Bong Bóng Kinh Tế Và Làn Sóng Vỡ Nợ Quốc Gia - Chương 2

2. Và thế là họ tạo ra môn toán học

Sau một giờ ngồi trên máy bay, hai giờ trong một chiếc taxi, ba giờ trên một chiếc phà cũ nát, và cuối cùng là bốn giờ trên những chiếc xe buýt do các tài xế người Hy Lạp vừa buôn điện thoại vừa phóng trên các đỉnh dốc đứng, tôi đã tới trước cửa tu viện lớn nằm ở nơi hẻo lánh. Mũi đất chòi ra Biển Aegean tạo cho ta cảm giác như đây là nơi tận cùng của thế giới, và nó rất tĩnh lặng. Lúc này là cuối chiều, và các tu sĩ hoặc đang cầu nguyện, hoặc đang nghỉ trưa; tuy nhiên, vẫn còn một vị ngồi tại phòng canh gác để chào đón du khách. Ông hướng dẫn tôi và 7 người hành hương Hy Lạp tới một khu ký túc cổ, được phục hồi một cách khéo léo. Ở đây, hai vị tu sĩ chu đáo khác mang tới cho chúng tôi rượu ouzo, bánh ngọt, và chìa khóa cửa. Tôi cảm giác như vẫn còn thiếu cái gì đó, và rồi chợt nhận ra: chưa có ai hỏi thẻ tín dụng của tôi. Tu viện này không chỉ hoạt động hiệu quả mà nó còn miễn phí. Lúc đó, một vị tu sĩ nói cho tôi biết rằng sự kiện tiếp theo sẽ là một buổi lễ ở nhà thờ: buổi kinh chiều. Dĩ nhiên, sự kiện tiếp theo hầu như luôn là một buổi lễ tại nhà thờ. Có tới 37 nhà nguyện khác nhau trong tu viện này, nên việc tìm ra nơi tổ chức buổi lễ đó giống như tìm kim đáy bể vậy, tôi nghĩ.

“Ở nhà thờ nào?” tôi hỏi vị tu sĩ.

“Ngài cứ đi theo các tu sĩ khi họ đứng lên”, ông trả lời rồi nhìn tôi từ đầu tới chân. Ông có bộ râu dài, đen, mọc lộn xộn, chiếc áo choàng dài màu đen, chiếc mũ trùm đầu của tu sĩ, và chuỗi tràng hạt. Tôi đi đôi giày chạy bộ màu trắng, mặc quần kaki sáng màu, chiếc áo sơ mi màu hoa cà hiệu Brooks Brothers, và khoác chiếc túi nhựa vốn dùng để đựng đồ giặt với hàng chữ viết hoa bên cạnh túi EAGLES PALACE HOTEL. “Tại sao ngài lại tới đây?” ông hỏi.

Quả là một câu hỏi hay. Tôi đến đó không phải vì nhà thờ, mà vì tiền. Cơn đại hồng thủy tín dụng rẻ quét ngang trên hành tinh này vào giai đoạn 2007 – 2009 giờ đây đã đem đến một cơ hội mới cho ngành du lịch: Du lịch thảm họa tài chính. Tín dụng không chỉ là tiền, mà nó còn là một sự cám dỗ. Nó mang lại cho mọi xã hội cơ hội được thể hiện những khía cạnh trong con người họ mà ở điều kiện bình thường họ không thể nuông chiều mình được. Các quốc gia được thông báo rằng: “Đèn đóm tắt hết rồi đấy, giờ các anh muốn làm gì thì cứ làm, không ai biết được đâu”. Điều họ muốn làm khi không có ai quan sát rất đa dạng. Người Mỹ muốn sở hữu những căn nhà vượt quá xa khả năng chi trả của mình, và họ muốn để mặc cho kẻ mạnh tha hồ bóc lột kẻ yếu. Người Iceland muốn thôi đánh bắt cá và trở thành những tay đầu tư ngân hàng, và cho phép những người đàn ông thuộc tầng lớp tinh túy của họ được tha hồ thể hiện chứng hoang tưởng tự đại bị kìm hãm bấy lâu. Người Đức muốn trở nên Đức hơn nữa; người Ireland không muốn là người Ireland nữa. Mọi xã hội khác biệt này đều cùng tiếp xúc với một sự kiện, nhưng mỗi xã hội lại phản ứng với nó theo cách riêng của họ. Tuy vậy, không có sự phản ứng nào lại độc đáo như sự phản ứng của người Hy Lạp: bất kỳ ai từng dành ra vài ngày nói chuyện với những vị lãnh đạo quốc gia này đều có thể nhận thấy điều đó. Nhưng để thấy được hết sự độc đáo đó, bạn phải tới tu viện này.

Tôi có những lý do riêng khi tới đây. Nhưng tôi cam đoan rằng nếu tôi hé môi nói với vị tu sĩ kia về những lý do đó, hẳn ông ta sẽ tống cổ tôi đi. Vì thế mà tôi đành nói dối: “Người ta nói rằng đây là nơi linh thiêng nhất trên thế giới”, tôi trả lời.

Tôi tới Athens trước đó mấy ngày, chính xác là một tuần trước khi nổ ra cuộc bạo động tiếp theo, và một vài ngày sau khi giới chính khách Hy Lạp khuyên chính phủ của họ rằng, để trả nợ, họ nên bán các hòn đảo đi, và thậm chí là bán thêm một số di tích cổ nữa. Thủ tướng mới theo tư tưởng xã hội, George Papandreou, cảm thấy ông bị buộc phải chối rằng thực ra bản thân ông cũng đang nghĩ tới việc bán đảo. Hãng xếp hạng tín dụng Moody’s vừa hạ điểm tín dụng của Hy Lạp xuống tới mức biến tất cả các trái phiếu chính phủ của quốc gia này trở thành đống giấy lộn – tức là với những nhà đầu tư đang sở hữu chúng, chúng cũng không còn giá trị nữa. Kết quả là, việc bán tống bán tháo trái phiếu Hy Lạp ra thị trường, xét trong thời điểm trước mắt, không còn là chuyện lớn, bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Trung ương châu Âu đã thống nhất cho Hy Lạp – một quốc gia với khoảng 11 triệu dân – vay một khoản lên tới 145 triệu đô-la. Trước mắt, Hy Lạp đã bị di dời khỏi các thị trường tài chính tự do và trở thành một quận của các bang khác.

Đó là tin tốt. Bức tranh lâu dài còn ảm đạm hơn nhiều. Bên cạnh khoảng 400 tỷ (con số này còn tăng nữa) nợ chính phủ tồn đọng, các kế toán người Hy Lạp còn vừa mới tính toán rằng chính phủ của họ còn nợ một khoản 800 tỷ đô-la (hoặc hơn) tiền lương hưu. Tổng cộng tất cả các khoản đó là khoảng 1,2 nghìn tỉ đô-la, tức hơn 1/4 triệu đô-la cho mỗi người dân Hy Lạp trong độ tuổi lao động. Trước 1,2 nghìn tỉ nợ nần, một khoản giải cứu 145 tỉ đô-la rõ ràng chỉ như muối bỏ bể. Mà đó mới chỉ là các con số chính thức, thực tế chắc chắn còn tồi tệ hơn. “Người của chúng tôi tới đây, và không thể tin nổi những gì họ tìm thấy”, một quan chức cấp cao của IMF nói với tôi không lâu sau khi ông trở về từ chuyến làm việc đầu tiên của IMF tại Hy Lạp. “Cái cách họ theo dõi việc tài chính – họ biết họ đã thống nhất sẽ chi tiêu bao nhiêu, nhưng không ai theo dõi trên thực tế mình đã chi tiêu những gì. Đó thậm chí còn không được gọi là một nền kinh tế mới nổi. Đó là một quốc gia ở thế giới thứ ba”.

Hóa ra, điều mà người Hy Lạp muốn làm – sau khi đèn đóm đã tắt hết và chỉ còn lại họ trong bóng tối với đống tiền đi vay trong tay – là biến chính phủ của họ thành một con thú giả, bên trong nhồi đầy những tiền, và cho càng nhiều công dân của họ cơ hội được đập con thú đó lấy hên càng tốt. Chỉ trong vòng 12 năm trở lại đây, số tiền lương trả cho những người làm việc trong khu vực công của Hy Lạp đã tăng gấp đôi (không tính lạm phát) – và còn chưa kể đến những khoản hối lộ mà các quan chức nhà nước nhận được. Một công việc hạng trung của chính phủ kiếm được mức lương lớn gần gấp ba một công việc ngang tâm của khu vực tư nhân. Hệ thống tàu lửa quốc gia có doanh thu hàng năm là 100 triệu euro, nhưng số tiền lương họ phải trả hàng năm đã lên tới 400 triệu euro cùng với 300 triệu euro các khoản chi phí khác. Trung bình, một nhân viên của hãng xe lửa nhà nước kiếm được 65.000 euro/năm. 12 năm trước đây, một doanh nhân thành đạt sau trở thành bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp, ông Stefanos Manos, chỉ ra rằng sẽ rẻ hơn nếu đưa tất cả các hành khách đi xe lửa chuyển sang di chuyển bằng taxi. Nhận định đó bây giờ vẫn đúng. “Chúng tôi có một công ty tàu lửa bị phá sản một cách khó hiểu”, Manos nói với tôi. “Ấy vậy mà không có một công ty tư nhân nào ở Hy Lạp có được mức lương trung bình như vậy”. Hệ thống giáo dục công của Hy Lạp là ví dụ điển hình ấn tượng của sự thiếu hiệu quả: tuy là một trong những hệ thống bị đánh giá thấp nhất châu Âu, song nó lại có tỉ lệ giáo viên/học sinh nhiều gấp 4 lần so với hệ thống được đánh giá cao nhất là Phần Lan. Người dân Hy Lạp gửi con tới trường công mặc nhiên cho rằng họ sẽ cần phải thuê thêm gia sư cho con để yên tâm rằng chúng thực sự học được cái gì đó. Có ba công ty quốc phòng do chính phủ sở hữu: tổng nợ của cả ba lên tới hàng tỉ euro, và những con số thua lỗ này cứ ngày một lớn dần. Độ tuổi nghỉ hưu cho các công việc được xếp vào hạng nặng tại Hy Lạp là 55 đối với nam giới và 50 đối với nữ giới. Do đây cũng là thời điểm nhà nước phải chi ra những khoản lương hưu khổng lồ, nên không hiểu bằng cách nào mà có tới hơn 600 nghề nghiệp ở Hy Lạp được xếp vào hạng nặng: thợ cắt tóc, phát thanh viên, bồi bàn, nhạc sĩ, v.v… Hệ thống chăm sóc sức khỏe công Hy Lạp chi tiêu nhiều vào các khoản dự trữ hơn mức trung bình ở châu Âu – và theo lời một số người Hy Lạp nói với tôi, thì chẳng lạ gì khi thấy các y tá, bác sĩ bỏ việc với hai tay ôm đầy giấy vệ sinh, bỉm, và bất kỳ thứ gì họ có thể cướp được từ các tủ đựng đồ dự trữ.

Đâu là sự lãng phí, đâu là cướp bóc – chuyện đó chẳng hề quan trọng; cái này che chắn, hỗ trợ cái kia. Chẳng hạn, người ta mặc nhiên cho rằng bất kỳ ai làm việc cho chính phủ đều nhận hối lộ. Người dân đi tới các cơ sở khám chữa bệnh công thì tâm tâm niệm rằng họ sẽ phải hối lộ bác sĩ để họ thực lòng quan tâm tới mình. Các vị bộ trưởng từng dành cả cuộc đời phục vụ nhân dân khi ra về còn có thể sắm cho mình những ngôi biệt thự hàng triệu đô-la cùng hai hay ba tư dinh ở miền quê.

Có một điều lạ lùng là những nhà tài phiệt ở Hy Lạp vẫn ít nhiều là những người hoàn hảo. Họ luôn luôn là những trùm thương mại già nua, lờ đờ. Trong giới ngân hàng châu Âu, gần như chỉ có họ là không mua các trái phiếu vay thế chấp dưới chuẩn của Mỹ, hay tự trang bị tối đa mọi thứ cho bản thân, hoặc tự trả cho mình những khoản tiền khổng lồ. Vấn đề lớn nhất mà các ngân hàng ở đây gặp phải là họ đã bỏ ra gần 30 tỉ euro cho chính phủ Hy Lạp vay – và chính phủ đã hoặc cướp, hoặc phung phí hết số tiền đó. Ở Hy Lạp, các ngân hàng không kéo chìm đất nước. Chính đất nước đã nhấn chìm các ngân hàng.

Buổi sáng sau hôm đáp xuống đây, tôi đi bộ tới gặp vị bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp, ông George Papaconstantinou, người được giao nhiệm vụ dọn dẹp đống hỗn độn khủng khiếp này. Nhờ một điều kỳ diệu nào đó mà Athens vừa giữ được nét bừng sáng lại vừa nhếch nhác lôi thôi. Những ngôi nhà đẹp đẽ, mới sơn sửa theo trường phái tân cổ điển bị hủy hoại không thương tiếc bởi những bức vẽ graffiti mới tinh. Đâu đâu cũng gặp các di tích cổ, nhưng dường như chúng chẳng ăn nhập gì với mọi thứ xung quanh.

Tại lối vào hẹp và tăm tối dẫn tới Bộ Tài chính, một toán nhân viên an ninh thực hiện nhiệm vụ khám xét – tuy nhiên, họ chẳng buồn kiểm tra tại sao máy phát hiện kim loại lại kêu lên khi bạn đi qua. Ở phía tiền sảnh, 6 phụ nữ đứng sắp xếp lịch cho ngài bộ trưởng. Họ có vẻ rất sốt sắng và vội vã, và hình như họ còn làm việc quá tải nữa… ấy vậy mà ngài bộ trưởng vẫn tới muộn. Xét một cách tổng thể, nơi này cho ta cảm giác rằng thời kỳ huy hoàng nhất của nó chắc cũng chỉ ở mức tầm thường. Đồ đạc đã sờn cũ, sàn nhà lộ ra lớp sơn lót. Cái đáng ngạc nhiên nhất ở đây là số lượng nhân viên. Ngài bộ trưởng Papaconstantinou theo học trường Đại học New York và trường Kinh tế học London hồi những năm 1980, sau đó ông làm việc 10 năm tại Paris cho OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế). Ông là người cởi mở, thân thiện, có khuôn mặt tươi tắn, bảnh bao, và giống như nhiều người ở vị trí lãnh đạo trong chính phủ Hy Lạp mới, ông trông giống người da trắng – thực ra giống dân Mỹ − hơn là người Hy Lạp.

Khi Papaconstantinou tới đây vào tháng 10/2009, chính phủ Hy Lạp vừa dự tính chỉ số thâm hụt ngân sách năm 2009 của họ là 3,7%. Hai tuần sau đó, con số này được chỉnh lên tới 12,5%, và cuối cùng là gần 14%. Công việc của ông là tìm hiểu và đưa ra cho thế giới một lý do. “Ngày thứ hai tại nhiệm, tôi đã phải triệu tập một cuộc họp để cùng nghiên cứu ngân sách”, ông cho biết. “Tôi đã triệu tập mọi người từ tổng cục kế toán, và chúng tôi bắt đầu quá trình khám phá này”. Mỗi ngày trôi qua họ lại phát hiện ra những thiếu sót khó tin. Một khoản nợ lương hưu lên tới một tỷ đô-la mỗi năm, bằng cách nào đó, lại vắng mặt trong các sổ sách của chính phủ, nơi mọi người đều vờ rằng nó không hề tồn tại, mặc dù chính phủ chịu trách nhiệm chi trả khoản đó; lỗ hổng trong kế hoạch chi trả lương hưu cho những người tự kinh doanh trên thực tế không phải con số 300 triệu euro như ước tính, mà là 1,1 tỷ euro; và vô vàn chuyện khác. “Cuối mỗi ngày, tôi đều nói: ‘Thôi được rồi các anh, đó là tất cả những gì chúng ta tìm thấy phải không?’ Và họ nói: ‘Đúng vậy’. Và buổi sáng hôm sau, một cánh tay lại giơ lên từ phía cuối phòng: ‘Thực ra, thưa Bộ trưởng, vẫn còn lỗ hổng khác trị giá 100 hoặc 200 triệu euro’”.

Mọi chuyện cứ thế kéo dài khoảng một tuần. Trong số những sự việc được phát giác, có một lượng lớn các chương trình tạo việc làm giả mạo ngoài sổ sách. “Bộ Nông nghiệp đã tạo ra một đơn vị ngoài sổ sách tuyển dụng 270 người để số hóa các bức ảnh chụp đất công của Hy Lạp”, ngài bộ trưởng Bộ Tài chính nói với tôi. “Vấn đề ở đây là không ai trong số 270 con người này có chút kinh nghiệm về ảnh kỹ thuật số. Nghề nghiệp thực sự của họ là những nghề dạng như cắt tóc”.

Vào ngày cuối cùng của cuộc khám phá, sau khi cánh tay cuối cùng giơ lên trong phòng họp, khoản thâm hụt ngân sách ước tính gần 7 tỷ euro trên thực tế đã thành hơn 30 tỷ. Câu hỏi “Làm sao có thể như thế được?” được trả lời một cách dễ dàng: bởi cho tới tận lúc đó, không có ai nghĩ tới việc cộng tổng mọi thứ lại. “Chúng tôi không có Cục Ngân sách Quốc hội”, ngài bộ trưởng Bộ Tài chính giải thích. “Không có bộ phận thống kê độc lập”. Đảng cầm quyền mặc sức vẽ ra bất kỳ con số nào họ thích, vì những mục đích riêng của họ.

Sau khi có trong tay các số liệu, vị bộ trưởng tới tham dự các cuộc họp định kỳ hàng tháng với bộ trưởng Bộ Tài chính của các quốc gia châu Âu khác. Là một người mới, ông được mời phát biểu. “Khi tôi công bố các con số, có người đã há hốc mồm”, ông nói. “Làm sao điều này có thể xảy ra được? Lúc đó tôi có vẻ như muốn nói với họ: Chắc các ngài cho rằng con số đó là không đúng. Nhưng vấn đề ở đây là tôi ngồi đằng sau tấm biển ghi tên nước HY LẠP, chứ không phải tấm biển ghi CHÍNH PHỦ MỚI CỦA HY LẠP.” Sau cuộc họp, bộ trưởng Hà Lan tới chỗ ông hỏi: “George, chúng tôi hiểu đó không phải là lỗi của anh, nhưng chẳng phải cần cho ai đó ngồi tù hay sao?”

Kết thúc câu chuyện của mình, vị bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh đây không chỉ đơn thuần là vấn đề một chính phủ nói dối về các khoản chi tiêu của họ. “Lý do không hẳn vì báo cáo sai”, ông nói. “Năm 2009, bộ phận thu thuế đã không trung thực, bởi đó là năm bầu cử”.

Ông mỉm cười.

“Điều đầu tiên một chính phủ phải làm trong năm bầu cử là không để một nhân viên thu thuế nào bảng lảng trên đường phố”.

“Hẳn là ông đang đùa rồi”.

Lúc này, ông quay sang cười tôi. Tôi rõ ràng quá ngây thơ.

Chi phí điều hành chính phủ Hy Lạp mới chỉ là một nửa trong phương trình thất bại: còn một vấn đề nữa là thu nhập của chính phủ. Trong lúc vừa đi vừa nói chuyện, một biên tập viên của một trong những tờ báo lớn ở Hy Lạp nói với tôi rằng các phóng viên của anh đã tạo dựng được một số nguồn tin trong bộ phận doanh thu quốc gia. Họ không làm đến mức để lộ ra những sai phạm về thuế − một điều vốn phổ biến ở Hy Lạp tới mức chẳng đáng viết về nó nữa – mà chỉ nhằm tìm ra những tay trùm buôn ma túy, những kẻ buôn lậu người, và các vụ việc ngầm đen tối hơn. Tuy vậy, một số nhân viên thu thuế lại tức giận trước hiện trạng tham nhũng có hệ thống trong ngành; sự tức giận này được thể hiện ở mức hai người trong số họ sẵn lòng gặp mặt trao đổi với tôi. Vấn đề ở đây là, vì những lý do mà không ai trong số hai người đó muốn đả động đến, họ không thể chạm trán nhau. Điều này, như tôi đã được những người bạn Hy Lạp nhắc tới nhiều lần, thực sự rất Hy Lạp.

Buổi chiều sau cuộc gặp với vị bộ trưởng Bộ Tài chính, tôi uống cà phê với một cán bộ thu thuế ở một khách sạn, sau đó đi dạo phố và uống bia với người cán bộ thu thuế thứ hai ở một khách sạn khác. Cả hai người đều bị giáng chức sau những nỗ lực tố cáo các đồng nghiệp đã nhận những khoản hối lộ lớn để ký nhận các khoản hoàn thuế sai phạm. Cả hai đều bị thuyên chuyển từ vị trí tiên phong cao cấp sang các vị trí thấp hơn trong văn phòng, nơi họ không còn cơ hội chứng kiến các sai phạm về thuế nữa. Mỗi người đều có chút không thoải mái; và cả hai đều không muốn để ai biết họ đã gặp tôi, bởi họ sợ sẽ bị mất việc tại sở thuế. Vì vậy, chúng ta hãy gọi họ là Nhân viên Thu thuế 1 và Nhân viên thu thuế 2.

Nhân viên Thu thuế 1 – tầm ngoài 60 tuổi, ăn mặc chỉn chu, nét mặt căng thẳng nhưng không lộ vẻ lo lắng – đến với một cuốn sổ tay viết đầy các ý tưởng cải tổ ngành thuế Hy Lạp. Ông mặc nhiên cho rằng tôi phải biết chỉ những người dân Hy Lạp đang còng lưng trả tiền thuế mới là những người bắt buộc phải nộp thuế − đó là những nhân viên được trả lương trong các công ty, tiền thuế của họ bị trừ trực tiếp vào lương. Một lượng lớn người lao động tự làm việc – bao gồm tất cả, từ bác sĩ cho tới người bán báo ở sạp – đều gian dối (đây là một lý do quan trọng giải thích tại sao Hy Lạp lại có tỉ lệ lao động tự làm việc cao nhất ở châu Âu). “Điều này đã trở thành một nét văn hóa”, ông nói. “Người Hy Lạp không biết học cách trả tiền thuế. Và họ không chịu làm thế bởi chưa từng có ai bị phạt cả. Đó là một sự xúc phạm vào tinh thần cao thượng – giống như việc một quý ông lịch lãm lại không chịu mở cửa cho một phụ nữ vậy”.

Mức độ gian lận thuế ở Hy Lạp cũng khó tin như quy mô của nó: ước tính 2/3 số bác sĩ ở Hy Lạp khai có thu nhập dưới 12.000 euro một năm, vì thu nhập dưới mức đó không phải chịu thuế, nên ngay cả những bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ kiếm hàng triệu euro mỗi năm cũng không hề phải trả thuế. Vấn đề không nằm ở luật pháp – đã có luật quy định án phạt tù cho các tội danh lừa dối chính phủ hơn 150.000 euro trở lên – mà nằm ở việc thi hành luật pháp. “Nếu luật này được thực thi,” vị cán bộ thu thuế nói, “thì tất cả các bác sĩ ở Hy Lạp đều sẽ phải vào tù”. Tôi cười lớn, ông nhìn chằm chằm vào tôi. “Tôi hoàn toàn nghiêm túc đấy”. Một lý do khiến không ai bị truy tố − ngoài thực tế việc khởi tố có vẻ như tùy ý − là các tòa án Hy Lạp mất tới 15 năm để giải quyết các vụ kiện liên quan tới thuế. “Những ai không muốn trả tiền, và bị bắt quả tang, chỉ việc tới tòa án,” ông nói. Khoảng 30% – 40% các hoạt động chịu thuế thu nhập trong nền kinh tế Hy Lạp không được ghi chép chính thức, ông nói; con số trung bình ở các quốc gia khác ở châu Âu là khoảng 18%.

Cách dễ dàng nhất để gian lận thuế là yêu cầu nhận thanh toán bằng tiền mặt, và không cung cấp biên lai chứng từ. Cách dễ dàng nhất để rửa tiền mặt là mua bất động sản. Một điều thật thuận tiện cho thị trường chợ đen – và đây cũng là điều độc nhất trong số các quốc gia châu Âu – Hy Lạp không có bộ phận đăng ký đất đai quốc gia. “Anh phải biết người này mua đất từ ai – tức là địa chỉ của người đó – rồi mới truy ra tung tích anh ta”, vị cán bộ thu thuế nói. “Mà dù có thế thì mọi chứng từ mua bán cũng chỉ được thực hiện bằng giấy viết tay, rất khó luận ra chữ”. Nhưng, tôi nói, nếu có vị bác sĩ thẩm mỹ nào nhận 1 triệu euro tiền mặt, mua một khoảnh đất trên một hòn đảo ở Hy Lạp, và xây cất biệt thự, thì hẳn cũng phải có các loại giấy tờ khác chứ, giấy phép xây dựng chẳng hạn. “Những người ký giấy phép xây dựng không thông báo cho Bộ Ngân khố”, vị cán bộ thu thuế nói. Trong những trường hợp − hiển nhiên là không hề hiếm hoi − nếu vụ gian lận thuế bị phát giác, thì đối tượng chỉ việc hối lộ cho người thu thuế để dàn xếp ổn thỏa. Dĩ nhiên là có luật ngăn cấm cán bộ thu thuế nhận hối lộ, ông nói, “nhưng nếu anh bị bắt quả tang, thì có thể phải sau 7 hay 8 năm anh mới bị khởi tố. Nên trên thực tế, chẳng ai thèm quan tâm”.

Việc nói dối có hệ thống về thu nhập đã khiến chính phủ Hy Lạp ngày càng dựa dẫm vào những nguồn thuế khó có khả năng trốn tránh hơn: thuế bất động sản và thuế doanh số bán hàng. Bất động sản được tính thuế theo công thức tạo ra một giá trị được gọi là khách quan cho mỗi ngôi nhà. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Hy Lạp trong thập kỷ vừa qua đã đẩy giá trị sang tay của bất động sản lên cao vượt mức đánh giá. Giá bán thực tế càng cao, thì công thức tính thuế càng bị đẩy lên. Một công dân Hy Lạp điển hình sẽ phản ứng lại với vấn đề này bằng cách không thông báo giá giao dịch thật mà thông báo một mức giá giả mạo – và thường thì đây là con số thấp được tính theo công thức cũ. Nếu ai đó đi vay nợ để mua nhà, anh ta sẽ lấy khoản nợ với giá trị khách quan và trả số tiền dôi bằng tiền mặt, hoặc vay ngoài chợ đen. Vì thế, “giá trị khách quan” đã thể hiện con số biến tướng khủng khiếp giá trị thực sự của bất động sản. Và ngạc nhiên thay, nhiều người tin rằng toàn bộ 300 thành viên quốc hội Hy Lạp đã tuyên bố giá trị thực ngôi nhà của họ là giá trị khách quan do máy tính đưa ra. Hay, như lời của cả viên cán bộ thu thuế và một người môi giới bất động sản sở tại nói với tôi, “mỗi một thành viên trong quốc hội Hy Lạp đều nói dối để trốn thuế”.

Rồi ông miêu tả hệ thống này với sự hoàn hảo riêng của nó. Nó bắt chước các hệ thống thu thuế của một nền kinh tế tiên tiến – và tuyển dụng một lượng lớn nhân viên thuế vụ − trong khi trên thực tế nó lại bị điều khiển để cho phép cả xã hội cùng tham gia gian lận thuế. Khi ra về, ông còn chỉ ra rằng cô nữ nhân viên phục vụ tại khách sạn mà chúng tôi đang ngồi đã không thể cung cấp cho chúng tôi biên lai thu tiền cà phê. “Có nguyên do cả đấy”, ông nói. “Ngay cả cái khách sạn này cũng không đóng tiền thuế doanh thu”.

Tôi bước xuống phố và nhận thấy trong quán bar của một khách sạn sang trọng khác, vị cán bộ thu thuế thứ hai đang ngồi đợi tôi. Nhân viên Thu thuế 2 – trông thoải mái từ tác phong tới cách ăn vận, đang ngồi uống bia, song lại tỏ ra lo sợ có người phát hiện ra việc anh gặp gỡ tôi – cũng đến với một cuốn sổ đầy giấy tờ, chỉ có điều giấy tờ của anh là những ví dụ thực tế về các công ty Hy Lạp từng gian lận thuế. Rồi anh bắt đầu nói như thuộc lòng về các chứng cứ đó (Tôi chỉ nhắc đến những vụ mà mình trực tiếp chứng kiến). Ví dụ đầu tiên là một công ty xây dựng Athens. Công ty này từng xây 7 tòa chung cư khổng lồ và bán gần 1.000 căn hộ ở tại trung tâm thành phố. Trung thực mà nói, hóa đơn thuế doanh nghiệp của họ đã lên tới 15 triệu euro, nhưng họ chưa từng trả một xu. Để trốn thuế, họ đã làm một số việc. Trước hết, họ chưa từng tuyên bố mình là một công ty; thứ hai, họ thuê một công ty chỉ chuyên tạo ra các biên lai giả mạo cho những khoản chi phí chưa bao giờ có, và sau đó, khi vị cán bộ thu thuế này phát giác vụ việc, họ đưa anh một khoản hối lộ. Anh lên tiếng tố giác và trình vụ việc lên cấp trên – khi đó anh phát hiện ra mình bị một thám tử tư theo dõi, còn điện thoại thì bị nghe lén. Cuối cùng, vụ việc cũng được giải quyết, công ty xây dựng nọ phải trả 2.000 euro. “Sau đó tôi bị loại tên khỏi mọi cuộc điều tra thuế”, vị cán bộ thu thuế nói, “bởi tôi đã làm điều đó rất tốt”.

Anh quay trở lại với cuốn sổ chứa đầy các vụ việc sai phạm. Mỗi trang trong cuốn sổ này chứa đựng một câu chuyện tương tự như câu chuyện anh vừa kể, và anh có ý định kể cho tôi nghe hết về chúng. Tới lúc này, tôi ngưng anh lại, vì thấy nếu tiếp tục, hẳn chúng tôi sẽ phải ở lại đó cả đêm. Quy mô của hoạt động gian lận – nguồn năng lượng dồn vào đó – có thể khiến người ta choáng váng. Ở Athens, vài lần tôi gặp cái cảm giác mới lạ trong vai trò nhà báo: đó là sự dửng dưng với tư liệu gây sốc rõ mồn một. Tôi đã ngồi nói chuyện với những người hiểu rõ về cơ chế vận hành bên trong của chính phủ Hy Lạp: một ông chủ nhà băng tầm cỡ, một nhân viên thuế vụ, một thứ trưởng Bộ Tài chính, một cựu thủ tướng. Tôi đã lôi sổ tay ra để ghi chép các câu chuyện do họ kể. Hết vụ bê bối này tới vụ bê bối khác bị lôi ra. Sau 20 phút, tôi bắt đầu mất hứng thú. Chỉ đơn giản là chúng quá nhiều: chúng có thể chứa đầy trong một thư viện, nói gì tới một cuốn sách nhỏ nhoi.

Nhà nước Hy Lạp không những tham nhũng, mà còn hư hỏng. Khi đã thấy cách vận hành của nó, bạn có thể hiểu một hiện tượng mà ở trường hợp khác bạn sẽ thấy vô nghĩa lý: đó là sự khó khăn khi người Hy Lạp lên tiếng nói tốt về nhau. Cá nhân mỗi người Hy Lạp đều dễ chịu: hài hước, ấm áp, nhanh nhẹn, và là người bạn đường tốt. Tôi đã trải qua hai tá cuộc phỏng vấn, và sau đó tự nhủ: “Thật là những con người tuyệt vời!” Họ không đưa ra những suy nghĩ về nhau: điều khó làm nhất ở Hy Lạp là khiến họ lên tiếng khen kẻ khác sau lưng. Dẫu bạn có làm được điều đó thì cũng không khỏi khiến người khác nghi ngờ. Mọi người đều đinh ninh ai cũng gian lận thuế, hối lộ chính khách, nhận hối lộ, hay nói dối về giá trị món bất động sản của mình. Và sự thiếu niềm tin vào nhau này là một chiếc vòng luẩn quẩn. Đại dịch gian lận, trộm cắp đã phá hủy đời sống dân sự, và sự sụp đổ của đời sống dân sự lại càng khuyến khích đại dịch đó. Thiếu niềm tin vào nhũng người khác, họ dựa vào bản thân và gia đình.

Cấu trúc nền kinh tế Hy Lạp là sở hữu tập thể, nhưng từ góc độ tinh thần, đất nước này lại là sự đối lập với chủ nghĩa tập thể. Cấu trúc thực sự của nó là mỗi người tự lo nấy thân mình. Các nhà đầu tư đã đổ hàng trăm tỉ đô-la vào hệ thống này. Và bong bóng tín dụng đã đẩy quốc gia này tới bờ vực, tạo ra sự sụp đổ hoàn toàn về đạo đức.

Trong một xã hội đã bị hủy hoại hoàn toàn, tu viện Vatopaidi đã bằng cách nào đó được đánh giá là linh hồn của sự phá hủy, tôi đi ngược lên phía bắc Hy Lạp để tìm những tu sĩ vừa tìm ra được những cách cải tiến mới để vận hành nền kinh tế Hy Lạp. Giai đoạn đầu khá dễ dàng: chuyến máy bay tới thành phố thứ hai ở Hy Lạp, Thessaloníki, chiếc xe lao qua những đoạn đường hẹp với tốc độ kinh người, và một đêm ở cùng vô số du khách người Bulgari trong một khách sạn dễ chịu có tên Eagles Palace ở giữa nơi hoang vu. Olga, nhân viên khách sạn hữu ích nhất mà tôi từng gặp, đưa cho tôi một chồng sách và tiếc rẻ nói tôi thật may mắn khi có thể đến thăm nơi đây. Tu viện Vatopaidi, cùng với 19 tu viện khác, được xây dựng vào thế kỷ X trên một bán đảo dài 37 dặm, rộng 6 dặm ở về hướng đông bắc Hy Lạp có tên Mount Athos. Mount Athos hiện được tách biệt khỏi đất liền bởi một hàng rào dài, do đó, cách duy nhất để tới đó là dùng thuyền. Không phụ nữ nào được phép lên đảo này – và thực tế, đảo này cũng không có cả động vật giống cái, ngoại trừ mèo. Chính sử thì nói rằng lệnh cấm này xuất phát từ mong muốn vinh danh Đức Mẹ Đồng Trinh của nhà thờ; còn theo lời đồn đại thì nguyên nhân là do các vị tu sĩ hay đánh đập các nữ du khách. Lệnh cấm này đã tồn tại được một nghìn năm.

Điều này lý giải cho những tiếng la hét chói tai xuất hiện vào buổi sáng ngày hôm sau, khi chiếc phà cổ chở đầy các vị tu sĩ và người hành hương rời khỏi bến. Hàng chục phụ nữ tụ tập ở đó rồi cùng thi nhau hét váng lên, nhưng tâm trạng họ vui vẻ tới nỗi không rõ liệu họ đang ca thán hay đang vui mừng khi họ không thể đi theo những người đàn ông của mình. Olga đã nói thế nào tôi cũng phải đi nhờ một đoạn trên đường tới Vatopaidi, và rằng những người đi tới ngọn núi linh thiêng đó, như cô thấy, thì thường không mang theo người bất kỳ thứ gì gợi nhắc về thế giới vật chất hiện đại như chiếc balo có bánh kéo. Kết quả là, tất cả những gì tôi có là một chiếc túi giặt đựng đồ lót, kem đánh răng, và một chai Ambien.

Chiếc phà chạy bình bịch trong suốt 3 tiếng đồng hồ dọc theo đường bờ biển đầy đá, cây cối cằn cỗi. Thi thoảng nó dừng lại dọc đường để thả các tu sĩ, người hành hương, và công nhân xuống các tu viện khác. Tôi kinh ngạc khi nhìn thấy quang cảnh tu viện đầu tiên. Đó không phải là một tòa nhà mà là một kỳ quan: dường như ai đó đã lấy Assisi hay Todi hoặc một trong những thị trấn bên đồi của miền trung nước Ý cổ kính đem về đặt trên bãi biển này. Nếu bạn chưa biết nên kỳ vọng điều gì ở Mount Athos – từ hơn một thiên niên kỷ nay nó đã được Nhà thờ Chính thống giáo Đông phương coi là địa điểm linh thiêng nhất trên trái đất, và trong phần lớn quãng thời gian đó, nó đã có một mối quan hệ cộng sinh gắn bó với các vị hoàng đế Byzantine – thì những địa điểm này chắc chắn sẽ khiến bạn ngạc nhiên. Tất cả chúng đều to lớn, được xây dựng tinh vi, trang trí lộng lẫy, và hiển hiện một sự ganh đua ngầm với nhau.

Có rất nhiều nơi trên thế giới chấp nhận việc bạn không biết nói tiếng Hy Lạp. Athens là một trong những nơi như vậy; còn chuyến phà tới Mount Athos thì không. Tôi được giải cứu bởi một người thanh niên nói tiếng Anh, mà theo con mắt kém cỏi của tôi thì trông anh cũng giống hệt các vị tu sĩ khác: chiếc áo choàng dài màu đen, bộ râu đen dài kém chăm chút, vẻ ngoài thiếu thân thiện nhưng khi đã phá vỡ được vỏ bọc đó thì thật dễ gần. Thấy tôi cầm chiếc bản đồ phác họa bằng tay các tu viện, chật vật dò tìm nơi xuống phà, anh lên tiếng tự giới thiệu bản thân. Tên anh là Cesar, người Romani, con trai của một viên cảnh sát là phản gián bí mật trong chế độ cai trị kinh hoàng của Nicolae Ceausescu. Không rõ bằng cách nào mà anh vẫn duy trì được tính cách khôi hài của mình – thứ có thể coi là điều kỳ diệu. Anh giải thích rằng nếu hiểu biết một chút tôi sẽ biết rằng anh không phải là tu sĩ, mà chỉ là một mục tu sĩ người Romani đang trong kỳ nghỉ. Anh khởi hành từ Bucharest với hai vali có bánh kéo và tới nghỉ hè ở một trong những tu viện tại đây. Kỳ nghỉ theo quan điểm của anh là ba tháng sống bằng bánh mỳ và nước lọc, không có phụ nữ. Cesar vẽ cho tôi một bản đồ nhỏ để dùng đi tới Vatopaidi, và phác thảo cho tôi biết cảnh bao quát khu vực đó. Anh cho biết, chỉ cần nhìn thấy tôi không để râu cũng đủ để tố cáo rằng tôi không phải là một người sùng đạo, nếu chiếc áo sơ mi màu hoa cà hiệu Brooks Brothers không tố cáo tôi trước. “Nhưng họ quen với việc có khách đến thăm rồi”, anh nói, “nên đây không phải là vấn đề”. Rồi anh ngừng lại hỏi: “Nhưng ông theo tôn giáo nào?”

“Tôi không có tôn giáo nào cả”.

“Nhưng ông tin vào Chúa trời đấy chứ?”

“Không”.

Anh ngẫm nghĩ.

“Thế thì tôi cam đoan rằng họ sẽ không để ông bước vào đó đâu”.

Anh suy nghĩ thêm chút nữa. “Mà với ông điều đó là tồi tệ nhất rồi nhỉ?”, anh vừa nói vừa cười khoái trá.

Một giờ sau, tôi bước xuống phà, mang theo duy nhất chiếc túi giặt của khách sạn Eagles Palace và tấm bản đồ nhỏ của Cesar; còn anh ta thì vẫn không thôi nhắc lại câu nói khôi hài của mình – “Với ông đó là điều tồi tệ nhất rồi nhỉ?” – và cứ sau mỗi lần nói câu ấy, anh chàng lại phá lên cười to hơn.

Vị tu sĩ gặp tôi ở cổng trước Vatopaidi liếc chiếc túi giặt của tôi rồi đưa tôi một tờ phiếu để điền. Một giờ sau, khi đã giả vờ yên vị trong căn phòng thoải mái một cách đáng ngạc nhiên của mình, tôi được một đoàn tu sĩ để râu quai nón đưa đi qua cánh cửa nhà thờ. Tôi đi theo các vị tu sĩ vào nhà thờ; đốt nến rồi nhét chúng vào một hố cát nhỏ xíu; liên tục đưa tay làm dấu; hôn gió các tượng thánh. Dường như không ai mảy may để ý tới cái gã thiếu chất Hy Lạp một cách lộ liễu trong chiếc áo sơ mi màu hoa cà hiệu Brooks Brothers. Đó là một trải nghiệm rất tuyệt, có thể giới thiệu với những người muốn tìm chút hương vị của đời sống thế kỷ X. Bên dưới những chùm đèn lớn mạ vàng sáng loáng, và trước sự chứng kiến của các tượng thánh mới được lau chùi, các vị tu sĩ hát; tụng kinh; biến mất đằng sau những tấm bình phong và cất lên những lời niệm chú kỳ lạ; các vị tu sĩ lắc lắc một thứ phát ra tiếng kêu nghe như tiếng chuông buộc cổ ngựa; họ nhẹ nhàng lướt đi, tay đung đưa các lư hương, để lại sau lưng họ khói và mùi hương trầm cổ kính. Những lời nói, lời hát, và lời tụng kinh đều là tiếng kinh Hy Lạp (có vẻ như nó có mối liên hệ với Chúa Jesus), nhưng tôi cứ vừa nghe vừa gật đầu bừa. Tôi đứng lên rồi lại ngồi xuống theo họ, cứ thế như nhảy cà kheo trong vài giờ đồng hồ.

Phần lớn quãng thời gian của thập kỷ 1980 và 1990, các loại lãi suất ở Hy Lạp đều cao hơn tới 10% so với lãi suất ở Đức, bởi khả năng trả nợ của người Hy Lạp bị đánh giá rất thấp. Hy Lạp không có tín dụng tiêu dùng. Người Hy Lạp cũng thường không có những khoản vay thế chấp. Dĩ nhiên, Hy Lạp muốn được các thị trường tài chính đối xử như một quốc gia Bắc Âu đang hoạt động bình thường. Cuối thập kỷ 1990, họ nhìn thấy cơ hội đó: ngừng lưu hành đồng tiền riêng và sử dụng euro. Để làm được điều này, họ cần phải đạt được một số chỉ tiêu quốc gia nhất định, qua đó chứng minh mình có thể trở thành những công dân châu Âu kiểu mẫu, sẽ không làm tăng thêm những khoản nợ mà các quốc gia khác trong khu vực đồng euro buộc phải trả sau này. Cụ thể, họ phải chỉ ra được mức thâm hụt ngân sách dưới 3% tổng sản phẩm quốc nội, và tỉ lệ lạm phát tương đương với Đức. Năm 2000, sau khi đảo tung các số liệu, Hy Lạp cũng đạt được các chỉ tiêu đó. Để hạ thấp mức thâm hụt ngân sách, chính phủ Hy Lạp loại bỏ mọi hạng mục chi phí (lương hưu, chi tiêu quốc phòng) khỏi sổ sách. Để hạ thấp mức lạm phát, chính phủ Hy Lạp đã như đóng băng giá điện, nước và các sản phẩm khác do chính phủ cung cấp, đồng thời cắt giảm thuế gas, rượu, và thuốc lá. Các chuyên gia thống kê của chính phủ Hy Lạp đã làm những việc như loại bỏ các loại cà chua vốn bị đánh giá cao khỏi chỉ số giá cả tiêu dùng vào ngày tính toán tỉ lệ lạm phát. “Chúng tôi đã tới gặp người từng tạo ra tất cả những con số này”, một cựu chuyên gia phân tích các nền kinh tế châu Âu ở Phố Wall nói với tôi. “Khi ấy chúng tôi đã cười như nắc nẻ. Anh ta giải thích cách anh ta đổi trắng thay đen như thế nào. Chỉ số đánh giá đã bị nhào nặn rất nhiều”.

Ngay cả tại thời điểm đó, một số nhà quan sát cũng nhận thấy các con số của Hy Lạp đưa ra dường như rất phi lý. Miranda Xafa, một cựu quan chức IMF, sau trở thành cố vấn kinh tế cho cựu thủ tướng Hy Lạp Konstantinos Mitsotakis rồi trở thành chuyên gia tư vấn cho Salomon Brothers năm 1998 đã vạch ra rằng nếu cộng tổng mọi khoản ngân sách bị thâm hụt của Hy Lạp trong 15 năm trước đó, thì ta sẽ được con số tổng chỉ bằng một nửa khoản nợ của nước này. Nói cách khác, số tiền mà chính phủ Hy Lạp đi vay để hoạt động lớn gấp đôi số ngân sách thâm hụt mà họ đã công bố. “Ở Salomon chúng tôi vẫn hay gọi [người đứng đầu Cục Thống kê Quốc gia Hy Lạp khi đó] là ‘Ảo thuật gia’,” Xafa cho biết, “bởi ông có biệt tài phù phép làm biến mất những con số lạm phát, thâm hụt, và nợ nần”.

Năm 2011, Hy Lạp gia nhập Liên minh Tiền tệ châu Âu, đổi tiền drachma sang euro, và nhận được một sự bảo đảm ngầm của châu Âu (ở đây là Đức). Người dân Hy Lạp không thể thực hiện các khoản vay dài hạn với mức lãi suất tương tự như người dân Đức – không phải 18% mà là 5%. Để được sinh hoạt trong khu vực tiền euro, về lý thuyết, họ phải duy trì thâm hụt ngân sách ở mức dưới 3% GDP; còn trên thực tế, tất cả những gì họ cần làm là xào nấu sổ sách để chứng tỏ rằng họ đã và đang đạt được các chỉ tiêu đó. Ở đây, năm 2001, Goldman Sachs xuất hiện và tham gia vào một loạt các giao dịch tưởng chừng hợp pháp song thực chất lại khá “bẩn” nhằm che giấu con số nợ thực sự của chính phủ Hy Lạp. Với những giao dịch này – thực chất là trao cho Hy Lạp một khoản vay trị giá 1 tỷ đô-la – có lời đồn rằng Goldman Sachs đã bỏ túi 300 triệu đô-la tiền phí. Cỗ máy đã cho phép Hy Lạp vay mượn và tiêu xài thỏa thích cũng tương tự như cỗ máy được tạo ra để che giấu nguồn gốc các khoản vay của người vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ − và vai trò của ngân hàng đầu tư Mỹ trong cỗ máy này là tương đương nhau. Các ngân hàng đầu tư cũng hướng dẫn cho các quan chức chính phủ Hy Lạp cách chứng khoán hóa các biên lai tương lai từ những hoạt động sổ xố toàn quốc, thuế phí giao thông trên quốc lộ, phí hạ cánh máy bay, và thậm chí là các khoản hỗ trợ của Liên minh châu Âu. Họ xác định tất cả các nguồn thu nhập tương lai rồi đem bán thẳng lấy tiền mặt để tiêu xài. Bất kỳ ai có suy nghĩ hẳn cũng đều đã biết rõ rằng, người Hy Lạp có thể che giấu tình trạng tài chính thực sự của mình khi (a) chủ nợ cho rằng cho Hy Lạp vay là an toàn theo như bảo đảm của Liên minh châu Âu (ở đây là Đức), và (b) người ngoài không mấy chú ý. Trên đất nước Hy Lạp, không có chỗ cho việc tố giác, bởi về cơ bản, tay ai cũng đều đã nhúng chàm.

Nhưng tình thế đó đã thay đổi vào ngày 4/10/2009, thời điểm chính phủ Hy Lạp sụp đổ. Một vụ bê bối đã hạ bệ chính quyền của Thủ tướng Kostas Karamanlis, khiến ông này phải lên đường bỏ chạy – mà có lẽ điều này cũng không quá ngạc nhiên. Cái ngạc nhiên ở đây là bản chất của vụ bê bối. Cuối năm 2008, một tin được tung ra là tu viện Vatopaidi không hiểu sao lại mua một cái hồ khá vô giá trị rồi đổi nó lấy một mảnh đất có giá hơn rất nhiều do nhà nước sở hữu. Không rõ các vị tu sĩ đã làm việc này như thế nào – người ta đồn rằng họ đã hối lộ các quan chức chính phủ một khoản lớn. Tuy vậy, không hề tìm thấy bằng chứng nào về vụ hối lộ. Nhưng điều đó không quan trọng: cơn cuồng nộ theo sau đó mới là lực tác động lớn tới chính trường Hy Lạp trong năm tiếp theo. Vụ bê bối Vatopaidi đã tạo ra một ấn tượng vô tiền khoáng hậu trong công luận Hy Lạp. “Chúng tôi chưa từng thấy một phong trào nào trong các cuộc bỏ phiếu như đã từng chứng kiến sau khi vụ bê bối nổ ra”, biên tập viên của một trong những tờ báo hàng đầu Hy Lạp kể với tôi. “Nếu không có Vatopaidi, thì Karamanlis vẫn sẽ là thủ tướng, và mọi thứ vẫn sẽ tiếp diễn như trước đây”. Dimitri Contominas, tỷ phú sáng lập nên một công ty bảo hiểm nhân thọ của Hy Lạp và tình cờ lại là chủ nhân của kênh truyền hình đã loan báo tin tức về vụ bê bối Vatopaidi, nói với tôi một cách thẳng thắn hơn: “Các tu sĩ Vatopaidi đã đưa George Papandreou lên nắm chính quyền”.

Sau khi đảng mới (tức đảng được kỳ vọng theo lý tưởng xã hội, Đảng Phong trào Xã hội toàn Hy Lạp Pasok) thay thế đảng cũ (tức đảng được coi là bảo thủ, Đảng Dân chủ mới), họ thấy trong ngân khố của chính phủ một số tiền quá ít ỏi so với kỳ vọng, tới nỗi họ quyết định rằng chỉ còn cách bắt đầu lại từ con số không. Vị thủ tướng công bố rằng mức thâm hụt lạm phát của Hy Lạp đã bị khai khống – và rằng sẽ cần thời gian để có thể chốt lại con số chính xác. Các quỹ lương hưu, quỹ trái phiếu toàn cầu, cùng vô số các đối tượng khác đang mua trái phiếu Hy Lạp đã hoảng sợ sau khi chứng kiến cái chết phơi bụng của một số ngân hàng lớn ở Mỹ và Anh, đánh hơi thấy tình trạng mong manh của vô vàn các ngân hàng châu Âu. Các mức lãi suất mới cao hơn mà Hy Lạp buộc phải trả đã khiến quốc gia này – vốn đang cần vay mượn những khoản tiền khổng lồ để vận hành – gần như phá sản. Khi IFM bước vào để kiểm tra sổ sách của Hy Lạp, thì những mẩu uy tín nhỏ nhoi còn sót lại của Hy Lạp cũng lần lượt đội nón ra đi. “Sao lại có chuyện một thành viên của khu vực đồng euro lại có thể báo cáo khống mức thâm hụt ngân sách của họ chỉ bằng 3% GPD trong khi thực tế nó là 15%?” một lãnh đạo cấp cao của IMF đặt câu hỏi. “Sao họ có thể làm được chuyện tày đình đó?”

Gần đây hệ thống tài chính toàn cầu đang dồn hết tâm trí vào câu hỏi liệu Hy Lạp có bị vỡ nợ hay không. Đôi khi dường như đây là câu hỏi duy nhất quan trọng, bởi nếu Hy Lạp có thể thoát khỏi món nợ 400 tỉ đô-la, thì các ngân hàng châu Âu chủ nợ của họ sẽ sụp đổ, và các quốc gia khác đang chấp chới bên bờ vực phá sản (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) có lẽ sẽ dễ dàng bắt chước họ. Nhưng câu hỏi liệu Hy Lạp có hoàn trả được các khoản nợ của họ, trên thực tế, lại là câu hỏi liệu Hy Lạp có thay đổi nền văn hóa của họ hay không, và điều đó chỉ xảy ra nếu người Hy Lạp thực lòng muốn thay đổi. Tôi đã được nghe cả chục lần rằng điều mà người dân Hy Lạp quan tâm là “lẽ công bằng”, và điều thực sự khiến dòng máu Hy Lạp sôi lên chính là cảm giác về sự bất công. Hiển nhiên, điều này không giúp phân biệt họ với các dân tộc khác trên thế giới, và nhận xét này còn tảng lờ một điều thú vị: cái mà người Hy Lạp cho rằng bất công là gì. Đó hẳn không phải là việc gian lận thuế hay hối lộ chính quyền. Không phải thế. Cái khiến họ bận tâm là khi có một đối tượng bên ngoài nào đó – một đối tượng khác hẳn họ, một đối tượng có những động cơ xa lạ với tính tư lợi hẹp hòi và dễ hiểu – xuất hiện và lợi dụng sự thối nát trong hệ thống của họ. Đó là khi các vị tu sĩ xuất hiện.

Một trong những hành động đầu tiên của vị tân bộ trưởng Bộ Tài chính là khởi tố tu viện Vatopaidi, yêu cầu họ hoàn lại tài sản của chính quyền và bồi thường thiệt hại. Một trong những hành động đầu tiên của nghị viện mới là mở cuộc điều tra thứ hai về vụ việc Vatopaidi nhằm lý giải tại sao các vị tu sĩ lại có được một giao dịch hời đến thế. Vị cán bộ nhà nước vốn lâu nay đang phải sống trong tình trạng căng thẳng – ông bị tịch thu hộ chiếu và sẽ chỉ được tự do nếu nộp 400.000 euro bảo lãnh – là trợ lý cho vị thủ tướng cũ, Giannis Angelou, người bị buộc tội đã tiếp tay cho các vị tu sĩ.

Trong một xã hội đã và đang trải qua một quá trình tương tự như sự sụp đổ hoàn toàn về đạo đức, thì các vị tu sĩ sẽ trở thành mục tiêu chung cho các cuộc nổi giận về đạo đức. Những công dân Hy Lạp có tư duy đúng đắn tới giờ vẫn còn giận dữ với họ và những kẻ đã tiếp tay cho họ, thế nhưng không ai biết đích xác các vị tu sĩ này đã làm gì, hay tại sao họ lại làm vậy.

Cha Arsenios khoảng chừng gần 60 tuổi – nhưng ai mà biết được đích xác, bởi bộ râu của các vị tu sĩ đều khiến họ trông như già hơn tới 20 tuổi. Độ nổi tiếng của ông thì khó có vị tu sĩ nào có thể sánh kịp: mọi người ở Athens đều biết ông là ai: ngài Tổng quản nội vụ, nhân vật tối cao thứ hai, ngài tổng chưởng tài chính, bộ não thực sự của hệ thống. “Nếu họ giao cho Arsenios phụ trách cục bất động sản”, một nhân vật môi giới bất động sản có tiếng ở Hy Lạp nói với tôi, “thì đất nước này có lẽ đã trở thành Dubai, trước khi có cuộc khủng hoảng này rồi”. Nếu bạn biết đến các vị tu sĩ này, thì Cha Arsenios chính là viên phụ tá tin cẩn đã một tay gây dựng nên cơ ngai trưởng tu viện kỳ diệu cho Cha Epharaim. Nếu bạn còn xa lạ với họ, thì hãy cứ hình dung vai trò của ông như vai trò của Jeff Skilling đối với Kenneth Lay.

Tôi cho nhà môi giới bất động sản này biết tôi là ai và tôi làm gì – tôi cũng nói thêm rằng mấy ngày trước tôi đã ở Athens phỏng vấn một số chính khách. Anh cười một cách thành thật: rõ ràng là anh mừng vì tôi đã tới đây! “Giới chính khách thường lui tới đây”, anh nói, “nhưng kể từ sau vụ bê bối của chúng tôi thì họ không còn lai vãng ở đây nữa. Họ sợ bị bắt gặp khi đang ở cạnh chúng tôi!”

Anh đưa tôi vào phòng ăn và đặt tôi ngồi vào một chiếc bàn có vẻ như là bàn danh dự dành cho người hành hương, bởi ngay bên cạnh đó là chiếc bàn của các vị tu sĩ cao cấp. Cha Ephraim chủ trì chiếc bàn đó, kề bên cạnh là Cha Arsenios.

Phần lớn đồ ăn của các vị tu sĩ đều do họ tự trồng trong một khu đất gần phòng ăn. Những chiếc bát thô ráp làm bằng bạc đựng các loại hành sống chưa cắt, đậu xanh, dưa chuột, cà chua, và củ cải đường. Một chiếc bát khác thì đựng bánh mỳ do các vị tu sĩ nướng từ nguồn lúa mỳ họ tự trồng. Có một bình nước, còn món tráng miệng là một chất sền sệt màu cam giống nước ga ngọt và một tảng mật ong sẫm màu mới được bẻ trộm từ một tổ ong nào đó. Tất cả chỉ có thế. Nếu đây là một nhà hàng ở Berkeley, hẳn các thực khách đã ồ lên tán thưởng vì được thưởng thức những món “cây nhà lá vườn” như vậy; còn ở đây, bữa ăn chỉ thuần túy toát lên vẻ đạm bạc. Các vị tu sĩ ăn như những cô người mẫu trước ngày chụp hình. Hai bữa một ngày, bốn ngày một tuần, và ba ngày còn lại mỗi ngày một bữa: tổng cộng là 11 bữa, tất cả đều hao hao như nhau. Điều này không khỏi khiến người ta đặt câu hỏi: Tại sao vẫn có một vài vị tu sĩ có thân hình hộ pháp? Đa phần trong số họ − có lẽ là 100 trên 110 người hiện đang sống tại đây – đều có vẻ ngoài phản ánh đúng tình trạng dinh dưỡng của họ. Còn hơn cả gầy, thân hình họ mỏng tang. Nhưng một số ít người, trong đó có hai vị đứng đầu tu viện, lại có cơ thể phì nhiêu khó lý giải nổi bằng 11 bữa ăn chỉ gồm hành sống và dưa chuột, cho dù họ có ăn bao nhiêu tảng ong đi chăng nữa.

Sau bữa ăn tối, các vị tu sĩ quay trở lại nhà thờ, tiếp tục cầu nguyện, hát thánh kinh, làm dấu, và đốt nhang cho tới một giờ sáng. Arsenios dẫn tôi đi dạo. Chúng tôi đi qua các nhà nguyện được xây theo kiểu kiến trúc Byzantine và leo lên các bậc thang kiểu Byzantine, rồi dừng chân trước một cánh cửa xuất hiện ở một sảnh dài cũng kiểu Byzantine mới được sơn lại, tuy mọi thứ khác trông vẫn cổ xưa: đó là văn phòng của ông. Trên bàn có hai chiếc máy tính; đằng sau là chiếc máy fax kiêm máy in mới cứng; bên trên là một chiếc điện thoại di động và một tuýp vitamin C. Ánh sáng hắt ra từ các bức tường và sàn nhà đem lại vẻ mới mẻ cho căn phòng. Những chiếc tủ bày hàng dãy sổ sách đóng gáy ba vòng. Dấu hiệu duy nhất cho thấy đây không phải là một văn phòng kinh doanh tiêu biểu năm 2010 là một bức tượng đặt trên bàn. Ngoại trừ bức tượng đó ra, nếu đem văn phòng này đặt cạnh văn phòng của ngài bộ trưởng tài chính Hy Lạp rồi hỏi phòng nào là của vị tu sĩ, thì hẳn người ta sẽ không chọn căn phòng này.

“Ngày nay con người ta có khao khát mạnh mẽ hơn về vấn đề tâm linh”, ông nói khi tôi hỏi tại sao tu viện của ông lại thu hút nhiều nhân vật quan trọng trong thương trường và chính trường như vậy. “Cách đây 20 – 30 năm người ta dạy rằng khoa học sẽ giải quyết tất cả mọi vấn đề. Có quá nhiều vật chất nhưng chúng vẫn chưa khiến con người thỏa mãn. Người ta đã mệt mỏi với những hoan lạc phàm tục, với vật chất. Và họ nhận ra họ không thể tìm thấy thành công đích thực ở những chốn đó”. Dứt lời, ông nhấc điện thoại lên gọi đồ uống và đồ tráng miệng. Một lát sau, một chiếc khay bạc được đưa tới, trên đó là bánh ngọt và hai ly trông như ly rượu bạc hà.

Và thế là cuộc hội thoại kéo dài 3 tiếng của chúng tôi bắt đầu. Tôi chỉ đặt những câu hỏi đơn giản – Tại sao người ta lại muốn trở thành tu sĩ? Các ngài sống ra sao khi thiếu bóng phụ nữ? Làm thế nào mà những con người dành tới cả chục tiếng mỗi ngày trong tu viện lại có thời gian gây dựng nên những đế chế bất động sản? Ngài lấy rượu bạc hà ở đâu? – còn ông thì trả lời bằng những trường thiên vô tận mà hẳn đâu đó trong những trường thiên ấy có chứa những câu trả lời đơn giản. (Chẳng hạn: “Tôi cho rằng có nhiều điều tốt đẹp hơn là dục tình.”) Trong khi trò chuyện, ông hết vẫy tay lại nhảy chồm chồm xung quanh, cười mỉm rồi lại phá lên cười. Nếu Cha Arsenios cảm thấy tội lỗi về điều gì đó, thì ông không phải là người có tài che giấu nó. Tôi đồ rằng cũng giống như rất người nhiều đã và đang lui tới Vatopaidi, tôi không hoàn toàn tin chắc mình đang muốn tìm kiếm điều gì. Tôi muốn tìm hiểu xem liệu nó có giống tiền đồn của một đế chế thương mại không (không) và liệu các vị tu sĩ ở đây có vẻ gì kém chân thật không (không). Nhưng tôi cũng băn khoăn không hiểu làm thế nào mà một nhóm dị nhân đã quay lưng lại với thế giới phàm tục lại có thể làm được những điều chọc trời khuấy nước ở thế giới đó như vậy: Tại sao các vị tu sĩ – chứ không phải những tầng lớp khác – lại trở thành lựa chọn tiềm năng nhất ở Hy Lạp cho một nghiên cứu trường hợp điển hình của Trường Kinh doanh Harvard?

Sau khoảng hai giờ, tôi cũng lấy được can đảm lên tiếng hỏi ông. Thật ngạc nhiên là ông lại đánh giá câu hỏi của tôi một cách rất nghiêm túc. Ông chỉ tay vào tấm biển được treo trên một chiếc tủ trong phòng, rồi dịch chữ Hy Lạp viết trên đó cho tôi nghe: Người thông minh biết chấp nhận. Kẻ ngu ngốc chỉ khăng khăng giữ ý mình.

Theo lời ông thì ông biết câu này trong một chuyến công tác tới Bộ Du lịch. “Đây là bí quyết thành công ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, chứ không chỉ ở riêng tu viện”, ông nói, rồi quay sang miêu tả từ quy tắc đầu tiên của thể loại kịch ứng diễn, hay của bất kỳ doanh nghiệp thành công nào. Chấp nhận mọi thứ xảy đến với mình rồi tận dụng chúng mà đi lên. “Vâng,… và” thay vì “Không,… nhưng”. “Kẻ ngu ngốc bị trói chặt vào lòng tự hào của họ”, ông nói. “Mọi việc lúc nào cũng phải theo ý họ. Điều này cũng đúng với kẻ lừa đảo hoặc kẻ làm điều sai trái: hắn bao giờ cũng tìm cách biện hộ cho mình. Người thông thái về đời sống tinh thần của bản thân là người khiêm nhường. Anh ta chấp nhận tất cả những gì mà người khác nói với mình – những lời phê bình, những ý tưởng – và rồi xử lý chúng”.

Lúc này, tôi mới để ý cửa sổ phòng ông trổ ra một chiếc ban công trông ra Biển Aegean. Các tu sĩ không được phép ra đó bơi; tại sao thì tôi không hỏi. Tuy nhiên, xây nhà ven biển, cấm bơi có vẻ phù hợp với phong cách của họ. Tôi cũng nhận ra mình là người duy nhất đụng đến bánh ngọt và rượu bạc hà. Bất giác tôi cảm thấy như mình vừa trượt kỳ sát hạch khả năng kiềm chế cám dỗ.

“Cả chính phủ đều nói họ tức giận với chúng tôi”, ông nói. “Nhưng chúng tôi có gì nào. Chúng tôi làm việc vì người khác. Giới báo chí Hy Lạp gọi chúng tôi là một tập đoàn. Nhưng tôi hỏi anh, có công ty nào tồn tại trong cả nghìn năm không?”

Đúng lúc đó, Cha Ephraim thình lình bước vào. Khuôn người tròn trịa, đôi má hồng và bộ râu trắng, hao hao ông già Noel. Đôi mắt ông thậm chí còn sáng nhấp nháy. Vài tháng trước, ông bị đưa ra điều trần trước nghị viện Hy Lạp. Một trong những người thẩm vấn ông nói rằng chính phủ Hy Lạp đã hành động kém hiệu quả một cách bất thường khi đổi cái hồ của tu viện Vatopaidi lấy các tài sản thương mại của Bộ Nông nghiệp. Người này yêu cầu Ephraim tường trình cách ông làm điều đó.

“Ngài không tin là điều kỳ diệu có thể xảy ra hay sao”, Ephraim hỏi.

“Tôi bắt đầu tin rồi đấy”, ông nghị viện nói.

Khi được giới thiệu với nhau, Ephraim nắm chặt tay tôi và giữ rất lâu. Một ý nghĩ thoảng qua trong đầu tôi về việc ông chuẩn bị hỏi xem tôi muốn quà gì cho dịp Giáng sinh sắp tới cũng nên. Tuy nhiên, ông lại nói: “Anh theo đạo nào?” “Tân giáo”, tôi đáp lời ngay tức khắc. Ông gật đầu, rồi kiểm tra: nó có thể còn tồi tệ hơn; có thể còn tồi tệ hơn. “Anh có gia đình chưa?” ông hỏi. “Vâng, tôi lập gia đình rồi”. “Anh có con chứ?” tôi gật đầu; ông lại kiểm tra: tôi có thể xử lý việc này. Rồi ông hỏi tên các con tôi…

Cuộc điều tra thứ hai của nghị viện đối với vụ việc tu viện Vatopaidi vẫn đang được tiến hành, khó mà biết được nó sẽ còn phát giác ra những gì. Nhưng những tình tiết chính của vụ việc này đã rõ; câu hỏi lớn cần trả lời lúc này là động cơ của các vị tu sĩ cũng như của các công bộc đã trợ giúp họ là gì. Cuối thập niên 1980, Vatopaidi là một nơi hoang tàn đổ nát – một đống gạch đá nát vụn làm sân chơi cho bầy chuột. Những tấm bích họa đều một màu đen. Tượng thánh không người chăm sóc. Lúc đó cũng có khoảng hơn chục vị tu sĩ sinh sống quanh các tảng đá cổ xưa, nhưng họ không có người cai quản và không có tổ chức. Theo ngôn ngữ nhà thờ thì họ tu theo cách tự quản, thân ai người ấy lo. Không có ai đứng ra phụ trách; họ không có một mục tiêu chung. Nói cách khác, mối quan hệ giữa họ với tu viện rất giống mối quan hệ giữa công dân Hy Lạp với nhà nước của mình.

Điều đó đã thay đổi vào đầu thập niên 1990, khi một nhóm các vị tu sĩ trẻ nhiệt huyết người Síp gốc Hy Lạp đến từ một vùng khác ở Athos, do Cha Ephraim dẫn đầu, nhận thấy một cơ hội tái xây dựng: một thứ tài sản tự nhiên tuyệt vời đang bị quản lý kém hiệu quả. Ephraim bắt tay vào quyên góp tiền để phục dựng Vatopaidi như thời huy hoàng trước kia của nó. Ông không ngừng yêu cầu Liên minh châu Âu gửi những khoản tài trợ văn hóa. Ông làm bạn với các doanh nhân Hy Lạp giàu có đang cần xá tội. Ông còn kết thân với các chính khách quan trọng của Hy Lạp. Qua tất cả những hành động này, ông thể hiện một sự trơ tráo khó tin. Chẳng hạn, sau khi một ca sĩ nổi tiếng người Tây Ban Nha tới thăm và có ý quan tâm tới Vatopaidi, ông đã lợi dụng sự quan tâm này để lôi kéo thêm một đoàn khách gồm các quan chức chính phủ Tây Ban Nha. Những người này được nghe kể rằng một vụ bất công lớn đã từng xảy ra ở đây: vào thế kỷ XIV, một toán lính đánh thuê Catalan, do bất mãn với hoàng đế xứ Byzantine, đã xông vào cướp bóc tu viện Vatopaidi và gây ra thiệt hại nặng nề. Sau câu chuyện đó, tu viện này được nhận 240.000 đô-la từ các vị quan chức chính phủ trên.

Rõ ràng, một phần chiến lược của Ephraim là đưa Vatopaidi trở lại vị thế mà nó từng nắm giữ trong gần suốt chiều dài của Đế chế Byzantine trước kia: một tu viện có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Đây cũng là điểm khác biệt giữa nó với quốc gia chứa đựng nó. Mặc dù đã gia nhập Liên minh châu Âu, song Hy Lạp vẫn duy trì một nền kinh tế khép kín; không thể định rõ nguồn gốc mọi rắc rối của quốc gia này, nhưng nếu động vào các rắc rối đó, thì ta sẽ bị cô lập. Những gì mà người khác có thể thực hiện hiệu quả hơn thì họ lại hì hục tự làm; những giao dịch với các quốc gia khác có thể mang lại lợi ích cho họ không xảy ra. Trên bình diện chung thì tu viện Vatopaidi là một biệt lệ kỳ diệu: nó xây dựng các mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Trường hợp nổi tiếng nhất, trước khi vụ bê bối bung ra, Thái tử Charles đã từng viếng thăm nơi này ba mùa hè liên tiếp, mỗi lần ông lưu lại một tuần.

Các mối quan hệ với giới giàu có và tiếng tăm giữ vai trò thiết yếu trong công cuộc bám đuổi những khoản trợ cấp và bồi thường của chính phủ, nhưng đồng thời, nó cũng nhằm phục vụ cho mũi thứ ba trong chiến lược quản lý mới của tu viện: bất động sản. Cho tới lúc này, điều thông minh nhất mà Cha Ephraim từng làm là đi lùng sục quanh một tòa tháp cổ, nơi lưu trữ những bản thảo viết tay thời đế chế Byzantine mà hàng thập kỷ nay không ai động đến. Qua nhiều thế kỷ các hoàng đế Byzantine và các hoàng đế khác đã trao cho Vatopaidi nhiều mảnh đất khác nhau, chủ yếu tập trung ở lãnh thổ của Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Những năm trước khi Ephraim xuất hiện, chính phủ Hy Lạp đã thu hồi phần lớn số bất động sản này, song Vatopaidi vẫn còn quyền sở hữu đối với một chiếc hồ nằm ở phía bắc Hy Lạp do Hoàng đế John V Palaiologos trao tặng.

Khi Ephraim phát hiện ra tờ chứng thư chuyển nhượng chiếc hồ trong các căn hầm ở Vatopaidi, thì chiếc hồ này đã được chính phủ Hy Lạp trưng dụng làm khu bảo tồn thiên nhiên. Nhưng rồi, tới năm 1998 thì đột nhiên nó không còn chức phận đó nữa: ai đó đã cho phép nó chấm dứt nghĩa vụ của mình. Không lâu sau đó, các vị tu sĩ được trao toàn quyền sở hữu chiếc hồ.

Quay trở lại Athens, tôi lần mò tìm Peter Doukas, vị quan chức trong Bộ Tài chính, người đầu tiên được các vị tu sĩ Vatopaidi tiếp cận. Giờ đây, Doukas đang là tâm điểm hai vụ thanh tra của quốc hội, nhưng kỳ quặc một nỗi là ông lại trở thành người duy nhất trong chính phủ sẵn lòng chia sẻ công khai về những gì đã diễn ra. Không giống phần lớn các quan chức khác trong chính phủ Hy Lạp, Doukas không phải là người ăn đời ở kiếp với nghề này; ông đã kiếm được bộn tiền trong khu vực tư nhân – cả trong và ngoài Hy Lạp – và rồi, vào năm 2004, do yêu cầu của thủ tướng, ông đã đảm nhiệm một vị trí trong Bộ Tài chính. Khi đó ông 52 tuổi, và gần như đã dành trọn sự nghiệp của mình trong vị trí quản lý ở ngân hàng Citigroup tại New York. Chính Doukas là người chịu trách nhiệm cho sự tồn tại khoản nợ dài hạn của chính phủ Hy Lạp. Vào thời điểm lãi suất còn thấp, và không ai thấy có rủi ro gì khi đưa tiền cho chính phủ Hy Lạp vay, ông đã thuyết phục lãnh đạo của mình để phát hành những trái phiếu kỳ hạn 40 – 50 năm. Sau đó, báo chí Hy Lạp chạy những hàng tít tấn công vào ông (DOUKAS THẾ CHẤP TƯƠNG LAI CON CHÁU CHÚNG TA), song đó lại là một hành động rất xuất sắc. Khối trái phiếu dài hạn trị giá 18 tỉ đô-la bây giờ đổi được 50 xu trên một đô-la – có nghĩa là chính phủ Hy Lạp có thể mua lại chúng trên thị trường tự do. “Tôi đã tạo ra được một khoản lợi nhuận giao dịch trị giá 9 tỉ đô-la cho họ,” Doukas vừa nói vừa phá lên cười. “Họ nên thưởng cho tôi mới phải!”

Không lâu sau khi Doukas nhậm chức, hai tu sĩ đường đột xuất hiện tại văn phòng của ông ở Bộ Tài chính. Một người là Cha Ephraim mà Doukas đã biết tiếng; người thứ hai Doukas chưa biết nhưng rõ ràng đó là cánh tay đắc lực đảm nhiệm phần thừa hành, một vị tu sĩ có tên Cha Arsenios. Họ nói họ sở hữu chiếc hồ đó, và họ muốn Bộ Tài chính trả tiền cho họ. “Có người đã trao cho họ toàn quyền sở hữu chiếc hồ đó,” Doukas nói. “Điều họ muốn lúc này là chuyển cái quyền đó thành tiền mặt. Họ đến gặp tôi rồi hỏi, “Ngài có thể mua quyền sở hữu của chúng tôi được không?” Doukas cảm thấy rằng trước buổi gặp này, họ đã có những sự chuẩn bị hết sức chu toàn. “Trước khi họ đến gặp anh họ biết rất rõ về bản thân anh – vợ anh, cha mẹ anh, các tín ngưỡng của anh,” ông nói. “Điều đầu tiên họ hỏi tôi là tôi có muốn nhờ họ lắng nghe lời thú tội của tôi hay không”. Doukas cho rằng sẽ chẳng hay ho gì nếu kể cho các vị tu sĩ này biết về những bí mật của mình. Nên thay vào đó, ông bảo với họ rằng ông sẽ không đưa họ tiền để đổi lấy cái hồ − và lúc đó ông vẫn chưa hiểu làm thế nào mà họ lại sở hữu được nó. “Có vẻ như họ nghĩ là tôi có từng đó tiền để mà chi tiêu,” Doukas nói. “Tôi nói, ‘Các ngài nghe này, trái với phỏng đoán của mọi người, Bộ Tài chính không có tiền đâu.” Rồi họ bảo, ‘Được thôi, nếu ngài không mua được, thì tại sao ngài lại không đưa cho chúng tôi một ít đất của ngài?”

Hóa ra đây lại là một chiến lược đắc thắng: đổi chiếc hồ − vốn không đem lại được chút tiền thuê nào – để lấy những bất động sản quốc hữu có khả năng làm việc đó. Bằng cách nào đó các vị tu sĩ này đã thuyết phục được các quan chức chính phủ tin rằng khu đất quanh hồ có giá trị lớn gấp nhiều lần so với con số 55 triệu euro mà một nhà định giá độc lập đưa ra sau này, và rồi họ sử dụng giá trị đó để đòi lấy khối tài sản bất động sản của chính phủ trị giá 1 tỉ euro. Doukas từ chối trao cho họ bất kỳ khoản tiền nào trong số khoảng 250 tỉ euro bất động sản do Bộ Tài chính kiểm soát. (“Quên chuyện tôi làm việc đó đi,” nguyên văn câu ông đã nói với họ như vậy.) Các vị tu sĩ lại tìm tới nguồn cung cấp đất đai có giá trị lớn thứ hai – các trang trại và rừng do Bộ Nông nghiệp kiểm soát. Doukas nhớ lại, “Tôi nhận được một cuộc điện thoại từ ông bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, ông này nói rằng, “Chúng tôi sẽ đổi cho họ toàn bộ số đất đai này, nhưng vẫn chưa đủ. Sao ông không quẳng vào đó một ít đất của ông?” Sau khi Doukas từ chối, ông nhận được cuộc điện thoại thứ hai – lần này là từ văn phòng thủ tướng. Nhưng ông vẫn nói không. Tiếp theo, ông nhận được một công văn nói rằng ông sẽ phải trao đất chính phủ cho các vị tu sĩ đó, và tất cả những gì ông cần làm là ký vào tờ công văn đó. “Tôi nói, ‘Quỷ tha ma bắt các người đi, tôi không ký cọt gì hết’. ”

Và ông đã không làm thế − ít nhất là không theo cung cách ban đầu. Nhưng văn phòng thủ tướng đã ép buộc ông; Doukas ngờ ngợ rằng các vị tu sĩ này có năng lực khống chế nào đó đối với vị chánh văn phòng thủ tướng. Người đó, Giannis Angelou, hóa ra đã quen biết các vị tu sĩ này từ vài năm trước, sau khi ông bị chẩn đoán mắc một căn bệnh hiểm nghèo. Các tu sĩ đã cầu nguyện cho ông ta; ông này không chết mà lại hồi phục một cách kỳ diệu. Tuy nhiên, ông ta đã thú tội trước những vị tu sĩ này.

Giờ đây, Doukas không còn coi các vị tu sĩ này là những kẻ lừa gạt đơn giản mà là những doanh nhân sắc sảo mà ông chưa từng chạm trán. “Tôi nói rằng họ nên quản lý Bộ Tài chính,” ông nói. “Nhưng họ không đồng ý.” Cuối cùng, dưới sức ép của lãnh đạo, Doukas ký tên vào hai tờ công văn. Tờ công văn thứ nhất cam kết sẽ không chống đối quyền sở hữu chiếc hồ của các vị tu sĩ; tờ công văn thứ hai cho phép thực hiện hoạt động trao đổi đất đai. Tờ công văn này không trao cho các vị tu sĩ quyền sở hữu bất kỳ khoảnh đất nào của Bộ Tài chính, nhưng – bằng việc đồng ý tiếp nhận cái hồ của họ vào kho bất động sản thuộc Bộ Tài chính – Doukas đã cho phép họ thực hiện trao đổi với Bộ Nông nghiệp. Đổi lấy cái hồ của mình, các vị tu sĩ nhận về 73 mảnh đất khác nhau của chính phủ, trong đó có một khu đất từng là trung tâm thể dục dụng cụ phục vụ Olympics 2004; khu này, chung số phận với phần lớn các công trình mà chính phủ Hy Lạp xây dựng cho Thế vận hội Olympics, giờ đây chỉ còn là một mảnh đất bỏ hoang. Vậy đấy, Doukas nghĩ. “Anh cho rằng họ là những con người thoát tục,” ông nói. “Có thể là họ muốn dùng nó để xây dựng một nhà trẻ mồ côi.”

Nhưng hóa ra, cái mà họ muốn xây dựng lại là một đế chế bất động sản thương mại. Khởi đầu, họ thuyết phục chính phủ Hy Lạp làm một việc hiếm hoi: tái định danh để chuyển giao rất nhiều khu đất phi thương mại sang phục vụ các mục đích thương mại. Không chỉ giới hạn ở những mảnh đất họ nhận được trong cuộc đổi chác đó – mà sau này quốc hội Hy Lạp ước tính trị giá 1 tỉ euro – các vị tu sĩ còn được tài trợ 100% vốn để mua các tòa nhà thương mại ở Athens và phát triển các khu đất mà họ mua được. Khu trung tâm thể dục dụng cụ Olympics sẽ trở thành một bệnh viện tư nhân hoành tráng – và rõ ràng ở đây, các vị tu sĩ đã nhận được sự hiệp lực nào đó. Sau đó, với sự giúp đỡ của một lãnh đạo ngân hàng Hy Lạp, các vị tu sĩ lại vạch kế hoạch thiết kế ra cái gọi là Quỹ Bất động sản Vatopaidi. Các nhà đầu tư vào quỹ này, về cơ bản, sẽ mua giúp các vị tu sĩ những mảnh đất họ được chính phủ giao. Các vị tu sĩ sẽ sử dụng số tiền đó để khôi phục tu viện trở về thời hoàng kim.

Từ một văn bản cổ chuyển nhượng quyền sở hữu một cái hồ vô giá trị, hai vị tu sĩ đã tạo dựng được một gia tài mà theo đánh giá của báo giới Hy Lạp trị giá khoảng từ hàng chục triệu tới hàng tỉ đô-la. Nhưng sự thực thì không ai biết tổng cộng họ có trong tay bao nhiêu tài sản tài chính; thực ra, một trong những lời chỉ trích dành cho cuộc điều tra thứ nhất của quốc hội là nó đã không bao quát hết mọi thứ mà các vị tu sĩ này sở hữu. Dựa vào cái lý thuyết rằng nếu muốn biết người giàu giàu tới cỡ nào thì tốt hơn hết anh phải đi hỏi những người giàu có khác – chứ không phải hỏi những người như những tay nhà báo chẳng hạn – tôi tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên một số người Hy Lạp từng kiếm bạc tỉ từ bất động sản hay tài chính. Họ ước tính giá trị các bất động sản và tài sản tài chính của các vị tu sĩ này ở khoảng dưới 2 tỉ đô-la nhưng trên 1 tỉ đô-la – đây là khoản tăng từ con số 0 tròn trĩnh kể từ khi ban lãnh đạo mới của tu viện lên nắm quyền. Và hoạt động kinh doanh này vỏn vẹn chỉ bắt đầu từ lòng khoan dung.

Tới 1 giờ sáng các vị tu sĩ mới xong những công việc ở nhà thờ. Theo Cha Arsenios giải thích, thông thường họ sẽ tỉnh dậy và tiếp tục công việc vào lúc 4 giờ sáng. Vào Chủ nhật, họ cho phép mình tỉnh dậy lúc 6 giờ. Kèm thêm 8 tiếng một ngày làm vườn, hoặc rửa bát, hoặc sản xuất rượu bạc hà – như vậy bạn có thể hình dung được tại sao ý tưởng của một người về thiên đường lại thành hình ảnh địa ngục trong mắt kẻ khác. Chủ nhân của hệ thống vận hành này, Cha Ephraim và Cha Arsenios, được thoát khỏi guồng máy kinh khủng này khoảng 5 ngày mỗi tháng; còn lại thì đây là cuộc sống của họ. “Phần lớn mọi người ở Hy Lạp đều hình dung cha trưởng tu viện là một kẻ lừa đảo,” một tu sĩ có tên Cha Matthew, đến từ Wisconsin, tâm sự với tôi trong một giây phút mà tôi cho rằng là chân thành. “Người nào ở Hy Lạp cũng đinh ninh rằng cha trưởng tu viện và Cha Arsenios có tài khoản ngân hàng bí mật. Thật là điên rồ hết mức. Họ sẽ làm gì với chúng nào? Họ không đi nghỉ cả tuần ở bãi biển Caribbean. Cha trưởng tu viện sống trong một căn phòng. Đó là một căn phòng đẹp. Nhưng ngài vẫn là một tu sĩ. Và ngài ghét phải rời bỏ tu viện.”

Vì biết rằng mình sẽ phải quay trở lại nhà thờ vào 6 giờ sáng hôm sau nên tôi đâm khó ngủ hơn, và tôi ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng. Một sự yên lặng hoàn hảo. Những mái vòm, những cột ống khói, những tòa tháp, và những cây thập tự Hy Lạp chấm phá vài điểm nhấn trên nền trời màu xám. Còn có cả một cặp cây cột khổng lồ lười biếng nữa: việc phong tỏa tài sản của các vị tu sĩ đã làm đình trệ công cuộc phục dựng tu viện. Lúc 5 giờ 15 phút, những tiếng rì rầm đầu tiên vọng ra từ phía bên trong nhà thờ, như thể có ai đó đang di chuyển quanh những tấm bình phong gắn ảnh tượng – công tác chuẩn bị hậu trường nhọc nhằn trước buổi lễ. 5 giờ 30 phút, một tu sĩ nắm lấy sợi dây thừng để đánh chuông. Sự im lặng lại bao trùm, và rồi, chỉ tích tắc sau, từ khu nhà ở dài hun hút của các vị tu sĩ, tiếng bíp bíp bíp phát ra từ những chiếc đồng hồ báo thức điện tử. 20 phút sau, các vị tu sĩ – một mình hoặc theo cặp – sấp ngửa chạy ra từ phòng ở của mình và đi xuống các bậc đá cẩm thạch để tới nhà thờ. Có cảm giác tựa như bạn đang chứng kiến cơn tỉnh giấc của nhà máy trong thành phố chỉ có một ngành nghề chỉ còn những hộp đựng cơm trưa là đủ.

Ba tiếng sau, khi đang ngồi ô tô quay về Athens, điện thoại của tôi lại reo. Cha Matthew gọi. Ông muốn tôi giúp một việc. Ôi không, tôi nghĩ, chắc họ vừa phát hiện ra ý định của mình nên ông ấy gọi để đưa ra đủ thứ ngăn chặn cho những gì mình sẽ viết đây. Đúng là họ đã phát hiện ra – phần nào như thế − nhưng ông ấy thì không. Ngài bộ trưởng Bộ Tài chính khăng khăng đòi kiểm tra xem tôi trích dẫn lời ông nói như thế nào, nhưng các vị tu sĩ ở đây thì để tôi tùy ý – một điều khá thú vị, nếu xét đến mức độ của những vụ kiện tụng mà họ đang phải đối mặt. “Chúng tôi đọc những bài báo của người cố vấn này ở thị trường chứng khoán Mỹ,” vị tu sĩ nói. “Tên ông ta là Robert Chapman…” (Tôi chưa bao giờ nghe đến tên ông ta. Hóa ra đó là tác giả của một mục tin tức về tài chính toàn cầu.) Cha Matthew nói rằng các vị tu sĩ đồng môn đang băn khoăn không rõ tôi đánh giá ông Robert Chapman này ra sao. Liệu những lời ông ta nói có đáng nghe không…

Hôm trước khi tôi rời Hy Lạp, quốc hội Hy Lạp đã thảo luận và biểu quyết thông qua một đạo luật nâng cao tuổi nghỉ hưu, giảm tiền lương nhà nước, và tinh giảm khu vực công. (“Tôi hoàn toàn tán đồng việc tinh giảm số lượng nhân viên khu vực công,” một thanh tra của IMF từng nói với tôi. “Nhưng anh sao làm được việc đó nếu anh không biết anh có bao nhiêu người?”) Thủ tướng Papandreou trình bày đạo luật này như cách ông vẫn tự mình trình bày mọi thứ kể từ sau khi phát hiện ra lỗ hổng trong những cuốn sổ sách – không phải với tư cách ý tưởng riêng của ông mà là một yêu cầu không nhân nhượng của IMF. Có vẻ như cái ý tưởng bao trùm ở đây là mặc dù người dân Hy Lạp sẽ không bao giờ chịu nghe theo bất kỳ lời kêu gọi hy sinh trong nước nào, nhưng biết đâu họ lại chịu nghe những lời kêu gọi từ bên ngoài. Tức là, họ thậm chí không còn muốn cai quản chính mình nữa.

Hàng nghìn nhân viên chính phủ đổ ra đường phố phản đối đạo luật đó. Đây chính là Đảng Trà phiên bản Hy Lạp: các cán bộ thuế nhận hối lộ, các giáo viên trường công không thực sự dạy học, các nhân viên được trả lương hậu hĩnh của các tuyến xe lửa quốc doanh phá sản vốn chưa một lần cho tàu chạy đúng giờ, nhân viên của các bệnh viện công ăn hối lộ để mua vật tư thiết bị với giá cắt cổ. Đó là họ, và trước mắt chúng ta bây giờ là một dân tộc đang tìm kiếm bất kỳ ai khác ngoài họ để đổ lỗi. Các nhân viên khu vực công của Hy Lạp tập hợp nhau lại thành từng đơn vị như những trung đội trong quân đội. Ở giữa mỗi đơn vị có hai hoặc ba hàng thanh niên tay cầm dùi cui được ngụy trang thành cán cờ. Họ đeo lủng lẳng các loại mặt nạ vải, mặt nạ phòng độc ở thắt lưng để có thể tiếp tục chiến đấu sau màn xịt hơi cay. “Phó thủ tướng bảo với chúng tôi rằng họ muốn có ít nhất là một người chết,” một vị cựu bộ trưởng nổi tiếng Hy Lạp cho tôi hay. “Họ muốn có chút đổ máu.” Trước đó hai tháng, vào ngày 5/5, trong cuộc tuần hành phản kháng đầu tiên, đám đông này đã hé lộ cho thấy những gì họ có thể làm. Khi nhìn thấy có người đang làm việc trong một chi nhánh của ngân hàng Marfin, các toán trai trẻ ném những chai cháy vào bên trong và đổ dầu vào khi lửa bùng lên nhằm chặn lối thoát. Phần lớn các nhân viên của ngân hàng Marfin đều thoát được qua mái nhà, nhưng ngọn lửa đã làm chết 3 người, trong đó có một phụ nữ trẻ đang mang bầu 4 tháng. Người dân Hy Lạp trên các tuyến phố thi nhau hét vào thi thể của họ, nói rằng như thế là đáng đời họ, vì họ đã cả gan làm việc. Những sự kiện đó diễn ra ngay trước mắt cảnh sát Hy Lạp, song cảnh sát không tiến hành bắt giữ ai cả.

Những ngày tiếp theo đó, những người biểu tình, về cơ bản, đã đóng cửa cả quốc gia Hy Lạp. Những kiểm soát viên không lưu cũng đình công và đóng cửa sân bay. Tại cảng Piraeus, đám đông ngăn chặn hành khách lên bờ mua sắm. Vào giữa lúc cao điểm của mùa du lịch, những đồng đô-la của các vị du khách, vốn là thứ mà nơi này hằng mong mỏi, lại bị chặn đường vào. Bất kỳ nhân viên nào thuộc khu vực tư nhân nếu không nghỉ việc để thể hiện sự đồng cảm với họ đều nằm trong diện chịu nguy hiểm. Cửa hàng cửa hiệu ở khắp Athens đều đóng cửa, và ở Acropolis tình hình cũng tương tự.

Nhóm dẫn đầu tập hợp ở giữa một đại lộ rộng lớn, cách chi nhánh ngân hàng vừa bị đốt và cướp phá khoảng vài mét. Việc họ đốt ngân hàng, trong hoàn cảnh đó, thật khó mà tin nổi. Nếu thế giới này có chút công lý thì hẳn những người làm trong lĩnh vực ngân hàng ở Hy Lạp sẽ tuôn ra phố mà tuần hành phản đối cái đạo đức của những công dân Hy Lạp. Mái hiên vòm ở ngân hàng Marfin mới được chuyển thành một miếu thờ thê lương: một đống thú nhồi bông dành tặng sinh linh chưa chào đời, một vài bức hình chụp các vị tu sĩ, một tấm biển trích dẫn câu nói của nhà hùng biện cổ Isocrates: “Nền dân chủ tự phá hủy nó bởi nó lạm dụng quyền tự do và bình đẳng. Bởi nó dạy cho các công dân của mình coi sự trơ tráo là quyền lợi, sự vô luật pháp là tự do, những lời nói tàn độc vô tâm là bình đẳng, và sự vô chính phủ là tiến bộ.” Ở đầu bên kia của đại lộ, một toán cảnh sát chống bạo loạn đứng san sát, tay giơ tấm chắn, giống như những chiến binh Sparta. Sau lưng họ là tòa nhà của quốc hội; bên trong, đồn rằng người ta đang sốt sắng tranh luận với nhau, tuy không ai thực sự biết người ta đang nói hay làm những gì ở đó, vì các nhà báo Hy Lạp lúc này cũng không làm việc nữa. Đám đông bắt đầu hô vang khẩu hiệu và tiến về phía cảnh sát lúc này đang có lực lượng áp đảo: cảnh sát bất động. Chính những giây phút này khiến người ta có cảm giác rằng bất kỳ việc gì cũng có thể xảy ra. Thực ra, đó chỉ là vấn đề người ta sẽ nhảy theo cách nào mà thôi.

Đó cũng là cái cảm giác ở các thị trường tài chính. Câu hỏi mà mọi người muốn có câu trả lời là: Liệu Hy Lạp có vỡ nợ hay không? Có luồng ý kiến cho rằng họ không có sự lựa chọn nào: những biện pháp mà chính phủ thực hiện để cắt giảm chi phí, gia tăng doanh thu sẽ khiến những gì còn lại của nền kinh tế hiệu quả rời khỏi đất nước. Các loại thuế ở Bulgari thấp hơn, công nhân ở Romania dễ thích nghi hơn. Nhưng còn có một câu hỏi thứ hai, thú vị hơn: Ngay cả trong trường hợp, người Hy Lạp có thể trả nợ, sinh hoạt trong phạm vi khả năng của họ, và trở lại vị thế tốt đẹp trước kia trong Liên minh châu Âu, thì liệu họ có đủ nguồn lực nội bộ để thực hiện điều đó? Hay vì đã để mất khả năng cảm nhận sự gắn kết với mọi thứ bên ngoài thế giới nhỏ bé của họ mà họ thà chọn cách rũ bỏ mọi trách nhiệm? Việc chấp nhận vỡ nợ rồi phủi tay quay đi có vẻ là một hành động điên rồ: tất cả các ngân hàng Hy Lạp sẽ lập tức phá sản, quốc gia này sẽ không còn khả năng chi trả để nhập khẩu nhiều mặt hàng thiết yếu, và chính phủ sẽ chịu một án phạt kéo dài nhiều năm dưới hình thức phải chịu lãi suất cao hơn, nếu và khi họ được phép vay mượn trở lại. Song quốc gia này lại hành xử như một tập hợp các nguyên tố riêng rẽ, mỗi nguyên tố đều đã quen với việc theo đuổi lợi ích riêng của bản thân, sẵn sàng chà đạp lên lợi ích chung. Chắc chắn, chính phủ này chí ít cũng sẽ hạ quyết tâm tái tạo đời sống dân sự ở Hy Lạp. Câu hỏi duy nhất là: Liệu một thứ như thế, sau khi để mất, còn có thể tái tạo được nữa hay không.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.