảo hiểm nợ xấu – nhiều người đã nghĩ, hoặc chí ít là chợt nghĩ, rằng bong bóng nhà đất vốn đang trương phồng bởi nợ của Mỹ sẽ không tồn tại được lâu – nhưng chỉ có khoảng 15 nhà đầu tư đặt hết niềm tin vào đó, và đặt những khoản cược khổng lồ rằng nền tài chính Mỹ sẽ ra tro. Phần lớn trong số họ đang điều hành các quỹ đầu cơ ở London hay New York; và thường thì họ đều muốn tránh né báo giới. Nhưng về chủ đề này, vào lúc này, họ lại cởi mở một cách đáng ngạc nhiên. Tất cả đều từng trải qua cảm giác cô lập đến kỳ lạ của một con người tỉnh táo sống trong một thế giới điên rồ, và, khi kể về trải nghiệm đó, họ kể theo giọng kể của một người từng đơn độc ngồi lặng im trên một con thuyền nhỏ mà trông con tàu khổng lồ Titanic chìm dần dưới lớp băng.

Một vài người trong số họ có bản tính không hề phù hợp với sự tách biệt và im lặng, trong đó có vị quản lý của một quỹ đầu cơ có tên Hayman Capital ở Dallas, Texas. Tên anh là Kyle Bass. Bass là người gốc Texas, khi đó đã gần 40 tuổi. Những năm đầu sự nghiệp – trong đó có 7 năm với Bear Stearns – Bass đi bán trái phiếu cho các công ty ở Phố Wall. Cuối 2006, anh dùng một nửa trong số 10 triệu đô-la tiết kiệm được trong thời gian làm việc tại Phố Wall cùng với 500 triệu đô-la quyên góp từ những người khác để lập ra một quỹ đầu cơ riêng, và đặt một canh bạc lớn cho sự sụp đổ của thị trường thế chấp trái phiếu dưới chuẩn. Sau đó, anh bay tới New York để cảnh báo cho những người bạn cũ biết rằng họ đang đứng ở sai phía trong rất nhiều vụ cá cược ngu ngốc. Những nhà buôn của Bear Stearns không mảy may ngó ngàng tới điều anh nói. Một người trong số họ bảo Bass: “Anh hãy cứ lo cho việc quản lý rủi ro của mình, còn tôi sẽ tự lo việc của chúng tôi”. Cuối năm 2008, khi tôi tới Dallas thăm Bass, thị trường thế chấp trái phiếu dưới chuẩn đã sụp đổ, kéo theo cả Bear Stearns. Lúc này, Bass đã giàu có và thậm chí còn có chút tiếng tăm trong giới đầu tư, nhưng anh không còn quan tâm tới đống trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đổ nát nữa. Sau khi đã thu lợi nhuận về, giờ đây anh lại toàn tâm toàn ý với một sở thích mới: các chính phủ. Lúc này, chính phủ Mỹ còn đang tối mặt đón nhận những khoản cho vay dưới chuẩn của Bear Stearns và các ngân hàng khác ở Phố Wall. Cuối cùng thì Cục Dự Trữ Liên Bang, theo hình thức này hay hình thức khác, sẽ là nơi tiêu thụ đống rủi ro đó cùng với ngót 2 nghìn tỷ chứng khoán bấp bênh. Những hành động này của họ cũng tương tự hành động của các chính phủ thuộc các quốc gia giàu có, phát triển khác: các khoản nợ xấu do những nhà tài phiệt lương cao bổng hậu của khu vực tư nhân tạo ra sẽ gặm nhấm vào các ngân khố quốc gia và ngân hàng trung ương.

Kyle Bass cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính chưa tới hồi kết, thực ra nó chỉ đơn giản là được che đậy bằng niềm tin tuyệt đối cũng như uy tín của các chính phủ phương Tây giàu có. Tôi đã dành nguyên một ngày ngồi lắng nghe anh và các đồng nghiệp bàn luận sôi nổi về hệ quả của nó. Họ không còn nói về sự sụp đổ của một vài loại trái phiếu đơn lẻ nữa. Họ nói về sự sụp đổ của các quốc gia.

Và họ đưa ra một giả thiết mới xuất sắc về đầu tư, đại khái như sau. Từ năm 2002 đã xuất hiện một đợt bùng nổ giả mạo ở nhiều quốc gia giàu có và phát triển. Thứ có vẻ như là sự phát triển kinh tế kỳ thực lại là hành vi của những người đi vay mượn những khoản tiền mà cơ hồ họ không thể trả: theo ước tính sơ bộ của Bass và đồng nghiệp, tổng các khoản nợ của cả khối tư nhân và nhà nước trên thế giới đã tăng hơn hai lần kể từ 2002, từ 84 nghìn tỷ đô-la lên tới 195 nghìn tỷ đô-la. “Lịch sử thế giới chưa từng có mức tích tụ nợ nào như thế này”, Bass nói. Thực ra, các ngân hàng lớn vốn là nguồn cung cấp phần lớn chỗ tín dụng này đã không còn bị coi là thuộc khu vực tư nhân nữa, chúng đã trở thành cánh tay nối dài của các chính phủ sở tại, và chắc chắn chúng sẽ được giải cứu nếu có khủng hoảng. Khoản nợ công của các nước giàu lúc này đã đứng ở ngưỡng cao chí tử, và mỗi lúc một tăng mạnh trong cuộc khủng hoảng. Thế nhưng chúng không còn là khoản nợ công chính thức nữa. Trên thực tế, nó bao gồm các khoản nợ trong nội bộ từng hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia, và các khoản nợ này, trong một cuộc khủng hoảng khác, sẽ được chuyển về cho chính phủ. “Điều đầu tiên mà chúng tôi muốn tìm hiểu”, Bass nói, “là các hệ thống ngân hàng này lớn tới mức nào, nhất là xét trong mối tương quan với thu nhập của các chính phủ. Chúng tôi đã mất khoảng 4 tháng để thu thập dữ liệu. Chẳng ai có con số đó cả”.

Những con số này cộng lại thành một kết quả không khỏi khiến người ta kinh hoàng. Chẳng hạn, Ireland, với mức thâm hụt hàng năm lớn và ngày một gia tăng, đã tích lũy được một món nợ lớn gấp hơn 25 lần nguồn thu hàng năm từ thuế của nước này. Tây Ban Nha và Pháp có mức nợ lớn gấp 10 lần thu nhập hàng năm của họ. Trước đây, những mức nợ chính phủ cao như vậy đã khiến các chính phủ phá sản. “Tôi nghĩ đây là giải pháp duy nhất cho các quốc gia này”, Bass nói. “Trừ khi họ bắt đầu có những khoản dư ngân sách, mà điều đó hẳn là chuyện hoang đường.”

Tuy vậy, anh vẫn băn khoăn không biết mình có bỏ sót điều gì không. “Thế là tôi đi tìm bất kỳ ai có chút hiểu biết về lịch sử vỡ nợ của các chính phủ”, anh nói. Và anh tìm được chuyên gia hàng đầu về vấn đề này, giáo sư Kenneth Rogoff của Harvard. Thật tình cờ, lúc đó vị giáo sư cũng đang cùng cộng sự Carmen Reinhart biên soạn một cuốn sách nói về lịch sử sụp đổ của nền tài chính quốc gia mang tên Lần này thì khác: 8 thế kỷ ngờ nghệch về tài chính.“Chúng tôi đưa cho Rogoff xem các con số”, Bass nói, “Ông ấy chỉ lặng im nhìn chúng, rồi ngả người ra sau ghế và nói: ‘Thật khó lòng mà tin được rằng sự việc lại tồi tệ đến thế này’. Tôi nói: ‘Ông là chuyên gia hàng đầu về việc nghiên cứu báo cáo tài chính của các chính phủ. Ông là điểm đến khi cần giải quyết những rắc rối của chính phủ. Ông từng dạy học ở Princeton cùng với Ben Bernanke. Ông cũng là người mai mối Larry Summers với bà vợ hai sau này của ông ta. Vậy nếu ông còn không biết điều này, thì ai biết?’ Nói rồi tôi nghĩ thầm trong bụng: Trời ạ, không ai thèm bận tâm tới chuyện này hay sao?”

Và thế là giả thuyết mới về đầu tư của Bass ra đời: cơn khủng hoảng thị trường thế chấp dưới chuẩn là triệu chứng, không phải là nguyên nhân. Những vấn đề kinh tế, xã hội ở tầng sâu hơn và là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này vẫn còn đó. Khi các nhà đầu tư mở mắt trước thực tế này, họ sẽ ngừng cái ý nghĩ rằng các chính phủ phì nhiêu của phương Tây hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi rủi ro, và họ sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn khi cho các chính phủ này vay mượn. Khi lãi suất cho vay tăng lên, các chính phủ này sẽ lún sâu hơn vào nợ nần, và tình cảnh này sẽ càng đẩy lãi suất vay dành cho họ tăng cao. Trong một số trường hợp đặc biệt đáng báo động – Hy Lạp, Ireland, Nhật Bản – chỉ cần tăng nhẹ lãi suất cũng đủ để các chính phủ này phải dành trọn ngân sách cho việc trả lãi vay. “Chẳng hạn,” Bass nói, “nếu Nhật phải vay với mức lãi suất của Pháp, thì chỉ riêng gánh nặng lãi suất cũng đủ để làm phá sản cả chính phủ Nhật”. Khi các thị trường tài chính nhận ra được điều này, tâm trạng của giới đầu tư sẽ thay đổi. Khi tâm trạng của giới đầu tư thay đổi, các chính phủ này sẽ vỡ nợ. (“Một khi đã để mất lòng tin, anh sẽ không thể lấy lại được nó nữa. Không thể nữa”). Và sau đó thì sao? Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 chấm dứt chỉ vì những nhà đầu tư tin rằng các chính phủ sẽ vay mượn bất kỳ thứ gì cần thiết để giải cứu các ngân hàng của mình. Điều gì xảy ra khi bản thân các chính phủ cũng không còn đáng tin nữa?

Còn một cuộc khủng hoảng tài chính khác, lớn hơn đang chực chờ bùng nổ − câu hỏi duy nhất trong đầu Kyle Bass chỉ là khi nào mà thôi. Cuối 2008, anh cho rằng Hy Lạp có thể sẽ là quốc gia đầu tiên phá sản, đẩy đồng euro tới chỗ sụp đổ. Anh nghĩ quá trình này có thể diễn ra trong vòng 2 năm, song không thực sự tin tưởng vào con số này. “Giả sử nó kéo dài tận 5 năm”, anh nói. “Cứ cho là nó kéo dài 7 năm đi. Tôi có nên chờ cho tới khi có được chút cơ may ăn chắc nào rồi mới xác định lập trường, hay tôi nên làm điều đó ngay bây giờ? Câu trả lời là ngay bây giờ. Bởi tới khi người người đều tin rằng việc một quốc gia vỡ nợ là khả năng có thể xảy ra, thì cái giá phải trả đã rất đắt. Nếu ngồi chờ, anh sẽ phải trả giá cho sự rủi ro đó”.

Khi chúng tôi gặp nhau, anh vừa mới thực hiện xong những hợp đồng bảo hiểm nợ xấu đầu tiên đối với những quốc gia mà anh cùng nhóm chuyên gia phân tích cho rằng có nguy cơ mất khả năng trả nợ nhất, bao gồm: Hy Lạp, Ireland, Ý, Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha. Anh đánh cược trực tiếp với những đại gia Phố Wall, những công ty mà anh tin rằng chẳng đời nào người ta lại để cho họ sụp đổ – Goldman Sachs, J.P. Morgan, và Morgan Stanley. Tuy vậy, do nghi ngờ khả năng chống trả một đợt khủng hoảng nghiêm trọng hơn của các công ty này, anh đã yêu cầu họ hàng ngày phải công bố tài sản thế chấp của các giao dịch họ thực hiện. Nghĩ lại thì mức phí mà anh phải trả cho hợp đồng bảo hiểm nợ xấu lại rẻ tới mức ngớ ngẩn. Chẳng hạn, món bảo hiểm vỡ nợ của chính phủ Hy Lạp chỉ tiêu tốn của anh 11 điểm cơ bản. Tức là, để bảo hiểm vỡ nợ cho 1 triệu đô-la trái phiếu chính phủ Hy Lạp, Hayman Capital đã trả một khoản phí 1.100 đô-la/năm. Bass cho rằng khi Hy Lạp vỡ nợ − và đây là điều không thể tránh khỏi – quốc gia này sẽ bị buộc phải trả khoảng 70% khoản nợ của mình – tức là với mỗi 1.100 đô-la đặt cược, Bass sẽ thu về 700.000 đô-la. “Người ta không tin chuyện một quốc gia phát triển lại có ngày vỡ nợ, bởi trường hợp đó chưa từng xảy ra”, Bass nói. “Và nó chẳng đem lại lợi lộc gì cho ai nên cũng chẳng ai đoái hoài tới vấn đề này. Ngay cả bản thân giới đầu tư cũng vậy. Họ nhìn chúng tôi và nói: ‘Vâng, các anh đã đúng trong trường hợp thị trường cho vay dưới chuẩn. Nhưng lúc nào các anh cũng chỉ chăm chăm tìm kiếm những trường hợp cực kỳ hiếm hoi như thế, vậy nên các anh mới tưởng rằng chúng hay xảy ra lắm’. Nhưng tôi không có suy nghĩ như vậy. Tôi chỉ cố gắng tìm hiểu cách thức vận hành của thế giới, và ý nghĩ đó đã đến với tôi”. Anh nói tiếp, giờ đây, khi đã hiểu được cách thức vận hành của thế giới, thì anh khó mà tin nổi tại sao những người có đầu óc tỉnh táo lại chẳng động tay làm gì để chuẩn bị đối phó với một cơn thảm họa tài chính khác, lớn hơn. “Có thể đó không phải là ngày tận thế,” anh nói. “Nhưng rất nhiều người đang sắp sửa mất những khoản tiền rất lớn. Mục tiêu của chúng tôi là không trở thành một trong số họ”.

Những lập luận của anh hoàn toàn thuyết phục. Nhưng đồng thời anh cũng là một người thật sự khó tin. Một gã ngồi trong một văn phòng ở Dallas, Texas, lại đi rêu rao những dự đoán càn rỡ về tương lai của những quốc gia mà chưa chắc gã đã có dịp đặt chân đến; vậy thì làm thế quái nào mà gã biết được những con người mà gã chưa từng gặp mặt sẽ hành xử ra sao? Khi nghe anh trình bày các suy nghĩ của mình, tôi gặp lại cái cảm giác vẫn thường xuất hiện mỗi khi tôi lắng nghe những người tỏ ra vô cùng chắc chắn về những điều bấp bênh. Một mặt, tôi bị cuốn vào những lập luận của anh và bắt đầu lo sợ về cái ngày thế giới sẽ sụp đổ; mặt khác, tôi lại ngờ rằng biết đâu anh ta mất trí. “Anh nói hay đấy”, tôi nói, nhưng tôi cũng đã chuẩn bị cho mình một lối thoát. “Nhưng cho dù anh đúng, thì một người bình thường có thể làm gì trước điều đó?”

Bass tròn mắt nhìn tôi như thể vừa bắt gặp một hình ảnh thú vị: kẻ ngu ngốc nhất trên thế giới.

“Anh khuyên mẹ anh ra sao khi bà hỏi anh nên để tiền ở đâu?” tôi hỏi.

“Súng và vàng”, anh trả lời hết sức đơn giản.

“Súng và vàng”, tôi nhắc lại. Vậy thì anh ta đúng là mất trí thật rồi.

“Nhưng không phải là những hợp đồng mua vàng giao sau”, anh nói, chẳng bận tâm tới những suy nghĩ của tôi. “Cái anh cần là những thỏi vàng anh được sờ tận tay”. Theo anh lý giải thì khi cuộc khủng hoảng tiếp theo diễn ra, thị trường vàng giao sau sẽ đóng băng do có nhiều hợp đồng mua bán giao sau hơn là lượng vàng thực tế. Những người vẫn đinh ninh mình có vàng sẽ ngẩn ngơ nhận ra rằng họ chỉ có trong tay mớ giấy lộn. Anh mở ngăn kéo bàn, lôi ra một thỏi vàng lớn đặt lên bàn. “Chúng tôi vừa mua rất nhiều thỏi vàng như thế này”.

Tới lúc này, tôi bật cười gượng và liếc mắt về phía cửa. Tương lai quả thực không hề dễ dự đoán như những người ở Phố Wall vẫn rêu rao với chúng ta. Một người đã từng phỏng đoán chính xác về tương lai như Kyle Bass từng dự đoán trúng phóc về sự sụp đổ của thị trường trái phiếu thế chấp dưới chuẩn có thể dễ dàng tự lừa phỉnh mình rằng anh ta có khả năng đoán đúng về mọi điều phức tạp khác. Dù sao thì lúc đó, vì tôi đang bận tâm tới việc tìm hiểu xem chuyện gì vừa mới xảy ra ở Mỹ nên tôi không quá lo lắng về những chuyện sẽ xảy ra ở phần còn lại của thế giới – mà điều này, khi ấy, dường như lại là một vấn đề nhỏ bé. Còn Bass thì ít nhiều đã giảm sự chú ý tới những gì vừa diễn ra ở Mỹ, bởi anh cho rằng điều sắp xảy ra trên quy mô toàn thế giới còn quan trọng hơn rất nhiều. Tôi cáo từ và rời Dallass, và phần nào quên khuấy Bass. Khi viết cuốn sách, tôi cũng gạt Kyle Bass ra một bên.

Rồi thế giới tài chính lại bắt đầu thay đổi một lần nữa – theo cách gần như giống hệt hình dung của Kyle Bass. Các quốc gia bắt đầu rủ nhau vỡ nợ. Điều ban đầu tưởng như một câu chuyện chủ yếu xoay quanh Phố Wall bỗng chốc trở thành một câu chuyện liên quan tới mọi quốc gia có quan hệ mật thiết với Phố Wall. Tôi đã viết cuốn sách về cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ và những người đã kiếm bạc tỉ từ nó, nhưng tôi cũng bắt đầu đi tới những quốc gia khác, chỉ để xem điều gì đang diễn ra. Nhưng trong đầu tôi lúc nào cũng vang lên câu hỏi: Làm sao một vị quản lý một quỹ đầu cơ ở Dallas lại có thể hình dung ra được những sự kiện lạ lùng đến thế?

Hai năm rưỡi sau, mùa hè năm 2011, tôi trở lại Dallas để hỏi Kyle Bass câu hỏi đó. Các hợp đồng bảo hiểm nợ xấu của Hy Lạp lúc này đã tăng từ 11 điểm cơ bản lên tới 2.300 điểm; và Hy Lạp đang ngấp nghé bờ vực vỡ nợ. Ireland và Bồ Đào Nha vừa lên tiếng xin những gói giải cứu khổng lồ; còn Tây Ban Nha và Ý từ chỗ được coi là những địa điểm an toàn trở thành các quốc gia đang mấp mé bên bờ vực sụp đổ về tài chính. Và sự kiện nổi bật nhất là Bộ Tài chính Nhật Bản sắp cử một phái đoàn tới Mỹ để làm một vòng quanh các quỹ đầu tư trái phiếu lớn như Pimco và BlackRock – họ hy vọng sẽ tìm được ai đó – bất kỳ ai – sẵn lòng bỏ ra nửa nghìn tỷ đô-la để mua các trái phiếu kỳ hạn 10 năm của chính phủ Nhật Bản. “Đây là một kịch bản đầu tư vô tiền khoáng hậu”, Bass nói. “Các hợp đồng lớn nhất của chúng tôi bây giờ là Nhật Bản và Pháp. Nếu và khi các quân cờ domino đổ xuống, thì Pháp sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Tôi chỉ mong rằng Mỹ không sụp đổ trước. Tôi đặt hết số tiền mình có vào ván cược rằng nền kinh tế Mỹ sẽ không sụp đổ. Đó là nỗi lo sợ lớn nhất của tôi. Có thể tôi sai về trình tự mọi việc sẽ diễn ra, nhưng tôi tin chắc vào kết quả cuối cùng”.

Anh vẫn sở hữu hàng đống thỏi vàng và bạch kim vốn đã gần như tăng gấp đôi giá trị, nhưng anh vẫn dè chừng và tiếp tục dự trữ nhiều kho của cải nữa để đề phòng cho điều mà anh dự đoán là sự suy thoái sắp tới của loại tiền định danh. Một ví dụ là những đồng 5 xu (nickel).

“Lượng kim loại trong một đồng nickel trị giá 6,8 xen,” anh nói. “Anh có biết điều đó không?”

Dĩ nhiên là tôi không biết.

“Tôi vừa mới mua 1triệu đô-la đồng nickel”, anh nói, và rồi, chắc đoán được là tôi không biết tính toán, anh nói thêm: “20 triệu đồng nickel”.

“Anh mua 20 triệu đồng nickel?”

“Đúng vậy”.

“Làm sao mà anh mua được 20 triệu đồng nickel vậy?”

“Thực ra thì cũng khó khăn lắm.” Rồi anh kể rằng anh đã phải gọi tới ngân hàng và nài nỉ họ đặt cho anh 20 triệu đồng nickel. Ngân hàng xoay sở mãi cuối cùng cũng được, nhưng Cục Dự Trữ Liên Bang (FED) cũng đặt ra những nghi vấn. “FED chắc đã gọi cho tay nhân viên thực hiện giao dịch cho tôi tại ngân hàng. Họ hỏi anh ta: ‘Tại sao anh lại muốn lấy đống nickel này?’ Thế là anh nhân viên gọi lại cho tôi rồi hỏi: ‘Tại sao anh lại muốn lấy đống nickel này?’ Tôi trả lời: ‘Thực ra chỉ là vì tôi thích những đồng nickel thôi’”.

Anh lôi ra một bức ảnh chụp những đồng nickel của mình rồi đưa cho tôi. Chúng nằm đó, chất đống lên nhau trên những tấm nâng bằng gỗ khổng lồ trong một hầm bảo vệ của hãng Brink ở Dallas.

“Trong 2 năm tới, họ sẽ thay đổi hàm lượng của đồng nickel”, anh nói. “Ngay bây giờ, anh cũng phải gọi tới nhà băng mà đặt mua một ít đồng nickel đi thôi”.

Tôi không cho rằng Kyle Bass là tuýp người thích ngồi quanh quẩn trong văn phòng, mắt dán chặt vào màn hình máy tính. Anh thích cuộc sống đầy biến động. Chúng tôi nhảy vào trong chiếc Hummer của anh, được trang trí bằng những miếng đề can (Chúa Phù hộ Quân đội của chúng ta, nhất là những tay lính bắn tỉa) và thiết kế thì được tùy chỉnh để đem lại niềm vui thích tối đa cho chủ nhân của nó khi ngồi trong đó. Chẳng hạn, anh có thể ấn vào một chiếc nút và, giống hệt như trong bộ phim về James Bond, con đường phía sau lưng anh rải đầy những chiếc đinh đầu bẹt to tướng. Chúng tôi cho xe gầm lên, lao vào vùng nông thôn đồi núi gồ ghề của Texas, nơi mà Kyle Bass, với đống tài sản đồ sộ thu lượm được từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn, đã tậu hẳn một pháo đài: đó là một trang trại rộng 3.716m2 nằm trên hàng nghìn mẫu đất đồng không mông quạnh. Trang trại có hệ thống cấp nước riêng, một kho gồm các loại vũ khí tự động, súng trường, và các quả lựu đạn nhỏ đủ để trang bị cho cả một tiểu đoàn. Tối đó, chúng tôi ngồi sau chiếc xe jeep kiểu Quân đội Mỹ của anh và sục sạo khắp nơi trên lãnh thổ đó, dùng súng trường được trang bị ống nhòm hồng ngoại mới xuất xưởng của Quân đội Mỹ để bắn những con hải ly vốn bị anh coi là mối đe dọa tới các tuyến đường thủy của mình. “Đây là những chất nổ anh có thể đặt mua trên Internet”, anh nói khi chiếc xe đang chồm lên chồm xuống trên các dãy đồi màu vàng. “Đó là một phản ứng phân tử. FedEx có thể chuyển phát nhanh hàng kg những thứ như thế này.” Một vài con hải ly may mắn sống sót sau cuộc thảm sát đêm đầu tiên bằng súng trường sẽ tỉnh dậy vào sáng hôm sau và nhận thấy những chiếc đập của chúng hầu như đã bốc hơi.

Rõ ràng dù làm gì đi chăng nữa, thì anh cũng đang trong tâm trạng vui vẻ. Anh đã dành hai năm rưỡi để chứng kiến cảnh hệ thống tài chính thế giới, và những người vận hành nó, xác thực quan điểm u ám của anh về họ như thế nào. Điều đó không làm anh thất vọng. Anh cảm thấy hào hứng khi suy nghĩ về những sự kiện tưởng chừng như nằm ngoài trí hiểu biết của con người. “Tôi không phải là kẻ chỉ chăm chăm suy nghĩ theo chiều hướng tiêu cực,” anh nói. “Tôi nghĩ đây là điều mà chúng ta cần phải trải qua. Đó là một sự chuộc tội cho những tội lỗi trong quá khứ”.

Một lần nữa, vị quản lý quỹ đầu cơ lại phần nào đúng, và thế giới đã phần nào sai. Đây là thời điểm tốt để nêu lên câu hỏi đã từng ám ảnh tôi suốt hơn hai năm trời. Tôi đã hỏi thẳng anh thế này: Anh là người quản lý một quỹ đầu cơ tỉnh lẻ ở Dallas, Texas; cả đời anh chỉ quanh quẩn sống trong bán kính vài dặm quanh đây. Anh không biết ngoại ngữ nào. Anh hiếm khi bước chân ra khỏi lãnh thổ nước nhà. Anh có lòng yêu nước sâu sắc: mục tiêu từ thiện lớn nhất của anh là những thương binh. Anh gần như không quen ai là người nước ngoài. Vậy thì làm thế nào mà anh lại nảy ra cái ý nghĩ đặt ra những giả thiết này nọ về tương lai tài chính của các quốc gia xa xôi đó?

“Iceland đã khiến tôi nảy ra những ý nghĩ đó”, anh nói. “Tôi vẫn luôn tò mò, quan tâm về Iceland”.

“Tại sao lại thế?”

“Hồi bé anh đã từng chơi trò Bá chủ thế giới chưa?” anh hỏi. “Tôi rất thích trò này. Khi chơi, lúc nào tôi cũng đưa hết quân đội của mình vào Iceland, bởi từ đây anh có thể tấn công bất kỳ ai”.

Chính niềm tin rằng mình có thể tấn công bất kỳ ai từ Iceland đã khiến Kyle Bass có động lực tìm hiểu mọi thứ liên quan tới Iceland, và dành sự chú ý đặc biệt khi có chuyện gì diễn ra ở đó. Chẳng hạn, anh nhận thấy Iceland được các nhà địa lý học coi là đất nước có khả năng đặc biệt để sinh tồn trước những thử thách lâu dài của môi trường. “Chúng ta không ngừng nói rằng, ‘Các ngân hàng này sắp phá sản đến nơi rồi’. Còn chính phủ thì không ngừng giải cứu các ngân hàng”, anh nói. “Và chính vì thế mà Iceland vỡ nợ. Do đó, tôi nghĩ: Chà, thật thú vị. Làm thế nào mà sau cả ngàn năm phát huy đường lối sinh tồn đúng đắn và vượt qua mọi trở ngại của tự nhiên, giờ đây họ lại phạm sai lầm đến thế nhỉ?”

Tôi đã nhận được câu trả lời. Mối quan tâm của Bass bắt đầu từ một trò chơi trên bàn cờ, và nó sẽ kết thúc bằng một trò chơi bàn cờ khác. Và Iceland, một lần nữa, lại là một xuất phát điểm hợp lý.

1. Phố Wall trên lãnh nguyên

Ngay sau ngày 6/10/2008, khi Iceland thực sự phá sản, tôi nói chuyện với một chuyên gia thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa bay tới Reykjavík để thẩm định xem có thể cho một quốc gia vừa mới phá sản một cách ngoạn mục đến thế không vay tiền. Ông này chưa từng đặt chân tới Iceland, hầu như không biết gì về nó, và ông cho biết ông đã phải nhờ đến bản đồ để tìm xem nó ở đâu. Trước giờ, ông chỉ làm việc với các quốc gia nổi tiếng vì nghèo, thường là ở châu Phi, vốn hết vướng phải rắc rối tài chính này lại mắc sang rắc rối tài chính khác. Iceland là một điều hoàn toàn mới mẻ đối với ông: đây là một quốc gia của những con người giàu có (đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng Chỉ số Phát triển Con người năm 2008 của Liên Hợp Quốc), có nền học vấn cao, và sống có lý trí xưa nay. Vậy mà họ đã rủ nhau cùng thực hiện một trong những hành động điên rồ nhất trong lịch sử tài chính. “Anh phải hiểu rằng”, ông nói với tôi, “Iceland giờ đây không còn là một quốc gia nữa. Nó là một quỹ đầu cơ”.

Cả một đất nước chưa từng có kinh nghiệm nhãn tiền hay thậm chí cũng không có lấy một mẩu ký ức xa xôi nào về các giao dịch tài chính quy mô lớn đã nhìn vào Phố Wall mà nói: “Chúng tôi cũng có thể làm được như các anh”. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi thì có vẻ như họ có thể làm được điều đó. Năm 2003, ba ngân hàng lớn nhất của Iceland chỉ có số tài sản trị giá khoảng vài tỉ đô-la, tương đương khoảng 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Trong vòng ba năm rưỡi sau đó, giá trị các tài sản của họ đã tăng lên trên 140 tỉ đô-la, lớn vượt GDP của Iceland đến mức việc tính tỉ lệ số tài sản này trong GDP trở nên vô nghĩa. Theo lời một chuyên gia kinh tế học nói với tôi thì đây là “sự mở rộng hệ thống ngân hàng nhanh nhất trong lịch sử nhân loại”.

Cùng lúc đó, một phần do các ngân hàng này cũng đồng thời cho người dân Iceland vay tiền mua chứng khoán và bất động sản, nên giá trị các cổ phiếu và bất động sản ở Iceland cũng tăng vượt trần. Từ 2003 tới 2007, trong khi giá trị của thị trường chứng khoán Mỹ tăng gấp đôi thì giá trị của thị trường chứng khoán Iceland tăng gấp chín lần. Giá bất động sản ở Reykjavík tăng gấp ba. Một gia đình bình thường ở Iceand năm 2006 giàu có gấp ba lần so với năm 2003, và gần như toàn bộ số tiền của mới có này đều liên quan chặt chẽ, ở hình thức này hay hình thức khác, tới lĩnh vực ngân hàng đầu tư mới xuất hiện. “Người người đua nhau học về Black-Scholes(mô hình định giá)”, Ragnar Arnason, một giáo sư về kinh tế học ngư nghiệp tại Trường Đại học Iceland từng chứng kiến cảnh sinh viên bỏ học ngành kinh tế học ngư nghiệp để chuyển sang ngành kinh tế học tài chính, cho biết. “Các trường chuyên dạy kỹ thuật và toán cũng mở các khóa học về tài chính kỹ thuật. Có hàng trăm, hàng trăm người đua nhau học tài chính”. Đây là quốc gia có diện tích tương đương diện tích bang Kentucky, nhưng có dân số ít hơn thành phố Peoria, Illinois. Peoria không có các thể chế tài chính quy mô toàn cầu, các trường đại học chỉ chuyên đào tạo hàng trăm chuyên gia tài chính, hay có dòng tiền tệ riêng. Nhưng thế giới lại nhìn Iceland bằng con mắt hết sức nghiêm túc. (Hồi tháng 3/2006, hãng tin Bloomberg News giật dòng tít: ÔNG TRÙM TỈ PHÚ ICELAND “THOR” THÁCH THỨC NƯỚC MỸ BẰNG QUỸ ĐẦU CƠ).

Nhưng hóa ra tham vọng tài chính toàn cầu cũng có mặt trái của nó. Khi ba ngân hàng quy mô toàn cầu mới toanh của quốc gia này sụp đổ, 300.000 người dân Iceland chợt nhận ra họ cũng chịu trách nhiệm gánh vác 100 tỉ đô-la trong các khoản thua lỗ của ngân hàng – tính sơ bộ, mỗi người dân Iceland, bao gồm cả nam giới, phụ nữ, và trẻ nhỏ phải chịu khoảng 330.000 đô-la. Không chỉ có thế, cá nhân họ còn thiệt hại hàng chục tỉ đô-la do hoạt động đầu cơ tích trữ ngoại tệ kỳ quặc của mình cũng như (và thậm chí là với phần lớn hơn) do sự sụp đổ của 85% thị trường chứng khoán Iceland. Không thể biết được con số chính xác về lỗ hổng tài chính của Iceland bởi điều này còn phụ thuộc vào giá trị của đồng krona vốn nhìn chung là ổn định, tuy nhiên, đồng tiền này cũng bị sụp đổ và bị chính phủ thu hồi khỏi thị trường. Dẫu vậy, chỉ biết rằng tổn thất là vô cùng lớn.

Ngay lập tức, Iceland trở thành quốc gia duy nhất trên hành tinh này mà người Mỹ có thể dành cho câu nói: “Chí ít thì chúng tôi cũng không làm như thế”. Cuối cùng, tổng số nợ của người Iceland cộng lại bằng 850% GDP nước họ. (Nước Mỹ dù có đang ngập trong nợ nần cũng chỉ đạt mức 350%). Mặc dù vai trò của Phố Wall đã trở nên to lớn và quan trọng một cách phi lý trong nền kinh tế Mỹ, song nó chưa bao giờ phát triển mạnh tới nỗi phần dân số còn lại của nước Mỹ, trong trường hợp bắt buộc, không thể giải cứu nổi cho nó. Còn ở Iceland, mỗi trong số ba ngân hàng lớn của họ đều chịu những tổn thất lớn quá mức khả năng chống đỡ của quốc gia này; tính gộp lại, thì những con số này mất cân đối một cách lố bịch, tới mức vài tuần sau khi nền kinh tế Iceland sụp đổ, khi được hỏi, có tới 1/3 người dân nước này trả lời rằng họ đang tính đến chuyện di cư.

Chỉ trong vòng 3 – 4 năm mà một loại gen kinh tế hoàn toàn mới đã được cấy ghép hoàn hảo vào xã hội vốn ổn định và có nếp sống hòa đồng tập thể này, và loại gen mới này đã chiếm lĩnh toàn bộ chủ thể. “Đó chỉ là một nhóm trẻ con”, vị chuyên gia từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế nói. “Trong xã hội công bằng này, đột nhiên chúng bước vào, vận trang phục đen, và bắt tay vào kinh doanh”.

Chiếc máy bay của Iceland đỗ xuống một khu vực nằm cách phía tây bắc Scotland 500 dặm, sau đó hành khách được taxi chở đến một nhà ga đón khách vẫn còn sơn các logo của Landsbanki – Landsbanki là một trong ba ngân hàng của Iceland đã phá sản, hai ngân hàng còn lại là Kaupthing và Glitnir. Tôi đang cố vắt óc nghĩ cho ra một hình ảnh ẩn dụ cho những khoản tài trợ tài chính doanh nghiệp nay đã chết yểu – gọi nó là phần nước âm ỉ còn lại trong vòi nước sau khi bạn đã khóa van nước lại có được không nhỉ? – nhưng tôi chưa kịp nghĩ thông thì người đàn ông ngồi ở chiếc ghế phía sau tôi đã rướn người lên với tay lấy chiếc túi trong khoang chứa đồ phía trên, và thế là dòng suy nghĩ của tôi bị đứt đoạn. Rồi sau này, tôi sẽ được biết rằng những người đàn ông Iceland, cũng giống như loài nai sừng tấm, loài cừu đực, và các loài động vật có vú có sừng khác, cho rằng những sự sụp đổ này là cần thiết trong cuộc đấu tranh sinh tồn của họ. Tôi cũng sẽ được biết rằng người đàn ông Iceland ngồi phía sau tôi kia là một lãnh đạo cấp cao ở Sàn Giao dịch Chứng khoán Iceland. Nhưng ngay lúc này, tất cả những gì tôi biết là một người đàn ông trung tuổi mặc bộ đồ đắt tiền vừa đứng lên khỏi ghế và vung tay đánh người loạn xạ mà không có lời xin lỗi hay giải thích nào cả. Tôi phải chứng kiến cảnh tượng hiếu khách vô kỷ luật này suốt dọc quãng đường tới chỗ kiểm soát hộ chiếu.

Bạn có thể biết nhiều điều về một dân tộc thông qua việc quan sát sự tử tế họ dành cho nhau lớn hơn so với người ngoại quốc ở nơi nhập cảnh. Nhưng người Iceland lại chẳng phân biệt gì cả. Ở phía trên quầy kiểm soát, người ta treo một tấm biển hấp dẫn với dòng chữ đơn giản: TẤT CẢ CÔNG DÂN. “Tất cả công dân” ở đây không phải là “Tất cả công dân Iceland” mà là “Tất cả công dân của mọi quốc gia”. Chúng tôi là người từ tứ xứ đổ về, nhưng rốt cục đều cùng xếp trong một hàng, chờ tới lượt gặp anh chàng ngồi đằng sau tấm kính. Trước khi bạn kịp thốt lên câu: “Quả là một đất nước lắm mâu thuẫn”, thì anh chàng đó đã qua quít giở tấm hộ chiếu của bạn rồi phẩy tay ra hiệu cho bạn bước qua.

Tiếp theo, chúng tôi đi qua một vùng đá núi lửa đen lấp lánh ánh tuyết. Cảnh tượng có thể không hệt như trên mặt trăng, nhưng nó giống mặt trăng tới nỗi các nhà khoa học của NASA từng có lần dùng nơi đây để các phi hành gia làm quen trước khi bước vào hành trình lên mặt trăng lần đầu tiên. Một tiếng sau, chúng tôi tới Khách sạn 101, do bà vợ của một trong những ông chủ ngân hàng nổi tiếng nhất Iceland nay đã phá sản sở hữu. Khách sạn được đặt cho một cái tên tuy khó hiểu (101 là mã bưu chính của khu vực giàu nhất trong thành phố) nhưng lại có thể nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên là nó được thiết kế theo phong cách của các khách sạn thời thượng ở Manhattan. Nhân viên vận đồ màu đen, những tác phẩm nghệ thuật khó hiểu trên các bức tường, những cuốn sách thời trang chưa từng có bàn tay mở ra đặt trên những chiếc bàn uống cà phê không người ngồi – mọi thứ ở đây, ngoại trừ tờ tạp chí Người Quan Sát New York số mới nhất, đều nhằm tăng thêm căng thẳng cho những gã quê mùa kệch cỡm lỡ lạc bước vào đây. Đây là nơi mà các ông chủ nhà băng lưu lại bởi họ nghĩ đó là nơi sinh sống của các nghệ sĩ. Bear Stearns từng tổ chức một cuộc gặp gỡ với quản lý của các quỹ đầu cơ người Anh và Mỹ ở đây, vào tháng 1/2008, để bàn xem họ sẽ kiếm được bao nhiêu tiền nếu đặt cược vào sự sụp đổ của Iceland. (Con số này là rất lớn). Khách sạn từng một thời đông khách này giờ đây lại trở nên hoang vắng với vỏn vẹn 6 trong số 38 phòng có người thuê. Khu vực ăn uống cũng vắng hoe, cả những chiếc bàn nhỏ và những góc tường xinh xinh từng khiến những người không được vào đây phải tròn mắt ghen tị với những người có cơ hội đó, cũng trống trơn. Một khách sạn bình dân kiểu Holiday Inn phá sản chỉ là chuyện đáng buồn; còn một khách sạn hạng sang kiểu Ian Schrager thì quả thực là một sự đau đớn.

Vì những nhà tài phiệt từng một thời vung tiền thuê phòng ở đây đã vĩnh viễn biến mất, nên tôi được xếp vào ở một căn phòng rộng thênh thang trên tầng thượng, có thể nhìn toàn cảnh thành phố cổ kính, với giá chỉ còn một nửa. Tôi cuộn tròn người trên tấm ga trải giường bằng lụa màu trắng muốt và với tay lấy cuốn sách viết về nền kinh tế của Iceland. Cuốn sách được viết năm 1995, trước lúc cơn điên loạn của ngành ngân hàng nổi lên, khi mà quốc gia này hầu như không biết bán cho thế giới bên ngoài thứ gì ngoại trừ cá tươi. Và trên cuốn sách đó, tôi đọc được câu đáng nhớ này: “Người dân Iceland nghi ngờ vai trò nền tảng của hệ thống thị trường trong tổ chức kinh tế, đặc biệt là những tác động về mặt phân phối của nó”.

Tới đây thì những tiếng động lạ bắt đầu xuất hiện.

Đầu tiên là tiếng va chạm mạnh của khung giường vào tường, theo sau là vô số tiếng kêu rên và tiếng la hét. Cặp vợ chồng ở phòng bên vừa về. Giọng họ mỗi lúc một to nhưng lạ một nỗi, dù tiếng họ có lớn cỡ nào, dù tôi có thể nghe họ rõ tới đâu, thì những từ ngữ đi kèm các âm thanh đó vẫn hoàn toàn không thể hiểu được. Vì khó lòng mà tập trung đọc quyển Ngành ngư nghiệp Iceland được nữa, nên tôi đành tìm cách bắt chước những âm thanh vọng đến phòng tôi. Nhưng khi tôi làm như vậy thì cái lưỡi trong miệng tôi lại có những động tác lạ lùng chưa từng có. Những âm thanh phát ra từ phía bên kia tường nghe có vẻ giống âm thanh của con gia tinh Stoor trong phim Chúa tể của những chiếc nhẫn. Rồi tôi chợt nhận ra: đó là âm thanh của người Iceland.

Rồi một tiếng rít chói tai phát ra từ phía bên kia phòng. Tôi ra khỏi giường để ngó nghiêng tình hình. Là do hơi nóng. Nghe như tiếng ấm đun trà bị để trên bếp quá lâu, đang gồng mình lên để khỏi vỡ tung. Cuối cùng là một tiếng nổ lớn.

Bùm!

Rồi một tiếng nữa.

Bùm!

Do lúc này đang là giữa tháng 12 nên mặt trời mọc vội lúc 10 giờ 50 phút sáng và rồi nhanh chóng lặn lúc 3 giờ 44 phút chiều. Việc mặt trời lặn sớm như vậy dễ khiến bạn tin rằng bạn không thể sống một cuộc sống bình thường. Và cho dù nơi này có là cái gì đi chăng nữa, thì nó cũng thật bất thường. Nhận xét này được củng cố bởi một chàng trai Iceland 26 tuổi – Magnus Olafsson. Mới chỉ cách đây vài tuần, anh ấy còn là người kiếm được gần một triệu đô-la mỗi năm nhờ buôn bán ngoại tệ cho ngân hàng. Cao, tóc vàng bạch kim, và điển trai – Olafsson đúng là hình ảnh khi chúng ta mường tượng đến người Iceland, nhưng như thế cũng có nghĩa là anh trông chẳng giống chút nào so với đa phần người Iceland vốn có mái tóc màu lông chuột và thân hình mập mạp. “Lượng thức ăn mẹ tôi tích trữ đủ để mở một cửa hàng tạp hóa”, anh nói, rồi bổ sung rằng kể từ sau cuộc khủng hoảng, bầu không khí ở Reykjavík trở nên căng thẳng.

Cách đây hai tháng, vào đầu tuần tháng 10, khi thị trường đồng krona dần chết gục, anh len lén rời bàn làm việc để tới chỗ người giao dịch viên và vét lấy tất cả những tờ tiền ngoại tệ mà họ có thể đưa cho anh rồi nhét vào một cái túi. “Ngày hôm đó, ngoài phố đâu đâu cũng thấy người khoác túi đi lại”, anh nói. “Mà từ lâu rồi, người ta không còn thói quen mang túi ra phố nữa”. Sau giờ làm việc, anh về nhà với chiếc túi đựng khoảng 30.000 tiền mặt đủ loại gồm đồng yên, đô-la, euro và bảng Anh, đem giấu trong một chiếc bàn cờ.

Trước tháng 10, những ông chủ nhà băng tên tuổi là những vị anh hùng; giờ đây kẻ thì ở nước ngoài, người thì sống ẩn dật, khép mình. Trước tháng 10, Magnus còn đinh ninh rằng Iceland miễn nhiễm trước mọi nguy hiểm; giờ đây anh mường tượng ra hàng loạt những toán cướp từ nước ngoài đang hăm hở tới nhà anh để giật lấy chiếc “két” dưới bàn cờ − vì lý do đó mà anh không cho phép tôi dùng tên thật của anh ở đây. “Anh phải biết rằng New York rồi cũng sẽ biết về tình hình ở Iceland, và họ sẽ cử những chiếc máy bay chở đầy kẻ cướp tới đây”, anh nêu giả thiết. “Hầu như ai cũng cất tiền dự trữ trong nhà”. Vì anh vốn đã bị mất bình tĩnh nên tôi cũng kể cho anh nghe luôn về những tiếng nổ khiến tôi giật mình khi nghe thấy bên ngoài khách sạn. “Đúng rồi,” anh mỉm cười nói, “dạo này có rất nhiều xe Range Rover bị bắt cháy”. Rồi anh giải thích.

Mấy năm trở lại đây, rất nhiều người dân Iceland cùng lao vào những toan tính đầu cơ mạo hiểm. Do tỉ lệ lãi suất trong nước là 15,5% và đồng krona không ngừng tăng giá trị, nên họ thấy rằng nếu họ muốn mua thứ nằm ngoài khả năng ngân sách của mình, thì cách khôn ngoan là đừng vay đồng krona mà hãy vay đồng Yên và Franc Thụy Sĩ. Với đồng Yên, họ chỉ chịu mức lãi suất 3%, ngoài ra, khi trao đổi ngoại tệ, họ còn kiếm được thêm khá nhiều tiền nữa vì đồng krona không ngừng tăng giá. “Những ngư dân là người phát hiện ra cách buôn bán này, và họ đã rất thành công,” Magnus nói. “Nhưng họ đã kiếm được nhiều tiền từ việc này đến nỗi cuối cùng chuyện tiền nong lại khiến họ bỏ bê cá mú”. Họ kiếm được nhiều tiền tới nỗi việc buôn bán ngoại tệ từ những người ngư dân lan sang cả bạn bè của họ.

Chuyện nghe thật đơn giản: bạn được trả tiền để vay tiền rồi đi mua những ngôi nhà và xe có giá trị. Nhưng, vào tháng 10, sau khi đồng krona sụp đổ, những khoản tiền Yên và Franc Thụy Sĩ mà họ phải trả bỗng chốc trở nên đắt đỏ hơn rất nhiều. Lúc này, có rất nhiều người Iceland – đặc biệt là những người trẻ − sở hữu những ngôi nhà trị giá 500.000 đô-la với số tài sản thế chấp lên tới 1,5 triệu đô-la, và có những chiếc xe Range Rover trị giá 35.000 đô-la và những món nợ lên tới 100.000 đô-la để mua chúng. Với vấn đề về những chiếc Range Rover, có hai giải pháp tức thời. Một là đưa chúng lên tàu chở tới châu Âu rồi xoay sở tìm cách bán chúng đi để lấy về những đồng tiền vẫn còn giá trị. Giải pháp thứ hai là châm lửa đốt chúng rồi đi thu tiền bảo hiểm: Bùm!

Những phiến đá phía dưới Reykjavík có thể là đá núi lửa phun trào, song thành phố lại mang dáng vẻ trầm tích. Tuy nhiên, những tòa tháp ven biển bằng kính được xây dựng dở dang vốn định dành cho những nhà tài phiệt giàu có mới nổi ở đây, đồng thời chắn hết tầm nhìn ra những triền dốc trắng thoai thoải nằm dọc bến cảng thì lại không có được vẻ duyên dáng ấy.

Cách tốt nhất để chiêm ngưỡng một thành phố là đi dạo trong thành phố ấy, nhưng ở đây, chỗ nào tôi đi qua cũng gặp những người đàn ông Iceland xô lấn tôi mà không một lời xin lỗi. Tôi đi tới đi lui ở khu phố mua sắm, cố tình không tránh đường để xem liệu có chàng Iceland nào nhường lối cho tôi thay vì chọn cách huých vào người nhau không. Chẳng có ai cả. Vào những đêm tiệc tùng – tức là các tối thứ Năm, thứ Sáu, và thứ Bảy – khi mà có tới nửa số dân nước này cùng tham gia thực hiện một nghĩa vụ (có vẻ họ cho là vậy), uống đến quên trời quên đất rồi đi dạo phố cho tới khi mặt trời lên, thì lúc này vấn đề trên càng tỏ ra đặc biệt nghiêm trọng. Các quán bar mở cửa tới 5 giờ sáng, và cường độ người ta va chạm vào nhau dường như càng nghiêm trọng hơn. Chỉ trong vòng mấy phút sau khi bước vào một câu lạc bộ đêm có tên Boston tôi đã bị va chạm mạnh, đầu tiên là với một gã hộ pháp râu ria xồm xoàm – người ta cho tôi biết đây từng là chủ một quỹ đầu cơ của Iceland. Khi vừa mới định thần lại, tôi đã bị đẩy ngã quay đơ bởi một chuyên viên cao cấp của Ngân hàng Trung ương lúc này đã say mềm. Có lẽ vì anh ta say, hoặc vì chúng tôi vừa mới gặp nhau cách đó vài giờ, nên anh chàng dừng lại bảo tôi: “Chúng tôi đã cố gắng nói với họ rằng vấn đề của chúng tôi không phải là mất khả năng thanh toán nợ mà là vấn đề về hoạt động, nhưng họ lại không đồng ý”, rồi lại lảo đảo bước đi. Đó cũng chính là điều mà Lehman Brothers và Citigroup đã nói: nếu các ông đưa tiền để hỗ trợ chúng tôi, chúng tôi sẽ vượt qua được chút rắc rối nhỏ này.

Iceland là một quốc gia nhỏ bé và đồng nhất tới nỗi mọi người điều biết rõ về nhau lại mâu thuẫn với cái mà người ta vẫn thường hình dung mỗi khi nghe đến từ “quốc gia” đến mức có lẽ phải dùng một từ phân loại khác cho đất nước này. Nó thực ra giống một đại gia đình hơn là một quốc gia. Chẳng hạn, phần lớn người dân Iceland đều mặc định là thành viên của Nhà thờ Lutheran. Nếu không muốn làm người của giáo hội này nữa, họ phải làm đơn lên chính phủ; mặt khác, nếu họ điền vào một tờ đơn, họ có thể chuyển sang giáo phái của riêng họ rồi nhận được một khoản trợ cấp. Một ví dụ khác: Cuốn danh bạ điện thoại ở Reykjavík chỉ ghi tên riêng, bởi chỉ có khoảng 9 dòng họ ở Iceland, và những cái tên này lại được hình thành từ việc thêm từ “son” hoặc “dóttir” vào sau tên người cha. Thực ra cũng khó mà biết được điều này giúp phân biệt họ ra sao, bởi hình như cũng chỉ có khoảng 9 cái tên riêng ở Iceland. Nhưng nếu muốn để lộ ra là bạn chẳng hiểu mấy về Iceland, thì bạn chỉ cần nhắc đến ai đó có họ tên là Siggor Sigfússon bằng cái tên “Ông Sigfússon”, hay gọi người có họ tên đầy đủ là Kristin Pétursdóttir là “Bà Pétursdóttir”. Trong mọi trường hợp, mọi người xung quanh đều biết bạn đang nhắc tới ai, vì thế bạn chẳng bao giờ phải nghe câu hỏi: “Siggor nào thế?”

Một lợi ích của cuộc sống bên trong một đại gia đình ngụy trang một quốc gia là chẳng cần phải giải thích điều gì, bởi lẽ mọi người đều đã biết tất cả những gì cần phải giải thích, mọi người đều đã biết tất cả những gì cần phải biết. Tôi nhanh chóng nhận ra thậm chí cả việc hỏi đường cũng thường là một việc làm tốn thời gian. Cũng giống như việc bạn phải biết người ta, trong mọi trường hợp, đang nhắc đến Bjornjolfer nào, bạn phải biết mình đang đứng ở chỗ nào trên bản đồ. Tuy nhiên, một người là chủ một ngân hàng chỉ cách đó ba khu nhà – không thể trả lời tôi văn phòng của thủ tướng nằm ở đâu. Có những người sinh sống trong ba khu nhà thuộc Viện Triển lãm quốc gia Iceland – cũng không biết đường tới đó. Khi tôi kể với người phụ nữ trung tuổi đáng mến ngồi sau một chiếc quầy ở Viện Bảo tàng quốc gia rằng hình như không có người Iceland nào biết đường đi tới văn phòng thủ tướng, bà nói: “Chẳng có người nào thực sự biết điều gì về đất nước này cả. Tuần trước có một đoàn học sinh trung học người Iceland tới đây, và người giáo viên bảo chúng nó kể tên một họa sĩ người Iceland thế kỷ XIX. Không một đứa nào biết cả. Có đứa hỏi: ‘Hình như là Halldor Laxness?’” (Laxness giành giải thưởng Nobel Văn học năm 1955 – đây là vinh dự quốc tế lớn nhất mà người Iceland nhận được cho tới thập kỷ 1980, khi hai phụ nữ Iceland liên tiếp thay nhau đoạt danh hiệu Hoa hậu Thế giới).

Trên thế giới hiện nay, nơi đâu cũng bắt gặp những thành phố mang lại cho bạn cảm giác rằng chúng đang bị đặt trên những quả bom. Những quả bom này chưa phát nổ, nhưng kíp nổ đã được tháo, và người ta chẳng thể làm gì để ngăn chặn chúng. Nếu đi dạo quanh Manhattan vào thời điểm trước khi Lehman Brothers sụp đổ, bạn sẽ thấy những cửa hàng vắng tanh, những con phố không bóng người, và thậm chí nếu trời đổ mưa, ngay cả những chiếc taxi cũng vắng khách. Mọi người đã bỏ chạy trước khi quả bom phát nổ. Reykjavík cũng mang bầu không khí của ngày tận thế sắp bắt đầu, nhưng kíp nổ ở đây lại cháy theo một cách rất lạ lùng. Chính phủ yêu cầu các công ty phải trả cho người thôi việc 3 tháng lương trợ cấp thất nghiệp, vì thế mà rất nhiều nhân viên ngân hàng bị nghỉ việc được trả lương cho tới đầu tháng 2, thời điểm chính phủ bị sụp đổ. Đối với hàng loạt các loại tiền tệ khác, đồng krona hiện không còn đáng giá 1/3 so với giá trị của nó thời hoàng kim nhất. Vì Iceland nhập khẩu mọi thứ trừ nhiệt độ và cá, nên giá cả của mọi thứ vào thời điểm giữa tháng 12 đang ngấp nghé tăng vọt. Một người bạn mới quen làm việc cho chính phủ kể với tôi rằng khi cô bước vào một cửa hàng để hỏi mua một chiếc đèn, người bán hàng nói anh ta đã bán đi những chiếc đèn cuối cùng, đồng thời ngỏ ý đặt hàng giúp cô, từ Thụy Sĩ, với giá gần gấp ba mức giá cũ.

Tuy nhiên, một xã hội vừa mới bị phá hủy với tốc độ chớp nhoáng như vậy trông không có vẻ gì quá khác biệt so với trước đó, thời điểm mà xã hội đó vẫn còn tin rằng nó giàu có hơn bao giờ hết. Ngân hàng Trung ương Iceland là một ví dụ. Gần như chắc chắn, Iceland sẽ lấy euro làm loại tiền chính thức, và krona sẽ không còn tồn tại nữa. Nếu không có nó, một ngân hàng Trung ương đâu còn cần phải duy trì tính ổn định của loại tiền sở tại và kiểm soát lãi suất. Bên trong đất nước này, David Oddsson, kiến trúc sư của sự phát triển và sụp đổ của Iceland, đang lòng sôi như lửa đốt. Quay trở lại hồi những năm 1980, Oddsson như nằm dưới bàn tay bùa chú của Milton Friedman, nhà kinh tế học xuất sắc, người có khả năng thuyết phục ngay cả những người đã dành cả đời làm việc cho chính phủ tin rằng chính phủ là một sự lãng phí của cuộc đời. Vì thế Oddsson lên đường theo đuổi công cuộc trao cho người dân Iceland tự do – tự do ở đây theo ý của ông là thoát khỏi mọi sự kiểm soát của chính phủ. Trên cương vị thủ tướng, ông cho hạ thuế suất, tư nhân hóa các ngành công nghiệp, tự do hóa thương mại, và cuối cùng, vào năm 2002, tự do hóa ngân hàng. Rốt cuộc, mệt mỏi vì vai trò thủ tướng, ông tìm cách đưa mình vào vị trí thống đốc Ngân hàng Trung ương, dù rằng ông không hề có kinh nghiệm gì về ngân hàng, ông xuất thân là một nhà thơ.

Sau sự sụp đổ của Iceland, vị học trò của Milton Friedman trốn trong văn phòng của mình tại ngân hàng, từ chối mọi yêu cầu phỏng vấn. Các vị quan chức cấp cao của chính phủ đã nói với tôi, một cách nghiêm túc, rằng họ đồ rằng trong suốt thời gian đó ông đã ngồi viết thơ. (Tới tháng 2/2009, ông ta sẽ bị chính phủ yêu cầu bãi nhiệm). Tuy thế, nhìn bề ngoài, Ngân hàng Trung ương Iceland vẫn là một thánh đường đen duyên dáng trên nền trắng của những bờ dốc đứng chạy ngang qua hải cảng. Những người đàn ông trông dáng vẻ tỉnh táo vẫn ra vào. Những cậu bé trên những chiếc xe trượt tuyết lao thẳng xuống bờ dốc bên cạnh đó, chẳng hề quan tâm rằng chúng đang chơi ở giữa điểm bùng nổ của thảm họa toàn cầu. Mọi thứ vẫn y nguyên như trước cuộc khủng hoảng, dù rằng chúng không thể khác hơn được nữa. Dây ngòi đang cháy tới gần phía quả bom.

Khi Neil Armstrong đặt chân ra khỏi phi thuyền Apollo 11 và nhìn xung quanh, hẳn ông đã nghĩ: Chà, trông thật giống Iceland – mặc dù mặt trăng khác xa Iceland. Nhưng khi đó, ông là một du khách, mà một du khách thì không thể nào không có những quan niệm méo mó về nơi ông ta đến thăm: ông ta gặp những con người không tiêu biểu, có những trải nghiệm không tiêu biểu, và cố ép uổng vào nơi ấy những hình dung siêu tưởng ông ta có sẵn trong đầu khi tới đó. Khi Iceland trở thành một du khách trong thế giới tài chính nhộn nhịp toàn cầu, nó cũng gặp rắc rối tương tự như Neil Armstrong. Người Iceland là giống người có quan hệ cận huyết nhất trên trái đất – các nhà di truyền học thường sử dụng họ để nghiên cứu. Họ đã cư trú trên hòn đảo xa xôi của mình trong 1.100 năm mà không có những cuộc mua lại dựa trên vay nợ (LBO), những cuộc thôn tính thù địch, các giao dịch buôn bán chứng khoán phái sinh, hay thậm chí là những vụ lừa đảo tài chính quy mô nhỏ. Rồi, vào năm 2003, khi họ cùng ngồi bàn với Goldman Sachs và Morgan Stanley, họ chỉ có trong đầu những ý tưởng mơ hồ về công việc của một ngân hàng thương mại và cách cư xử của ngân hàng đó – phần lớn những ý tưởng đó được cóp nhặt lẻ tẻ từ những hiểu biết của các thanh niên Iceland tại nhiều trường dạy kinh doanh của Mỹ. Vì thế những gì mà họ làm với đồng tiền hé lộ nhiều điều về linh hồn Mỹ − khoảng năm 2003 – cũng như về người dân Iceland. Chẳng hạn, họ hiểu ngay rằng tài chính không mấy liên quan tới việc xây dựng những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả mà lại thiên về hoạt động buôn bán những mẩu giấy nhỏ giữa người trong giới với nhau. Và khi cho vay tiền, họ không chỉ góp sức cho doanh nghiệp mà còn chu cấp cho bạn bè và gia đình có thể mua và sở hữu những thứ giống hệt như những ông chủ ngân hàng đầu tư thực thụ: khu chung cư cao cấp Beverly Hills, các đội bóng đá nước Anh và các cửa hàng bách hóa, các hãng hàng không Đan Mạch và các công ty truyền thông, các ngân hàng Na-uy, các nhà máy điện Ấn Độ.

Đó là bài học về tài chính lớn nhất của Mỹ mà người dân Iceland học nằm lòng: tầm quan trọng của việc mua càng nhiều tài sản càng tốt bằng những đồng tiền vay mượn, bởi lẽ giá tài sản chỉ có tăng mà thôi. Tới năm 2007, người dân Iceland sở hữu khối tài sản nước ngoài lớn gấp khoảng 50 lần so với năm 2002. Họ mua máy bay riêng và sắm những ngôi nhà thứ ba, ở London và Copenhagen. Họ móc túi trả những khoản tiền khổng lồ để mua những dịch vụ mà ở Iceland trước đó không ai hình dung nổi là có ngày họ lại cần những dịch vụ như thế. “Một anh chàng tổ chức tiệc sinh nhật đã mời Elton John bay tới hát 2 bài với giá 1 triệu đô-la”, người đứng đầu Phong trào Xanh-Cánh tả, Steingrimur Sigfusson, kể cho tôi nghe, khuôn mặt vẫn còn nguyên vẻ khó tin. “Và rõ ràng điều đó thật không hay chút nào”. Họ mua cổ phiếu của các công ty mà họ chẳng có lấy một chút thông tin gì về chúng, và họ chỉ tay sai việc những người điều hành các công ty đó, hệt như những ông chủ các ngân hàng đầu tư Mỹ thực thụ! Chẳng hạn, một công ty đầu tư có tên FL Group, một cổ đông lớn tại ngân hàng Glitnir, mua 8,25% cổ phần tại công ty mẹ của hãng hàng không Mỹ, American Airlines. Không một ai trong nội bộ FL Group có kinh nghiệm điều hành một hãng hàng không; hay chút ít kinh nghiệm từng làm việc cho một hãng hàng không. Nhưng thực tế đó không ngăn được FL Group tiếp tục dạy American Airlines cách điều hành một hãng hàng không. “Sau khi giám sát chặt chẽ công ty trong một thời gian,” CEO của FL Group, Hannes Smarason, từng tốt nghiệp trường Sloan School của MIT (Viện Công nghệ Massachusetts), nói trong một cuộc họp báo được tổ chức không lâu sau khi ông này mua cổ phần của American Airlines, “đề xuất của chúng tôi là tiền tệ hóa các loại tài sản… điều đó có thể làm giảm nợ nần hoặc mang lợi tức về cho các cổ đông”.

Người Iceland cũng không đặc biệt kỹ tính khi chọn mua tài sản. Tôi đã có lần nói chuyện với chủ một hãng đầu cơ ở New York. Cuối năm 2006, hãng này phát hiện ra cái mà họ coi là một mục tiêu dễ ăn: một ngân hàng Scandinavi đang trên đà suy yếu. Họ chọn đoản vị, và rồi, Kaupthing bất ngờ xuất hiện, mua 10% cổ phần trong doanh nghiệp chỉ còn thoi thóp này, và đẩy giá cổ phiếu của họ lên tới những mốc cao một cách lố bịch. Tôi nói chuyện với chủ một quỹ đầu cơ khác ở London và được biết quỹ này, vì cảm thấy quá khó hiểu trước hàng loạt những vụ LBO tồi tệ mà các ngân hàng Iceland đang đứng sau hậu thuẫn đến nỗi họ đã phải thuê cả những nhà điều tra tư để tìm hiểu xem điều gì đang diễn ra trong hệ thống tài chính của Iceland. Các nhà điều tra đã đưa ra một biểu đồ miêu tả chi tiết một mạng lưới phức tạp gồm các cá nhân có mối quan hệ đan xen nhau, nhưng đơn giản hóa lại sẽ là: một nhóm người Iceland không hề có kinh nghiệm gì về tài chính đã và đang rút ra hàng chục tỉ đô-la tiền vay ngắn hạn từ nước ngoài. Sau đó, họ dùng số tiền này cho bản thân và bạn bè vay để mua các loại tài sản – các ngân hàng, các đội bóng đá, v.v… Nhờ giá trị các loại tài sản trên toàn thế giới đều đang gia tăng – một phần nhờ vào những người như những gã khùng Iceland này chịu mua chúng với những mức giá điên rồ − nên có vẻ như họ đang kiếm bộn tiền. Tuy nhiên, một vị quản lý quỹ đầu cơ khác lại giải thích về hiện tượng các ngân hàng Iceland cho tôi như sau: anh có một con chó, còn tôi có một con mèo. Cả hai chúng ta cùng thống nhất rằng mỗi con đáng giá 1 triệu đô-la. Anh bán cho tôi con chó với giá 1 triệu đô, còn tôi thì bán cho anh con mèo với giá 1 triệu đô. Lúc này, chúng ta không còn là những người sở hữu thú cảnh nữa mà sẽ trở thành các ngân hàng Iceland với khối tài sản mới trị giá 1 tỉ đô-la. “Họ đã tạo ra lợi nhuận giả bằng cách trao qua đổi những tài sản với giá trị bị thổi phồng”, quản lý một quỹ đầu cơ ở London nói. “Đây chính là cách phát triển của các ngân hàng và các công ty đầu tư. Nhưng họ chỉ là những võ sĩ hạng nhẹ trên các thị trường quốc tế”.

Ngày 3/2, Tony Shearer, cựu CEO của một ngân hàng bán buôn có tên Singer & Friedlander, đã cho chúng ta thấy được chút ít nội tình Iceland khi ông xuất hiện trước một ủy ban Hạ viện để trình bày về sự lạ lùng của ông khi bị một ngân hàng Iceland mua lại.

Singer & Friedlander được thành lập từ năm 1907 và một trong những điều khiến họ nổi tiếng là mang lại cho George Soros điểm khởi đầu của một sự nghiệp lẫy lừng. Tháng 11/2003, Shearer biết được rằng Kaupthing – ông thậm chí còn không biết rằng cái tên này tồn tại – đã chiếm 9,5% cổ phần trong ngân hàng của mình. Thông thường, khi một ngân hàng muốn thâu tóm một ngân hàng khác, họ sẽ phải tìm cách thu thập chút ít thông tin về ngân hàng đó. Shearer đề nghị gặp chủ tịch của Kaupthing, Sigurdur Einarsson, song Einarsson không tỏ ra mặn mà trước lời đề nghị này. Khi Kaupthing nâng mức cổ phần lên 19,5%, Shearer buộc phải lên máy bay đi Reykjavík để xem những người Iceland quái quỷ này là ai. “Họ thật lạ lùng”, ông nói với ủy ban Hạ viện nọ. “Họ điều hành hoạt động kinh doanh của mình theo một cách rất kỳ quặc. Mọi người ở đó đều còn rất trẻ. Tất cả đều đến từ một cộng đồng ở Reykjavík. Và họ không mảy may biết mình đang làm gì”.

Ông kiểm tra các báo cáo thường niên của Kaupthing và phát hiện ra những điều rất kỳ khôi; chẳng hạn, cái ngân hàng quốc tế khổng lồ này chỉ có một thành viên duy nhất trong ban lãnh đạo không phải là người Iceland. Tất cả các giám đốc ở đó đều có hợp đồng làm việc 4 năm, và ngân hàng đã cho họ vay 19 triệu bảng để mua cổ phiếu của Kaupthing cùng các quyền chọn bán lại các cổ phiếu này cho ngân hàng với một mức lợi nhuận được bảo đảm. Hầu như toàn bộ số lợi nhuận mà ngân hàng này công bố họ có đều do họ đẩy cao giá các tài sản trước đây họ đã mua với mức giá bị bơm phồng. “Số lợi nhuận thực sự đến từ cái mà tôi gọi là hoạt động ngân hàng chỉ chiếm chưa đầy 10%”, Shearer cho biết.

Nếu đây là một thế giới có lý trí thì hẳn các nhà chức trách Anh đã ngăn không cho đám tài phiệt mới người Iceland ăn tươi nuốt sống ngân hàng bán buôn lâu đời của Anh quốc. Tuy nhiên, giới chức Anh lại phớt lờ lá thư Shearer gửi tới họ. Một năm sau đó, vào tháng 1/2005, ông nhận được một cuộc điện thoại từ hội đồng kiểm soát tiếp quản Anh. “Họ muốn biết”, Shearer kể lại, “tại sao giá cổ phiếu của chúng tôi lại tăng mạnh trong mấy ngày qua. Thế là tôi bật cười và trả lời: ‘Tôi nghĩ chính ông rồi cũng sẽ tìm ra nguyên nhân nằm ở chỗ ông Einarsson, chủ tịch Kaupthing, đã nói cách đây 2 ngày – như một tên đần – rằng ông ta chuẩn bị kế hoạch mua lại Singer & Friedlander’”. Tháng 8/2005, Singer & Friedlander trở thành Kaupthing Singer & Friedlander, còn Shearer từ chức vì, theo lời ông nói, ông lo sợ những gì có thể xảy đến với danh tiếng của mình nếu tiếp tục ở lại. Đúng như dự đoán, tháng 10/2008, Kaupthing Singer & Friedlander phá sản.

Mặc dầu tất cả những biến cố đó, khi Tony Shearer bị Hạ viện ép phải miêu tả rằng những người Iceland đó chỉ là những kẻ tứ cố vô thân, ông đã từ chối. “Tất cả họ đều là những con người có học thức”, ông nói với giọng không giấu nổi vẻ ngạc nhiên.

Đây là một điểm lặp lại nữa của Iceland đối với mô hình Mỹ. Tất cả mọi người – không một ai trong số đó là người Iceland – đều ra sức nói với họ rằng họ đang gặp rắc rối. Đầu năm 2006, chẳng hạn, một nhà phân tích có tên Lars Christensen cùng ba đồng nghiệp tại Danske Bank, ngân hàng lớn nhất Đan Mạch, đã viết một bản báo cáo nói rằng hệ thống tài chính của Iceland đang tăng trưởng với tốc độ điên rồ và sẽ gặp thảm họa. “Thực sự đúng là chúng tôi đã viết bản báo cáo đó bởi chúng tôi lo sợ rằng các khách hàng của mình đang ngày càng trở nên quan tâm quá mức tới Iceland”, ông nói với tôi. “Iceland là điểm thái cực của mọi thứ”. Sau đó Christensen bay tới Iceland để diễn thuyết củng cố cho quan điểm của mình, tuy nhiên, sự có mặt của ông lại được chào đón bằng sự giận dữ. “Các ngân hàng Iceland cho đó là sự công kích cá nhân”, ông kể lại. “Người ta dọa kiện chúng tôi. Họ nói: ‘Các ông là người Đan Mạch, và đang ghen tức với Iceland bởi chúng tôi đang làm mọi việc một cách quá xuất sắc’. Về cơ bản, mọi việc đều liên quan tới những gì đã xảy ra năm 1944”, khi Iceland tuyên bố thoát khỏi ách cai trị của Đan Mạch. “Phản ứng của họ không phải là, “Những gã này biết đâu lại đúng”, mà là, “Không phải! Đó là một âm mưu. Chúng có những động cơ ám muội”. Lũ Đan Mạch đang ghen tị!

Bản báo cáo của Danske Bank đánh thức các quỹ đầu cơ ở Anh trước một cơ hội: bán khống Iceland. Họ điều tra và phát hiện ra một mạng lưới sủng ái lẫn nhau một cách khó tin như sau: các ngân hàng mua bán trao đổi với nhau các loại tài sản với mức giá bơm phồng, vay mượn hàng chục tỉ đô-la rồi cho các thành viên trong cộng đồng Iceland bé nhỏ của họ vay lại, và những người này lại dùng số tiền đó để đi mua hàng đống tài sản nước ngoài. “Giống như bất kỳ một kẻ mới xuất hiện nào,” Theo Phanos, làm việc tại quỹ đầu cơ Trafalgar Asset Managers ở London, nói, “họ là đối tượng tấn công của rất nhiều người, người ta bán cho họ những tài sản có chất lượng tồi – những hãng hàng không hạng hai, những nhà bán lẻ quy mô nhỏ. Họ tham gia vào tất cả những thương vụ LBO tồi tệ nhất”.

Nhưng các nhà lãnh đạo Iceland, từ vị thủ tướng trở xuống, đều tấn công viên sứ giả. “Những vụ tấn công ấy… sặc mùi của những tay lái buôn tàn nhẫn, và chúng đã quyết định đâm nhát dao chí tử làm sụp đổ hệ thống tài chính Iceland”, chủ tịch Ngân hàng Trung ương Oddsson nói vào tháng 3/2009. Chủ tịch Kaupthing đã công khai chỉ tên điểm mặt 4 quỹ đầu cơ mà ông cho rằng có chủ ý phá hoại thành tựu tài chính kỳ diệu của Iceland. “Tôi không hiểu những người Iceland đó lấy ý tưởng này ở đâu ra”, Paul Ruddock thuộc Lansdowne Partners, một trong những cái tên trong danh sách kia, cho biết. “Chúng tôi chỉ giao dịch với 1 cổ phiếu của Iceland có một lần, mà đó lại là một vụ giao dịch rất ngắn hạn. Chúng tôi đã khởi kiện đối với chủ tịch Kaupthing sau khi ông ta có những lời cáo buộc thiếu cơ sở như vậy chống lại chúng tôi, và sau đó, ông ta cũng xin rút lại lời nói của mình”.

Một trong những nguyên nhân chìm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay là những người biết rằng nó sẽ đến lại có thể trục lợi qua những phi vụ bán non hơn là tìm cách công bố thực trạng vấn đề. Hơn nữa, phần lớn những ai có thể đủ tin cậy để cáo buộc Iceland về các tội danh tài chính – trong trường hợp này là Lehman Brothers – thì ý kiến của họ đều sẽ bị gạt đi và bị đánh giá là những kẻ moi tiền ngu ngốc. Tuy nhiên, quay trở lại hồi tháng 4/2006, Bob Aliber, một vị giáo sư danh dự khoa kinh tế học tại Trường Đại học Chicago đã lưu tâm đến Iceland. Aliber tới Trường Kinh doanh London để nghe một bài nói chuyện về Iceland, đất nước mà ông chưa hề hay biết. Ngay lập tức, ông đã nhận thấy những dấu hiệu. Khi đào sâu nghiên cứu các dữ liệu, ông nhận thấy ở Iceland những đường nét rõ ràng của một hành vi điên rồ về tài chính có một không hai trong lịch sử, tới nỗi cần phải đưa nó vào sách. “Bong bóng Hoàn hảo”, Aliber gọi sự phát triển tài chính của Iceland như vậy, rồi ông bắt tay vào triển khai cuốn sách của mình – đây là phiên bản cập nhật của cuốn sách kinh điển năm 1978 của Charles Kindleberger, Điên rồ, Hoảng loạn, và Sụp đổ. Aliber hiện đang biên tập phiên bản mới. Năm 2006, trong cuốn sách của mình, ông quyết định Iceland cũng sẽ được dành riêng một vị trí, cùng với Bong bóng biển Nam Ấn và Cơn sốt hoa tulip, mặc dầu lúc đó, Iceland chưa hề sụp đổ. Đối với ông, sự sụp đổ thực sự chỉ còn là sự công nhận chính thức mà thôi.

Trong giới kinh tế Iceland lan truyền một tin đồn rằng vị giáo sư khả kính ở Chicago này đã có sự lưu tâm đặc biệt đến Iceland. Tháng 5/2008, Aliber được khoa kinh tế học Trường Đại học Iceland mời tới diễn thuyết. Trước các thính giả là các sinh viên, lãnh đạo ngân hàng, và các nhà báo, ông đã giảng giải rằng Iceland, mặc dầu không hề là một tài năng bẩm sinh đối với hoạt động tài chính quy mô lớn, đang có đầy đủ những dấu hiệu của một bong bóng khổng lồ; song ông lại trình bày bằng thứ ngôn ngữ chuyên ngành của các nhà kinh tế học hàn lâm. (“Sự xáo động về tiền tệ và Nền kinh tế Iceland” – đó là tên bài diễn thuyết của ông). Trong phần hỏi đáp sau đó, khi người ta nhờ ông dự đoán về tương lai, thì ông mới quay trở lại dùng những ngôn từ rõ ràng, dễ hiểu. Một khán giả nhớ lại lời nói của Aliber khi đó: “Tôi cho các vị 9 tháng. Các ngân hàng của các vị đã chết rồi. Các ông chủ ngân hàng của các vị hoặc là ngu ngốc hoặc là tham lam. Và tôi cược rằng ngay lúc này đây, họ đang ở trên máy bay, đang ra sức bán tài sản của mình”.

Các lãnh đạo ngân hàng Iceland có mặt trong buổi diễn thuyết đó tìm cách ngăn không cho báo chí đăng tải bài diễn thuyết. Một số học giả gợi ý rằng Aliber nên trình những phân tích đáng báo động này tới Ngân hàng Trung ương Iceland. Nhưng vì một lý do nào đó, điều này đã không xảy ra. “Ngân hàng Trung ương nói họ quá bận, không thể tiếp ông ấy được”, một trong những giáo sư từng cố gắng thu xếp cuộc gặp trên nói, “bởi lúc đó họ còn đang bận chuẩn bị bản Báo cáo về sự ổn định tài chính”. Về phần mình, Aliber rời Iceland với ý nghĩ rằng vì ông đã gây ra một sự khuấy động như thế, nên có thể ông sẽ không được phép đặt chân vào đất nước này nữa. “Tôi có cảm giác”, ông nói với tôi, “lý do duy nhất khiến họ đưa tôi đến đó là họ cần có một người bên ngoài lên tiếng về những điều này – một người trong cuộc sẽ không hé răng nửa lời, bởi anh ta sợ sẽ chuốc lấy rắc rối”. Tuy vậy, ông vẫn hết lòng yêu thích những vị chủ nhà của mình. “Họ là những con người hiếu kỳ”, ông vừa cười vừa nói. “Tôi cho rằng đó mới là vấn đề, có phải vậy không?”

Những người dân Iceland – hay nói đúng ra là những người đàn ông Iceland – có cách giải thích riêng về lý do tại sao khi nhảy vào thị trường tài chính toàn cầu, họ lại phá vỡ mọi kỷ lục thế giới: đó chính là sự ưu việt tự nhiên của người Iceland. Bởi họ là một quốc gia nhỏ bé và bị cô lập, nên họ − và cả thế giới nữa – đã phải mất tới 1.100 năm để tìm hiểu và khai thác những tài năng tự nhiên của họ, nhưng giờ đây thế giới đã phẳng, và dòng tiền đã được chảy tự do, nên những bất lợi không công bằng cũng biến mất. Tổng thống Iceland, Olafur Ragnar Grimsson, trong những bài diễn thuyết của mình tại nước ngoài đã lý giải tại sao người Iceland lại là những thiên tài ngân hàng. “Di sản cha ông để lại cộng với sự đào tạo, nền văn hóa và thị trường nội địa, tất cả đã đem lại cho chúng tôi một lợi thế giá trị”, rồi ông bắt đầu liệt kê ra 9 lợi thế đó, và kết thúc bài diễn thuyết bằng sự trấn an rằng đối với người ngoài, người Iceland hoàn toàn không đáng sợ. (“Có người thậm chí còn cho rằng chúng tôi là những gã kỳ quặc quyến rũ và vô hại”.) Có rất, rất nhiều lối diễn đạt tương tự, và phần lớn đều bằng tiếng Iceland. “Có nhiều dự án nghiên cứu ở trường đại học nhằm lý giải tại sao mô hình kinh doanh của Iceland lại mang tính ưu việt”, Gylfi Zoega, chủ tịch khoa kinh tế học, nói. “Tất cả lý do nằm ở chỗ các kênh truyền thông phi chính thức của chúng tôi và khả năng ra quyết định nhanh chóng của chúng tôi, v.v…”

“Lúc nào người ta cũng nói với chúng tôi rằng các doanh nhân Iceland là những người nhạy bén”, giáo sư tài chính, giảng viên đại học kiêm cựu ông chủ nhà băng, Vilhjálmur Bjarnason, nói. “Họ rất nhanh nhẹn. Và khi mua cái gì, họ mua được rất nhanh. Lý do thường là vì người bán rất hài lòng với mức giá họ nhận được”.

Bạn không cần phải là người Iceland mới có thể tham gia vào thánh giáo của các ông trùm nhà băng Iceland. Các ngân hàng Đức đặt 21 tỉ đô-la vào các ngân hàng Iceland. Người Hà Lan đưa họ 305 triệu đô-la, và người Thụy Điển rót 400 triệu đô-la. Các nhà đầu tư Anh quốc, bị chói mắt trước khoản lợi tức thường niên ấn tượng 14%, nộp 30 tỉ đô-la – trong đó, 28 tỉ đô-la là tiền đóng góp từ các công ty và cá nhân, phần còn lại lấy từ các quỹ lương hưu, bệnh viện, trường đại học, và các tổ chức công khác. Riêng trường Đại học Oxford mất 50 triệu đô-la.

Có lẽ vì có quá ít người Iceland trên thế giới, nên chúng ta gần như không biết gì về họ. Chúng ta tưởng rằng họ ít nhiều giống những người Scandinavia – một dân tộc ôn hòa, chỉ muốn mọi người được bình đẳng. Nhưng họ lại không phải như vậy. Họ có một chút hoang dã trong con người mình, giống như một con ngựa chỉ đang giả vờ bị thương.

Sau ba ngày ở Reykjavík, có lẽ do tình cờ, tôi nhận được hai cuộc điện thoại. Cuộc đầu tiên là của một nhà sản xuất chương trình truyền hình hàng đầu. Theo lời bà giới thiệu thì mọi người dân Iceland đều xem chương trình của bà, rồi bà hỏi ướm xem tôi có muốn đến và tham gia phỏng vấn không.

“Phỏng vấn về cái gì?” tôi hỏi.

“Chúng tôi muốn nghe ông lý giải về cuộc khủng hoảng tài chính của chúng tôi”, bà nói.

“Tôi mới chỉ ở đây được 3 ngày!” tôi nói.

Không vấn đề gì, bà nói, bởi chẳng ai ở Iceland hiểu chuyện gì vừa xảy ra cả. Họ thích nghe ai đó lên tiếng lý giải nó, dù rằng có khi bản thân người nói cũng chẳng biết mình đang nói cái gì. Và điều này, theo tôi giả thiết, cho thấy không phải cái gì ở Iceland cũng khác biệt so với những nơi khác. Khi tôi từ chối lời mời đó thì một cuộc gọi khác lại đến, từ văn phòng ngài thủ tướng.

Thủ tướng Iceland khi đó, ông Geir Haarde, cũng là người đứng đầu Đảng Độc lập, đảng đã lãnh đạo đất nước này từ năm 1991 tới năm 2009. Đảng này lãnh đạo trong sự liên minh lỏng lẻo với Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Tiến bộ. (Đảng lớn thứ tư của Iceland là Phong trào Xanh-Cánh tả). Việc một quốc gia vỏn vẹn 300.000 dân cùng chung huyết thống lại cần tới 4 đảng phái chính trị lớn cho thấy quốc gia này hoặc có khiếu tranh cãi hoặc không ai muốn lắng nghe ai. Dù vậy, trong số 4 đảng, Đảng Độc lập thể hiện niềm tin lớn nhất vào thị trường tự do. Đảng Độc lập là đảng của những ngư dân. Theo lời một người bạn học cũ của ngài thủ tướng nói với tôi, “Nó cũng đồng thời là toàn đàn ông, đàn ông và đàn ông. Chẳng có một bóng dáng phụ nữ nào trong đó”.

Khi bước chân vào tổng hành dinh nhỏ xíu của ngài thủ tướng, tôi những tưởng rằng mình sẽ bị chặn lại và kiểm tra, hay chí ít cũng bị yêu cầu trình ảnh nhận dạng. Thế nhưng tôi lại thấy duy nhất một người cảnh sát ngồi sau bàn lễ tân, chân gác lên bàn đọc báo. Anh chàng liếc mắt trông lên, vẻ chán nản. “Tôi tới đây để gặp ngài thủ tướng”, đó là lần đầu tiên trong đời tôi nói câu đó. Anh cảnh sát không hề ngạc nhiên. Bất kỳ ai ở đây đều có thể gặp ngài thủ tướng. Nửa tá người sẵn sàng cho tôi biết rằng một trong những lý do khiến người Iceland nghĩ rằng họ sẽ được nghiêm túc nhìn nhận với tư cách những nhà tài phiệt toàn cầu là vì mọi người dân Iceland đều cảm thấy mình quan trọng. Và một lý do khiến tất cả họ đều cảm thấy mình quan trọng bởi ai cũng có thể tới gặp ngài thủ tướng vào bất kỳ thời điểm nào họ thích.

Ngài thủ tướng có thể nói gì với người dân Iceland về sự sụp đổ của họ, đó là một câu hỏi bỏ ngỏ. Một sự thiếu kinh nghiệm tài chính thật đáng yêu ở những người hoạch định chính sách tài chính ở Iceland. Ngài bộ trưởng bộ kinh doanh là một nhà triết học. Ngài bộ trưởng Bộ Tài chính là một bác sĩ thú y. Vị thống đốc Ngân hàng Trung ương là một nhà thơ. Haarde, tuy vậy, lại là một nhà kinh tế học được đào tạo bài bản – tuy không quá xuất sắc. Khoa kinh tế học trường Đại học Iceland xếp loại ông là sinh viên hạng B trừ. Với tư cách là một nhóm, các lãnh đạo Đảng Độc lập nổi tiếng là những người không am hiểu về tài chính và cũng không chịu sử dụng những chuyên gia trong lĩnh vực này. Jon Danielsson, giáo sư người Iceland chuyên nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng tài chính dạy tại Trường Kinh tế London, đã có lần ngỏ ý muốn giúp đỡ, song lời đề nghị của ông lại bị từ chối với thái độ khinh khỉnh. Một số chuyên gia tài chính nổi tiếng tại Trường Đại học Iceland cũng gặp tình cảnh tương tự. Thậm chí lời khuyên của những lãnh đạo cực kỳ thông minh của những Ngân hàng Trung ương các quốc gia lớn cũng bị tảng lờ. Có thể dễ dàng hình dung rằng Đảng Độc lập và vị thủ tướng của nó không phải là tuýp người hấp dẫn phụ nữ Iceland: họ chính là gã lái xe đưa cả gia đình đi lòng vòng chỉ để tìm một địa điểm quen thuộc nhưng mặc kệ vợ cằn nhằn, gã không chịu dừng xe để hỏi đường.

“Tại sao ông lại quan tâm tới Iceland?” ngài thủ tướng lên tiếng hỏi khi ông bước vào phòng với dáng vẻ mạnh mẽ và uy quyền của người đứng đầu một nước lớn. Và đó là một câu hỏi hay.

Về sau tôi nhận ra rằng ông không hẳn là một gã ngu – mà những lãnh tụ chính trị nào có mấy ai khờ khạo đâu, dầu rằng nhân dân, những người đã tự tay đi bỏ phiếu cho họ, thường vẫn đinh ninh rằng sự thực là phải thế. Đúng là ông có nói những điều sai sự thật, song đó chỉ là những lời nói dối vô hại mà các vị thủ tướng vẫn thường được thuê để nói. Chẳng hạn, ông nói rằng đồng krona tiếp tục là một đồng tiền ổn định, trong khi thực tế, nó không trao đổi được trên thị trường quốc tế. Đồng krona đơn thuần chỉ được chính phủ ấn định cho một giá trị ngẫu nhiên vì những mục đích đặc biệt nào đó. Những người Iceland sống ở nước ngoài đã nhận thấy một điều là họ không nên sử dụng thẻ Visa, vì sợ bị tính toán theo tỉ giá ngoại hối thực, bất kể ngoại hối đó là gì.

Vị thủ tướng muốn tôi tin rằng ông đã nhìn thấy cuộc khủng hoảng đang hình thành ở Iceland nhưng ông lại không thể làm gì để ngăn nó lại. (“Chúng tôi không thể công khai lên tiếng về nỗi lo sợ của mình về các ngân hàng, bởi lẽ như thế sẽ tạo ra điều mà ai cũng muốn tránh: sự hoảng loạn”.) Ngầm hiểu ra thì người có lỗi không phải là những chính trị gia như ông mà là những nhà tài phiệt. Ở cấp độ nào đó, người dân đồng ý với quan điểm này: vị điều hành tập đoàn đầu tư Baugur từng bị ném tuyết vào người khi ông này vội vã lao từ Khách sạn 101 vào chiếc limo; vị điều hành Ngân hàng Kaupthing xuất hiện ở Nhà hát Quốc gia và khi ngồi xuống, ông bị la ó phản đối. Nhưng hầu hết những vị tai to mặt lớn đều đã chạy khỏi Iceland tới London, hoặc đóng cửa nằm nhà, để mặc cho vị thủ tướng tội nghiệp gánh vác hết trách nhiệm và đối mặt với cơn giận dữ của những người biểu tình, do nhà hoạt động kiêm ca sĩ hát dân ca Hordur Torfason dẫn đầu, thường tụ tập vào các cuối tuần phía bên ngoài Quốc hội.

Haarde có câu chuyện riêng để kể, và ông kiên trì bám lấy nó: những người nước ngoài đã tin cẩn trao tiền cho Iceland, và Iceland đã sử dụng tiền rất khôn ngoan, nhưng rồi, vào ngày 15/09/2008, Lehman Brothers phá sản nên những người nước ngoài vì hoảng sợ mà đòi rút tiền về. Iceland sụp đổ không phải vì sự bất cẩn của họ mà vì một cơn sóng thần toàn cầu. Vấn đề của câu chuyện này nằm ở chỗ nó không giải thích được tại sao cơn sóng thần đó lại ập vào Iceland mà không phải là quốc gia khác, như Tonga chẳng hạn.

Nhưng tôi không tới Iceland để tranh luận mà để tìm hiểu. “Tôi có một vài điều rất muốn hỏi ông”, tôi nói.

“Vâng, tôi nghe đây?”

“Có đúng là ông vừa nói với người dân rằng đã tới lúc ngưng các hoạt động ngân hàng và đi đánh cá?”

Một cuộc đối thoại tuyệt vời, tôi nghĩ. Ngắn gọn, trung thực, và thẳng thắn. Nhưng thông tin đó tôi lại lấy từ nguồn khác, từ vị quản lý một quỹ đầu cơ ở New York. Vị thủ tướng nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt nghiêm nghị pha chút khó chịu. “Đó hoàn toàn là một sự phóng đại”, ông nói.

“Tôi nghĩ điều đó cũng hợp lý đấy chứ”, tôi nói với vẻ bồn chồn.

“Tôi chưa bao giờ nói như thế!”

Rõ ràng là tôi đã chạm vào dây thần kinh của ông, nhưng tôi không biết là dây thần kinh nào. Phải chăng ông sợ rằng câu nói đó sẽ khiến ông trông như một gã ngốc? Hay ông vẫn cho rằng nghề đánh bắt cá kém cao quý hơn so với nghề ngân hàng?

Cuối cùng, tôi quay trở lại khách sạn, và nhận thấy – lần đầu tiên trong 4 đêm ở đấy – không còn vỏ chai sâm-panh rỗng nào bên ngoài cánh cửa phòng hàng xóm của mình. Cặp đôi người Iceland mà tôi tưởng tượng rằng họ đang có buổi tiệc cuối cùng đã thu xếp hành lý ra về. Suốt 4 đêm, tôi đã phải nghe những tiếng la thét inh tai của họ phát ra từ phía bên kia tường khách sạn; giờ đây, tất cả đều im ắng. Tôi đã có thể cuộn tròn mình trên giường với quyển sách “Lý thuyết kinh tế của nguồn tài sản chung: ngành ngư nghiệp”. Theo một cách nào đó, tài sản của người Iceland đến từ cá, và nếu bạn muốn tìm hiểu xem họ đã làm gì với số tiền mình kiếm được, trước tiên hãy tìm hiểu xem làm sao mà họ lại đặt chân vào đó đã.

Công trình xuất sắc này được H. Scott Gordon, nhà kinh tế học thuộc trường Đại học Indiana, viết vào năm 1954. Nó mô tả về tình cảnh của các ngư dân, đồng thời tìm cách lý giải “tại sao ngư dân lại không giàu, mặc dù hải sản của biển cả là nguồn tài nguyên giàu có nhất, và khó bị phá hủy nhất mà con người có thể tiếp cận được.” Vấn đề là, do cá là tài sản chung của tất cả mọi người, nên chúng không phải thuộc sở hữu của bất kỳ ai cả. Mọi người có thể bắt bao nhiêu cá tùy thích, vì thế người ta đã đánh bắt cá tới mức độ mà nghề đánh cá trở nên không còn khả năng sinh lợi nhuận nữa – đối với mọi người. “Trong tinh thần mỗi ngư dân đều chứa một hy vọng về ‘mẻ lưới may mắn’, Gordon viết. “Như những người hiểu rõ về các ngư dân có thể làm chứng, họ là những tay bạc và họ lạc quan một cách bướng bỉnh”.

Những ngư dân, nói cách khác, rất giống các ông trùm ngân hàng đầu tư người Mỹ. Sự tự tin thái quá dẫn họ tới chỗ làm khánh kiệt không chỉ bản thân họ mà cả ngư trường của họ. Hạn chế lượng cá được phép đánh bắt không thể giải quyết được vấn đề này; ngược lại, nó sẽ chỉ càng làm gia tăng mức độ cạnh tranh và làm giảm lợi nhuận. Vấn đề không phải là bắt các ngư dân phải chi tiêu quá tay để mua thêm lưới hay những chiếc thuyền lớn hơn. Mục tiêu ở đây là làm sao để bắt được lượng cá lớn nhất với nỗ lực ít nhất. Để đạt được điều đó, cần phải có sự can thiệp của chính phủ.

Sự hiểu biết này đã đưa Iceland đi từ vị trí một trong những quốc gia nghèo nhất châu Âu năm 1900 lên vị trí một trong những quốc gia giàu nhất năm 2000. Thay đổi lớn của Iceland bắt đầu từ đầu thập niên 1970, sau một vài năm thất bát của ngành ngư nghiệp. Trong hai năm liên tiếp, những ngư dân giỏi nhất quay trở về mà không kéo theo những mẻ lưới đầy ắp cá tuyết và cá êfin như thường lệ, vì thế chính phủ Iceland đã có một hành động cấp tiến: tư nhân hóa ngành đánh bắt cá. Mỗi ngư dân được cấp một hạn mức đánh bắt dựa vào khối lượng cá anh ta thu được trước đó. Nếu bạn là một ngư dân Iceland cừ khôi, bạn sẽ nhận được tờ công văn cho phép bạn đánh bắt 1% − giả sử vậy − tổng lượng cá được phép đánh bắt tại các hải phận của Iceland trong mùa đánh bắt đó. Trước mỗi mùa cá, các nhà khoa học ở Viện Hải dương học sẽ xác định tổng lượng cá tuyết hay cá êfin có thể được đánh bắt mà không gây tổn hại tới sức khỏe lâu dài của đàn cá; lượng cá bạn được phép đánh bắt thay đổi theo từng năm. Nhưng tỉ lệ sản lượng hàng năm là cố định, và tờ công văn này cho phép bạn đánh cá mãi mãi.

Một tin còn tốt hơn nữa là, nếu không muốn đánh bắt cá, bạn có thể bán hạn mức của mình cho người khác. Lúc này, hạn mức đánh bắt sẽ được chuyển cho những người có thể khai thác giá trị tối đa của chúng – tức những ngư dân giỏi; họ có thể đánh bắt cá từ biển với hiệu suất tối đa. Bạn cũng có thể mang hạn mức của mình tới ngân hàng, lấy đó làm vật thế chấp để vay, và ngân hàng sẽ không ngần ngại tính toán giá trị bằng đô-la của phần bạn có được trong tổng lượng cá được phép đánh bắt – và bạn không phải chịu sự cạnh tranh nào – từ những ngư trường cá tuyết giàu có nhất trên trái đất. Những con cá không chỉ đã được tư nhân hóa, mà chúng đã được chứng khoán hóa.

Điều này bất công một cách thậm tệ: một nguồn tài nguyên công cộng – những con cá trên biển Iceland – đã bị chuyển vào tay một nhóm người may mắn. Chẳng mấy chốc, ở Iceland đã xuất hiện những tỉ phú đầu tiên, và tất cả đều là ngư dân. Nhưng với vai trò một chính sách xã hội, đó lại là sáng kiến thiên tài: ngay lập tức, những con cá đã trở thành một nguồn tài sản có thực và bền vững, chúng không còn là phương tiện kiếm ăn nay được mai mất. Ít người hơn tiêu hao ít công sức hơn để bắt đủ lượng cá cho phép nhằm tối đa hóa giá trị lâu dài của các ngư trường Iceland. Nguồn tài sản mới đã làm thay đổi bộ mặt Iceland – và đưa đất nước này từ vị trí lạc hậu mà nó đã yên vị trong suốt 1.100 năm qua thành đất nước đã sinh ra nữ ca sĩ Björk. Sở dĩ Iceland trở nên nổi tiếng với các nhạc sĩ bởi người dân Iceland giờ đây đã có thời gian chơi nhạc, và làm những việc khác. Chẳng hạn, thanh niên Iceland được trả tiền khi đi du học, và được khuyến khích trau dồi bản thân theo những cách thú vị. Vì chính sách ngư nghiệp đã làm chuyển biến Iceland nên quốc gia này, trên thực tế, đã trở thành một cỗ máy biến những con cá tuyết thành các vị tiến sĩ.

Nhưng điều này, dĩ nhiên, lại đem đến một rắc rối mới: những người có học vị tiến sĩ không muốn bắt cá kiếm sống. Họ cần làm điều gì đó khác.

Mà điều gì đó khác ấy có lẽ sẽ không phát huy hiệu quả trong một nền công nghiệp khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên chính khác của Iceland: năng lượng. Những thác nước và những dòng dung nham nóng chảy sản sinh ra nguồn năng lượng rẻ tiền khổng lồ; nhưng, khác với dầu mỏ, người ta lại không thể xuất khẩu nguồn năng lượng này để kiếm lãi. Vậy là nguồn năng lượng của Iceland bị mắc kẹt tại Iceland, và nếu như có điều gì đó nên thơ về ý tưởng nguồn năng lượng bị mắc kẹt, thì cái cách mà người dân Iceland chấp nhận vấn đề đó cũng thật tẻ nhạt. Họ tự hỏi: Chúng ta có thể làm điều gì để đòi hỏi từ nguồn năng lượng khổng lồ, khiến người khác phải trả tiền cho chúng ta? Câu trả lời là: nhôm tan chảy.

Hãy để ý rằng không ai hỏi: Người dân Iceland muốn làm gì? Hay thậm chí: Người dân Iceland đặc biệt phù hợp với công việc gì? Không ai nghĩ rằng người Iceland có thể có năng lực bẩm sinh ở ngành nung tan chảy nhôm, và thực ra, điều ngược lại được chứng minh là đúng. Alcoa, công ty nhôm lớn nhất đất nước, năm 2004 đã gặp phải hai vấn đề chỉ riêng Iceland mới có khi chuẩn bị xây dựng nhà máy nung nhôm tan chảy khổng lồ. Vấn đề thứ nhất là cái gọi là những người giấu mình – hay nói chính xác hơn là những chú lùn. Một bộ phận đông đảo người dân Iceland, do thấm nhuần nền văn hóa dân gian phong phú của dân tộc, thực tâm tin tưởng vào sự tồn tại của giống người này. Trước khi xây dựng nhà máy nung nhôm tan chảy, Alcoa phải đồng ý để một chuyên viên chính phủ tới rà soát địa điểm xây dựng nhà máy và xác nhận rằng không có người lùn nào ẩn nấp ở đó. Đó là một tình huống nhạy cảm trong kinh doanh, một phát ngôn viên của Alcoa nói với tôi như vậy, bởi họ đã phải trả tiền mặt để được tuyên bố rằng khu nhà xưởng đó không có người lùn ở; song, theo lời ông này nói thì, “với tư cách là một công ty, chúng tôi không thể thừa nhận sự tồn tại của giống người lùn”. Vấn đề thứ hai, nghiêm trọng hơn, liên quan tới những người đàn ông Iceland: họ gánh nhiều rủi ro lao động hơn công nhân ngành nhôm ở các quốc gia khác. “Trong sản xuất”, phát ngôn viên Alcoa nói, “anh muốn mọi người phải tuân thủ nguyên tắc. Anh không muốn họ trở thành những người hùng. Anh không muốn họ tìm cách sửa chữa thứ gì đó nằm ngoài phạm vi công việc của họ, bởi biết đâu họ lại phá hỏng cả nhà máy”. Những người đàn ông Iceland rất hay cố gắng tìm cách sửa chữa những thứ không phải việc của họ.

Nếu đứng nhìn nền kinh tế Iceland từ xa, hẳn bạn sẽ không thể không nhận ra một điều hết sức lạ lùng: người dân ở đó đã dưỡng dục bản thân đến cái ngưỡng khiến họ không còn phù hợp với loại hình công việc xung quanh họ. Những con người tinh tế, có học thức hoàn hảo này – ai cũng cho rằng mình là người đặc biệt – chỉ có hai cách kiếm sống khủng khiếp: đánh bắt cá và làm tan chảy nhôm. Dĩ nhiên cũng có một vài công việc mà bất kỳ con người lịch lãm, có học thức cũng có thể thích làm. Chẳng hạn như công việc xác nhận rằng giống người lùn không tồn tại. (“Công việc này đòi hỏi ít nhất 6 tháng, vì đó là một việc làm rất khó khăn”). Tuy nhiên, những công việc như thế này không có nhiều để có thể đáp ứng nhu cầu của Iceland, nếu xét đến tài năng biến cá tuyết thành các vị tiến sĩ của họ. Tới đầu thế kỷ XX, người dân Iceland vẫn ngồi đợi một công việc phù hợp với đầu óc tinh tế của họ.

Và thế là ngành đầu tư ngân hàng xuất hiện.

Lần thứ năm trong những ngày có mặt ở đây, tôi nhận thấy một sự căng thẳng nhẹ tại mỗi bàn ăn có sự hiện diện của cả những người đàn ông và phụ nữ Iceland. Người nam giới thể hiện xu hướng chung của cánh mày râu là không nói chuyện với phụ nữ − hay đúng hơn, không đưa họ vào trong các cuộc nói chuyện – ngoại trừ những động cơ tình dục rõ rệt. Nhưng đó không phải là vấn đề. Quan sát những người đàn ông và phụ nữ Iceland khi ở cạnh nhau cũng giống như quan sát lũ trẻ đang độ tuổi tập đi. Họ không chơi cùng mà chơi song song với nhau; họ ít có điểm chung gắn bó hơn so với nam và nữ giới ở các quốc gia phát triển khác, mà điểm này nói lên một điều rất quan trọng. Trên giấy tờ, đối chiếu theo các tiêu chuẩn toàn cầu trong lịch sử, phụ nữ Iceland cũng có nhiều quyền lợi như phụ nữ ở bất kỳ đâu: họ được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe tốt, chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động, có những quyền bình đẳng. Cái mà phụ nữ Iceland có vẻ còn thiếu – ít ra là trong con mắt của một du khách từng quan sát họ suốt 10 ngày – là mối liên hệ thực thụ với những người đàn ông Iceland. Đảng Độc lập hầu như chỉ có nam giới tham gia; Đảng Dân chủ Xã hội lại chỉ thấy bóng dáng phái nữ. (Ngày 01/02/2009, khi vị thủ tướng bị nguyền rủa Geir Haarde bãi nhiệm, người thay thế ông là Johanna Sigurdardottir, một người thuộc Đảng Dân chủ Xã hội, và như vậy, Iceland không chỉ có được vị nữ thủ tướng đầu tiên mà đó còn là vị nguyên thủ quốc gia đồng tính công khai đầu tiên của thế giới đương đại – bà lập gia đình với một phụ nữ khác). Mọi người ở đây đều biết nhau, nhưng khi tôi hỏi xin họ các đầu mối thông tin, thì những người đàn ông giới thiệu cho tôi những người đàn ông khác, còn những người phụ nữ thì chỉ tôi gặp những người phụ nữ khác. Trong trường hợp này chẳng hạn, tôi đã hỏi một người đàn ông, anh ta liền giới thiệu tôi gặp Stefan Alfsson.

Với dáng vẻ rắn rỏi và cương nghị, bộ râu lởm chởm do lâu ngày chưa cạo, Alfsson trông vẫn giống một vị thuyền trưởng tàu đánh cá hơn là một nhà tài phiệt. Anh đi biển từ năm 16 tuổi, và khi không phải mùa cá, anh lại đến trường để học về cá. Anh được phong làm thuyền trưởng một tàu đánh cá Iceland ở độ tuổi trẻ đáng ngạc nhiên – 23 tuổi – và, theo lời những người đàn ông khác nói với tôi, anh được coi như một thiên tài đánh bắt cá, tức là anh có khả năng bắt đủ hạn mức cá tuyết và cá êfin trong khoảng thời gian ngắn nhất. Thế nhưng, vào tháng 1/2005, anh bỏ nghề đánh cá để gia nhập phòng trao đổi tiền tệ của Landsbanki. Anh đầu cơ vào các thị trường tài chính trong gần hai năm, cho tới khi cuộc thảm sát trong giới tài chính diễn ra vào tháng 1/2008; thời điểm đó, anh – cùng với tất cả những người Iceland tự gọi mình là “thương nhân” – bị sa thải. Theo lời anh, công việc của anh là bán cho người khác, trong đó chủ yếu là các ngư dân đồng nghiệp của anh, cái mà anh tưởng là một khoản đầu cơ bất bại: vay tiền yên với mức lãi suất 3% rồi dùng chúng để mua tiền kronur Iceland, sau đó đem số tiền kronur này đi đầu tư với mức lãi suất 16%. “Tôi nghĩ chọn lấy ai đó làm trong ngành đánh bắt cá rồi đào tạo anh ta về cách buôn bán tiền tệ sẽ dễ hơn là chọn người trong ngành ngân hàng rồi dạy anh ta học cách đánh bắt cá”, anh nói.

Tiếp theo, anh giải thích việc đánh cá không đơn giản như tôi tưởng. Trước tiên, đó là một công việc đầy rủi ro, nhất là đối với những người đàn ông Iceland. “Anh không muốn có những tên ẻo lả trong đoàn”, anh nói, đặc biệt là khi các vị thuyền trưởng người Iceland vốn nổi tiếng về cách bắt cá điên rồ của họ. “Tôi từng có một đoàn thuyền viên gồm những gã người Nga”, anh nói, “vấn đề không phải họ lười biếng, nhưng người Nga lúc nào cũng duy trì một tốc độ không đổi”. Khi gặp bão, họ sẽ ngừng đánh bắt, bởi điều đó quá nguy hiểm. “Người Iceland lại có thể bắt cá trong mọi hoàn cảnh”, Stefan nói, “họ bắt cá cho tới khi không thể bắt được cá nữa mới thôi. Họ thích đón nhận những rủi ro. Nếu đi quá xa, xác suất may mắn sẽ không còn đứng về phía anh nữa. Tôi đã 33 tuổi, và đã có 2 người bạn của tôi bỏ mạng ngoài biển khơi”.

Anh phải mất nhiều năm đào tạo để có thể trở thành một vị thuyền trưởng, và thậm chí điều đó cũng chỉ có thể xảy ra nhờ may mắn. Khi 23 tuổi và là một người chỉ huy trên tàu, vị thuyền trưởng của chiếc tàu đánh cá lại bỏ cuộc. Người chủ sở hữu chiếc tàu cá đi tìm người thay thế anh, và gặp một ngư dân lão làng, lúc đó đã nghỉ hưu, vốn là một huyền thoại trong giới ngư dân Iceland – một con người tuyệt vời có tên Snorri Snorasson. “Tôi đi hai chuyến với ông ấy”, Stefan nói. “Trong đời tôi chưa bao giờ ngủ ít đến thế, bởi quá háo hức muốn học hỏi ông. Tôi ngủ 2 – 3 tiếng mỗi đêm vì tôi ngồi tiếp chuyện ông. Tôi vô cùng tôn trọng ông – thật khó mà nói được hết những gì ông đã dạy tôi. Tầm vươn của con tàu. Góc lưới hiệu quả nhất. Phải hành động ra sao trên biển khơi. Nếu gặp phải một ngày tồi tệ, anh cần làm gì? Khi đánh cá ở độ sâu thế này, anh phải làm sao. Nếu cách làm đó không hiệu quả, anh sẽ mò xuống sâu hơn nữa hay mở rộng tầm giăng lưới? Có quá nhiều điều ấn tượng. Trong khoảng thời gian này, tôi đã học được nhiều điều hơn những gì đã được học ở trường. Bởi lẽ, làm sao anh có thể đến trường để học đánh cá?”

Cuộc đào tạo tuyệt vời đó vẫn còn hiện rõ trong tâm trí, như thể anh vừa mới trải nghiệm nó ngày hôm qua, và ý nghĩ về nó giăng một màn sương trên đôi mắt anh.

“Anh đã có 7 năm học đến từng chi tiết nhỏ nhất trong ngành đánh bắt cá trước khi có cơ hội học hỏi từ vị thuyền trưởng vĩ đại đó phải không?” Tôi hỏi.

“Đúng vậy”.

“Và thậm chí như vậy, anh vẫn phải ngồi dưới chân người thầy vĩ đại này trong nhiều tháng để rồi anh mới có được cái cảm giác rằng anh biết mình đang làm gì?”

“Đúng”.

“Vậy thì tại sao anh lại nghĩ mình có thể trở thành một nhân viên ngân hàng và tham gia đầu cơ vào các thị trường tài chính mà không hề có lấy một ngày đào tạo nào?”

“Câu hỏi hay đấy”, anh nói. Anh suy nghĩ một chút. “Đây là lần đầu tiên trong buổi tối này tôi không tìm được lời nào để nói”. Vì tôi cũng thường cho rằng mình biết chính xác bản thân đang làm gì trong khi thực tế không phải như vậy, nên tôi thấy thông cảm với anh.

“Công việc chính xác của anh là gì?” tôi lên tiếng hỏi để đưa anh ra khỏi tình huống khó xử đó. Bắt rồi thả hiện đang là chính sách nhân đạo ở Iceland.

“Ban đầu, tôi là…” – lúc này anh bắt đầu bật cười – “một cố vấn cho các công ty chuyên đầu cơ tiền tệ. Nhưng vì bản tính háo thắng nên tôi ngày càng lún sâu vào hoạt động đầu cơ”. Nhiều khách hàng của anh là ngư dân, các công ty đánh bắt cá, và họ − cũng như anh – đều đã học được rằng nếu không liều lĩnh, anh sẽ chẳng bắt được con cá nào. “Những vị khách hàng này chỉ quan tâm đến ‘đầu cơ’ nếu điều đó có nghĩa là kiếm được tiền”, anh nói, và cười phá lên.

“Anh có thích ngành ngân hàng không?” tôi hỏi.

“Tôi chưa bao giờ tôn trọng những người làm trong ngành ngân hàng cả”, anh vừa nói vừa thở hổn hển sau trận cười. “Cho tới bây giờ, một trong những câu châm ngôn tôi ưa thích là: đừng bao giờ tin lời các tay làm ngân hàng”.

Nếu nhìn lại, một người Iceland từng trải qua 5 năm vừa qua có lẽ sẽ không khỏi tự đặt cho mình một vài câu hỏi. Chẳng hạn: Tại sao Iceland lại đột nhiên trở nên quan trọng tới vậy trong nền tài chính toàn cầu? Hay: Tại sao các cường quốc từng là nơi phát minh ra hệ thống ngân hàng hiện đại lại đột nhiên cần tới các ngân hàng Iceland làm trung gian giữa những người gửi tiền và những người vay tiền của họ − để quyết định xem ai được vay tiền, ai không? Và: Nếu người dân Iceland có năng khiếu bẩm sinh khó tin này với các vấn đề tài chính, tại sao họ lại giấu nó kỹ đến thế trong suốt 1.100 năm? Chí ít, ở một nơi mà mọi người đều biết rõ nhau, bạn hẳn cũng sẽ tưởng rằng vào cái lúc mà Stefan Alfsson bước chân vào ngân hàng Landsbanki thì sẽ có tới cả chục người nói với anh: “Này Stefan, anh là một ngư dân cơ mà!” Nhưng họ lại không làm thế. Và thật ngạc nhiên là tới lúc này, họ cũng không làm thế. “Nếu quay trở lại ngành ngân hàng”, anh chàng đánh cá tuyết người Iceland nói, lúc này gương mặt hoàn toàn nghiêm túc, “tôi sẽ làm cho khối ngân hàng tư nhân”.

Quay trở lại năm 2001, khi bong bóng Internet vỡ, tạp chí Quarterly Journal of Economics của MIT đăng tải một bài viết thú vị, “Con trai vẫn sẽ là con trai: Giới tính, Tự tin thái quá, và Đầu tư cổ phiếu phổ thông”. Các tác giả bài viết, Brad Barber và Terrance Odean, được tiếp cận với hoạt động giao dịch tại trên 35.000 hộ gia đình, và họ so sánh điều đó với thói quen của đàn ông và phụ nữ. Phát hiện của họ, nói một cách ngắn gọn, là đàn ông không chỉ buôn bán giao dịch nhiều hơn phụ nữ mà họ còn làm điều đó xuất phát từ một niềm tin phi thực tế vào năng lực phán xét tài chính của bản thân. Đàn ông độc thân giao dịch bất cẩn hơn đàn ông đã có gia đình, và đàn ông đã có gia đình giao dịch bất cẩn hơn phụ nữ độc thân: sự hiện diện của phụ nữ càng ít, thì cách thức giao dịch trên thị trường càng bất cẩn.

Một trong những đặc điểm riêng biệt về cuộc khủng hoảng ở Iceland, và Phố Wall, là phụ nữ đóng rất ít vai trò trong đó. Phụ nữ cũng tham gia làm việc trong lĩnh vực ngân hàng, nhưng không làm những công việc yêu cầu nhiều rủi ro. Theo tôi được biết, trong suốt cơn bùng phát của Iceland, chỉ có duy nhất một phụ nữ nắm giữ vị trí cao cấp trong một ngân hàng Iceland. Tên bà là Kristin Pétursdóttir, và tới năm 2005, bà được thăng chức làm phó CEO của Kaupthing tại London. “Thị trường tài chính có nền văn hóa nam trị”, bà nói. “Nền văn hóa này khá cực đoan. Đó là một hồ đầy những con cá mập. Phụ nữ ghê tởm nền văn hóa đó.” Pétursdóttir vẫn yêu thích ngành tài chính. Bà chỉ không thích cách những người đàn ông Iceland thực hiện với ngành này, vì thế, vào năm 2006, bà từ chức. “Mọi người nói tôi có vấn đề”, bà nói, nhưng bà muốn gây dựng một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính được điều hành hoàn toàn bởi phụ nữ, để − theo lời bà nói – “mang lại nhiều giá trị nữ quyền hơn tới thế giới tài chính”.

Hiện nay, doanh nghiệp của bà là một trong số ít ỏi các doanh nghiệp tài chính làm ăn có lãi còn lại ở Iceland. Sau khi sàn giao dịch chứng khoán sụp đổ, tiền chảy như lũ đến. Chẳng hạn, một vài ngày trước khi chúng tôi gặp nhau, một buổi sáng sớm, bà nghe tiếng gõ thình thình vào cửa trước. Bà mở cửa thì thấy một ông lão dáng nhỏ thó. “Tôi chán ngán với cả cái hệ thống này”, ông nói. “Tôi chỉ muốn có người phụ nữ nào quản lý tiền bạc giúp tôi”.

Chính với câu chuyện đó trong đầu mà tôi bước vào Bảo tàng Saga trong buổi chiều cuối cùng tôi ở Iceland. Mục đích khi xây bảo tàng này là nhằm tôn vinh các Sagas – tức các thiên sử thi ra đời trong thế kỷ XII – XIII của người Iceland – nhưng hiệu ứng mà các mô hình có kích cỡ thật lại khiến bảo tàng này trông có vẻ như một chương trình truyền hình thực tế hiện tại. Không phải những bức tượng được chạm khắc từ silicone mà là những người Iceland cổ xưa thực sự − hay đúng ra là các diễn viên mang tạo hình người Iceland cổ − và những tiếng kêu thét rùng mình phát ra từ hệ thống loa: một giám mục đạo Thiên chúa có tên Jón Arason với chiếc đầu bị chặt; một kẻ dị giáo có tên Sister Katrin bị thiêu trên giàn; quang cảnh một trận đánh mà trong đó một tên cướp biển người đẫm máu hướng thanh gươm đâm vào tim một kẻ thù đang nằm rạp dưới đất. Mục đích ở đây là nhằm mô tả lại sống động quang cảnh xưa, và để làm được điều đó, người ta đã không tiếc chi cả núi tiền. Khi đi từ quang cảnh bạo lực này sang quang cảnh bạo lực khác, tôi bất chợt phải liếc mắt nhìn về phía sau để chắc không có tên cướp biển nào bám theo với chiếc rìu chiến trên tay. Hiệu ứng mà bảo tàng này mang lại dễ khiến con người ta sống trong ảo giác, tới nỗi khi đi hết bảo tàng và nhìn thấy một phụ nữ Nhật Bản đang ngồi đọc sách trên chiếc ghế băng, tôi đã phải vỗ lên vai cô để xem cô có phải là người thật hay không.

Đây là quá khứ mà người Iceland yêu mến: một lịch sử của những xung đột và chủ nghĩa anh hùng. Một lịch sử chứng kiến ai là người sẵn sàng lao vào người khác với sức mạnh khủng khiếp nhất. Hẳn cũng có rất nhiều người phụ nữ trong lịch sử đó, nhưng đó chủ yếu vẫn là lịch sử của những người đàn ông.

Khi bạn vay mượn rất nhiều tiền để tạo ra một sự phồn thịnh giả tạo, có nghĩa bạn đang đưa tương lai vào hiện tại. Tương lai thực sự không giống như phiên bản kỳ dị bằng silicon của nó. Đầu cơ vay nợ đã cho bạn được sống những khoảnh khắc của sự giàu sang mà bạn chưa thực sự kiếm được. Điều đáng nói về cái tương lai mà những người đàn ông Iceland nhập khẩu trong chốc lát ấy cũng tương tự như cái quá khứ mà họ tôn thờ. Tôi cược rằng giờ đây, sau khi đã thấy được tương lai giả mạo của mình, những người phụ nữ Iceland sẽ có vô vàn thứ để nói về tương lai thực sự.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.