Bong Bóng Kinh Tế Và Làn Sóng Vỡ Nợ Quốc Gia - Chương 5
5. Quá nặng nề để cất cánh?
Ngày 5/8/2011, thị trường trái phiếu Bộ Ngân khố Mỹ tăng vọt chỉ giây phút sau khi, lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, một công ty xếp hạng hạ điểm tín nhiệm của Mỹ. Bốn ngày sau, lãi suất chính phủ Mỹ trả cho các trái phiếu mới kỳ hạn 10 năm của họ hạ xuống mức thấp kỷ lục, 2,04%. Giá vàng cùng giá trái phiếu Bộ Ngân khố Mỹ tăng cao, nhưng giá của hầu hết các loại chứng khoán và trái phiếu khác tại các quốc gia phương tây giàu có lại lâm vào tình trạng rơi tự do. Hiệu ứng thực sự của việc một công ty xếp hạng lớn của Mỹ lên tiếng rằng khả năng trả nợ của chính phủ Mỹ thấp hơn trước đây nằm ở chỗ, nó sẽ hạ thấp chi phí cho chính phủ Mỹ vay và nâng cao chi phí vay mượn của chính phủ các nước khác. Điều này cho chúng ta biết rất nhiều về khả năng “bóc ngắn cắn dài” của chính phủ Mỹ: hiện tại, tài khoản của Mỹ là 0. Chính phủ Mỹ càng tỏ ra bấp bênh bao nhiêu, thì họ càng có khả năng vay mượn với chi phí thấp hơn bấy nhiêu. Họ vẫn chưa vướng phải cái vòng luẩn quẩn đã đe dọa đời sống tài chính của hàng loạt quốc gia châu Âu: một thoáng nghi ngờ khiến lãi suất vay tăng cao, dẫn tới mối nghi ngờ càng lớn, lại càng đẩy lãi suất vay lên cao, và cứ thế, cho tới khi họ trở thành một phiên bản của Hy Lạp. Nỗi sợ nước Mỹ có thể không trả được những khoản nợ mà họ đã vay vẫn còn là điều gì đó vô thực.
Ngày 19/12/2010, mục tin tức 60 phút lên sóng một chương trình dài 13 phút nói về chính phủ Mỹ và tình hình tài chính sở tại, trong đó phát thanh viên Steve Kroft phỏng vấn Meredith Whitney, một chuyên gia phân tích ở Phố Wall. Năm 2007, bà đã nổi tiếng với lời phỏng đoán chính xác rằng tổn thất của Citigroup trong các thương vụ trái phiếu dưới chuẩn của Mỹ lớn vượt ngoài sức tưởng tượng của mọi người, và bà cũng dự đoán rằng ngân hàng ngày sẽ bị buộc phải cắt giảm lợi tức. Mẩu tin của 60 phút đưa ra thông tin đáng lưu ý là nhà nước Mỹ và các chính phủ liên bang đang đối mặt với mức thâm hụt hàng năm lên tới gần nửa tỉ đô-la, và khoảng trống 1,5 tỉ đô-la nữa giữa những gì mà chính phủ đang nợ những người về hưu và số tiền mà họ có trong tay để trả lương hưu. Whitney còn cho rằng những con số này còn quá lạc quan, bởi chính phủ Mỹ không chịu công khai thông tin tài chính cho dư luận. Thống đốc bang New Jersey, Chris Christie, đồng ý với bà, và nói thêm: “Sẽ ra sao nếu sự việc còn tồi tệ hơn?” Món nợ của chính phủ Mỹ với những người về hưu quá lớn, tới nỗi dù con số cuối cùng là bao nhiêu thì họ cũng không thể hoàn trả được. Cuối chương trình, Kroft hỏi Whitney nghĩ gì về khả năng và sự sẵn lòng của chính phủ Mỹ với việc trả nợ, và bà cho rằng không có mối rủi ro vỡ nợ ở đây, bởi chính phủ Mỹ có thể đẩy các vấn đề của họ xuống các hạt, các thành phố. Nhưng tại những địa hạt hành chính thấp hơn này, nơi sinh sống thực sự của người Mỹ, bà vẫn cho rằng sẽ nảy sinh những vấn đề hết sức nghiêm trọng. “Đó có thể là những khoản vỡ nợ trị giá 50 hay 100 triệu [đô-la]. Và nó sẽ xảy ra trong vòng 12 tháng tới”, bà nói.
Lời tiên đoán đó đã có hiệu lực thực tế và có sức ảnh hưởng lớn: ngay sau khi bà dứt lời, người ta đã bắt đầu lo ngại về tình hình tài chính ở các thành phố của Mỹ. Ngày hôm sau, thị trường trái phiếu công đi lùi, tới mức các nhà quản lý tiền tệ − những người đã khuyên khách hàng mua trái phiếu thành phố − buộc phải cử thêm người phân tích các chính phủ và thành phố để chứng minh lời dự đoán của bà là sai. (Một người trong số đó còn gọi hiện tượng này là “Đạo luật tuyển dụng chuyên gia phân tích trái phiếu công Meredith Whitney”). Trong nội bộ giới tài chính xuất hiện một dòng “chính luận” mới, tập trung thuyết phục độc giả rằng Meredith Whitney không biết mình đang nói gì. Và thực tình thì bà cũng dễ bị tấn công, bởi cho tới khi ấy, bà mới chỉ xuất hiện trong chương trình 60 phút và không hề có chút kinh nghiệm nào về tình hình tài chính công của Mỹ. Nhiều bài báo đã lên tiếng đả phá, cho rằng bà đã đưa ra một lời dự đoán hết sức cụ thể mà khó lòng thành hiện thực − những khoản vỡ nợ lên tới hàng trăm triệu đô-la một năm! (Ví dụ: Tờ Tin tức Bloomberg chạy dòng tít: MEREDITH WHITNEY MẤT UY TÍN KHI CÁC KHOẢN VỠ NỢ CÔNG GIẢM 60%). Cơn lốc do cơn hoảng loạn ngắn ngủi trên thị trường gây ra đã hút vào nó tất cả những ai có liên quan tới thị trường tài chính công. Ngay cả những người bàn quang và tỉnh táo của Trung tâm Ngân sách và Ưu tiên Chính sách ở thủ đô Washington cũng đưa ra một công bố nói có “một sự hiểu lầm rằng cần đưa ra những biện pháp mạnh tay và tức thời nhằm ngăn chặn một sự sụp đổ tài chính nhãn tiền.” Công bố này được báo giới coi là lời đáp trả Meredith Whitney, bởi bà là người duy nhất đưa ra dự đoán trên.
Nhưng đó lại không phải những gì bà nói: lời nói của bà đã bị diễn giải sai, thành ra thông điệp bà đưa ra lại dễ bị tấn công hơn. Một người trong nhóm thực hiện chương trình 60 phút đã kiểm tra lại băng ghi âm cuộc phỏng vấn trên cho tôi hay: “Bà ấy chỉ nhắc đến cái thói tự mãn của các công ty xếp hạng tín nhiệm và các nhà tư vấn đầu tư vì họ cứ khăng khăng rằng chẳng có gì đáng lo lắng cả. Bà ấy thì cho rằng cần phải lo lắng đến một vài điều, và điều gì thì trong 12 tháng tới mọi người đều sẽ biết.”
Dù sao thì Meredith Whitney cũng đã tìm ra được điểm nén trong nền tài chính Mỹ: đó là nỗi sợ rằng sẽ đến ngày các thành phố Mỹ không hoàn trả được khoản tiền mà họ đã vay mượn. Khác với thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường trái phiếu các thành phố dễ hoảng sợ hơn. Các thành phố và chính phủ các bang của Mỹ cũng chịu chung cái hành trình tử thần đã từng đẩy Hy Lạp tới chỗ cầu viện Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Tất cả chỉ cần một người phụ nữ, vốn không có vị trí nào trên thị trường trái phiếu thành phố, đứng lên phát biểu một vài câu trên truyền hình là đã đủ để dấy lên một làn sóng nghi ngờ, và nâng cao lãi suất cho vay đối với các bang và thành phố. Điều thú vị là ở chỗ, người phụ nữ này thậm chí chẳng đưa ra điều gì để hậu thuẫn cho phát ngôn của mình. Bà đã viết một bản báo cáo dày, chi tiết về tình hình tài chính của các bang và thành phố sở tại, nhưng không một ai, ngoại trừ một nhóm nhỏ các khách hàng của bà, biết trong đó có những gì. Lãnh đạo một quỹ đầu cơ nói với tôi: “Nếu là kẻ xấu, hẳn tôi đã ngồi rung đùi nhìn họ mà nói, ‘Đám này dễ bị lùa như lùa vịt’”.
Điều mà Meredith Whitney định nói còn thú vị hơn những gì người ta diễn giải ra. Bà không quan tâm quá nhiều tới thị trường trái phiếu thành phố, hay bao nhiêu thành phố sẽ bị phá sản. Thị trường trái phiếu thành phố là một vũng nước tù đọng kinh khủng, mà theo lời bà nói thì, “Ai thèm quan tâm tới cái thị trường trái phiếu bốc mùi đó chứ?” Sở dĩ bà nhắc tới nó vì bà nhìn nhận nền kinh tế toàn quốc Mỹ là một tập hợp của các nền kinh tế khu vực. Và để tìm hiểu các nền kinh tế khu vực, bà cần phải tìm hiểu cách hành xử của các chính phủ liên bang; và để tìm hiểu được điều này, bà cần phải tìm hiểu tình hình tài chính của họ. Do vậy, bà đã dành tới hai năm để nghiên cứu tình hình tài chính của các thành phố và các bang. Bà cho biết: “Tôi không chủ định làm việc này. Khách hàng không yêu cầu tôi làm thế. Tôi làm thế vì muốn tự mình tìm hiểu nó. Tất cả bắt đầu từ một câu hỏi: tại sao dự đoán về GDP lại cao đến thế khi mà các bang từng nổi trội trong thời kỳ bùng nổ kinh tế giờ đây lại hoạt động kém hiệu quả hơn mức trung bình toàn nền kinh tế − và họ chiếm tới 22% trong nền kinh tế đó?” Và đó là một câu hỏi hay.
Từ năm 2002 tới năm 2008, chính phủ các bang đã tích tụ nợ song song với các khoản nợ của các công dân: tính gộp lại, con số nợ của họ đã tăng gấp đôi, và mức chi tiêu của họ tăng 2/3. Cũng trong thời gian đó, họ đã, một cách có hệ thống, giảm dần mức đầu tư vào các quỹ lương hưu và các tài sản tương lai khác, con số tổng lên tới gần 1,5 tỉ đô-la. Số tiền trích cho các quỹ lương hưu đó có lẽ đã được họ đem đi đầu tư vào các loại tài sản khác rủi ro hơn. Năm 1980, chỉ có 23% số tiền của quỹ lương hưu được đầu tư vào thị trường chứng khoán; tới năm 2008, con số này đã tăng lên tới 60%. Hài hước hơn cả là các quỹ lương hưu này đều chắc mẩm rằng họ có thể kiếm được 8% lợi nhuận trên số tiền đã bỏ ra đầu tư, vào thời điểm mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ hứa hẹn sẽ duy trì lãi suất ở mức 0. Như vậy, từ các kế hoạch chăm sóc sức khỏe không được đầu tư đúng đắn, kết hợp với sự sụt giảm nguồn thu từ thuế do kinh tế trì trệ, kết quả chúng ta thu về là những lỗ hổng tài chính lên tới hàng tỉ đô-la mà ta chỉ có thể giải quyết theo hai hướng – cắt giảm mạnh dịch vụ công, hoặc tuyên bố phá sản – hoặc cả hai. Whitney cho rằng phá sản là khả năng khó xảy ra, ít nhất là ở cấp độ chính phủ bang, bởi họ sẽ lạm vào tiền của các thành phố để thanh toán cho các trái phiếu. Chính các thành phố mới là nơi hứng chịu tổn thất rõ rệt nhất. Whitney nói: “Cái đáng sợ về các ngân khố bang nằm ở chỗ họ không biết hiện trạng tài chính của chính thành phố mình.”
“Làm sao bà biết?”
“Tôi đã hỏi họ mà!”
Có thể các bang khi khai sinh đều bình đẳng, nhưng điều đó giờ đâu còn nữa. Những bang từng phát triển mạnh mẽ nhất thì nay lại lâm vào cảnh lao đao khốn đốn. Whitney băn khoăn chưa biết nước Mỹ sẽ thoát ra khỏi cơn khủng hoảng tín dụng này bằng cách nào, bởi theo bà, vì khủng hoảng ở mỗi bang mỗi khác, nên chúng sẽ mang theo những điểm mạnh điểm yếu đặc thù của từng bang. Các công ty sẽ phát triển ở những bang mạnh; còn dân chúng sẽ di chuyển tới nơi nào mang lại công ăn việc làm cho họ, tức là rốt cuộc, người dân sẽ đi theo các công ty. Như vậy, nước Mỹ có thể sẽ tự tách mình làm đôi, một bên là những khu vực an toàn về tài chính, còn một bên là những khu vực đang gặp khủng hoảng về tài chính. Và người dân càng phân biệt được rõ rệt giữa hai khu, thì mâu thuẫn giữa chúng càng lớn. (Chẳng hạn, bang Indiana sẽ có thái độ kiểu như: Làm gì có chuyện mình sẽ giải cứu New Jersey!). Và khi người ta càng lúc càng hiểu ra bang nào gặp nhiều rắc rối tài chính hơn, bang nào hoạt động hiệu quả, thì các rắc rối ấy chỉ càng thêm gia tăng. Trong bản báo cáo gửi cho các khách hàng ở Phố Wall, Whitney viết: “Những người có tiền và có thể chuyển đi chắc chắn sẽ rời tới nơi khác, còn những người không có tiền, và do đó không có khả năng di chuyển, sẽ ở lại, kết cục là họ càng lúc càng phụ thuộc vào chính phủ bang cũng như các hỗ trợ ở địa phương. Hiện tượng này rồi sẽ trở thành một ‘bi kịch của dân thường’”.
Điều quan trọng nhất trong cuộc điều tra của Meredith Whitney, theo bà, không phải là dự đoán về những vụ phá sản trong thị trường trái phiếu thành phố, mà là so sánh hiện trạng giữa các bang để xếp hạng họ. Bà muốn tìm hiểu xem ai trên đất Mỹ sẽ đóng vai trò của những người Hy Lạp vỡ nợ, và ai sẽ là những người Đức, tức là ai mạnh, ai yếu. Và trong quá trình tìm hiểu đó, trên thực tế, bà lại vạch ra được những địa điểm kinh hoàng nhất trên bức tranh tài chính Mỹ.
“Vậy đâu là bang kinh hoàng nhất?” Tôi hỏi.
“California,” bà chỉ mất hai giây để trả lời.
Vào lúc 7 giờ một buổi sáng mùa hè, trên chiếc xe đạp leo núi khung titan trị giá tới 5.000 đô-la mà tôi đã thuê buổi chiều hôm trước, tôi gò lưng đi từ con đường ven biển Santa Monica tới góc phố nơi Arnold Schwarzenegger hẹn gặp. Đúng hẹn, anh đến trong chiếc Cadillac SUV màu đen, đằng sau chất một đống xe đạp cũ. Anh vận chiếc áo nỉ xanh lá cây, quần soóc, đi đôi giày bệt màu be, chỉ nhìn cũng đủ thấy anh chàng không những chẳng mảy may quan tâm tới ngoại hình mà thực ra còn tự tin vào phong thái đàn ông của mình là đằng khác. Mái tóc vẫn in hằn nếp gối, còn mí mắt trĩu xuống, dù rằng anh cam đoan đã dậy đọc báo từ cả tiếng đồng hồ trước đó. Sau khi đọc báo, vị cựu thống đốc bang California có thói quen đạp xe tập thể dục rồi vào phòng tập thể hình.
Anh lôi một chiếc xe đạp xuống, nhảy phốc lên ngồi, rồi lao về phía Đại lộ Ocean khi ấy đã đông nghẹt người. Anh không đội mũ bảo hiểm, chạy vượt cả đèn đỏ, băng qua các tấm biển đề CẤM VÀO, rồi rẽ vào những con phố một chiều. Mỗi khi cần sang đường – dù là đường toàn xe đang lao ầm ầm – anh thậm chí chẳng thèm ngoái đầu lại nhìn mà chỉ giơ tay ra hiệu, như thể tin chắc rằng dù là xe gì đang đi đằng sau cũng phải dừng lại khi thấy cái hiệu lệnh ấy. Xe đạp của anh có ít nhất 10 nấc tốc độ, nhưng anh chỉ dùng có hai: 0, và đạp pê-đan chí tử. Chỉ trong vòng nửa dặm, anh đã chạy nhanh tới độ nước mắt dàn xuống hai bên má.
Anh chắc chắn là một trong những nhân vật nổi bật nhất trên thế giới, song dường như lại không hề lo lắng tới việc có người nào đó bất thình lình nhận ra mình, và trên thực tế thì đúng là chẳng ai nhận ra anh cả. Có thể là những người ra khỏi giường tập thể dục từ tờ mờ sáng đều quá mải mê với nhiệm vụ của mình mà không chú ý tới xung quanh chăng? Hay biết đâu họ lại chẳng đang chết sững người khi trông thấy anh? Anh không mang theo tùy tùng hay vệ sĩ. Hai vị cố vấn kinh tế, David Crane, và cố vấn truyền thống, Adam Mendelsohn, cũng cùng tham gia vào cuộc đạp xe cho vui, nhưng bóng họ đã mất hút phía sau anh từ lâu. Bất kỳ ai thấy cảnh này chắc đều bụng bảo dạ rằng, cái gã kia trông na ná Arnold, nhưng không thể là Arnold được vì anh ấy đời nào chịu ra ngoài đạp xe một mình vào lúc bảnh mắt thế này, mà lại còn đạp xe chí tử thế kia nữa chứ! Phải đến khi anh dừng lại trước đèn đỏ thì thiên hạ mới trông rõ anh. Một phụ nữ vừa đẩy xe nôi vừa nói chuyện điện thoại băng qua đường ngay phía trước anh. Cô nàng phải ngoái cổ lại nhìn hai lần rồi mới thốt lên trong điện thoại, như thể anh là một hình bóng hư ảo vậy: “Ôi… Lạy Chúa… Bill Clinton kìa! Tớ nhìn thấy Bill Clinton ngay bên cạnh này!”
“Bill Clinton là một trong những gã vướng vào tai tiếng về ái tình,” Arnold mỉm cười nói.
“Khoan… khoan đã,” giọng người phụ nữ vẫn tiếp tục hối hả trên điện thoại. “Hình như không phải Bill Clinton.”
Nhưng rồi trước khi cô nàng kịp nhận ra, đèn xanh bật sáng, và chúng tôi lại cắm cúi lên đường.
Cuộc đời của anh là một chuỗi những trải nghiệm tưởng chừng như được sắp đặt cẩn thận, nhưng bản thân anh lại không hề tỏ chút giả tạo, khiên cưỡng. Anh đang ở trước mặt tôi, bằng xương bằng thịt, phảng phất đôi nét bốc đồng, bởi dường như những việc anh làm đều nương theo cảm hứng. Anh không hẳn là người khiêm tốn, mà thật ra, cứ giả dụ như tôi được sống quãng đời oanh liệt như của anh, thì tôi chắc đã dương dương tự đắc lắm rồi, dù rằng có thể tôi sẽ cố tỏ vẻ nhũn nhặn khiêm nhường – cái không hề có ở anh. Bên cạnh đức tính hiếu kỳ bẩm sinh, cái khiến anh không trở thành người quá chú trọng đến bản thân là thái độ hờ hững với những chiêm nghiệm cá nhân. Anh sống như cách anh đạp xe vậy, chú tâm tới những gì phía trước chứ không để ý tới những gì xảy ra phía sau. Văn phòng anh không có sổ sách, anh không có thói quen hí hoáy ghi chép để rồi sau này ngồi đọc lại mà sắp xếp lại tâm tư tình cảm về những gì đã qua. Anh nói: “Tại sao tôi phải làm thế chứ? Nó giống như việc anh đi làm cả ngày rồi về nhà, vợ anh lại hỏi: ngày hôm nay của anh diễn ra như thế nào? Tôi đã làm gì thì chỉ làm một lần thôi.” Điều mà anh muốn làm sau cả ngày dài ngồi trên chiếc ghế thống đốc bang là nhấc tạ.
Chúng tôi đi được vài dặm thì anh cua vào một góc phố, rồi rẽ vào một con hẻm nhỏ phía sau Bãi biển Venice. Anh vừa đi vừa pha trò với tôi, còn tôi thì làm phiền anh bởi những câu hỏi về ngày xửa ngày xưa khi anh mới chân ướt chân ráo vào đất Mỹ hồi năm 1968, không có tiền, không biết một chữ tiếng Anh, chẳng có gì ngoài những múi ngực, cơ lưng vốn chẳng mài lấy mà ăn ngay được. Anh dừng lại bên cạnh một bức tường gạch cao lớn, bao quanh một nơi đã từng là một căn nhà hoành tráng bằng đá nhưng giờ trông cũ kỹ, ảm đạm và vắng hoe. Cái anh chú ý tới là bức tường, bởi anh đã một tay dựng lên nó, cách đây 43 năm, ngay sau khi đến Mỹ và bắt đầu tập luyện trên Bãi biển Thể hình. Anh nhớ lại: “Franco và tôi đã kiếm sống như thế này đây. Không thể kiếm tiền trong môn thể hình, nên mặc dù là các nhà vô địch thế giới, Franco vẫn phải kinh doanh, còn tôi trộn xi-măng và phá bê tông bằng búa tạ.”
Trước khi bị chấn thương nghiêm trọng trong một cuộc thi chạy cõng tủ lạnh, Columbun là ứng cử viên sáng giá trong cuộc thi giành danh hiệu Người đàn ông khỏe nhất thế giới năm 1977, nên được Franco thuê làm việc chân tay như Arnold là cả một vinh dự lớn lao. Hai người thường chia nhau đóng vai trước mặt khách hàng, Franco là gã người Ý xảo quyệt, còn Arnold là anh chàng người Đức điềm đạm. Trước khi chốt hợp đồng, hai người thường giả vờ cãi nhau rất hăng bằng tiếng Đức trước mặt khách hàng, khiến họ phải tò mò mà hỏi chuyện gì đang diễn ra vậy. Khi đó, Arnold liền quay sang khách hàng giải thích: Hắn là người Ý đấy, mà ông biết thừa người Ý thì thế nào rồi đấy. Hắn muốn tính ông giá cao, nhưng tôi thì nghĩ là việc này đâu có mất nhiều tiền. Rồi Arnold đưa ra một mức giá, đương nhiên là không phải thuộc loại đâu-có-mất-nhiều-tiền. Và chỉ chờ có thế là vị khách hàng kia sẽ ôm lấy Arnold mà khen lấy khen để: Arnold, anh thật tử tế! Thật là con người trung hậu!
Arnold kiểm tra công trình của mình, chỉ vào đôi ba chỗ mòn bên trên rồi bảo: “Bức tường này sẽ ở đây mãi mãi. Tôi đã nhắn Franco tới đây để sửa lại phần trên, để chứng tỏ rằng sản phẩm này được bảo hành trọn đời.”
Từ một đứa bé nghèo khổ, con trai của một cựu lính Quốc xã, sinh ra trong một ngôi làng nhỏ nước Áo, Arnold đã đáp máy bay đi Mỹ, khởi nghiệp bằng nghề thợ xây, rồi cuối cùng trở thành người đứng đầu một bang và đứng trong hàng ngũ những lãnh đạo chính trị nổi bật nhất nước Mỹ. Đó là một chặng đường dài 35 năm. Tôi buột miệng hỏi: “Nếu lúc anh đang xây bức tường này lại có người xuất hiện, bảo rằng anh sẽ là thống đốc bang California, anh sẽ nói gì?”
“Nghe cũng được đấy chứ,” Arnold trả lời, rõ ràng là anh chưa hiểu hết ý tôi. Không từ bỏ, tôi tiếp tục: “Khi còn trẻ, anh có nghĩ rằng mình sẽ sống một cuộc đời phi thường không?”
“Có”, anh đáp luôn.
“Tại sao?”
“Tôi không biết. Chưa ai từng có một chuyến đi điên rồ, hoang dã như tôi cả,” anh nói với giọng điệu như thể chuyến đi đó là một sự vô tình vậy. “Tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nước Mỹ. Những đại lộ 6 làn đường khổng lồ, tòa Empire State, thái độ tiếp nhận rủi ro.” Anh vẫn nhớ rõ những gì anh được nghe, được đọc về nước Mỹ khi còn là cậu bé nghèo nơi làng quê Áo: rằng mọi thứ ở Mỹ đều to. Lý do duy nhất khiến anh quyết tâm tập luyện cơ bắp là vì anh nghĩ đấy có thể là tấm “vé vào cửa” miền đất hứa.
Có lẽ anh đã chẳng thèm bận tâm tới chuyện chính trường nếu như lúc đó không có phong trào đòi bãi nhiệm thống đốc đương kỳ, và nếu như luật pháp không cho phép ứng cử khi chưa qua vòng bầu cử của đảng. Vừa chạy xe trên làn đường dành cho xe đạp trên bãi biển, anh vừa kể: “Lệnh bãi nhiệm đương kim thống đốc được ban hành, rồi mọi người quay sang hỏi tôi: anh định làm gì đây? Tôi đã suy nghĩ chốc lát, nhưng rồi quyết định không làm gì cả. Tôi bảo Maria, vợ tôi, và mọi người rằng tôi sẽ không ứng cử. Nhưng rồi, cũng trong đợt lộn xộn đó, Kẻ hủy diệt 3: Người máy nổi loạn khai màn, và với tư cách người đứng đầu bộ phim, tôi phải có mặt trong Chương trình tối nay để quảng bá cho bộ phim. Trên đường đi, một sự thôi thúc quen thuộc dâng lên trong tôi, sự thôi thúc làm điều gì đó phi thường. Tôi chỉ nghĩ rằng, làm thế hẳn mọi người sẽ sợ chết khiếp. Sẽ hài hước lắm đây. Mình sẽ thông báo chạy đua tranh chiếc ghế thống đốc bang. Tôi báo với Leno, người phụ trách chuyên mục Chương trình tối nay, về chuyện đó, và đúng hai tháng sau, tôi trở thành thống đốc.” Rồi anh nhìn sang phía tôi, khi đó đang cắm đầu cắm cổ đạp cho kịp với anh, hỏi: “Cái quái gì đằng kia nhỉ?”
Lúc này, chúng tôi đã ra khỏi bãi biển và tiến về phía đường bằng. Xe cộ trên đường đã bắt đầu đông đúc. Anh quẹo trái, băng qua bốn làn xe, rồi dừng lại ở mé bên kia đường, kể tiếp: “Mọi người hỏi tôi: ‘Kế hoạch làm thống đốc của anh là gì? Nhân viên của anh là ai?’ Tôi làm gì có kế hoạch nào, nhân viên cũng chả có. Tôi đâu có tranh cử gì cho tới khi gặp Jay Leno.”
Có thể tóm tắt quan điểm của anh, cũng là của những cộng sự gần gũi nhất với anh, về 7 năm lãnh đạo bang California như sau. Anh ngồi vào chiếc ghế thống đốc một cách tình cờ, nhưng không phải là anh không biết mình cần làm gì. Thâm tâm anh cho rằng chính quyền từ lâu đã trở thành một rắc rối chứ không còn đóng vai trò giải pháp nữa: nó là một thể chế không vận hành vì lợi ích của dân chúng mà vì quyền lợi của các chính trị gia cùng các công nhân viên chức khu vực công. Anh đã hành xử theo đúng hình dung của người Mỹ về cung cách của một chính trị gia lý tưởng: anh đưa ra những quyết sách táo bạo mà không cần tham khảo các kết quả trưng cầu dân ý; anh không buôn quan bán chức; anh đối xử với phe đối lập một cách công bằng; khi mắc sai phạm anh nhanh chóng nhận lỗi, và sửa sai. Anh là một trong số ít ỏi các quan chức tin rằng mình chẳng có gì để mất, và hành xử đúng theo cung cách ấy. Khi có cơ hội theo đuổi một chương trình có thể hy sinh lợi ích chính trị cá nhân vì lợi ích chung, anh thường không cân nhắc mà quyết luôn. Susan Kenedy là một đảng viên lâu năm của Đảng Dân chủ nhưng được Arnold bổ nhiệm làm chánh văn phòng thống đốc, một việc mà chưa từng có thống đốc nào thuộc Đảng Cộng hòa làm. Cô kể lại: “Rất nhiều lần chúng tôi can anh ấy, nhưng anh lúc nào cũng tỏ ra bất cần, và 99% quyết định của anh ấy vào những lúc như vậy đều đúng đắn.”
Hai năm sau khi ngồi vào chiếc ghế thống đốc, giữa năm 2005, anh tìm mọi cách để thuyết phục từng nhà lập pháp bang California bỏ phiếu chống đối những mong muốn nhất thời của cử tri để phụng sự cho một mục tiêu lâu dài hơn, tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. “Tôi đã gặp những giây phút sửng sốt,” anh nói. Lúc này, sau khi đã cho xe vọt qua tấm biển CẤM VÀO, chúng tôi lại bon bon băng qua các ngã tư như vào chốn không người. Đến bây giờ, tôi chợt nhận ra trong suốt chuyến rong ruổi này, khi thì chúng tôi phạm luật bằng cách đi vào làn đường dành cho xe một chiều, khi thì lại bằng cách đi vào khu vực cấm. Anh tiếp tục kể: “Khi tôi định làm cải cách lương hưu cho các nhân viên cai ngục, đột nhiên, tất cả người thuộc Đảng Cộng hòa đều đứng lên phản đối. Thật khó tin, nhưng chuyện này tái diễn liên tục. Người ta bảo với tôi: ‘Đúng, công nhận đó là ý tưởng hay ho. Tôi cũng muốn bỏ phiếu cho nó lắm chứ! Nhưng nếu thế thì lại làm mếch lòng một vài nhóm lợi ích, nên tôi không làm đâu.’ Thật khó mà hình dung được là người ta lại có thể nói câu đó. Binh lính thì chết trận ở Iraq, rồi Afghanistan, thế mà họ lại không chịu hy sinh lợi ích chính trị để làm điều đúng đắn.”
Anh bước vào nhiệm sở với niềm tin vô bờ vào nhân dân Mỹ − suy cho cùng thì họ là người đã bầu anh vào vị trí này – và anh tin rằng từ đây mình có thể trực tiếp đứng lên hô hào họ. Đó là quân át chủ bài của anh, và anh đã tận dụng nó. Tháng 11/2005, anh kêu gọi tổ chức một cuộc bầu cử đặc biệt đối với 4 chương trình cải cách: giảm chi tiêu công, chấm dứt gian lận bầu cử cấp quận, hạn chế các chi tiêu của công đoàn vào các cuộc bầu cử, và kéo dài thời gian thử việc đối với các giáo viên trường công. Cả 4 đề nghị trên đều trực tiếp hoặc gián tiếp hướng đến giải quyết những vấn đề tài chính vốn đang ngày một nhức nhối trong bang. Nhưng cả bốn đề nghị đều không được thông qua. Kể từ đó cho tới hết nhiệm kỳ, Arnold gần như đã kiệt quệ hẳn: giờ đây các nhà lập pháp bang đã biết được rằng những người từng bỏ phiếu bầu cho họ để họ làm những việc mà họ đang làm sẽ không làm gì tổn hại đến họ, dù có người trực tiếp đứng ra kêu gọi. Người dân California có thể đã hành xử vô trách nhiệm, nhưng chí ít, họ vô trách nhiệm một cách nhất quán.
Cuốn sách hấp dẫn California Crackup (tạm dịch: Thất bại của California) của cặp nhà báo và học giả Joe Mathews và Mark Paul sẽ miêu tả rắc rối này một cách tổng quát hơn, trong đó họ lý giải cho lời dự đoán rằng quãng đời làm thống đốc của Arnold sẽ không có chút nào giống với những vai diễn của anh, rằng anh sẽ chẳng bao giờ chiến thắng. Không phải vô cớ mà California đã biến mình thành một tổ chức của những quận mang tính đảng phái rõ rệt. Nó đã bầu vào ban lãnh đạo những người có tư tưởng bè phái, rồi sau đó yêu cầu nội bộ những người này phải huy động đủ đa số 2/3 đồng lòng thì mới được thông qua bất kỳ đạo luật thuế mới hay được can thiệp vào các quyết định chi tiêu lớn nào. Giả dụ như có thể trông chờ ở niềm hy vọng mong manh là những người này sẽ tìm được tiếng nói chung, thì cái tiếng nói chung ấy cũng sẽ bị đè bẹp bất kỳ lúc nào nếu cử tri vận dụng đến cái quyền khởi xướng luật lệ của họ. Nếu ta cộng thêm vào phương trình này một yếu tố nữa là giới hạn nhiệm kỳ − hiện nay các quan chức được bầu vào bộ máy chính quyền bang California chỉ có những nhiệm kỳ ngắn ngủi, không đủ để họ tìm hiểu hết về nó – thì ta đã có trong tay công thức tối đa hóa mức độ khinh miệt dành cho các quan chức. Các chính khách được bầu để làm việc, nhưng lại bị thể chế làm cho tê liệt tay chân, và điều này càng khiến người dân căm ghét họ hơn. Theo lời Mark Paul thì đây là “cái vòng khinh miệt luẩn quẩn.” Chính phủ bang California được dựng lên chủ yếu nhằm khuếch đại ở mức cao nhất cái khả năng các cử tri sẽ tiếp tục căm ghét những người mà tự tay họ đã bỏ phiếu bầu.
Nhưng sâu phía dưới bề mặt, thể chế này lại làm rất tốt trong việc trao cho người dân California những gì mà họ muốn. Paul nói: “Cái hiển hiện ở mọi cuộc trưng cầu dân ý là, người dân muốn nhận được những dịch vụ tốt mà không phải trả tiền. Và đó chính là cái mà họ đang có.” Mặc dù đã quả quyết rằng họ thù ghét chính phủ của mình, nhưng các công dân California cũng có điểm chung với nó: đó là nhu cầu vay nợ. Năm 2011, trung bình một người dân California cõng khoản nợ 78.000 đô-la trong khi thu nhập là 43.000 đô-la. Rõ ràng đây là một lối sống bấp bênh, song với người dân thì họ vẫn sống tốt. Còn với các lãnh đạo, thì dù chỉ phục vụ trong một thời hạn ngắn ngủi, điều này lại chẳng hề tốt chút nào. Họ vào nhiệm sở với những niềm hy vọng lớn lao mà giả tạo, để rồi nhanh chóng nhận ra rằng niềm hy vọng của họ chẳng có chút căn cứ nào.
Theo Paul, thì cho đến nay, Arnold vẫn là phép thử tốt nhất cho luồng quan điểm rằng chính trường California gặp vấn đề cá nhân; rằng tất cả những gì mà thể chế này cần là một lãnh đạo có lập trường, sẵn lòng hy sinh những toan tính chính trị cá nhân mà kêu gọi ý chí của dân chúng. Paul nói: “Cuộc bãi nhiệm tự thân nó là một nỗ lực của người dân để thể hiện rằng họ tin là một thống đốc mới – một con người khác – sẽ có thể hóa giải vấn đề của họ. Anh ấy đã tìm mọi cách để đương đầu với cuộc khủng hoảng trong công cuộc phụng sự dân chúng. Anh ấy hết cố gắng hành xử như người của đảng Cộng hòa, rồi lại như người của đảng Dân chủ. Anh ấy cố gắng hòa nhã với những nhà lập pháp. Nhưng rồi khi tất cả những biện pháp ấy đều vô hiệu, họ lại gọi anh ấy là đồ gà mái. Khi anh ấy đích thân đứng lên kêu gọi, thì người ta lại bỏ phiếu chống lại các đề xuất của anh ấy.”
Tuy vậy, cuộc thử nghiệm này cũng không thất bại hoàn toàn. Trên cương vị thống đốc, Arnold đã đạt được một số thành tích quan trọng, như cải cách chế độ lương thưởng cho công nhân, cho phép bầu cử mở, và đặt ra quy định địa giới các quận hành chính phải được phân định bởi một ủy ban trung lập chứ không theo cơ quan lập pháp. Nhưng ngoài những điều đó ra thì trên hầu hết các phương diện khác, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới nguồn thu chi ngân sách bang, Arnold đều đã thua. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Arnold hạ quyết tâm cắt giảm chi tiêu, để rồi nhận ra anh chỉ có thể cắt giảm những gì mà chính quyền bang thực sự cần chi. Gần kết thúc nhiệm kỳ thứ hai, anh chật vật tìm cách thông qua một nghị định tăng thuế nhẹ, sau khi đã hết lòng thuyết phục 4 thành viên đảng Cộng hòa để tạo thành đa số tán thành theo đúng yêu cầu. Nhưng rồi, trong kỳ bầu cử tiếp theo, cả 4 người này đều mất ghế trong nghị viện. Năm 2003, anh bước vào nhiệm sở với số phiếu ủng hộ hơn 70%, và trở thành niềm hy vọng giải cứu các vấn đề tài chính của California; năm 2011, anh rời nhiệm sở với số phiếu ủng hộ chưa đầy 25%, và những gì anh làm được chỉ đếm trên đầu ngón tay. Giờ đây, nói chuyện với tôi, anh nói: “Tôi làm việc bằng nhận thức hoàn toàn tỉnh táo của người thường. Chính cử tri là người đã bãi nhiệm Gray Davis. Chính cử tri là người đã bầu tôi lên. Vì thế, họ sẽ là người trao cho tôi công cụ để tôi làm việc. Nhưng thế lực phía bên kia quá mạnh khiến họ giấu biến những công cụ đó đi.”
Davis Crane, cựu cố vấn kinh tế của Arnold, có thể liệt kê ra một hàng dài những con số thống kê tài chính bang đáng thất vọng. Chẳng hạn, từ lúc Arnold tiếp quyền cho tới lúc anh ra đi, số tiền chi trả lương hưu trí cho các nhân viên chính quyền bang đã ngốn gấp đôi phần ngân sách. Số tiền chính quyền bang còn thiếu nợ công nhân, về mặt chính thức, là gần 105 tỉ đô-la, song nhờ vào các thuật phù phép kế toán, đó mới chỉ là một nửa con số thực tế. Crane cho biết: “Năm nay chính quyền sẽ trực tiếp bỏ ra 32 tỉ đô-la để trả lương và phúc lợi cho người lao động, tăng 65% so với 10 năm trước. So với mức chi tiêu cho giáo dục bậc cao (giảm 5%), chăm sóc sức khỏe (tăng 5%), và cơ sở hạ tầng giải trí (giữ nguyên), thì sở dĩ có sự mất cân đối này là do chi phí tuyển dụng đang gia tăng rất nhanh chóng.” Crane là một thành viên lâu năm của đảng Dân chủ, và anh không có định kiến gì với chính quyền, nhưng càng đi sâu vào chi tiết, anh càng thấy giật mình. Chẳng hạn, năm 2010 chính quyền bỏ ra 6 tỉ đô-la để trả lương thưởng cho chưa đầy 30.000 quản ngục và các công nhân viên làm việc tại các nhà tù. Một quản ngục bắt đầu sự nghiệp từ lúc 45 tuổi có thể về hưu sau đó 5 năm với mức lương hưu gần bằng mức lương cũ. Trưởng ban tâm lý học tội phạm của hệ thống nhà tù bang California là công chức được trả lương cao nhất bang này: riêng năm 2010, anh đã kiếm được 838.706 đô-la. Cũng trong năm tài chính mà chính quyền bang chi 6 tỉ đô-la vào các nhà tù, họ chỉ đầu tư vỏn vẹn 4,7 tỉ vào giáo dục bậc cao, tức là xây thêm 33 khu ký túc xá với 670.000 sinh viên. Trong 30 năm qua, phần ngân sách đầu tư của chính quyền bang cấp cho trường Đại học California đã giảm từ 30% xuống còn 11%, và dự đoán còn tiếp tục hạ. Năm 1980, một sinh viên California trả 776 đô-la học phí thường niên, thì tới năm 2011, con số này lên tới 13.218 đô-la. Nhìn đâu cũng thấy tương lai dài hạn của bang này đang bị hy sinh.
Những con số na ná nhau, và những câu chuyện mà chúng gợi lên đằng sau đó, có thể khiến một con người bình thường cũng trở nên bi quan. Anh ta có thể đinh ninh kết luận rằng mình đang sống trong một xã hội không điều khiển nổi. Còn với Arnold, sau 7 năm cố gắng lèo lái California nhưng bất thành, lửa lạc quan vẫn bừng cháy trong anh. Arnold nói: “Phải công nhận là chuyện đó thực kỳ thú! Chúng tôi đã có một quãng thời gian tuyệt vời! Có lúc tức giận, có lúc thất vọng, nhưng nếu anh muốn sống chứ không chỉ đơn thuần là tồn tại, thì cần phải có những lúc thăng trầm như vậy. Anh phải đứng lại mà thốt lên rằng: ‘Tôi được bầu cử trong một tình huống kỳ quặc, và tôi ra đi cũng trong một tình huống kỳ quặc.’ Anh không thể đòi hỏi vẹn cả đôi đường được.”
Tình huống kỳ quặc ở đây là những cuộc khủng hoảng tài chính không có hồi kết. Arnold lên nắm quyền sau khi bong bóng Internet bùng vỡ, và rời chiếc ghế quyền lực khi bong bóng nhà đất phát nổ. Tôi ngồi lại với anh để hỏi xem quan điểm của anh về nhiệm kỳ thứ hai, và được anh cho biết, vào giữa năm 2007, bất chợt anh nhận thấy có gì đó bất ổn trong nền kinh tế của California. Khi đó anh đang trong quá trình hoàn tất các cuộc đàm phán về ngân sách, và con số đưa ra – dù có vẻ giả mạo – cho thấy ngân sách đang ở ngưỡng cân bằng. Nhưng rồi một phụ tá bước vào cảnh báo: biên lai thuế tháng đó thấp đáng ngờ. “Chúng tôi ngạc nhiên vì doanh thu tháng đó lại giảm tới 300 triệu đô-la. Tôi chột dạ, bởi lẽ chắc chắn có uẩn khúc đâu đây.” Arnold kể. Ngay sau đó, anh tới Nhà Trắng để trình bày với tổng thống George W. Bush những thông tin hết sức lạc quan. Nhưng, Arnold kể tiếp: “Cuối bài trình bày đó, một anh chàng phụ trách bất động sản – tôi quên khuấy tên anh ta rồi, nhưng đó là một người tử tế, và không hiểu sao lại rất thực lòng với tôi, có lẽ vì anh ấy tin rằng tôi sẽ không đi ngồi lê đôi mách. Anh ấy nói: ‘Bài phát biểu của anh hay lắm, nhưng chúng ta sắp vướng vào một rắc rối lớn. Tôi đã thấy một vài con số không mấy hay ho.’ Anh chàng chỉ nói đến thế và không giải thích gì thêm.” Giá nhà đất ở Mỹ giảm cũng có nghĩa là giá nhà đất ở California sụp hoàn toàn, kéo theo đó là sự sụp đổ về kinh tế, rồi đến những đợt rủ nhau xuống núi của các khoản doanh thu từ thuế. Arnold cho hay, tháng tiếp sau đó, doanh thu từ thuế của chúng tôi giảm 600 triệu đô-la, và tới tháng 12, con số này là 1 tỉ đô-la.
Niềm hy vọng rằng California có thể huy động đủ doanh thu từ thuế để trả cho các dịch vụ mới bị cắt giảm đã tiêu tan. Arnold nói: “Cuộc khủng hoảng này đã ngốn hết những gì gây dựng được từ 3 năm về trước. Và đột nhiên chúng tôi lại là người đi chọc giận dân chúng. Các công viên không nhận được tiền đầu tư xây dựng, và thế là ngay lập tức mọi người quay ra bày tỏ tình yêu vô hạn của mình với các công viên. Con người là thế đấy: họ phản ứng gay gắt với những gì động chạm tới quyền lợi sát sườn của mình.”
Song ngài thống đốc đang an toạ tại Sacramento kia chưa thể ý thức rõ ngay được việc cắt giảm các dịch vụ công ích còn có những tác động gì nữa đến quyền lợi sát sườn của người dân. Như Meredith Whitney đã chỉ ra, chính quyền bang rất giỏi trong việc che giấu các rắc rối tài chính của mình bằng cách đẩy chúng xuống cho các thành phố. Một ví dụ điển hình nhất trong muôn vàn các trường hợp đã xảy ra là vào tháng 5/2011, Tòa án Tối cao Mỹ đưa ra phán quyết rằng điều kiện trong các nhà tù ở bang California là tàn khốc và bất thường, và vi phạm Đạo luật thứ Tám. Phán quyết này buộc chính quyền bang hoặc xây dựng thêm nhà tù, hoặc tha bổng 30.000 tù nhân. Thế là bang này – mặc dù đang gồng mình bỏ ra số tiền khổng lồ để trả lương thưởng cho các cai ngục – chọn cách phóng thích tù nhân, và đi kèm với họ là những tổn thất về mặt xã hội. Biết đâu lại chẳng có thêm các vụ phạm tội, các dịch vụ công ích sở tại lại oằn mình chịu thêm gánh nặng, khoét thêm vào ngân sách của các chính quyền địa phương. Giữa cuộc nói chuyện của chúng tôi, tôi có hỏi Arnold rằng trên cương vị thống đốc, anh đã dành ra bao nhiêu thời gian để nghiên cứu về những tác động thực tế mà các địa phương phải chịu trong cơn khủng hoảng lớn của toàn bang. Có vẻ như câu hỏi này làm người anh hùng ngán ngẩm, anh nói: “Tôi đâu có quan tâm tới các vấn đề địa phương. Tôi sinh ra là để giải quyết rắc rối của thế giới cơ mà.”
Khoảng một giờ sau khi tham gia một cuộc họp hàng tuần của Hội đồng thành phố San Joe, tôi chột dạ thấy rằng tôi cũng ao ước được sinh ra để giải quyết những vấn đề của thế giới. Trong khi ủy ban này đang mải mê vinh danh Tuần lễ Thị trường của Nông dân Toàn quốc, thì 100 công dân kẻ ngồi ngáp ngắn ngáp dài, kẻ nghịch điện thoại, một số ít ỏi có vẻ quan tâm thì đứng dậy ra về sau khi lễ vinh danh kết thúc. Hội đồng tiếp tục tưởng niệm Ngày Thảm sát người dân Assyria, 7/8, qua đó họ “tưởng nhớ vụ thảm sát 300.000 người vào tháng 8/1933, và ghi nhớ 2.000 năm chịu ngược đãi của những người Assyria Công giáo”. Khoảng chừng vài ba chục người ngước mắt khỏi chiếc điện thoại cầm tay để nhìn về phía buổi lễ, nhưng rồi họ cũng lục tục đứng lên bước ra khỏi phòng. Chỉ còn lại một nhúm lẻ tẻ ngồi lại để nghe người quản lý thành phố San Jose thông báo tin buồn mới nhất về tình hình tài chính của địa phương: chính quyền bang California sẽ thu về hàng chục triệu đô-la nữa, và sắp có chính sách “di chuyển” 140 vị trí khỏi danh sách nhân sự phục vụ thành phố. (Thời đại mới cần có những mỹ từ mới). Một cuộc trưng cầu dân ý cho thấy, dù câu hỏi được đặt ra như thế nào, thì người dân San Jose cũng không ủng hộ tổ chức bỏ phiếu tán thành các biện pháp tăng thuế. Một quan chức kế toán đứng lên giải thích rằng lợi nhuận đầu tư của quỹ lương hưu trong thành phố sẽ không được cao như mong đợi. Bên cạnh việc quỹ lương hưu không có đủ tiền, quỹ này còn không được gia tăng như kỳ vọng, vì thế nên cái khoảng cách giữa những gì mà người lao động trong thành phố được quyền hưởng và những gì tồn tại trên thực tế ngày càng bị nới rộng tới mức không tưởng. Tiếp đó, hội đồng này biểu quyết tán thành hoãn thực hiện, trong vòng 6 tuần, cuộc biểu quyết xem có nên công bố ngân sách thành phố đang ở ngưỡng “khẩn cấp” hay không, qua đó trao thêm quyền hạn mới cho thị trưởng Chuck Reed.
Cứ vào 5 phút nghỉ xen giữa mỗi chủ điểm sinh hoạt, một người đàn ông béo phì lại từ hàng ghế ngồi đầu tiên đứng lên, lạch bạch tiến về phía bục diễn giả, rồi đưa ra những câu chỉ trích thoạt nghe thì thấy rắc rối nhưng càng ngẫm càng thấy khó hiểu, và cái cách ăn mặc chẳng ra mặc mà như quấn người trong bộ jean xanh trùm kín từ trên xuống dưới càng khiến người ta chú ý tới lời ông nói hơn: Sự giảm sút trong năng lực của chính quyền được dự đoán dựa vào những gì xảy ra ngày hôm nay…”
Mối quan hệ giữa người dân bang California và tiền bạc của họ đang lâm vào tình cảnh bi đát tới nỗi ta có thể ngẫu nhiên nhặt ra một thành phố bất kỳ trong bang và đều thấy khủng hoảng ở đó. San Jose là thành phố có mức thu nhập bình quân đầu người cao thứ hai Mỹ, chỉ sau New York. Với dân số trên 250.000 người, họ có điểm xếp hạng tín dụng cao nhất trong các thành phố bang California. Đây cũng là một trong số ít ỏi các thành phố của Mỹ được cả hai hãng Moody’s và Standard & Poor’s cho điểm AAA, nhưng lý do duy nhất là bởi những người sở hữu trái phiếu ở đây có khả năng yêu cầu thành phố đánh thuế với những người sở hữu bất động sản để trả tiền trái phiếu. Bản thân thành phố này, thực ra, lại đang rất cận kề bờ vực phá sản.
Tôi gặp thị trưởng Chuck Reed vào một buổi chiều muộn trong văn phòng của ông trên tầng thượng tòa thị chính. Đám đông phía dưới lại bắt đầu bài “tụng kinh” thường nhật của mình. Đó là những công nhân viên chức đang la ó phản đối ông. Reed quá quen với cảnh này rồi nên chẳng thèm để ý. Ông từng là phi công chiến đấu trong không quân và là cựu chiến binh tại Việt Nam. Ở ông toát lên tư chất thông minh và tác phong suồng sã của một nông dân miền trung tây. Ông có bằng thạc sĩ của Đại học Princeton, bằng luật của Đại học Stanford, và ông đeo đuổi một mối quan tâm lâu dài với chính sách công. Tuy vậy, trông ông không giống thị trưởng của một thành phố lớn trong bang California; nhìn ông, ta dễ liên tưởng tới hình ảnh một cảnh sát trưởng dày dạn phong trần, rất mực chân chất ở một thị trấn nhỏ và không muốn dính dáng vào bất kỳ rắc rối nào. Ông được bầu vào hội đồng thành phố năm 2000, và 6 năm sau được bổ nhiệm làm thị trưởng; năm 2010, ông tái đắc cử với 77% phiếu bầu. Ông là thành viên thuộc đảng Dân chủ, nhưng tới giờ phút này thì việc ông thuộc đảng phái nào, hay lý tưởng của ông là gì, thậm chí ông có được lòng người dân San Jose không, đâu còn mấy quan trọng. Trước mặt Reed lúc này là một rắc rối lớn tới nỗi át đi được cả những chuyện chính sự thông thường khác: đó là thành phố này vay mượn những khoản tiền vượt quá khả năng chi trả để trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, và thậm chí nếu có giảm được nửa phần khoản nợ đó thì họ vẫn phá sản. Ông nói: “Tôi đã tính toán mức chi phí bỏ ra cho mỗi người lao động trong chính quyền thành phố rồi, và thực ra thì chúng tôi chưa tồi tệ đến nỗi như Hy Lạp, tôi cho là như thế.”
Theo Reed, rắc rối này xuất hiện từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng gần đây nhất: “Khi đó tôi đã ở đây rồi, nên tôi biết tường tận sự thể. Nó bắt đầu từ những năm 1990 với bong bóng Internet. Chúng tôi sinh sống gần những con người giàu có, vì thế mà chúng tôi chắc mẩm rằng mình cũng giàu có.” Như ngân sách của bất kỳ thành phố nào khác, ngân sách của San Jose gặm mòn vào khoản tiền trả cho công nhân viên phụ trách an ninh công cộng: khoản tiền chi trả cho cảnh sát và lính cứu hỏa hiện giờ đã chiếm tới 75% tổng số phần chi tiêu không thường xuyên. Bong bóng Internet đã đem lại những niềm hy vọng lớn lao cho người lao động ở khu vực công, đồng thời cũng mang đến những nguồn doanh thu từ thuế dồi dào để đáp ứng những kỳ vọng ấy. Trong các cuộc đàm phán, các công đoàn yêu cầu thành phố ký thỏa ước ràng buộc để bảo vệ các sĩ quan cảnh sát và lính cứu hỏa cũng như những gì họ đã làm cho các cầu thủ trong Liên đoàn Bóng chày. Khi phát sinh tranh chấp về vấn đề lương thưởng, mỗi bên trong cuộc tranh chấp phải đưa ra những những lý lẽ tốt nhất, và một thẩm phán (được coi là) trung lập sẽ lựa chọn một trong hai. Không có cuộc họp trung gian nào: vị thẩm phán xử thắng cho một trong hai bên. Do đó, mỗi bên đều có động cơ để hành xử hợp lý, bởi nếu họ càng bất hợp lý, thì thẩm phán càng đứng về phía bên còn lại. Vấn đề với cái thỏa ước ràng buộc này, theo Reed, nằm ở chỗ các thẩm phán không hề trung lập: “Họ thường là các luật sư của người lao động, họ bảo vệ các công đoàn, vậy nên chính quyền thành phố sẽ làm bất cứ việc gì có thể để tránh dây vào quá trình đó.” Mà có chính trị gia nào lại đi muốn cãi nhau tay đôi với các sĩ quan cảnh sát và lính cứu hỏa làm gì?
Trong thập kỷ qua chính quyền thành phố San Jose đã nhiều lần nhượng bộ yêu cầu của các công đoàn ngành an ninh công cộng, diễn giải nôm na ra là mỗi khi cảnh sát hay lính cứu hỏa ở các thành phố láng giềng được nâng lương, thì ở San Jose lại nổ ra một cuộc tranh cãi mới về vấn đề cải thiện lương bổng cho cảnh sát và lính cứu hỏa tỉnh nhà. Tác động mà nó để lại là biến mức lương thưởng cao nhất dành cho nhân viên an ninh công cộng tại bất kỳ thành phố nào trong khu vực bắc California trở thành mức khởi điểm cho các cuộc thương lượng sau đó tại các thành phố khác. Các ban ngành này cũng tham chiếu mức lương thưởng của nhau để lấy đó làm cơ sở thương lượng. Chẳng hạn, năm 2002, công đoàn ngành cảnh sát thành phố San Jose chốt được một thỏa ước kéo dài ba năm, trong đó cho phép nâng mức lương của các sĩ quan cảnh sát lên 10% so với hợp đồng. Không lâu sau đó, lính cứu hỏa thành phố này cũng chốt được một thỏa ước thậm chí còn tốt hơn, theo đó họ được nâng lương 23%. Thấy vậy, cảnh sát cho rằng mình bị bóc lột và lại tiếp tục lên tiếng ca thán, cho tới khi hội đồng thành phố phải đưa ra một thỏa thuận mới, đồng ý trả thêm cho họ 5% lương, đổi lại, họ sẽ huấn luyện cư dân thành phố cách chống khủng bố. Một cán bộ làm việc trong chính quyền thành phố cho biết: “Chúng tôi nổi tiếng vì trả tiền ‘khủng’ cho buổi diễn tập chống khủng bố.” Cuối cùng, khi đợt huấn luyện kết thúc, cảnh sát được giữ lại số tiền được trả thêm, kèm theo đó là những khoản bồi dưỡng khác nữa. Reed nói: “Các sĩ quan cảnh sát và lính cứu hỏa thành phố khi về hưu sẽ còn nhận được nhiều tiền hơn lúc đang làm việc. Trước thì họ nói rằng phải trả thêm tiền cho họ, bởi họ khó mà sống nổi trong thành phố này với mức lương như thế. Giờ thì càng trả họ nhiều tiền, họ càng tìm cách ra đi, bởi họ có thừa điều kiện để chuyển nhà đi nơi khác rồi. Thật ngạc nhiên hết sức. Chúng tôi đã đồng ý cho họ được hưởng chế độ nghỉ ốm, rồi sau đó còn cho phép họ tích lũy ngày phép để quy đổi thành những khoản tiền mặt trị giá hàng trăm nghìn đô-la sau khi họ về hưu. Có một sự thoái hóa biến chất ở đây, không phải ở vấn đề tài chính mà là ở chính trong thái độ làm việc của ngành dịch vụ công ích. Khi tôi được bầu vào hội đồng thành phố năm 2000, tôi còn không nghĩ tới chuyện lương hưu chứ đừng nói tới chuyện đem nó ra mà bàn bạc.”
Phải tới khi thành phố San Diego mấp mé bên bờ vực phá sản vào năm 2002 thì trong Reed mới xuất hiện những hoài nghi về hiện trạng tài chính của San Jose. Ông bắt tay vào điều tra vấn đề: “Đến lúc đó tôi mới nhận ra rằng đang tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng. Đến lúc đó tôi mới bắt đầu chú ý. Đến lúc đó tôi mới đặt ra những câu hỏi: liệu điều đó có xảy ra ở đây không? Nó cũng giống như bong bóng nhà đất và bong bóng Internet. Không phải không có ai nói cho chúng tôi biết về chuyện điên rồ này. Lúc đó nhiều người cũng viết về nó, nhưng chúng tôi bịt tai nhắm mắt, không chịu tin rằng mình mất trí.”
Reed cho tôi xem một biểu đồ thể hiện ngân sách chi trả lương hưu của thành phố từ năm 2002, và con số này theo ước tính là 73 triệu đô-la mỗi năm. Năm nay là 245 triệu đô-la, tức là chi phí chi trả lương hưu và chăm sóc sức khỏe cho các công nhân viên chức về hưu hiện đã chiếm già nửa ngân sách thành phố. Trong vòng ba năm tới, chỉ riêng tiền lương hưu cũng lên đến 400 triệu đô-la, dù rằng nếu điều chỉnh theo tuổi thọ thực tế thì con số này phải ở mức 650 triệu đô-la. Vì chiểu theo luật pháp, thành phố phải đáp ứng được những khoản chi tiêu này nên họ chỉ có thể làm được điều đó bằng cách cắt giảm các khoản khác, ở những chỗ khác. Do đó, số lượng nhân viên phục vụ trong chính quyền thành phố San Jose từ 7.450 người nay giảm xuống còn 5.400 người, tức là bằng lượng nhân sự năm 1988, thời điểm mà thành phố này mới chỉ có chưa đầy một phần tư triệu dân sinh sống. Những người còn được duy trì công việc thì bị cắt giảm 10% lương, song như vậy vẫn chưa đủ bù vào khoản nợ tiền lương hưu đang ngày một chồng chất. Thành phố buộc phải đóng cửa các thư viện ba ngày một tuần, các dịch vụ công tại các công viên cũng bị hạn chế. Họ cũng không dám khai trương một trung tâm sinh hoạt cộng đồng mới được xây dựng trước khi cuộc khủng hoảng nhà đất diễn ra, bởi không đủ tiền để thuê nhân viên làm việc tại đó. Lần đầu tiên trong lịch sử, họ buộc phải sa thải bớt nhân viên cảnh sát và lính cứu hỏa.
Theo tính toán của Reed, tới năm 2014, San Jose, thành phố lớn thứ 10 nước Mỹ với một triệu dân sinh sống, sẽ được phục vụ bởi vẻn vẹn 1.600 nhân viên. Reed nói: “Không thể điều hành một thành phố với lượng nhân sự như thế. Còn đâu là thành phố nữa? Vậy thì cần quái gì phải sống cùng nhau? Nhưng đó chỉ mới là khởi đầu thôi. Sự việc còn tồi tệ tới mức có khi chỉ còn một nhân viên mà thôi.” Một “công bộc” duy nhất phục vụ cho cả thành phố, mà nhiệm vụ chuyên trách của “công bộc” này có khi lại chỉ là chi trả lương hưu hàng tháng cho các cư dân thành phố. Reed bi quan nhận xét: “Tôi không rõ là tới khi nào thì thành phố này chỉ còn đủ tiền để thuê một nhân viên duy nhất, nhưng tôi cam đoan rằng thời điểm đó sẽ sớm xảy ra thôi.” Tới lúc đó, thậm chí là trước đó, thành phố này sẽ chỉ còn đơn thuần đóng vai trò cỗ máy chi trả lương hưu cho những người từng phụng sự nó. Giải pháp nhãn tiền duy nhất là các cựu công bộc này phải sớm… khuất núi, song, nhờ tốt phước, họ lại sống lâu hơn bao giờ hết.
Theo Reed, đây không phải là một tình huống giả định đem ra để hù dọa nhau, mà đó là “một phép tính chắc chắn của toán học.” Về bản chất, nó gợi cho tôi nhớ tới mô hình đầu tư của Bernard Madoff. Nhìn vào các khoản lời lãi của Madoff, ai cũng có thể thấy ngay rằng hắn đang thực hiện kế hoạch Ponzi, nhưng chỉ có một người lên tiếng tố giác, và mọi người đều bỏ ngoài tai. [Xem thêm No One Would Listen: A True Financial Thriller (tạm dịch: Không ai chịu lắng nghe: Một câu chuyện cảnh giác có thật trong giới tài chính) của Harry Markopolos.]
Ngài thị trưởng thất bại trong các cuộc đàm phán với các công đoàn. Reed chia sẻ: “Tôi hiểu cảnh sát và lính cứu hỏa nghĩ gì. Họ nghĩ họ mới là người quan trọng nhất, và mọi thứ khác phải hy sinh trước tiên.” Mới đây công đoàn cảnh sát đề xuất ngài thị trưởng đóng cửa các thư viện bốn ngày một tuần thay vì ba như hiện nay, theo đó sẽ đủ tiền để trả lương cho 20 – 30 cảnh sát. Song duy trì công ăn việc làm cho thêm vài ba chục cảnh sát mỗi năm đâu có giải quyết được điều gì, và nếu giữ họ lại được trong năm nay thì sang năm họ cũng vẫn phải ra đi, như một phương án trả lời cho những khoản chi trả lương hưu ngày một tăng cao. Ở phía bên kia của bất phương trình này là những người dân nộp thuế thành phố San Jose. Họ không muốn trả hơn phần mình phải chịu. Reed cho biết: “Vấn đề không phải là thành phố chúng tôi hết tiền, không trả được. Vấn đề nằm ở việc người dân có chịu hay không thôi.”
Tôi hỏi Reed về khả năng nâng thuế trong tình cảnh nước sôi lửa bỏng này, thì ông giơ tay ra hiệu không. Ông vừa sáng tạo ra một thuật ngữ mới: vỡ-nợ-dịch-vụ, có nghĩa là cái trung tâm sinh hoạt cộng đồng đắt đỏ mới được xây dựng và đặt tên sẽ không có dịp khánh thành, cũng tức là các thư viện vẫn bị đóng cửa ba ngày mỗi tuần. Đây không phải là một sự vỡ nợ về tiền bạc mà là sự phá sản về văn hóa.
“Sao lại đến cơ sự này?” Tôi hỏi.
“Cách giải thích duy nhất của tôi là tiền sẵn đó thì họ lấy.” Nhưng rồi, suy nghĩ một lúc, ông đưa ra cách lý giải thứ hai.
“Tôi nghĩ chúng tôi đã trải qua hàng loạt những cơn hoang tưởng. Ai cũng tưởng rằng mình sẽ giàu, ai cũng tưởng rằng mình sẽ sống tới bách niên giai lão. Tất cả đều đứng lên bảo vệ, che chắn cho cái ảo tưởng này. Còn đây – nơi thành phố này – đây là nơi thực tại hạ cánh.”
Nhưng Reed cho hay, mặc dù người dân San Jose cho rằng tình hình của họ là tồi tệ, song rất nhiều thành phố khác trên đất Mỹ còn thảm hại hơn, và: “Khi nói chuyện với thị trưởng các thành phố khác, tôi thấy mình thật may mắn.” Vậy nên trên đường trở ra thang máy, khi gặp hai trợ lý của Reed, tôi hỏi luôn:
“Các anh thấy thành phố nào đáng thương nhất?”
Hai người trợ lý đồng thanh cười lớn đáp: “Vallejo!”
Tấm biển chào giương hàng chữ to tướng: VALLEJO, THÀNH PHỐ CỦA CƠ HỘI, HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN! Thế nhưng các cửa hàng cửa hiệu nào còn mở cửa lại không hề lấy làm ngại ngùng mà trưng ngay tấm biển: NHẬN CẢ PHIẾU THỰC PHẨM. Cỏ dại mọc um tùm quanh những khu kinh doanh bị bỏ hoang, tất cả các cột đèn giao thông đều ở chế độ nhấp nháy liên tục, bởi không có bóng cảnh sát nào ra phố đi tuần nữa. Vallejo là thành phố duy nhất trong khu vực vịnh San Francisco nơi ta có thể tha hồ đỗ xe ở bất kỳ đâu mà không hề bị phạt, bởi chẳng có cảnh sát để biên phạt. Các cửa sổ của tòa thị chính đều đã tối om, nhưng mái hiên phía trước thì khá ồn ào. Một thanh niên đầu đội mũ lưỡi trai quay ngược, mắt đeo kính râm, chân đi đôi giày thể thao hiệu Nike còn mới đang đứng trên một bức tường thấp, miệng kêu to một địa chỉ:
“Số 900, phố Cambridge Drive, thành phố Benicia.”
Anh vừa dứt lời, đám đông phía dưới liền bắt đầu trả giá. Từ năm 2006 tới năm 2010 giá bất động sản ở Vallejo đã giảm tới 66%. Cứ 16 căn nhà trong thành phố này lại có một căn đang trong diện bị tịch thu. Rõ ràng đây là một đợt bán nhà hạ giá, nhưng những người tham gia vào đám đông đó đều như đang giấu diếm điều gì khả nghi khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Tôi dừng lại hỏi xem chuyện gì đang diễn ra, nhưng không ai muốn trả lời. Một anh chàng ngồi trong một chiếc ghế gấp hiệu Coleman làm ra vẻ tinh ranh thủng thẳng hỏi: “Tại sao tôi phải nói cho anh biết?” Mà có lẽ đúng là anh chàng tinh ranh thật.
Tiền sảnh tòa thị chính vắng hoe, có bàn tiếp tân nhưng không có ai ngồi ở đó cả mà chỉ có tấm biển ghi: KHÔNG ĐẤU GIÁ TÀI SẢN BỊ TỊCH THU TRONG TIỀN SẢNH TÒA THỊ CHÍNH.
Lên tới tầng ba, tôi thấy các phòng làm việc của Phil Batchelor, người quản lý mới của thành phố, song phòng nào cũng trống trơn. Lâu sau mới có một người phụ nữ xuất hiện đưa tôi đi gặp ông. Batchelor chạc tuổi lục tuần. Cái thú vị ở đây là ông là một người viết sách, từng xuất bản một cuốn về cách nuôi dạy con và một cuốn về cách đối diện với cõi chết. Cả hai cuốn đều truyền bá những thông điệp rõ ràng về đạo Thiên chúa, nhưng trông ông không có vẻ một người sùng đạo mà trái lại, khá thực tế và có phần mệt mỏi. Trước khi về hưu, công việc của ông là chèo lái những thành phố gặp khó khăn về tài chính. Nghỉ ngơi một thời gian, ông lại bị hội đồng thành phố khẩn nài nhiều lần nên đành miễn cưỡng nhận công việc này, bởi, như lời ông nói, “càng cương quyết từ chối, họ lại càng khăng khăng ép anh cho bằng được.” Điều kiện ông đưa ra không liên quan tới tài chính mà liên quan tới các vấn đề xã hội: ông sẽ chỉ tiếp nhận trọng trách đó nếu các thành viên trong hội đồng thành phố ngừng hằm hè nhau và cư xử có văn hóa hơn. Họ đã viết một biên bản cam kết, và cho tới nay, họ đã giữ đúng lời hứa của mình. Ông chia sẻ: “Tôi đã từng kinh qua nhiều thành phố vướng phải vô vàn rắc rối nhưng tôi chưa từng thấy nơi nào như thế này cả”, mà cái kỳ cục đầu tiên là số lượng nhân sự ở đây. Hiện ông đang điều hành thành phố với tổng số nhân viên dưới quyền là một người – đó chính là người phụ nữ mà tôi vừa gặp khi nãy. Ông kể: “Khi về nhà đi tắm thì chị ấy phải khóa cửa tòa thị chính, bởi vì tôi thì bận họp hành mà ngoài hai người chúng tôi ra thì chẳng còn ai cả.”
Quay trở lại năm 2008, do không điều đình được với vô số chủ nợ của mình, Vallejo đã tuyên bố phá sản. 80% ngân sách thành phố − và cũng là khoản tiền chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc đẩy thành phố tới vực phá sản – nằm trong các khoản chi trả lương thưởng cho các nhân viên ngành an ninh công cộng. Mối quan hệ giữa cảnh sát và lính cứu hỏa, và giữa họ với các công dân thành phố khi đó ở vào mức tồi tệ kỷ lục. Những người phục vụ an ninh công cộng thì cho rằng thành phố này định lật lọng hợp đồng, còn người dân thành phố thì đổ thừa rằng những “công bộc” này đang lợi dụng sự hoảng loạn của người dân để làm công cụ moi thêm tiền từ túi dân đen. Trong thành phố lan truyền câu chuyện tếu rằng từ “S.C.S” (Sở Cảnh Sát) là viết tắt của từ “Sở Cướp Sạch”. Các cuộc họp hội đồng thành phố trở thành những màn trình diễn bạo lực. Từng có lần một người dân xuất hiện giữa cuộc họp và ném chiếc đầu lợn xuống sàn nhà. Marc Garman, một người dân sống lâu năm ở đây, cho hay: “Chẳng có lý gì mà Vallejo lại lâm vào tình cảnh khốn cùng này. Nó chỉ cách San Francisco một chặng tàu, và rất gần hạt Napa.” Kể từ sau vụ thành phố phá sản, số lượng cảnh sát và lính cứu hỏa bị cắt giảm một nửa; và một số người dân ghé vào văn phòng của Phil Batchelor chỉ để giãi bày rằng họ không còn cảm thấy an toàn ở trong chính nhà mình. Mọi dịch vụ công ích khác của thành phố đều giảm xuống mức 0. Batchelor hỏi tôi: “Cậu có biết là công dân một số thành phố còn tự lát đường không? Ở đây thì không thế.”
Tôi liếc thấy trên giá sách của ông có một cuốn tạp chí Fortune, ngoài bìa có in hình Meredith Whitney. Và trong khi nghe ông kể về sự tích phá sản của Vallejo, tôi chợt nhớ ra mình đã từng nghe câu chuyện này ở đâu đó, hay đúng hơn là cũng câu chuyện này, nhưng nhân vật chính là những người thuộc khu vực tư nhân. Những người có thẩm quyền trong xã hội, được giao trọng trách cứu giúp xã hội, rốt cuộc lại quay ra tàn phá chính cái xã hội ấy. Vấn đề với các cảnh sát và lính cứu hỏa ở đây không phải là vấn đề của riêng ngành dịch vụ công ích, cũng không phải là vấn đề của chính quyền, mà là vấn đề của toàn xã hội. Đó cũng chính là những gì đã diễn ra ở Phố Wall trên hành trình lao vào cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn. Vấn đề ở đây là người ta vơ vét hết những gì họ có thể, thây kệ những hậu quả xã hội lâu dài đằng sau đó. Rồi những người ở Phố Wall lại bắt đầu lên tiếng kêu ca về phẩm hạnh đạo đức kém cỏi của người dân Mỹ khi họ phủi tay trước những món nợ thế chấp dưới chuẩn của mình, người dân Mỹ lại bất bình khi thấy những doanh nhân Phố Wall kiếm được bộn tiền nhờ đã thiết kế ra những khoản nợ xấu.
Vallejo đã không khiến các nhân viên ngành an ninh công cộng tin được rằng thành phố có thể giúp họ trở nên giàu có; thành phố này đã rơi xuống đáy vực và không thể kiệt quệ hơn được nữa. Batchelor kể: “Cách làm của tôi là không cần biết ai đúng ai sai, chúng tôi nhất định phải thay đổi.” Thời điểm tôi gặp ông, tức mấy tháng sau khi Batchelor tiếp quản công việc, ông vẫn đang loay hoay giải quyết một tranh cãi tài chính nhỏ: thành phố đang bị 1.013 người khởi kiện với số tiền yêu cầu bồi thường lên tới nửa tỉ đô-la trong khi ngân sách chỉ còn 6 triệu đô-la có thể chi trả cho họ. Những nguyên đơn này là nạn nhân sống sót sau “vụ đắm tàu”, và giờ họ hầu như không còn gì để sinh sống. Theo quan điểm của Batchelor, công việc của ông lúc này là thuyết phục họ rằng cách sinh tồn duy nhất là cùng nhau bắt tay vào làm việc. Ông không cho rằng vấn đề chính của thành phố là tài chính, rắc rối tài chính chỉ là triệu chứng phát ra bên ngoài mà thôi, còn căn bệnh thực sự là nền văn hóa. Vài tuần trước đó, Batchelor đã gửi một bản ghi nhớ tới cho toàn thể nhân viên còn lại của thành phố, bao gồm hội đồng thành phố, thị trưởng, và các nhân viên an ninh công cộng, với thông điệp chính là nếu muốn cải thiện thành phố, các anh cần phải thay đổi cách cư xử, bắt đầu từ từng cá nhân. Batchelor nói: “Cái cốt lõi là người dân. Phải dạy họ cách tôn trọng lẫn nhau, cách sống trung thực, và biết vươn lên. Nền văn hóa có thể thay đổi, nhưng bản thân con người phải muốn thay đổi trước tiên. Tuy nhiên, họ vẫn giữ nguyên quan điểm cũ.”
“Làm sao để thay đổi được nền văn hóa của cả một thành phố?”
“Trước hết phải tự nhìn nhận lại mình,” Batchelor trả lời.
Con đường ra khỏi Vallejo cắt qua văn phòng của Tiến sĩ Peter Whybrow, một nhà khoa học thần kinh người Anh tại Trường Đại học California, Los Angeles. Ông nêu ra một giả thuyết về đời sống người Mỹ rằng sự tê liệt trong xã hội Mỹ là một sản phẩm phụ của thành công. Trong các công trình hàn lâm và trong cả một cuốn sách bán chạy có tên American Mania (tạm dịch: Cơn cuồng nước Mỹ), Whybrow cho rằng về mặt thần kinh, con người không phù hợp với đời sống của người Mỹ hiện đại. Não người đã tiến hóa suốt hàng trăm nghìn năm trong một môi trường được đặc trưng bởi sự khan hiếm, và do đó, khởi thủy nó không được thiết kế để dành cho một môi trường ê hề mọi thứ. Whybrow vui vẻ chia sẻ: “Con người sinh sống với những bộ não bị hạn chế rất nhiều. Phần lõi não của chúng ta là não thằn lằn.” Bọc quanh lớp lõi não bò sát này là lớp não động vật có vú (liên quan tới những lo lắng về việc sinh con đẻ cái và các giao tiếp xã hội), và tầng bao bọc thứ ba mới dành cho trí nhớ và khả năng tư duy trừu tượng. Vấn đề ở đây là, theo Whybrow, niềm đam mê của chúng ta vẫn chịu sự chi phối của lớp não thằn lằn. Chúng ta được lập trình để vơ vét càng nhiều càng tốt những thứ chúng ta coi là khan hiếm, đặc biệt là tình dục, sự an toàn, và thực phẩm. Ngay cả một người khi ăn kiêng đã tỉnh táo tránh xa những chiếc bánh ngọt phủ đầy sô-cô-la nhưng vẫn thấy khó lòng kiềm chế khi chiếc bánh ấy cứ chình ình xuất hiện trước mặt họ. Người thợ làm bánh nào trên đất Mỹ cũng hiểu rõ điều này, và giờ thì tới lượt các nhà khoa học thần kinh cũng nghiệm ra. Whybrow nói: “Khi sống trong cảnh thừa mứa, phần não bộ cổ xưa khó lòng mà kiềm chế được. Lúc đó, giá trị của việc ăn bánh sô-cô-la vượt lên trên giá trị của việc ăn kiêng. Chúng ta không thể nghĩ cho tường tận khi đứng trước cái bánh đó.”
Từ xưa tới nay, những xã hội thịnh vượng nhất phát triển nhờ tìm ra được những cách giúp công dân của họ có được cái mà họ muốn. Não bộ chịu ảnh hưởng của hành động thỏa mãn mong muốn tức thời: phần lõi não thằn lằn càng được đem ra sử dụng nhiều thì nó càng chiếm vị trí thống lĩnh. Whybrow cho biết: “Việc chúng ta đang làm là hạn chế tối đa sử dụng phần não mà loài thằn lằn không có. Chúng ta đã tạo ra được một sự tê liệt về sinh lý học, đã đánh mất khả năng tự điều tiết, ở mọi giai tầng xã hội. Phần thưởng 5 triệu đô-la mà Goldman Sachs sẽ trả cho anh nếu anh làm mọi việc họ yêu cầu – đó chính là chiếc bánh sô-cô-la cải tiến trong thời đại ngày nay.”
Theo cách nhìn nhận của Whybrow, thì việc những bong bóng tài chính thay nhau xuất hiện, và việc tích lũy chồng chất các khoản nợ cá nhân và nợ công, chính là một biểu hiện cho lối sống bị dẫn dắt bởi não thằn lằn. Có thể đem so biểu đồ nợ cá nhân của người dân Mỹ với biểu đồ hiển thị mức tăng đáng kinh ngạc trong tỉ lệ người mắc bệnh béo phì ở đây kể từ năm 1985 và chúng ta sẽ thấy nhiều điểm chung. Sự bùng nổ các hoạt động giao dịch chứng khoán cá nhân, sự tràn lan của các sòng bạc hợp pháp, sự gia tăng số người nghiện rượu, nghiện ma túy – tất cả đều là những mảnh vụn của một miếng ghép hoàn chỉnh. Nhìn đâu ta cũng thấy bằng chứng cho thấy người Mỹ đang hy sinh những lợi ích lâu dài cho cơn thèm thuồng trước mặt.
Điều gì sẽ xảy ra khi một xã hội đánh mất khả năng tự điều tiết, và một mực đòi hy sinh những lợi ích lâu dài vì khao khát nhất thời? Câu chuyện sẽ kết thúc ra sao? Whybrow trả lời: “Nếu muốn, chúng ta có thể tự kiềm chế bản thân. Nhưng dường như đó không phải là cách mà chúng ta định làm.” Bên cạnh cái khả năng xa xôi đó, Whybrow còn hình dung ra hai kết quả khả thi khác. Kết quả thứ nhất được ông minh họa bằng một câu chuyện có thật, ta hãy gọi đó là câu truyện ngụ ngôn về con gà lôi. Mùa xuân năm ngoái, vào dịp nghỉ lễ thường niên của Trường Đại học Oxford, Whybrow ngạc nhiên khi phát hiện ra là mình có thể thuê một căn phòng trong Điện Blenheim, nơi ở của gia đình cố thủ tướng Churchill. Mùa đông vừa qua ở Blenheim thật khắc nghiệt, và những người săn gà lôi đã làm việc rất sốt sắng, kết quả là trong khuôn viên của Điện Blenheim chỉ còn lại một chú gà lôi duy nhất, và nó độc chiếm một khu vườn mới được gieo hạt giống. Việc ăn uống của nó, vốn thường bị điều tiết bởi môi trường, bỗng chốc không còn chịu giới hạn nào nữa: giờ đây nó có thể ăn bao nhiêu tùy thích, và nó đã làm như vậy. Con gà lôi trở nên béo mầm, và khi các loài chim khác sà xuống định tranh ăn sẽ bị nó đánh đuổi đi. Nó trở thành một điểm hấp dẫn khách tham quan, và người ta còn đặt tên cho nó là Henry. Henry là con gà lôi béo nhất từ trước tới giờ, nhưng dù béo, nó vẫn không ngừng ăn. Chẳng mấy chốc, nó mắc bệnh béo phì. Nó vẫn ăn lấy ăn để, nhưng không bay được nữa. Rồi một ngày nó biến mất. Một con cáo đã chộp nó.
Kết quả thứ hai có vẻ khả dĩ hơn: chạm đáy. Chạm đáy để chiêm nghiệm về những gì đã xảy ra, bởi chúng ta không còn cách nào khác. Whybrow nói: “Nếu chúng ta không tự điều tiết bản thân, thì môi trường sẽ là người điều tiết chúng ta.” Nói cách khác, để thay đổi, cần có môi trường để điều tiết những cơn đau cần thiết.
Tháng 8/2011, cũng trong tuần Standard & Poor’s công bố hạ điểm tín nhiệm khoản nợ của chính phủ Mỹ, thì một viên thẩm phán cũng cộp dấu chấp thuận kế hoạch phá sản cho thành phố Vallejo, California. Các chủ nợ của Vallejo nhận về 5 xen trên một đô-la họ cho vay, còn các nhân viên khu vực công nhận được khoảng 20 – 30 xen trên 1 đô-la tiền lương. Thành phố này bị xóa tên khỏi danh sách xếp hạng tín nhiệm của Moody’s hay Standard & Poor’s. Phải mất nhiều năm trời để tạo được những thành tích đáng kể để lại được đưa vào bảng xếp hạng. Tuy nhiên, việc có tên hay không trong bảng xếp hạng đâu còn mấy ý nghĩa, bởi thành phố này không cần vay mượn tiền từ người ngoài.
Vì trí tò mò vặt vãnh, tôi quyết định trở lại Vallejo và gọi điện cho sở cứu hỏa. Trong một môi trường vốn đã vắng bóng những cảm giác về một mục tiêu chung, những người lính cứu hỏa ở đây lại cho thấy một nấc đáy mới. Không khó để hình dung cảnh một sở cảnh sát sẽ ra sao khi họ mâu thuẫn với chính cái cộng đồng đã bỏ tiền ra nuôi họ để được họ bảo vệ. Một người muốn làm sĩ quan cảnh sát là người thích quyền lực. Anh ta muốn ra tay ngăn chặn kẻ xấu, và anh ta không nhất thiết phải quan tâm chăm sóc những người mà anh ta có nhiệm vụ bảo vệ. Còn một người khi muốn trở thành lính cứu hỏa lại có tâm niệm muốn làm người tốt. Anh ta muốn được mọi người yêu mến.
Người lính cứu hỏa thành phố Vallejo tôi gặp sáng hôm đó có tên Paige Meyer, 41 tuổi. Anh có mái tóc hoa râm với làn da màu ô-liu, hai bên má vẫn còn vết sẹo của những trận bỏng lửa, và nụ cười thường trực trên môi. Anh không phải là người đặc biệt ham mê tôn giáo hay chính trị. Thực ra, cái gần gũi nhất với tôn giáo ở anh, ngoài gia đình, là công việc. Anh đặc biệt tự hào về công việc và các bạn đồng nghiệp của mình. Anh chia sẻ: “Tôi không muốn tỏ ra ngạo mạn gì hết, nhưng nhiều sở cứu hỏa ở các thành phố khác chỉ bị một trận cháy lớn mỗi năm, còn chúng tôi quanh năm suốt tháng.” Người dân thành Vallejo già và nghèo hơn người dân ở các thành phố lân cận, thậm chí các tòa nhà họ sinh sống càng tồi tàn cũ kỹ hơn. Một ngôi nhà điển hình ở Vallejo được thiết kế duyên dáng theo phong cách thời Victoria với nguyên liệu gỗ dễ cháy. Và những người lính cứu hỏa ở đây đã được môi trường đào tạo, họ là những người lính cứu hỏa cực kỳ hăng hái. Meyer tâm sự: “Ở thành phố này chúng tôi thực sự đã chiến đấu chống lại những ngọn lửa. Thành phố này thật náo nhiệt. Ở đây, chúng tôi phải lăn mình vào ngọn lửa. Anh sẽ không trông thấy vòi phun phun nước từ xa đâu, chúng tôi trực tiếp giáp mặt với ngọn lửa kìa. Có thể có gã khốn nào đó gọi đến kêu ca rằng chúng tôi không đủ nhanh, nhưng kể cho anh biết đôi điều về sở cứu hỏa này nhé: chỉ cần có người gọi đến báo có đứa trẻ bị sặc thức ăn hay nghẹt thở, thì xe chúng tôi sẽ rẽ người mà lao đến.”
Khi còn trẻ, để có tiền trang trải học phí, Meyer đã làm nhân viên cứu hộ quanh các hồ khu vực trung tâm California. Theo anh, công việc lẽ ra cũng chẳng có gì to tát nếu như không có người tới đó, uống cho say mèm rồi lao xuống hồ tự tử. Đôi khi lúc kéo nạn nhân lên khỏi hồ rồi, thì tình trạng của họ tồi tệ đến mức phải nhờ đến nhân viên y tế. Và ngay lúc đó, xe cứu hỏa xuất hiện tức thời. Anh bắt chuyện với họ và nhận thấy “họ một lòng yêu quý công việc của mình. Ở sở cứu hỏa, họ sống với nhau như một gia đình vậy. Mà sao lại không thế được kia chứ?” Meyer bỏ công việc cứu hỏa an nhàn ở Sunnyvale, ngoại ô San Jose, nơi ít khi xảy ra hỏa hoạn, chỉ bởi vì anh muốn được chiến đấu với những ngọn lửa. Anh nói: “Trong 6 tháng đầu tới đây làm việc, hầu như cứ cách một tuần lại có một lần tôi phải ra khỏi giường từ hai giờ sáng để đi dập lửa. Thật khó tin!” Những ngôi nhà ở Vallejo chủ yếu được xây theo cấu trúc ghép nối bằng đinh. Các bức tường bên trong nhà không có đai phòng hỏa, nên từ trên xuống dưới, cả bốn bức tường đều có thể dẫn lửa hiệu quả như một ống khói vậy. Một trong những sai lầm sơ đẳng ở Vallejo là họ dập đám cháy ở sàn tầng trệt, bởi khi ngước lên nhìn họ lại thấy ngọn lửa bùng lên khỏi mái nhà. Meyer nói: “Khi tới hiện trường, chúng tôi phải cử ngay người lên trên gác mái, bởi ngọn lửa sẽ thoát ra theo lối đó.”
Bản thân Meyer cũng từng phạm phải sai lầm sơ đẳng đó. Một lần, không lâu sau khi anh gia nhập sở cứu hỏa ở đây, anh đeo bình khí thở lao vào một căn hộ đang bốc cháy. Anh đạp cửa xông tới dập lửa, nhưng vẫn không thấy lửa tắt. Lẽ ra nhiệt độ phải hạ đi, nhưng ngược lại, bầu không khí mỗi lúc một nóng hơn. Lửa tí tách hiện ra ngay trước mặt anh, ngay trên chiếc mặt nạ nhựa, phun như mưa phun lên tấm kính. Những người lính cứu hỏa để tai trần để có thể cảm nhận được sức nóng vì hơi nóng hàm chứa những thông tin vô cùng quan trọng. Meyer thì chỉ nhìn được sức nóng ấy, ở chỗ chiếc mũ bảo hiểm của anh đang nóng chảy. Ngoài những rắc rối khác mà nó mang lại thì chiếc mũ nóng chảy còn là một dấu hiệu cho thấy căn phòng sắp sửa nổ tung. “Nổ tung tức là khi tất cả những nguyên vật liệu bắt cháy cùng phát cháy đồng thời. Sau đó, anh sẽ trở thành củ khoai tây nướng,” Meyer giải thích. Cần phải có thêm nước, hoặc phải thoát ra ngoài; nhưng anh được đào tạo để ở lại giữa đám lửa, và anh đã ở lại. Giây lát sau, một đội hỗ trợ đến, mang theo vòi phun nước lớn hơn.
Về sau anh nhận ra sai lầm của mình: đây là một tòa nhà ba tầng, xây nương theo một đường dốc giúp che giấu kích cỡ thật của nó, và ngọn lửa đã vươn lên tới gác mái. “Tôi không có ý nói là nếu đội hỗ trợ không đến thì tôi đã chết trong đám lửa đó rồi [nhưng quả thực, vết sẹo kỷ niệm trận hỏa hoạn năm đó vẫn còn nguyên trên gương mặt anh kia]. Tôi cần phải học cách kiểm soát môi trường xung quanh, vì tôi đã có cảm giác sai lầm về sự an toàn.” Meyer nói.
Khi chăm chút cho cái gì thì ta sẽ dần trở nên gắn bó với nó, và Meyer thì dần gắn bó với Vallejo. Anh rất không thoải mái khi mâu thuẫn nảy ra giữa công đoàn và các cư dân thành phố, anh thậm chí đã nhiều lần tranh cãi với người phụ trách đàm phán của công đoàn. Meyer cho rằng những người lính cứu hỏa vốn tràn đầy lý tưởng và cả tin đã bị qua mặt dễ dàng. Anh còn cho rằng họ vừa bị chính quyền thành phố lừa gạt – họ chẳng từng nói dối vô số lần trong các cuộc thương lượng đấy sao? – vừa bị chính cấp trên của mình lừa dối, vì thế nên họ càng phẫn nộ mà đưa ra những yêu cầu phi lý trong cái hợp đồng ký kết với thành phố do công đoàn thu xếp. Và trên bàn đàm phán, họ đã không còn nhớ đến cái lý do khiến họ chọn nghề này. Meyer nói: “Khi mới vào nghề, tôi không biết mình được trả bao nhiêu. Tôi không quan tâm người ta lấy gì trả tôi, hay phúc lợi tôi sẽ được hưởng là gì. Rất nhiều những vấn đề bị đưa ra chính trị hóa ngày hôm nay, nhưng khi ấy chúng thậm chí còn không tồn tại trong tâm tưởng của tôi. Tôi chỉ chú tâm tới công việc ước mơ của mình. Nói cho anh biết nhé, năm 2007, chẳng ai bận tâm để ý xem tôi kiếm được bao nhiêu. Nếu tôi có kiếm được tiền triệu thì họ cũng sẽ thốt lên: ‘Chà, anh xứng đáng với số tiền đó. Anh đã liều mạng lao vào những trận cháy’. Bởi vì khi đó ai cũng có công ăn việc làm. Tất cả những gì họ biết về công việc của chúng tôi là đó là một công việc nguy hiểm. Nhưng tới khi nền kinh tế bắt đầu sụp đổ, thì mọi người mới quay sang móc máy lẫn nhau.”
Ngày hôm nay, sự hỗ trợ, dù vô ích hay hữu ích như ngày xưa, có vẻ sẽ không đến với anh nữa. Khi Vallejo phá sản, sở cứu hỏa bị thuyên giảm biên chế từ 121 xuống còn 67 người, trong một thành phố với 112.000 dân. Họ tiếp nhận khoảng 13.000 cuộc gọi mỗi năm, một con số rất lớn so với từng ấy cư dân. Mỗi khi họ bị đe dọa hay cảm thấy lo lắng trước điều gì đó, họ lại lấy máy gọi cho sở cứu hỏa. Nhưng hầu hết những cuộc gọi này đều vô nghĩa, những mối lo của họ đều thuộc dạng “lo bò trắng răng”. Người gọi đến khi thì báo họ bị đau đầu, khi thì vì bị ngứa ở chỗ khó gãi. Và sở phải trả lời mọi cuộc gọi. Meyer kể: “Cuộc gọi hài hước nhất tôi từng nghe là một anh chàng bị cụt chân kêu đau chân.” Để tiếp nhận số cuộc gọi khổng lồ đó, họ từng có tới 8 trạm, 8 cỗ máy ba người chỉ huy, một xe tải bốn chỗ (chỉ được dùng khi có hỏa hoạn và cần cứu hộ thực sự), một thuyền chống cháy, một đội cứu hộ không gian hẹp, và một đội chuyên xử lý các vật liệu nguy hiểm. Nhưng giờ tất cả còn lại chỉ là 4 trạm, 4 máy, và 1 xe tải.
Thế nhưng, cơ cấu mới này lại đặc biệt phù hợp với Paige Meyer bởi anh mới trở thành đội trưởng đội cứu hỏa của Vallejo hai tháng trước. Ban đầu anh rất ngạc nhiên vì anh thậm chí còn không nộp đơn ứng tuyển. Một ngày đẹp trời, người quản lý thành phố, tức Phil Batchelor, gọi điện tới sở gặp anh. “Ông ấy thậm chí còn không hỏi xem tôi có muốn công việc đó không. Ông ấy chỉ hỏi thăm mọi người trong gia đình, rồi bảo rằng ông ấy sẽ giao nhiệm vụ này cho tôi, sau cùng thì hỏi tôi có ý kiến gì không.”
Thực ra, Meyer cũng không có ý kiến gì. Anh liệt kê những biện pháp cải thiện sở, nhưng vướng phải một thách thức mới: làm thế nào để cung cấp mức độ dịch vụ như trước đây, thậm chí là tốt hơn, trong khi lượng nhân sự đã bị cắt giảm đi một nửa? Làm thế nào để đương đầu với môi trường khan hiếm? Anh bắt đầu tính toán những thứ chưa từng được tính toán trước đây. Nguyên nhân tử vong hàng đầu trong ngành cứu hỏa là đột quỵ, nguyên nhân thứ hai là va chạm xe trên đường. Vậy mà giờ đây anh phải phụ trách một sở cứu hỏa vừa sẽ phải hoạt động quá công suất lại thường xuyên gặp chuyện khẩn cấp. Ít người hơn, lại phải làm việc với hiệu suất gấp đôi – như vậy có nghĩa là mỗi người lính cứu hỏa sẽ gặp chấn thương gấp đôi bình thường. Meyer quyết định điều chỉnh chế độ tập luyện để đáp ứng nhu cầu công việc. Vì có ít trạm cứu hỏa hơn, và lượng lính cứu hỏa cũng ít đi, nên thời gian xử lý sẽ chậm hơn rất nhiều. Anh sẽ phải nghĩ ra những biện pháp mới để đẩy nhanh tốc độ, bởi thời gian xử lý càng lâu thì ngọn lửa sẽ càng lan rộng, và họ càng không được phép sai lầm. Meyer đã cân nhắc cách dập những đám cháy lớn, cũng tức là anh đang nghĩ cách thay đổi cách dập lửa truyền thống.
Khi đi vay nợ, người ta thường nhận ra rằng mình khó lòng – thậm chí không thể − trả được nợ. Nhưng lúc đó, họ sẽ biện bạch bằng nhiều lý do. Trước tiên, một cách rõ ràng, họ sẽ nói rằng họ muốn thứ này thứ kia mà điều kiện hiện tại chưa cho phép. Rồi họ thừa nhận, một cách gián tiếp rằng những mong muốn hiện tại của họ quan trọng tới nỗi, để thỏa mãn được chúng, họ sẵn lòng chịu chút khó khăn trong tương lai. Và trong lúc biện bạch như vậy, họ cũng đồng thời ám chỉ rằng khi cái tương lai khó khăn ấy đến, họ sẽ giải quyết được nó. Song thực tế thì không phải lúc nào họ cũng làm như vậy, nhưng cũng không phải vì thế mà ta có thể sổ toẹt đi cái khả năng là họ sẽ chịu trách nhiệm trước hành động của mình. Dù lạc quan đôi khi là ngốc nghếch, nhưng biết đâu nó sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp – thì nó vốn vẫn thế mà.

