Bong Bóng Kinh Tế Và Làn Sóng Vỡ Nợ Quốc Gia - Chương 4

4. Cuộc sống bí mật của người Đức

Mùa hè năm 2011, khi tôi đến Hamburg, số phận của nền tài chính toàn cầu dường như phụ thuộc vào bước đi của người Đức. Moody’s đã sẵn sàng hạ mức đánh giá tín nhiệm trái phiếu của chính phủ Bồ Đào Nha xuống mức “rác”, còn Standard & Poor’s thì đã bóng gió một cách rầu rĩ rằng Ý có thể là cái tên tiếp theo. Ireland cũng sắp bị hạ xuống mức rác, và tồn tại một khả năng rất thực tế là các chính phủ Tây Ban Nha mới được bầu sẽ nắm lấy thời cơ này mà tuyên bố rằng các chính phủ trước đó đã tính toán sai, và họ nợ ngoại quốc một số tiền nhiều hơn họ vẫn tưởng rất nhiều. Còn cả Hy Lạp nữa. Trong số 126 quốc gia được xếp hạng tín dụng thì Hy Lạp lúc này đứng thứ 126: Hy Lạp đã chính thức được công nhận là dân tộc ít có khả năng trả nợ nhất trên thế giới. Vì người Đức không chỉ là chủ nợ lớn nhất của rất nhiều quốc gia vỡ nợ mà còn là niềm hy vọng duy nhất của họ cho những khoản vay mượn trong tương lai, nên người Đức trở thành vị quan tòa đạo đức, tùy quyết xem hành vi tài chính nào sẽ được dung thứ, hành vi nào không. Theo lời một vị quan chức cấp cao tại Bundesbank nói với tôi, “Nếu chúng tôi nói không, tức là không. Không có Đức thì không làm được gì cả. Đây chính là điểm đến của những khoản thua lỗ.” Chỉ cách đây một năm, khi các nhân vật tên tuổi ở Đức gọi người Hy Lạp là những kẻ lừa đảo, hay khi các tạp chí Đức chạy những hàng tít như TẠI SAO CÒN CHƯA CẮT ĐẢO RA MÀ BÁN, HỠI NHỮNG KẺ HY LẠP VỠ NỢ?, thì những thường dân Hy Lạp còn coi đó là một sự nhục mạ cùng cực. Tháng 6/2011, chính phủ Hy Lạp bắt đầu bán đảo, hoặc bằng mọi giá lập ra một danh sách các tài sản bán tháo – các sân golf, các bãi biển, sân bay, đồng ruộng, đường đi – và họ hy vọng sẽ đem ra đấu giá để phần nào giúp họ trả nợ. Cũng không quá khi nói rằng ý tưởng này không xuất phát từ người Hy Lạp.

Chỉ trong mắt người Đức, Hamburg mới là một địa điểm nghỉ dưỡng, nhưng vô tình đây lại là một kỳ nghỉ của người Đức, và thế là Hamburg đầy những du khách Đức. Khi tôi hỏi anh phục vụ tại khách sạn rằng ở thành phố này có gì đáng xem, thì anh phải mất vài giây suy nghĩ rồi mới trả lời, “Phần lớn mọi người đều tới Reeperbahn.” Reeperbahn là quận đèn đỏ của Hamburg – nó cũng là quận đèn đỏ lớn nhất thế giới, theo thông tin từ một cuốn cẩm nang du lịch, dù rằng bạn sẽ không khỏi băn khoăn tại sao người ta lại biết được điều đó. Và thật tình cờ, Reeperbahn cũng là lý do tôi tới đây.

Có lẽ bởi họ có tài gây khó khăn cho những ai không phải người Đức, nên người Đức trước giờ vẫn luôn là đối tượng của các học giả khi họ tìm cách lý giải cho hành vi tập thể của họ. Trong doanh nghiệp lớn và ngày một phát triển này, một cuốn sách nhỏ với tựa đề hài hước nổi bật trước rất nhiều cuốn sách lớn và dày hơn. Được viết vào đầu những năm 1980 bởi một nhà nhân loại học xuất sắc người Mỹ, Alan Dundes, cuốn Life Is Like a Chicken Coop Ladder (tạm dịch: Cuộc sống là một chiếc thang đưa gà lên chuồng) ban đầu nhằm miêu tả tính cách của người Đức thông qua những câu chuyện mà những người Đức vẫn thường thích kể cho nhau nghe. Dundes chuyên nghiên cứu về văn hóa dân gian, và văn hóa dân gian Đức. Theo ông thì, “ta tìm thấy một lượng lớn từ vựng liên quan tới Scheisse (phân), Dreck (bẩn thỉu), Mist (phân súc vật)... Các bài hát dân gian, các câu truyện dân gian, các câu tục ngữ, câu đố, các bài diễn văn dân gian – tất cả đều chứng minh cho sự quan tâm đặc biệt, lâu đời của người Đức vào góc cạnh này của con người.”

Rồi ông đưa ra một lượng lớn bằng chứng để bảo vệ cho quan điểm của mình. Có một nhân vật dân gian phổ biến của Đức tên là der Dukatenscheisser; nhân vật này thường được miêu tả là rặn ra tiền từ hậu môn. Bảo tàng đầu tiên trên thế giới dành riêng cho các nhà vệ sinh được đặt ở Munich. (Bảo tàng thứ hai mới vừa mở ở New Delhi.) Từ tiếng Đức để miêu tả “phân” đảm nhận rất nhiều chức năng ngôn ngữ kỳ cục – chẳng hạn, một cụm từ tiếng Đức phổ biến dùng để miêu tả sự âu yếm thân thương là “cái dạ dày nhỏ bé của tôi”. Ấn phẩm đầu tiên mà Gutenberg muốn xuất bản, sau Thánh kinh, là một bảng thời gian biểu rửa ruột mà ông gọi là “Lịch uống thuốc xổ.” Rồi còn một lượng đáng kinh ngạc các câu nói dân gian Đức liên quan tới hậu môn. “Cá sống ở dưới nước, nên phân cũng gắn vào hậu môn!” – đây là một ví dụ trong số vô vàn những ví dụ khác.

Dundes đã gây khá nhiều xôn xao – dành cho một nhà nhân loại học – khi truy nguyên nguồn gốc của đặc tính dân tộc không mấy trọng vọng này là một trong những thời khắc trọng đại nhất trong lịch sử Đức. Vị mục sư hết sức tục tĩu Martin Luther (“Tôi giống như là một đống phân chín còn thế giới là một lỗ hậu môn khổng lồ,” Luther từng nói như vậy) đã nảy ra ý tưởng thực hiện cuộc Cải cách Tin lành khi ông đang ngồi trên bệ xí. Những bức thư của Mozart thể hiện một đầu óc – theo lời Dundes – “chìm đắm trong cảnh phân do ít ai bì kịp.” Từ ngữ ưa dùng của Hitler là Scheisskerl (đầu cứt): rõ ràng ông ta dùng nó không chỉ để miêu tả người khác mà còn nói về chính bản thân mình nữa. Sau chiến tranh, các bác sĩ của Hitler kể cho các sĩ quan tình báo Mỹ rằng người bệnh nhân của họ đã mất rất nhiều công sức để nghiên cứu đống phân của chính mình; và có rất nhiều bằng chứng cho thấy một trong những việc ông thích làm với phụ nữ là bảo họ đại tiện lên đầu mình. Có lẽ Hitler có sức ảnh hưởng tới như vậy với người Đức, Dundes nhận xét, bởi ông ta có cùng chung với họ một đặc tính tiêu biểu, một sự ghê tởm công khai đối với những gì dơ bẩn nhằm che đậy cho một nỗi ám ảnh riêng tư. “Sự kết hợp giữa sạch và bẩn: bên ngoài sạch sẽ − bên trong bẩn thỉu, hay hình thức sạch sẽ và nội dung bẩn thỉu – là một phần nét tính cách dân tộc Đức,” ông viết.

Dundes chỉ nghiên cứu về văn hóa dân gian Đức. (Với những ai muốn tìm hiểu niềm yêu thích chất thải rắn con người trong nền văn hóa bác học Đức, ông đề xuất tìm đọc một cuốn sách khác của hai học giả người Đức có tên The Call of Human Nature: The Role of Scatology in Modern German Literature (tạm dịch: Tiếng gọi bản năng: Vai trò của sự tục tĩu trong nền văn học hiện đại Đức.) Tuy nhiên, khi đọc xong công trình khảo cứu của ông, ta khó mà thoát khỏi cái cảm giác mạnh mẽ rằng tất cả người dân Đức – dù là bình dân hay có học – đều có phần khác so với chúng ta; đây là điểm mà ông đã nêu trong phần giới thiệu viết cho phiên bản bằng giấy của cuốn sách đó. “Một phụ nữ Mỹ lấy một đồng nghiệp của tôi là người Đức đã có lần thú thật với tôi là chị hiểu chồng mình hơn nhiều sau khi đọc cuốn sách này,” ông viết. “Trước đó, chị đã phán đoán sai rằng chắc anh ấy mắc một chứng ám ảnh tâm lý kì quặc nào đó, tới nỗi anh cứ nhất định đòi thảo luận rất lâu với chị về tình trạng của đống phân mới của mình.”

Quận đèn đỏ ở Hamburg thu hút sự chú ý của Dundes ở chỗ người dân sở tại có niềm đam mê sâu sắc với môn vật bùn. Những phụ nữ trần truồng đấu với nhau trong một vòng tròn đầy bùn, trong khi khán giả đứng xem đội mũ nhựa, loại giống như bao cao su đội trên đầu, để tránh bị bùn bắn vào. “Như vậy,” Dundes viết, “khán giả có thể vẫn giữ mình sạch sẽ trong khi vẫn thích thú tận hưởng bùn bẩn!” Người Đức thích ở gần phân, nhưng họ không muốn ở trong đống phân. Và điều này hóa ra lại là một cách miêu tả tuyệt vời cho vai trò của họ trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại.

Trước đó một tuần, tại Berlin, tôi đã tới gặp thứ trưởng tài chính Đức, một quan chức chính phủ lâu năm có tên Jörg Asmussen. Người dân Đức giờ đây đang có một Bộ Tài chính – trong một thế giới phát triển đỉnh cao – mà trong đó những người đứng đầu bộ này không cần phải lo lắng liệu nền kinh tế của họ có sụp đổ không khi các nhà đầu tư ngừng mua trái phiếu của họ. Trong khi tỉ lệ thất nghiệp ở Hy Lạp tăng đến mức kỷ lục (16,2% − con số mới nhất), thì tỉ lệ này ở Đức lại đang ở mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua (6,9%). Dường như Đức vừa trải qua một cơn khủng hoảng tài chính mà không có hậu quả nào về mặt kinh tế. Họ đã đeo bao cao su trùm đầu trước mặt các lãnh đạo ngân hàng của mình, và tránh bị vấy bùn lên mặt. Kết quả là, trong khoảng một năm qua, các thị trường tài chính đã cố gắng đọc vị người Đức để rồi thất bại: rõ ràng là họ có khả năng trả nợ cho các vị láng giềng châu Âu, nhưng liệu họ sẽ làm thế? Giờ đây họ là người dân châu Âu, hay họ vẫn là người Đức? Trong suốt 18 tháng qua, mỗi lời nói hay cử chỉ của bất kỳ quan chức nào của Đức có liên hệ xa xôi với quyết định này đều trở thành những tin tức gây biến động thị trường, và quả thực đã có rất nhiều lời nói, cử chỉ như vậy, đa phần đều là tiếng vọng lại của công luận Đức, đồng thời bày tỏ sự khó hiểu và tức giận rằng tại sao người ta lại có thể hành động một cách thiếu trách nhiệm như vậy. Asmussen là một trong những người Đức hiện đang được theo dõi sốt sắng. Cùng với cấp trên của mình, Wolfgang Schauble, ông là một trong hai quan chức Đức có mặt trong mọi cuộc hội đàm giữa chính phủ Đức và những kẻ vỡ nợ.

Bộ Tài chính được xây dựng giữa thập kỷ 1930, là một tượng đài thể hiện cả tham vọng và thẩm mỹ của Đảng Quốc xã. Đó là một mô đất không mặt. Nó lớn tới độ nếu bạn đi vòng quanh nó sai hướng, bạn có thể mất tới 20 phút để tìm được cửa chính. Tôi đã đi vòng quanh nó sai hướng, để rồi phải hộc tốc tìm đường cho kịp thời gian, vừa chạy tôi vừa băn khoăn không hiểu các đảng viên Đảng Quốc xã khi xưa từ vùng sâu vùng xa về đây có cùng cảm giác như tôi bây giờ không, có đi lảng vảng bên ngoài những bức tường cấm bằng đá này, cố công tìm cách chui vào trong hay không. Mãi rồi tôi cũng tìm thấy một khoảnh sân trông có vẻ quen thuộc: sự khác biệt duy nhất giữa hình dung của nó bây giờ và hình dung của nó trong những bức ảnh cũ nổi tiếng là Hitler không còn đi đi lại lại ở lối vào nữa, và bức tượng con đại bàng đậu trên hình chữ thập ngoặc đã bị gỡ bỏ. “Nó được xây dựng cho Bộ Phòng không của Goring,” chuyên gia quan hệ công chúng của Bộ Tài chính đang đứng đợi ở đó bảo tôi. Thật thú vị, anh này là một người Pháp. “Anh có thể thấy điều đó từ kiến trúc vui vẻ này.” Anh chàng giảng giải rằng sở dĩ tòa nhà này lớn như vậy bởi Hermann Goring muốn đáp được máy bay trên mái.

Tôi tới chậm khoảng 3 phút, nhưng vị thứ trưởng Bộ Tài chính tới sau tôi cả 5 phút – điều mà, về sau tôi được biết, bị người Đức gần như coi là một trọng tội. Ông xin lỗi tôi rối rít, nhiều hơn mức cần thiết, vì sự trễ hẹn của mình. Ông đeo cặp kính gọng mảnh như một đạo diễn phim người Đức, thân hình mạnh khỏe và trọc đầu – nhưng đó là do ông muốn thế chứ không phải vì hoàn cảnh. Theo kinh nghiệm của tôi, thì những người đàn ông da trắng khỏe mạnh và cạo trọc đầu muốn thể hiện một quan điểm. “Tôi không cần mỡ thừa trên cơ thể, và tôi không cần tóc,” dường như họ muốn nói như vậy, đồng thời họ cũng ám chỉ rằng những người có mỡ thừa và để tóc là những người ẻo lả. Vị thứ trưởng Bộ Tài chính thậm chí còn có điệu cười giống hệt những anh chàng khỏe khoắn trọc đầu nên cười, nếu họ muốn giữ đúng bản chất của mình. Thay vì mở miệng để luồng không khí thoát ra, ông bĩu môi lại và phát ra âm thanh khịt khịt qua mũi. Có thể là ông cũng cần cười nhiều như những người đàn ông khác, song ông cần ít không khí hơn họ khi cười. Bàn làm việc của ông là một mẫu mực của tính kỷ luật. Mặc dù tất cả đều sinh động vì những hoạt động mà chúng gợi ra – giấy viết, giấy nhắc việc, hộp lưu hồ sơ – song mỗi vật dụng trên bàn đều được xếp ngay ngắn với nhau và với các cạnh của chiếc bàn. Mỗi góc đều chính xác 90 độ. Nhưng vật trang trí ấn tượng nhất là một tấm bảng trắng treo trên tường bên cạnh chiếc bàn. Dòng chữ trên đó là tiếng Đức nhưng có thể dễ dàng dịch ngược sang nguyên bản tiếng Anh:

BÍ MẬT CỦA THÀNH CÔNG LÀ THẤU HIỂU QUAN ĐIỂM

CỦA NGƯỜI KHÁC.

_ Henry Ford

Điều này khiến tôi ngạc nhiên. Đó không thể là câu nhật tụng của một người khỏe khoắn, đầu trọc được. Nó quá mềm. Vị thứ trưởng Bộ Tài chính Đức còn làm lung lay những giả định trên giời của tôi về ông khi nói rõ ràng, thậm chí một cách vô tư, về những chủ đề mà phần lớn các vị bộ trưởng tài chính khác đều cho rằng bổn phận của họ là phải tránh. Không cần gợi ý, ông cũng cho biết rằng ông vừa đọc xong bản báo cáo mới nhất chưa được công bố của các thanh tra IMF về tiến độ cải tổ của chính phủ Hy Lạp. “Họ chưa thực hiện các biện pháp như đã hứa,” ông nói. “Họ không thực hiện các bước cải tổ như đã thống nhất.”

“Những người ở IFM đã nói rõ như thế sao?” tôi hỏi.

Ông lật tới trang số 7 trong bản báo cáo của IMF, tại đó họ có khuyến nghị không nên đưa phần tiền tiếp theo cho chính phủ Hy Lạp để họ tránh vỡ nợ trái phiếu. “Họ vẫn có vấn đề lớn với chuyện thu tiền. Vấn đề không nằm ở luật thuế. Chính việc thu thuế mới là cái cần cải cách.”

Nói cách khác, người Hy Lạp vẫn không chịu nộp thuế. Nhưng đó mới chỉ là một trong số rất nhiều điều sai trái của Hy Lạp. “Thị trường lao động của họ cũng không thay đổi như nó cần phải thế.” Tôi yêu cầu ông nêu ví dụ. “Họ có truyền thống trả tháng lương thứ 13 hay 14,” ông nói ngay. “Nhờ những sự phát triển trong 10 năm qua, một công việc tương tự (trong lĩnh vực phục vụ công) ở Đức có mức lương 55.000 euro. Còn ở Hy Lạp là 70.000.” Để tránh những giới hạn về việc trả lương trong năm công lịch, chính phủ Hy Lạp trả lương nhân viên cho những tháng không tồn tại trên lịch. “Họ cần phải thay đổi mối quan hệ giữa người dân với chính quyền,” ông nói tiếp. “Đây không phải là một nhiệm vụ có thể hoàn thành trong ba tháng.” Thay đổi mối quan hệ giữa bất kỳ người dân của dân tộc nào với chính quyền của họ, ông bổ sung, không phải là chuyện nhỏ. Người Hy Lạp còn cần phải thay đổi nền văn hóa của họ. Có lẽ ông không thể trình bày vấn đề này rõ ràng hơn được nữa: để người Hy Lạp và người Đức cùng tồn tại trong một liên minh tiền tệ, người Hy Lạp cần phải thay đổi bản thân họ.

Tuy nhiên, điều này chưa chắc đã xảy ra ngay nên cũng chưa quá quan trọng. Người Hy Lạp bây giờ không chỉ gánh những khối nợ khổng lồ mà họ còn chịu mức thâm hụt lớn. Bị mắc kẹt trong một đồng tiền mạnh nhân tạo, họ không thể chuyển những khoản thâm hụt này sang thặng dư, dù rằng họ đã làm mọi việc mà người ngoại quốc muốn họ làm. Các mặt hàng xuất khẩu của họ, được định giá bằng euro, vẫn đắt đỏ. Chính phủ Đức muốn Hy Lạp giảm quy mô chính phủ của họ, nhưng điều đó cũng sẽ làm chậm lại sự tăng trưởng kinh tế và làm giảm doanh thu từ thuế. Và như vậy, một trong hai điều sau sẽ phải xảy ra. Hoặc người Đức phải đồng ý sáp nhập về mặt tài chính với châu Âu, từ đó Đức và Hy Lạp sẽ có mối quan hệ tương đồng với nhau, như Indiana với Mississippi, và những đồng tiền thuế của người dân Đức sẽ được đưa vào một ngân khố chung, và được dùng để chi trả cho lối sống của người dân Hy Lạp. Hoặc người Hy Lạp (và rốt cuộc, có lẽ là tất cả những người dân không thuộc dân tộc Đức khác) phải đưa ra một “chương trình cải tổ cơ cấu”, một mỹ từ để miêu tả việc họ phải thay đổi bản thân – một cách kỳ diệu và triệt để − để trở thành một dân tộc hiệu quả như người Đức. Giải pháp đầu tiên dễ thở với người Hy Lạp nhưng lại khó nhằn với người Đức. Giải pháp thứ hai dễ thở cho người Đức song lại khó nhằn, thậm chí có thể là tự sát, đối với người Hy Lạp.

Tình huống duy nhất khả thi về mặt kinh tế là người Đức, với chút hỗ trợ từ việc các quốc gia vỡ nợ châu Âu đang thu hẹp nhanh chóng về mặt dân số, sẽ cắn răng chịu đựng, làm việc cật lực hơn, và trả tiền cho tất cả những người khác. Nhưng điều khả dĩ về mặt kinh tế lại tỏ ra khó chấp nhận về mặt chính trị. Nhân dân Đức ít nhất đều biết một sự thật về đồng euro: rằng trước khi họ đồng ý đổi đồng mác của mình, các lãnh đạo của họ đã hứa với họ, một cách công khai, rằng họ sẽ không bị buộc phải giải cứu các quốc gia khác. Nguyên tắc này được lập ra với sự ra đời của Ngân hàng Trung ương châu Âu, và nó đã bị vi phạm vào năm 2010. Công luận mỗi ngày một lên tiếng phản đối sự vi phạm này – tới nỗi Thủ tướng Angela Merkel, người nổi tiếng biết đọc vị tâm trạng công chúng, thậm chí còn không muốn thử đứng lên trước mặt người dân Đức mà thuyết phục họ rằng giúp đỡ người Hy Lạp có thể mang lại lợi ích cho họ.

Đó là lý do tại sao các vấn đề liên quan tới tiền nong của châu Âu lại không chỉ rắc rối mà còn nan giải. Đó là lý do tại sao người Hy Lạp bây giờ cứ tới tấp gửi bom thư cho Merkel, còn những kẻ du côn ở Berlin lại ném đá qua cửa tòa lãnh sự Hy Lạp. Và đó là lý do tại sao các lãnh đạo châu Âu vẫn chưa làm gì ngoài việc trì hoãn ngày phán quyết không tránh khỏi, bằng cách cứ vài tháng lại đôn đáo chạy đi tìm nguồn tiền mặt để lấp vào những lỗ hổng ngày một lớn dần lên ở Hy Lạp, Ireland, và Bồ Đào Nha, đồng thời không quên cầu nguyện những lỗ hổng lớn hơn nữa, đáng sợ hơn nữa ở Tây Ban Nha, Ý, và thậm chí là Pháp, đừng xuất hiện.

Cho tới bây giờ, Ngân hàng Trung ương châu Âu, tọa lạc tại Frankfurt, vẫn là nguồn chính cung cấp những đồng tiền này. ECB được thành lập để có vai trò tương tự như Dundesbank, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính đã biến nó thành một thứ gì đó khác. Nó đã mua đứt chừng 80 tỉ đô-la trái phiếu chính phủ của Hy Lạp, Ireland, và Bồ Đào Nha, và cho vay khoảng 450 tỉ đô-la cho các chính phủ cũng như ngân hàng châu Âu, chấp nhận gần như bất kỳ món thế chấp nào, trong đó có cả các trái phiếu chính phủ Hy Lạp. Nhưng ECB có một nguyên tắc – mà người Đức thì rất coi trọng nguyên tắc – rằng họ không thể chấp nhận tài sản thế chấp là những trái phiếu bị các công ty xếp hạng Mỹ liệt vào hàng vỡ nợ. Vì rằng trước kia ECB từng có quy định không mua trái phiếu trực tiếp ngoài thị trường tự do, và một quy định khác cấm thực hiện các gói giải cứu chính phủ, nên cũng khá kỳ lạ khi họ lại nhùng nhằng quá lâu ở vấn đề chẳng mấy quan trọng này. Thế nhưng họ vẫn loay hoay. Nếu Hy Lạp vỡ nợ, ECB sẽ không chỉ mất không hàng đống trái phiếu trong tay mà họ còn phải chuyển đống trái phiếu đó về các ngân hàng châu Âu, và các ngân hàng châu Âu sẽ phải giao nộp trên 450 tỉ đô-la tiền mặt. Bản thân ECB có thể sẽ vỡ nợ, tức là họ sẽ phải quay sang xin viện trợ của các chính phủ thành viên có khả năng trả nợ, mà dẫn đầu là Đức. (Vị quan chức cấp cao ở Bundesbank chia sẻ với tôi rằng họ đã nghĩ tới chuyện phải hành xử ra sao trước lời đề nghị đó. “Chúng tôi có 340 tấn vàng,” ông nói. “Chúng tôi là quốc gia duy nhất chưa bán phần chia ban đầu của mình [từ cuối thập niên 1940]. Vì thế mà chúng tôi cũng phần nào được bảo đảm.”)

Nếu Hy Lạp vỡ nợ, vấn đề lớn hơn là nó có thể đẩy các quốc gia châu Âu khác cùng hệ thống ngân hàng của họ vào cảnh vỡ nợ. Ở cấp độ nhẹ nhất, nó cũng sẽ gây hoảng loạn, hoang mang trên thị trường cho cả những khoản nợ chính phủ và nợ ngân hàng – trong khi đây lại là thời điểm rất nhiều ngân hàng và ít nhất là hai quốc gia lớn của châu Âu vốn đang bị nợ nần chồng chất, Ý và Tây Ban Nha, không thể tiếp nhận những sự hoảng sợ và hoang mang đó.

Ở tận cùng của đống hỗn độn khủng khiếp này, theo góc nhìn của Bộ Tài chính Đức, là việc người Hy Lạp không sẵn lòng, hay không thể, thay đổi thói quen của mình. Đó chính là điều mà liên minh tiền tệ luôn nhắn nhủ: tất cả các dân tộc phải thay đổi cách sống của mình. Từng được coi là công cụ hòa nhập Đức với châu Âu và ngăn người Đức thống trị các dân tộc khác, euro lại trở thành điều ngược lại. Dù theo nghĩa tích cực hay tiêu cực, thì giờ đây người Đức cũng đang nắm trong tay số phận tài chính của châu Âu. Nếu phần còn lại của châu Âu muốn tiếp tục tận hưởng những lợi ích của thứ mà cốt lõi của nó là đồng tiền Đức, thì họ cần phải trở nên giống người Đức hơn nữa. Và như thế, một lần nữa, tất cả những người không muốn nghĩ về việc trở thành “Đức” như thế nào đều buộc làm như thế.

Jörg Asmussen gián tiếp đưa ra những gợi ý đầu tiên về đáp án trong hành vi cá nhân của mình. Ông là tuýp người phổ biến ở Đức nhưng lại rất mực bất bình thường ở Hy Lạp hay, nếu xét riêng về vấn đề đó, ở cả Mỹ: một công bộc thông minh, sắc sảo, tham vọng lớn, nhưng chỉ có một tham vọng duy nhất là phụng sự tổ quốc. Hồ sơ lý lịch sáng chói của ông còn thiếu một dòng mà ta có thể nhìn thấy trên hồ sơ lý lịch của bất kỳ ai trong cương vị ông ở hầu như mọi nơi trên thế giới – dòng thông tin về thời điểm ông rời bỏ vai trò phụng sự chính quyền để tới Goldman Sachs kiếm tiền. Khi tôi hỏi một vị công bộc nổi tiếng khác của Đức là tại sao ông lại không ngưng phục vụ công ích để đi kiếm tin bằng cách làm việc cho một ngân hàng nào đó, theo cách mà dường như mọi công dân Mỹ hoạt động trong các lĩnh vực có mối liên hệ xa gần với tài chính đều muốn làm, thì thái độ của ông chuyển sang mức báo động. “Nhưng tôi không làm thế được,” ông nói. “Như thế là phản bội!” Asmussen cũng thể hiện tâm trạng này khi tôi hỏi tại sao ông không màng tới chuyện kiếm tiền.

Sau đó, ông đề cập tới câu hỏi của người Đức một cách trực tiếp hơn. Cái thú vị về sự bùng nổ của hoạt động cho vay rẻ rúng và vô tội vạ trong khoảng giữa năm 2002 và 2008 là những tác dụng khác nhau mà nó tạo ra ở mỗi quốc gia. Mọi quốc gia phát triển đều ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi một lực hấp dẫn như nhau, nhưng không quốc gia nào phản ứng theo cùng một cách thức. Phần lớn châu Âu đều đã vay mượn tiền một cách rẻ mạt để mua những thứ họ không thể trả tiền được. Trên thực tế, rất nhiều những người không phải người Đức đã sử dụng chỉ số đánh giá tín nhiệm của Đức để thỏa mãn khát vọng vật chất của mình. Người Đức là ngoại lệ. Khi có cơ hội sở hữu thứ gì đó mà họ không phải mất gì để trao đổi, người Đức lắc đầu từ chối. “Không có bong bóng tín dụng nào ở Đức,” Asmussen nói. “Giá bất động sản ở đây hoàn toàn ổn định. Không có việc cho vay tiêu dùng. Bởi vì hành động này là hoàn toàn không thể chấp nhận được ở Đức. Đó là tính cách con người Đức. Nó đã ăn sâu vào máu thịt người Đức. Đó có lẽ là những gì mà cái ký ức của họ về thời kỳ Đại khủng hoảng và siêu lạm phát thập niên 1920 để lại.” Chính phủ Đức cũng thận trọng không kém, bởi, ông nói tiếp, “các đảng phái đều đồng thuận ở điểm này: nếu không tuân thủ trách nhiệm tài chính, anh sẽ không có cơ hội nào trong các kỳ bầu cử, bởi lẽ người dân nước anh là như vậy đấy.”

Trong giây phút bị cám dỗ, Đức trở thành tấm gương phản chiếu Iceland, Ireland, và Hy Lạp – và cả Mỹ. Các quốc gia khác sử dụng dòng tiền ngoại quốc để hiện thực hóa những điều điên rồ. Người Đức, thông qua các ngân hàng của mình, lại dùng tiền của chính mình để giúp người ngoại quốc hành xử một cách điên rồ.

Đây chính là điều khiến cho trường hợp của Đức trở nên kỳ lạ. Nếu như họ chỉ đơn thuần là một quốc gia phát triển có đạo đức tài chính đáng kính, thì họ sẽ là một tấm gương đạo đức đơn giản. Thế nhưng họ lại làm một điều bất thường: trong đợt bùng nổ bong bóng các ngân hàng Đức lại giơ đầu chịu bẩn. Họ đưa tiền cho những người vay nợ dưới chuẩn của Mỹ, cho những nhà đại tư bản tài chính Ireland, cho những ông trùm ngân hàng Iceland vay để làm những việc mà không người Đức nào dám làm. Hiện vẫn chưa tính xong tổng số tổn thất của Đức, nhưng con số mới nhất là ở mức 21 tỉ đô-la tại các ngân hàng Iceland, 100 tỉ đô-la tại các ngân hàng Ireland, 60 tỉ đô-la tại đủ loại trái phiếu dưới chuẩn của Mỹ, và một lượng chưa xác định các trái phiếu của Hy Lạp. Thảm họa tài chính duy nhất trong thập kỷ qua mà các ngân hàng Đức tránh được là đầu tư với Bernie Madoff (có lẽ lợi thế duy nhất của hệ thống tài chính Đức là không có người Do Thái). Tại đất nước mình, tuy thế, những ngân hàng tưởng như mất trí này lại hành xử một cách kiềm chế. Người dân Đức không cho phép họ có cách hành xử khác. Đây là một ví dụ khác về việc họ thích sạch sẽ bên ngoài, và bẩn thỉu bên trong. Những ngân hàng Đức muốn có chút dính bẩn thì cần phải sang nước ngoài để làm việc đó.

Ngài thứ trưởng Bộ Tài chính không có gì nhiều để chia sẻ về điều này, dù rằng ông cũng có băn khoăn, một cách lơ đễnh, rằng tại sao một cuộc khủng hoảng bất động sản ở Florida lại kết thúc bằng những tổn thất tài chính khổng lồ ở Đức. Việc một chuyện như thế lại xảy ra dường như đã khiến ông bối rối.

Một nhà kinh tế học người Đức có tên Henrik Enderlein giảng dạy tại Trường Quản lý Hertie tại Berlin đã miêu tả về sự thay đổi sâu sắc trong các ngân hàng Đức bắt đầu từ khoảng năm 2003. Trong một bài báo còn dang dở, Enderlein chỉ ra, “Ban đầu nhiều nhà quan sát đinh ninh rằng các ngân hàng Đức sẽ ít chịu tác động của cuộc khủng hoảng hơn. Nhưng hóa ra điều ngược lại mới đúng. Các ngân hàng Đức rốt cuộc lại là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong châu Âu lục địa, dù rằng họ có những điều kiện kinh tế tương đối thuận lợi.” Mọi người đều tưởng rằng các ngân hàng Đức bảo thủ, và cô lập trước thế giới bên ngoài hơn so với Pháp chẳng hạn. “Chưa từng có sự sáng tạo nào trong giới ngân hàng Đức cả,” Enderlein nói. “Anh đưa tiền cho một công ty, rồi họ trả lại tiền cho anh. Họ [gần như rất nhanh] đi từ điều này tới khi trở thành người Mỹ. Và họ thì đâu hề giỏi việc này.”

Người Đức hẳn sẽ không thể làm được những việc như họ từng làm với tiền trong giai đoạn 2003 - 2008 trên chính nước Đức, bởi lẽ chẳng có ai đồng tình với vô số những giao dịch vô nghĩa của họ. Họ đã để mất những khoản tiền lớn, trong hầu hết mọi chuyện họ nhúng tay vào, từ các khoản vay dưới chuẩn ở Mỹ cho tới các trái phiếu chính phủ Hy Lạp. Thực ra, có một cách nhìn nhận về cuộc khủng hoảng nợ châu Âu – cách nhìn của người dân Hy Lạp – rằng đây là một cố gắng cẩn trọng của chính phủ Đức sau lưng các ngân hàng nhằm thu tiền về mà không khiến người khác để ý tới những ý định của họ. Chính phủ Đức đưa tiền vào quỹ giải cứu Liên minh châu Âu, qua đó họ có thể đưa tiền cho chính phủ Ireland, rồi chính phủ Ireland đưa tiền lại cho các ngân hàng Ireland, để rồi các ngân hàng này lại dùng tiền đó để trả nợ cho các ngân hàng Đức. “Họ đang chơi bi-a đấy,” Enderlein nói. “Cách dễ hơn là đưa những đồng tiền của dân Đức cho các ngân hàng Đức và để các ngân hàng Ireland sụp đổ.” Tại sao họ lại không làm như thế - đây là một câu hỏi đáng để trả lời.

Chặng đường dài 20 phút đi bộ kéo từ Bộ Tài chính Đức tới văn phòng của chủ tịch Commerzbank, một trong hai ngân hàng tư nhân lớn của Đức, điểm xuyết bằng những kỷ niệm được chính thức chấp nhận: Tượng đài kỷ niệm cuộc tàn sát mới xây, có diện tích lớn gấp 2,5 lần tòa Đại sứ Mỹ; con đường mới mở bên hông tượng đài có tên Phố Hanah Arendt; các tấm biển chỉ hướng tới Bảo tàng Do Thái mới của Berlin; công viên có chứa Vườn bách thú Berlin, nơi mà sau khi đã chối đây đẩy trong hàng thập kỷ về việc đối xử thô bạo với người Do Thái, chính quyền đã vừa mới lắp, trên phía chuồng linh dương, một tấm bảng ghi nhớ việc họ đã cướp cổ phần của người Do Thái trong sở thú này thời kỳ Quốc xã. Dọc đường đi, bạn cũng sẽ đi qua boong-ke của Hitler, song chắc bạn sẽ không biết là có nó ở đấy đâu, bởi nó đã bị che bởi một khu đỗ xe, còn tấm bảng nhỏ ghi nhớ về nó thì lại bị che mất. Các đường phố ở Berlin có thể mang cho ta cảm giác giống như một miếu thờ phức tạp. Dường như lịch sử đã dừng trang và giao phó trách nhiệm cho con người, và người Đức thì được yêu cầu phải chấp nhận rằng họ sẽ luôn luôn đóng vai kẻ xấu. Mặt khác, người ít có trách nhiệm cá nhân hơn sẽ dễ dàng biểu lộ sự khinh ghét của mình về mọi thứ hơn. Tội ác được biểu lộ một cách ồn ào như vậy chính bởi vì nó không còn liên quan tới cá nhân ai, và nó cũng bớt phần đau đớn. Hầu như không ai còn sống còn phải chịu trách nhiệm cho những gì đã diễn ra ở đây: lúc này mọi người cùng có trách nhiệm. Nhưng khi tất cả mọi người đều có tội, thì tức là chẳng ai có tội cả.

Dẫu sao, nếu người sao Hỏa có đáp xuống các đường phố ở Berlin và không biết gì về lịch sử của nó, thì có lẽ họ sẽ băn khoăn: những người được gọi là “người Do Thái” này là ai, và tại sao họ lại quản lý nơi này? Nhưng không có người Do Thái nào ở Đức cả, hay không có nhiều. “Người Đức không bao giờ nhìn thấy người Do Thái,” Gary Smith, giám đốc Học viện châu Mỹ ở Berlin nói. “Với họ, người Do Thái không có thực. Khi nghĩ về người Do Thái, họ sẽ nghĩ về các nạn nhân.” Càng tước đoạt nhiều từ các nạn nhân của mình, thì người Đức càng tưởng nhớ họ một cách ồn ào hơn. Dĩ nhiên, không có người Đức tỉnh táo nào lại muốn ngồi một chỗ mà nhớ về những tội ác tày trời của tổ tiên mình – và có nhiều dấu hiệu, trong đó có cả những đài tưởng niệm, cho thấy họ đang tìm cách bước tiếp. Một người bạn tốt của tôi, một người Do Thái có gia đình bị trục xuất khỏi Đức trong thập niên 1930, gần đây có tới tòa lãnh sự Đức ở Mỹ để xin cấp hộ chiếu. Ông đã có hộ chiếu châu Âu, nhưng sợ rằng Liên minh châu Âu biết đâu lại không có ngày tan rã, nên ông muốn được tiếp nhận ở Đức, để phòng khi. Vị cán bộ người Đức – một người gốc Aryan không lẫn vào đâu được, ông này khoác chiếc áo vest như dự lễ hội – đưa cho ông cuốn sách mỏng có tựa đề A Jew’s Life in Modern Germany (tạm dịch: Cuộc sống của người Do Thái trong xã hội Đức hiện đại.)

“Ông có phiền không nếu chúng tôi chụp ảnh ông?” ông hỏi bạn tôi sau khi xử lý xong đơn xin hộ chiếu của ông.

“Không sao cả,” bạn tôi nói.

“Chúng ta có thể chụp trước quốc kỳ không?” viên cán bộ này hỏi.

Bạn tôi nhìn chằm chằm vào quốc kỳ Đức và hỏi “Để làm gì?”.

“Cho lên website,” vị cán bộ Đức nói, rồi thêm rằng chính phủ muốn đăng tải một tấm ảnh có chú thích: Người đàn ông này là hậu duệ của những người sống sót sau cuộc thảm sát, và giờ đây anh ấy đã quyết định trở về Đức.

Commerzbank là ngân hàng tư nhân đầu tiên mà chính phủ Đức phải giải cứu trong cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách tiêm vào 25 tỉ đô-la, nhưng không phải vì thế mà tôi chú ý đến nó. Một buổi tối, khi đang đi dạo quanh Frankfurt với một nhà tài phiệt người Đức, tôi để ý thấy tòa nhà Commerzbank nổi bật trên nền trời. Ở Đức có luật cấm xây các tòa nhà quá 20 tầng, nhưng Frankfurt lại cho phép có những ngoại lệ. Tháp Commerzbank cao 53 tầng với hình dáng kỳ lạ, mô phỏng một ngai vàng khổng lồ. Phần thượng của tòa nhà, tức hai bên tay vịn ngai vàng, mang tính trang trí nhiều hơn. Điều thú vị, nhà tài phiệt Đức từng nhiều lần tới đó nói, nằm ở căn phòng bằng kính tầng trên cùng, từ đó người ta có thể nhìn được toàn cảnh Frankfurt. Đó là một nhà vệ sinh nam. Các lãnh đạo Commerzbank đã đưa ông này lên đó, chỉ cho ông thấy rằng, với tầm nhìn toàn cảnh về cuộc sống bên dưới, ông có thể đại tiện lên đầu ngân hàng Deutsche.

Chủ tịch Commerzbank, Klaus-Peter Müller, thực ra đang làm việc tại Berlin, trong một tòa nhà khác cũng rất Đức. Văn phòng của ông nằm bên hông Cổng Brandenburg. Bức tường Berlin từng có lần chạy xuyên qua giữa cổng ấy. Một bên của tòa nhà nơi ông làm việc trước đây từng là trường bắn cho cảnh sát biên giới Đông Đức, bên kia là sân khấu nơi diễn ra bài diễn văn nổi tiếng của Ronald Reagan. (“Ông Gorbachev, hãy mở cánh cổng này. Ông Gorbachev, hãy hạ bức tường này xuống!”) Nhìn bề ngoài thì bạn chắc chẳng bao giờ đoán được những chuyện đó. “Sau khi bức tường sụp đổ chúng tôi có cơ hội mua lại nó,” Müller cho biết. “Trước chiến tranh, tòa nhà này là của chúng tôi. Nhưng điều kiện mua lại nó là chúng tôi phải đưa mọi thứ trở về đúng hiện trạng trước kia của nó. Tất cả đều phải được làm thủ công.” Ông chỉ những tay nắm đấm cửa bằng đồng trông có vẻ cổ xưa, và những cánh cửa cũng đượm một màu xưa cũ. Trên khắp nước Đức, khoảng 20 năm qua, các tòa nhà bị phá hủy hoàn toàn bởi những đợt bom trong Chiến tranh Thế giới II đều đã được phục dựng, tới từng viên đá. Chính phủ Đức đã đồng ý bỏ ra một khoản tiền lớn để tái thiết Berliner Schloss, Hoàng cung cổ từng bị chính quyền Đông Đức san bằng trong thập niên 1950, sao cho nó trông giống hệt trước đây như trong các bức ảnh chụp trước chiến tranh. Nếu xu thế này tiếp tục, thì sẽ đến một ngày, ta tưởng như chẳng có gì kinh khủng từng xảy ra trên nước Đức cả, trong khi mọi thứ kinh khủng đều đã diễn ra ở đây. “Đừng hỏi tôi việc này mất bao nhiêu tiền,” vị chủ tịch ngân hàng nói, rồi phá lên cười.

Sau đó, ông cũng đưa tôi một bản điều tra tương tự về hệ thống ngân hàng Đức mà tôi sẽ nghe được từ rất nhiều người khác. Không giống ngân hàng ở Mỹ, các ngân hàng Đức hầu hết không phải là các doanh nghiệp tư nhân. Phần lớn đều được chính phủ công khai hỗ trợ hoặc là các hợp tác xã tiết kiệm nhỏ. Commerzbank, Dresdner Bank, và Deutsche Bank, tất cả đều được thành lập vào những năm 1870, và là ba ngân hàng tư nhân lớn duy nhất của Đức. Năm 2009, Commerzbank mua lại Dresdner. Nhưng hóa ra cả hai đều chất đống những tài sản độc hại, và vì thế ngân hàng sau sáp nhập cần chính phủ phải giải cứu. “Chúng tôi không phải là quốc gia buôn bán tư nhân,” Müller nói, nhanh chóng đề cập tới phần chính trong những vấn đề của hệ thống ngân hàng Đức. Hệ thống ngân hàng Đức chưa bao giờ được thiết kế để thực hiện những thương vụ có độ rủi ro cao. Làm ngân hàng theo kiểu Đức không giống một doanh nghiệp tự do mà lại mang tính thiết thực. “Tại sao lại phải trả 20 triệu cho một thương gia mới 32 tuổi đời?” Müller tự hỏi. “Hắn có văn phòng riêng, có IT, có danh thiếp với cái tên bóng bẩy. Nếu tôi lấy đi cái danh thiếp đó thì có lẽ thằng cha đó chỉ đi bán xúc xích là cùng.” Người đàn ông này là người đứng đầu Ngân hàng Mỹ hay Citigroup ở Đức. Và Müller cực lực chống đối cái ý tưởng rằng ngân hàng thì phải kiếm nhiều tiền.

Không dừng ở đó, ông còn cho tôi biết tại sao cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay lại làm xáo trộn cách nhìn của các ngân hàng Đức về thế giới tài chính đến như vậy. Đầu thập niên 1970, sau khi ông bắt đầu làm việc tại Commerzbank, ngân hàng này mở chi nhánh đầu tiên tại New York, và ông tới đó làm việc. Rồi vừa dõi đôi mắt về phía xa xăm, ông vừa kể về những người Mỹ làm cùng ông thời đó: lãnh đạo một ngân hàng đầu tư Mỹ, từng không tiếc tay gạt ông ra rìa một cuộc giao dịch, đã tìm bằng được ông để đưa một phong bì đựng 75.000 đô-la, bởi anh ta không có ý định lừa gạt ngân hàng Đức. “Anh phải hiểu là,” ông nhấn giọng, “quan điểm của tôi về người Mỹ xuất phát từ chính chuyện này.” Rồi ông nói thêm, nhưng quan điểm đó đã thay đổi trong mấy năm qua. Tôi cảm thấy như có sự hụt hẫng nào đó.

“Ông mất bao nhiêu trong vụ cho vay dưới chuẩn?” tôi hỏi.

“Tôi không muốn nói,” ông đáp.

Ông cười rồi tiếp tục. “Trong suốt 40 năm, chúng tôi đã không để mất một xu nào, và liên tục được xếp hạng tín dụng ở mức cao nhất,” ông nói. “Chúng tôi ngừng đầu tư vào thị trường dưới chuẩn từ năm 2006. Tôi có linh cảm rằng thị trường của các anh có gì đó bất ổn, nhưng tôi không nghĩ rằng nó lại sụp đổ hoàn toàn như thế.” Ông ngừng lại. “Nó đã cho tôi biết thêm nhiều điều. Tôi vẫn luôn tin rằng New York có hệ thống ngân hàng được giám sát tốt nhất trên thế giới. Với tôi, FED (Cục Dự trữ Liên bang) và SEC (Ủy ban Chứng khoán Mỹ) là đệ nhất vô song rồi. Tôi không tin lại có e-mail qua lại giữa các ngân hàng đầu tư, trong đó họ nói rằng họ đang bán…” Ông ngừng lại, và rồi quyết định không nên nói ra từ “những thứ tởm lợm”. “Những thứ bẩn thỉu,” ông nói tiếp. “Tính tới giờ, đây là nỗi thất bại lớn nhất của tôi trong sự nghiệp. Tôi đã có quá nhiều thiên kiến tích cực về nước Mỹ. Tôi đã tin tưởng vào những giá trị Mỹ.”

Hệ thống tài chính toàn cầu có thể làm suy sụp cả người cho vay và người đi vay, thế nhưng, trong vài thập kỷ trở lại đây, nó còn trở thành một thứ khác nữa: một công cụ giúp tối đa hóa số lượng các cuộc đụng độ giữa người khỏe và kẻ yếu, để qua đó kẻ này lợi dụng kẻ kia. Những tay buôn rất mực khôn ngoan trong các ngân hàng đầu tư Phố Wall đã thiết kế ra những trò cá cược hết sức thiếu công bằng và tinh vi phức tạp, rồi sau đó tung đội ngũ bán hàng đi sục sạo khắp nơi để tìm kiếm những gã ngờ nghệch nào đó, sẵn sàng chấp nhận những trò cá cược đó. Trong suốt những năm tháng bùng nổ kinh tế, một tỉ lệ lớn những kẻ ngờ nghệch này là ở Đức. Một phóng viên cho hãng thông tấn Bloomberg tại Frankfurt có tên Aaron Kirchfeld cho tôi hay, “Nếu anh nói với một tay làm trong ngân hàng đầu tư ở New York rồi anh ta sẽ phán, ‘Chẳng ai lại đi mua đống rác rưởi này đâu. À, khoan nào. Landesbanks sẽ mua đấy!’” Khi Morgan Stanley thiết kế ra những bản hợp đồng hoán đổi nợ xấu cực kỳ phức tạp vốn chắc chắn sẽ thất bại để các tay buôn độc quyền của họ đặt cược, thì người mua các bảo hiểm đó là người Đức. Khi Goldman Sachs giúp nhà quản lý quỹ đầu cơ New York, John Paulson, thiết kế một trái phiếu để đánh cược – tức trái phiếu mà Paulson hy vọng sẽ thất bại – người mua ở phía bên kia là một ngân hàng Đức có tên IKB. IKB, cùng với một đối tác ngờ nghệch nổi tiếng khác trên bàn đánh bạc Phố Wall có tên WestLB, có trụ sở tại Düsseldorf – đây là lý do mà nếu bạn đi hỏi một tay buôn trái phiếu thế chấp dưới chuẩn lanh lợi ở Phố Wall vào thời điểm khoảng tháng 6/2007 rằng ai vẫn còn muốn mua đống rác rưởi của anh ta, thì hẳn gã này sẽ giản dị mà nói rằng, “Những gã người Đức ngu ngốc ở Düsseldorf chứ ai.”

Chuyến đi từ Berlin tới Düsseldorf kéo dài hơn dự kiến, bởi cả một đoạn dài đường cao tốc chật cứng xe con, xe tải. Tắc đường ở Đức là một cảnh tượng kỳ lạ: không có ai bóp còi inh ỏi, không ai chuyển sang làn đường khác hòng tìm kiếm một khe lách chật hẹp tưởng tượng nào đó, tất cả các xe tải vẫn đứng nguyên ở làn tay phải theo đúng quy định. Thật dễ chịu khi chứng kiến hình ảnh một bên là những chiếc BMW và Mercedes-Benze bóng lộn xếp dọc làn đường trái, còn một bên là những chiếc xe tải sạch như lau như li xếp thành một hàng gọn bên làn đường phải. Bởi khi tắc đường, mọi người ở đây đều tuân trọng luật lệ, và họ tin rằng những người khác cũng sẽ thế. Nhưng Charlotte, người phụ nữ Đức trẻ chở chúng tôi, lại không hề cảm thấy chút hứng thú nào. Cô giận dữ làu bàu nhìn cảnh những chiếc đèn phanh xếp hàng tới tận đằng xa. “Đây là điều mà tôi ghét nhất trên đời,” cô phân bua. “Tôi ghét bị kẹt xe.”

Cô lôi từ trong túi xách ra một quyển sách của Alan Dundes bản dịch tiếng Đức. Tôi hỏi cô cuốn sách tựa đề gì. Cô giải thích, có một thành ngữ phổ biến ở Đức dịch thẳng sang tiếng Anh là “liếm mông tao đi.” Với lời chào thịnh tình này, câu đáp lại phổ biến của người Đức là, “Mày liếm (mông tao) trước đi”. Cuốn sách phiên bản tiếng Đức của Dundes có tựa đề là You Lick Mine First (tạm dịch: Mày liếm trước đi.) “Ai cũng hiểu cái tựa đề này,” cô nói. “Nhưng cuốn sách này thì tôi không rõ.”

Lần cuối tôi ở Đức dài ngày là khi tôi 17 tuổi. Lúc đó, tôi đã đi du lịch khắp miền quê Đức cùng hai người bạn bằng một chiếc xe, và một cuốn sách ghi các thành ngữ Đức. Trong đầu tôi lúc đó vẫn tơ tưởng một bản tình ca Đức do một phụ nữ người Mỹ gốc Đức dạy. Ở đây có ít người nói tiếng Anh, vì thế, trong chuyến đi lần này tôi cho rằng mình cần có một phiên dịch viên, nhưng không ngờ người Đức lại mau mắn trau dồi vốn tiếng Anh của mình đến thế. Dường như cả nước Đức đều đã tham gia một khóa tiếng Anh bản ngữ vậy. Và trong thế giới tài chính, ngay cả tại Đức, tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. Chẳng hạn, đó là thứ ngôn ngữ được dùng trong mọi cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), dù rằng ECB có trụ sở tại Đức, và Ireland, một quốc gia thuộc ECB, thậm chí còn lấy tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ.

Nhờ vài người dắt mối, tôi được gặp Charlotte, một phụ nữ trạc đôi mươi đằm thắm, vô cùng thông minh, và cũng hết sức bạo dạn – có mấy phụ nữ trẻ đằm thắm mà lại đi nói câu “liếm mông tôi đây này” đâu? Cô nói được 7 thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Quan thoại và tiếng Ba Lan, và đang chuẩn bị hoàn thành khóa học thạc sĩ về Hiểu sai lệch về Giao thoa văn hóa – chuyên ngành chắc chắn sẽ rất phát triển trong tương lai sắp tới ở châu Âu. Tới lúc nhận ra rằng mình không cần thông dịch thì tôi đã trót thuê cô ấy mất rồi, vậy nên thay vào đó, cô ấy trở thành tài xế cho tôi. Với tư cách là thông dịch viên, Charlotte thừa tiêu chuẩn, nhưng trên cương vị tài xế thì cô nàng có phần thật điên rồ. Nhưng Charlotte vẫn nhiệt tình tiếp nhận công việc tới độ còn đi lùng tìm giúp tôi bản dịch cũ tiếng Đức một cuốn sách của Dundes.

Và chính điều đó đã gây rắc rối cho Charlotte. Trước tiên, cô không tin có cái được gọi là đặc tính dân tộc của người Đức. “Những người hoạt động trong lĩnh vực của tôi giờ chẳng còn ai tin vào điều đó nữa cả,” cô nói. “Làm sao ta có thể khái quát hóa tính cách của cả 80 triệu con người? Làm sao ta có thể nói rằng tất cả họ đều giống hệt nhau, mà tại sao họ lại phải giống hệt nhau cơ chứ? Cái băn khoăn của tôi về việc người Đức bị ám ảnh bởi các cơ quan sinh dục là cái nỗi ám ảnh này phát tán như thế nào? Nó xuất phát từ đâu?” Bản thân Dundes cũng đã cố tìm cách trả lời câu hỏi trên. Ông cho rằng thói quen quấn tã cho con kỳ quặc của các bà mẹ Đức, vốn làm cho họ khó phát hiện “mùi lạ” ở trẻ, khiến đứa trẻ bị ủ lâu trong phân có thể can dự một phần trách nhiệm trong việc này. Nhưng Charlotte không chịu nghe. “Tôi chưa bao giờ nghe thấy điều đó,” cô nói.

Nhưng rồi gương mặt cô bừng sáng khi chợt trông thấy cái gì đó. “Nhìn kìa! Một lá cờ Đức.” Quả vậy, một lá cờ đang tung bay trên nóc một ngôi nhà nhỏ ở ngôi làng phía trước. Thường thì ta có thể đi cả mấy ngày trời trên nước Đức mà không hề thấy bóng một lá quốc kỳ nào. Người Đức không được phép cổ vũ cho đội bóng của mình theo cách mà các dân tộc khác vẫn làm. Điều đó không có nghĩa là họ không muốn làm như thế, nhưng vấn đề là họ phải ngụy trang cho những việc họ làm. Charlotte cho biết, “Lòng yêu nước vẫn là một điều cấm kỵ ở đây. Về mặt chính trị, anh không thể nói, ‘Tôi tự hào là người dân Đức.’”

Xe cộ đã dễ lưu thông hơn, và chúng tôi lại phóng như bay về hướng Düsseldorf. Con đường cao tốc dường như mới được xây, và Charlotte nhả ga cho đến khi chiếc công tơ mét báo 210 km/h.

“Con đường này tốt đấy chứ,” tôi nói.

“Quân Quốc xã xây đấy,” cô trả lời. “Khi đã chán các chủ đề tán chuyện thông thường, thì người ta lại quay sang bàn tán về mặt tốt của Hitler. Ít nhất thì hắn cũng đã xây dựng được những con đường chất lượng.”

Quay trở lại hồi tháng 2/2004, Nicholas Dunbar, một nhà báo chuyên về lĩnh vực tài chính tại London, đã lên tiếng về một số người Đức ở Düsseldorf làm việc cho một ngân hàng có tên IKB. Dường như họ đang ấp ủ một điều gì đó mới mẻ. “Cái tên IKB xuất hiện ở London cùng với những người môi giới trái phiếu,” Dunbar nói. “Nó giống như con gà đẻ trứng vàng bí mật của mọi người vậy.” Trong những tập đoàn lớn trên Phố Wall ngày đó, có những người mà dường như công việc của họ chỉ là khi các khách hàng người Đức từ Düsseldorf đến London, thì ôm một đống tiền mặt và chăm chăm phục vụ người Đức mọi thứ mà họ muốn.

Bài báo của Dunbar được đăng tải trên tạp chí Risk, trong đó giải thích tại sao cái ngân hàng Đức xa lạ này lại nhanh chóng trở thành khách hàng lớn nhất của Phố Wall như thế. IKB được thành lập năm 1924 với nhiệm vụ chứng khoán hóa các khoản bồi thường chiến tranh của Đức cho quân Đồng minh, rồi sau đó trở thành một ngân hàng tín dụng lớn đối với các công ty cỡ vừa ở Đức, và giờ đây, nó lại được biến hình một lần nữa. Ngân hàng nhà nước Đức sở hữu một phần IKB, song IKB lại không được chính phủ bảo lãnh. Nó là một doanh nghiệp tài chính tư, và dường như đang trên đà làm ăn khấm khá. Ngân hàng này tuyển dụng Dirk Röthig, một người Đức có kinh nghiệm làm ăn tại Mỹ (ông này từng làm việc cho Ngân hàng State Street), để thực hiện điều gì đó mới mẻ, thú vị.

Và với sự giúp đỡ của Röthig, IKB đã tạo ra được một tổ chức – mà đúng ra là một ngân hàng – hoạt động ở Delaware, và được niêm yết trên sàn giao dịch tại Dublin, Ireland, có tên Quỹ Rhineland. Nhưng họ không gọi thẳng nó là ngân hàng, bởi nếu vậy, thì hẳn sẽ có người thắc mắc tại sao ngân hàng này lại không được điều tiết. Họ gọi nó là một “tổ chức”, cái hay của cách dùng từ này là ở chỗ, chẳng ai hiểu nó nghĩa là gì. Rhineland vay tiền trong thời gian ngắn bằng cách phát hành thứ mà họ gọi là thư thương mại. Họ lấy tiền đó đầu tư vào các sản phẩm “tín dụng phái sinh” dài hạn hơn (sau này ta sẽ thấy “tín dụng phái sinh” tức là mỹ từ để chỉ các trái phiếu bảo đảm từ các khoản vay tiêu dùng của người Mỹ). Rất nhiều ngân hàng đầu tư Phố Wall vừa quyên tiền cho Rhineland (bằng cách bán thư thương mại giúp họ) lại vừa bán cho Rhineland các trái phiếu do các khoản vay tiêu dùng của người Mỹ bảo đảm. Rhineland kiếm lợi nhuận từ việc ăn chênh lệch giữa lãi suất phải trả cho khoản tiền họ đi vay và lãi suất (cao hơn) họ kiếm được từ việc cho vay thông qua các giao dịch mua bán trái phiếu. Nhờ được IKB bảo lãnh toàn bộ, nên hãng đánh giá tín dụng Moody’s xếp hạng tín nhiệm Rhineland ở mức cao nhất, và điều này càng giúp cho Rhineland có cơ hội vay tiền với lãi suất thấp hơn.

Những người Đức ở Düsseldorf có một nhiệm vụ trọng đại: tư vấn cho Rhineland – cỗ máy nước ngoài mà họ đã một tay tạo dựng − nên mua loại trái phiếu nào. “Chúng ta là một trong những đối tác cuối cùng rút tiền khỏi Rhineland,” Röthig viết trên tạp chí Risk, “nhưng chúng ta tự tin về khả năng cố vấn của mình tới nỗi vẫn kiếm được chút lợi nhuận.” Lý giải cho điều này, Röthig cho rằng IKB đã đầu tư sử dụng các công cụ đặc biệt để phân tích các trái phiếu phức tạp, gọi là nghĩa vụ nợ thế chấp (CDO), mà Phố Wall khi đó đang rêu rao. “Tôi cho rằng sở dĩ ta coi nó là một khoản đầu tư giá trị bởi cho tới nay, chúng ta chưa gặp tổn thất nào,” ông nói. Tháng Hai năm 2004, dường như đó là một ý tưởng hay – hay tới nỗi rất nhiều các ngân hàng Đức khác đã làm theo IKB: hoặc họ thuê “tổ chức” của IKB, hoặc họ tự thành lập ra các “tổ chức” riêng của mình ở nước ngoài để mua trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. “Có vẻ như đó là một chiến lược mang về nhiều lợi lộc,” một thành viên của Moody’s, người đã xếp hạng tín nhiệm cao nhất cho thư thương mại của Rhineland, chia sẻ với tạp chí Risk.

Tôi ăn trưa với Dirk Röthig trong một nhà hàng tại Düsseldorf, trên một con kênh san sát những gian hàng nhộn nhịp. Từ chiến lược lợi lộc của mình, IKB vừa công bố những khoản thua lỗ lên tới gần 15 tỉ đô-la, dù rằng mức tổn thất thực sự có lẽ còn lớn hơn, bởi các ngân hàng Đức vốn vẫn chậm chạp trong việc đưa ra những thông báo. Với một sự công tâm, Röthig coi mình là nạn nhân hơn là “kẻ ăn thịt”. Vừa lách người len vào một buồng ăn nhỏ ông vừa nói, “Tôi rời ngân hàng vào tháng 12/2005”. Rồi ông giải thích tiếp.

Ý tưởng xây dựng ngân hàng hải ngoại là của ông. Các lãnh đạo IKB đã chộp lấy ý tưởng đó như “trẻ con vồ kẹo” vậy. Khi ông khởi dựng ngân hàng đó, những người mua trái phiếu đang được hưởng những khoản lợi tức cao, và Quỹ Rhineland cũng nhận về những khoản tiền hậu hĩnh cho những rủi ro mà họ đang chấp nhận. Tới giữa năm 2005, vì các thị trường tài chính quay lưng lại với rủi ro, nên giá rủi ro sụp đổ: lợi tức trái phiếu do các khoản vay tiêu dùng của người Mỹ bảo đảm sụp đổ. Röthig tới gặp lãnh đạo để trình bày rằng, do khoản tiền họ nhận về để chấp nhận rủi ro của những trái phiếu đó đã giảm đi rất nhiều, IKB tốt nhất nên kiếm lợi ở chỗ khác. “Nhưng vì họ đã có chỉ tiêu lợi nhuận rõ ràng, nên họ muốn đạt được chỉ tiêu đó. Và để thu về mức lợi nhuận như cũ với mức lãi suất rủi ro thấp hơn, họ cần phải mua nhiều hơn,” ông nói. Vậy là ban lãnh đạo đã bỏ ngoài tai thông điệp của ông. “Tôi cho họ thấy thị trường đã thay đổi. Tôi đã cố gắng bứt chiếc kẹo khỏi tay đứa trẻ, vì thế mà tôi trở thành kẻ thù của họ.” Khi ông rời đi, nhiều người khác cùng ra đi với ông, và nhân sự bộ phận đầu tư cũng bị cắt giảm, nhưng hoạt động đầu tư lại bùng nổ. “Còn lại một nửa nhân sự với kinh nghiệm chỉ bằng 1/3 ban đầu nhưng họ đã nâng con số các vụ đầu tư lên gấp đôi. Họ được lệnh phải làm như vậy.”

Röthig tiếp tục miêu tả về cái tưởng như một chiến lược đầu tư đứng đắn và phức tạp song thực tế lại điên cuồng và duy ý chí. Theo lời một nhà quan sát chia sẻ với tạp chí Risk năm 2004 thì IKB có thể “định giá một CDO tới tận điểm cơ bản cuối cùng”. Nhưng đằng sau cái chuyên môn này lại là một sự điên rồ. Nicholas Dunbar cho hay, “Họ có thể rất kén chọn, chẳng hạn, về việc nhà phát hành nợ dưới chuẩn nào được ký giao kèo CDO, nhưng trên thực tế điều đó không quan trọng. Chẳng qua họ chỉ tranh cãi về việc trái phiếu nào sẽ sụp đổ từ 100 [giá trị danh nghĩa] xuống còn 2 hay 3 [phần trăm giá trị danh nghĩa]. Xét từ một góc độ nào đó thì họ đúng: họ mua những trái phiếu sụp xuống còn 3% chứ không chọn những trái phiếu rớt xuống còn 2%.” Chỉ cần đó là trái phiếu do các công ty ở Phố Wall rao bán, tuân thủ theo các nguyên tắc được các chuyên gia của IKB định ra, thì chúng sẽ được làm sạch sẽ tinh tươm trong hồ sơ của Quỹ Rhineland, không cần qua bước thanh kiểm tra nào khác. Thế nhưng, các trái phiếu này ngày càng mang theo nhiều rủi ro hơn, bởi các khoản cho vay đằng sau chúng ngày càng trở nên điên rồ hơn. Sau khi Röthig rời đi, IKB chỉ còn 5 chuyên gia đầu tư, tất cả đều chỉ cận 30 tuổi với vài năm kinh nghiệm. Đây là những người đứng ở đầu bên kia trong những canh bạc do Goldman Sachs tạo ra cho các hoạt động kinh doanh của mình, hoặc do các công ty lớn khác ở Phố Wall tạo ra cho các quỹ đầu cơ cực kỳ lanh lợi, muốn đánh cược về các trái phiếu nợ dưới chuẩn. Theo Röthig, tài sản của IKB đã tăng từ 10 tỉ đô-la năm 2005 lên tới 20 tỉ đô-la năm 2007, “và con số này sẽ còn lớn hơn nữa nếu họ có thêm thời gian để mua. Thực ra khi thị trường sụp đổ họ vẫn đang còn mải mê mua, số tài sản của họ lúc đó đang gần chạm mức 30 tỉ đô-la.”

Tới giữa năm 2007, không riêng gì Goldman Sachs mà tất cả các công ty ở Phố Wall đều nhận ra rằng thị trường dưới chuẩn đang trên đà sụp đổ, và họ ồ ạt tìm cách chạy thoát thân. Người mua cuối cùng trên toàn thế giới này chính là những người Đức ngốc nghếch một cách đầy cương quyết kia. Nó cũng có nghĩa là, chính nhờ thị trường này đã ngừng hoạt động mà IKB tránh được khoản thua thiệt hơn 15 tỉ đô-la vào các món nợ dưới chuẩn ở Mỹ. Ngoài ra chẳng gì ví như thực tế và dữ liệu có thể thay đổi cách họ đầu tư tiền bạc.

Bề ngoài mà xét thì những nhà buôn trái phiếu người Đức của IKB có nét tương đồng với những nhà buôn bất cẩn từng có những khoản cược thiếu khôn ngoan cho Citigroup, Merrill Lynch và Morgan Stanley. Nhưng đằng sau đó, họ lại đang chơi một trò chơi hoàn toàn khác. Những tay buôn trái phiếu Mỹ có thể đã hủy hoại chính công ty của mình bằng cách nhắm mắt làm ngơ trước những rủi ro trong thị trường trái phiếu dưới chuẩn, nhưng bù lại, họ lại kiếm về cho bản thân cả một gia tài kếch xù, và họ hầu như chưa từng bị quy kết trách nhiệm nào cả. Họ được trả tiền để đặt công ty của mình vào chỗ rủi ro, cho nên thật khó mà biết được họ làm thế vì chủ ý hay không. Trong khi đó, những nhà buôn trái phiếu người Đức lại chỉ được trả khoảng 100.000 đô-la mỗi năm, kèm với khoản tiền thưởng cao nhất cũng chỉ dừng ở mức 50.000 đô-la. Nói tóm lại, các lãnh đạo ngân hàng Đức chỉ được trả chút tiền mọn để lèo lái những rủi ro đã khiến ngân hàng của họ đi tới chỗ sụp đổ − điều này cho thấy họ thực sự không biết mình đang làm gì. Thế nhưng khác với các đồng nghiệp người Mỹ, họ lại bị công luận Đức coi như những kẻ lừa đảo. Cựu CEO của IKB, Stefan Ortseifen, bị kết án tù (treo), và ngân hàng này vừa yêu cầu ông hoàn trả số tiền lương 805.000 euro.

Dirk Röthig được chứng kiến, ở cự ly gần, hoạt động của IKB và cả hành vi của những kẻ bắt chước, tức các ngân hàng Landesbank vốn được chính phủ Đức hậu thuẫn. Theo ông, cái ranh giới giữa các ngân hàng Anh – Mỹ và ngân hàng Đức mà nền tài chính hiện đại vạch ra là không đáng tin. “Những hiểu lầm giữa hai nền văn hóa là rất lớn. Những người ở các ngân hàng Đức chưa từng bị tay buôn Phố Wall nào dụ dỗ. Thế mà lúc này lại có người rủng rỉnh tiền bạc, có thể đưa ta tới thăm tất cả những địa điểm xa hoa bậc nhất thế giới. Anh ta có năng lực vô hạn. Các ngân hàng Landesbank thuộc loại nhàm chán nhất nước Đức, nên chưa bao giờ được chú ý một cách tử tế. Rồi đột nhiên một gã lanh lợi nào đó từ Merrill Lynch hiện ra săn đón họ, thế là họ tưởng gã thích mình. Dân kinh doanh Mỹ sắc sảo hơn dân kinh doanh châu Âu nhiều. Họ làm tốt hơn nhiều”, Röthig nói.

Nói đúng ra, theo ông, thì người Đức đã không nghĩ đến khả năng người Mỹ không tuân theo luật chơi chính thức. Họ tiếp nhận những nguyên tắc tồn tại trên giấy trắng mực đen: họ nhìn vào lịch sử của các trái phiếu được xếp hạng A và tin tưởng rằng chúng hoàn toàn không có rủi ro.

Tình yêu nguyên tắc thuần túy tới mức phi tự nhiên này xuất hiện cả trong đời sống tài chính và đời sống sinh hoạt của người Đức. Chẳng thế mà vừa mới lộ ra một câu chuyện rằng vào tháng 6/2007, tức là trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra, Munich Re, một công ty tái bảo hiểm Đức đã tài trợ bữa liên hoan cho những nhân viên giỏi của mình. Cuộc liên hoan không chỉ có ăn uống, giải trí mà còn kèm theo cả một trận mây mưa thoải mái với gái mại dâm trong một phòng tắm công cộng. Trong giới tài chính thì điều này không có gì bất thường. Cái bất thường ở đây là cuộc “đập phá” của người Đức lại diễn ra một cách hết mức quy củ. Các cô gái mại dâm được thắt nơ trắng, vàng, đỏ − tức các ký hiệu thể hiện cô nào là của ai. Sau mỗi lần mây mưa, các cô lại được đóng một con dấu lên bắp tay, để nhìn vào đó có thể biết họ đã được “sang tay” bao nhiêu lần. Vậy là ngay cả khi sử dụng gái mại dâm, người Đức cũng muốn sử dụng theo nguyên tắc.

Có lẽ vì bị mê hoặc quá mức vào những nguyên tắc chính thức trong thế giới tài chính, nên người Đức đã tỏ ra đặc biệt nhạy cảm trước một ý tưởng giả tạo mà các nguyên tắc này mang đến: rằng trên đời này lại có thứ gọi là tài sản không rủi ro. Không có gì là tài sản không rủi ro cả. Sở dĩ một món tài sản sinh lời được là do nó mang trong mình những rủi ro. Nhưng cái ý tưởng tài sản không rủi ro, vốn lên tới cao trào vào khoảng cuối năm 2006, lại tràn lan khắp giới đầu tư, và trong đó người Đức là những người bị dụ dỗ nhiều nhất. Tôi cũng từng nghe những người ở Phố Wall có giao dịch với những người mua trái phiếu Đức kể lại như vậy. Một người bảo tôi: “Muốn hiểu được họ anh phải đi từ lối tư duy của họ. Họ nhìn vào hình thức chứ không xem xét đến bản chất. Họ đánh giá tài sản theo các tiêu chí được gạch đầu dòng ở mẫu phiếu đánh giá, và nếu nó đáp ứng được mọi tiêu chí đó thì tức là nó “không có rủi ro nào cả”. Bẩm sinh họ không phải là những người ham hố rủi ro, thực ra họ còn muốn loại bỏ mọi rủi ro kìa.” Như vậy, một trái phiếu chỉ cần có hồ sơ sạch sẽ bề ngoài là người Đức đã có thể chấp nhận để nó, ở bên trong, có thể “bẩn” hết mức của Phố Wall.

Điều mà Röthig muốn nhấn mạnh với tôi lúc này là bên trong có như thế nào đi chăng nữa cũng không phải là điều quan trọng. IKB cần phải được một ngân hàng quốc doanh giải cứu vào ngày 28/7/2007. Dù trong tay chỉ có chừng 4 tỉ đô-la tiền vốn, ấy vậy mà ngân hàng này đã để thua lỗ đến hơn 15 tỉ đô-la. Giới truyền thông Đức muốn biết họ đã “tiêu thụ” hết bao nhiêu trái phiếu dưới chuẩn của Mỹ. Trước yêu cầu này, CEO của IKB, Stefan Ortseifen, đã tự tin công bố rằng IKB gần như không sở hữu bất kỳ trái phiếu dưới chuẩn nào. Và đây là lý do bây giờ ông này lại bị kết tội lừa gạt các nhà đầu tư. Röthig cho biết, “Ông ấy nói thật đấy chứ. Ông ấy không nghĩ rằng mình lại sở hữu trái phiếu dưới chuẩn. Họ không thể đưa ra con số chính xác lượng trái phiếu dưới chuẩn nằm trong tay họ, bởi họ có biết đâu! Hệ thống giám sát của IKB không phân tách rạch ròi giữa thế chấp dưới chuẩn và thế chấp đạt chuẩn, nên mới xảy ra chuyện này.” Năm 2005, Röthig đề nghị xây dựng một hệ thống giám sát chuẩn xác hơn về các khoản cho vay đằng sau những trái phiếu phức tạp mà IKB lúc đó đang mua từ các công ty Phố Wall, nhưng lãnh đạo ngân hàng này lại không muốn chi thêm tiền cho việc đó. “Tôi bảo họ rằng các ngài có kho tài sản trị giá 20 tỉ đô-la, hàng năm các ngài kiếm được 200 triệu đô-la, ấy vậy mà các ngài lại đi từ chối tôi khoản đầu tư vẻn vẹn 6,5 triệu đô-la! Nhưng họ vẫn không muốn làm.” Röthig kể.

Lần thứ ba sau chuỗi ngày rong ruổi, chúng tôi lại vô tình băng qua đường biên giới giữa Đông Đức và Tây Đức mà không hề hay biết, và phải mất tới 20 phút để định hướng. Charlotte được sinh ra và lớn lên ở thành phố Leipzig, Đông Đức, song cô cũng mù mờ như tôi về việc này. Charlotte nói, “Giờ phải chỉ tận nơi thì mới phân biệt được. Lẽ ra họ phải dựng biển báo mới phải.” Vùng biên giới cũ từng một thời chằng chịt hầm hào, dây thép gai, và bãi mìn thì nay bề mặt chỉ còn lồi lõm như răng lược. Nhưng chí ít, cứ bề mặt mà nhìn thì nó vẫn sạch sẽ. Chúng tôi rẽ vào một trạm xăng có ba vòi bơm xếp san sát trong một lối đi hẹp. Lái xe của cả ba xe đổ xăng phải thao tác cùng lúc, và di chuyển cùng thời gian, bởi nếu một xe bị chậm thì các xe khác đều phải đợi. Nhưng trên thực tế thì không xe nào bị chậm cả, bởi các tài xế người Đức thao tác với hiệu suất của một đội phục vụ cấp tốc. Nhờ cách sắp xếp lạc hậu này mà Charlotte đoán rằng chúng tôi vẫn đang ở lãnh thổ của Tây Đức. “Anh sẽ không thể nào tìm được kiểu trạm xăng này ở Đông Đức đâu. Mọi thứ ở đó đều mới mẻ hơn”, cô nói. Charlotte còn khoe cô có thể chỉ cần nhìn qua cũng biết được một người – nhất là đàn ông − có gốc gác phía đông hay phía tây: “Người Tây Đức tự tin hơn, và cho rằng người Đông Đức lười nhác. Họ đứng thẳng người, còn người Đông Đức thì lom khom hơn.”

“Người Đông Đức là những người khó hiểu,” tôi nói.

“Cẩn thận đấy”, Charlotte cảnh báo.

Từ Düsseldorf chúng tôi lái xe tới Leipzig, rồi từ Leipzig chúng tôi lại nhảy tàu đi Hamburg để tìm hội vật bùn. Dọc đường, Charlotte đùa với tôi bằng cách chỉ ra những dấu hiệu ám chỉ đến những thứ không mấy tế nhị của con người trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của cô.

“Kackwust nghĩa là phân. Nghĩa đen của nó là súp phân. Thật kinh khủng. Mỗi lần nhìn thấy bát súp là tôi lại nghĩ đến nó. Bescheissen là ai đó đại tiện lên người anh. Klugscheisser là kẻ ị bậy thông thái. Nếu anh có nhiều tiền, người ta sẽ nói là anh ị ra tiền, tức Geldscheisser. Còn khi gặp tình huống xấu, anh có thể nói Die Kacke ist am dampfen, tức là phân đang chảy ra.”

Ban đầu, cô còn ngập ngừng, nhưng càng về sau càng thêm nhiều từ xuất hiện trong đầu, khiến cô cũng không khỏi ngạc nhiên. Rồi cô dừng lại, như chợt nhận ra mình hóa ra lại đang cổ vũ cái thuyết tồn tại nét tính cách dân tộc của người Đức.

“Mà mới chỉ là ngôn ngữ thôi đấy,” cô nói.

“Hẳn rồi”.

“Nhưng như thế không phải là nó được ứng dụng.”

Chúng tôi dừng lại phía ngoại vi Hamburg để ăn trưa trong một trang trại của Wilhelm Nolling, một nhà kinh tế học tuổi đã thất thập nhưng vẫn cường tráng và phong độ. Người ông toát lên vẻ sắc sảo, ông còn có bộ tóc bạc dòng dõi quý tộc, nhưng giọng nói lại ồm ồm như sấm. Đưa tôi đi dạo một vòng quanh khu nuôi dê trong trang trại, ông kể: “Người Hy Lạp muốn chúng ta trả tiền ăn cho họ! Vì thế họ mới đang gây bạo động đầy đường kia kìa!” Nolling là thống đốc ngân hàng Bundesbank khi cái ý tưởng về khu vực tiền euro mới chỉ được xì xào bàn tán, và khi ý định này trở nên nghiêm túc hơn, ông đã lên tiếng chỉ trích. Ông từng viết một cuốn sách nhỏ đầy ai oán mang tựa đề Good-bye to the Deutsche Mark? (tạm dịch: Thế là tạm biệt đồng Mác?), và một cuốn khác, với lời lẽ khẳng định hơn, The Euro: A Journey to Hell (tạm dịch: Đồng Euro: Hành trình tới Địa ngục). Ông cùng với ba nhà kinh tế học và lãnh đạo tài chính kiệt xuất khác của Đức đã đệ đơn kiện đồng euro về các khía cạnh liên quan tới hiến pháp – đơn kiện này hiện vẫn đang nằm đâu đó trên đường tới các tòa án Đức. Trước khi đồng mác bị ngừng lưu hành, Nolling đã khuyên Bundesbank nên giữ chúng lại. Trong chiếc ghế bành tại phòng khách nông trại, Nolling vẫn nhảy chồm chồm lên vì kích động: “Tôi đã bảo họ rằng đừng có mà xé chúng đi. Rằng hãy cất gọn vào một chỗ, đề phòng sau này lại cần đến chúng!”

Nhưng rồi ông nhận ra mình bị mắc kẹt vào một tình huống vô vọng. “Anh có thể quay ngược tình thế này lại được không? Chúng ta đều biết là không mà. Giả sử họ có nói, ‘Được rồi, chúng tôi sai, ông đúng’, thì anh sẽ làm gì? Câu hỏi này đáng giá hàng trăm nghìn triệu đô-la chứ chẳng chơi.” Nolling biết cần phải làm gì song ông không cho rằng người Đức có thể thực hiện được điều đó. Ý tưởng mà ông cùng các nhà kinh tế học bất đồng chính kiến người Đức nung nấu là chia Liên minh châu Âu làm hai phần vì mục tiêu tài chính. Một bên là đồng euro – một loại tiền tệ thay thế − được phát hành và dành riêng cho các quốc gia đang nợ ngập đầu, tức Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý,…; một bên là đồng euro được các quốc gia đáng tin cậy sử dụng, bao gồm Đức, Áo, Bỉ, Hà Lan, Phần Lan, và… (ông có phần ngập ngừng khi nhắc đến cái tên cuối cùng này) Pháp.

“Ông chắc là Pháp cũng thuộc nhóm này chứ?”

“Chúng tôi đã bàn việc này rồi,” ông nói nghiêm túc. Họ đã quyết định rằng, vì những lý do xã hội, không thể loại Pháp. Điều đó thật kỳ cục.

Người ta đồn rằng khi đảm trách hiệp ước Maastricht, hiệp ước tạo nên đồng euro, thủ tướng Pháp, Francois Mitterrand, có lần đã kín đáo nói đại ý, “buộc ách” Đức vào phần còn lại của châu Âu như thế này chắc chắn sẽ dẫn đến những sự thiếu cân bằng, từ đó dẫn tới khủng hoảng, nhưng tới khi khủng hoảng nổ ra thì có lẽ ông đã sống xong phần đời của mình, và người khác sẽ giải quyết điều đó. Mà cho dù trên thực tế Mitterrand có không nói câu đó đi chăng nữa, thì ông cũng nên nói ra, vì chắc chắn đó là điều nằm trong suy nghĩ của ông. Thời điểm đó, rất nhiều người – không riêng gì các thống đốc của Bundesbank – đều nhận thấy rõ rằng các quốc gia này không thể sống chung dưới một mái nhà.

Nhưng mặt khác, làm sao mà những người tưởng chừng như thông minh, thành công, trung thực, và có ý thức tổ chức tốt như người Đức lại để bản thân bị lôi kéo vào mớ hỗn độn đó? Khi nghiên cứu các giao dịch tài chính, họ đã cẩn thận xem xét đến từng tiêu chí nhỏ, nhưng lại bỏ qua những lỗ hổng chết người bao trùm cả bức tranh lớn. Nolling cho rằng gốc rễ vấn đề nằm ở tính cách con người Đức: “Chúng tôi tham gia vào hiệp ước Maastricht bởi họ đã đưa ra những nguyên tắc. Họ đã dụ dỗ chúng tôi bằng những lời vuốt ve giả mạo. Người Đức là những người cả tin.”

Ngài thứ trưởng Bộ Tài chính đã dựng hẳn lên tường dòng chữ nhắc ông biết nhìn nhận sự việc theo con mắt của người khác hẳn là vì lý do này: người khác không hành xử như người Đức, họ nói dối. Trong thế giới tài chính đầy rẫy những lừa gạt, người Đức lại là thổ dân trên một hòn đảo được bảo vệ chắc chắn nhưng chưa được tiêm chủng chống lại các virus độc hại mà những người khách phương xa mang tới. Trực giác đã cho phép họ tin tưởng những gã rao bán trái phiếu ở Phố Wall, trực giác cũng giúp họ tin tưởng người Pháp khi họ hứa sẽ không đưa ra bất kỳ gói giải cứu nào, và trực giác cũng khiến họ tin người Hy Lạp khi họ thề thốt rằng ngân sách của họ là cân bằng. Đó là một giả thiết. Một giả thiết khác là họ không quan tâm tới khả năng mình mắc sai lầm, bởi dù sao nó cũng có lợi cho họ. Với người Đức, đồng euro không chỉ đơn thuần là một loại tiền tệ. Nó còn là phương tiện xóa đi quá khứ. Nó là một đài tưởng niệm khác cho những vụ thảm sát của Đức Quốc xã. Có thể các cuộc trưng cầu dân ý Đức đều cho ra những kết quả không mấy mặn mà với người Hy Lạp, nhưng những lực lượng ngấm ngầm đằng sau đó lại ủng hộ họ.

Dù gì nếu bạn đề cao quá mức sự sạch sẽ, trật tự mà lại vẫn mang một nỗi ám ảnh thầm kín về những thứ bẩn thỉu và hỗn độn, thì bạn chắc chắn sẽ vướng vào rắc rối nào đó. Chẳng có gì thanh khiết mà không có chút hoen ố. Anh yêu thích sự sạch sẽ, cũng tức là anh bị ám ảnh bởi sự bẩn thỉu. Cô gái trẻ người Đức lái xe đưa tôi đi khắp nơi trên nước Đức lại chẳng hề quan tâm tới cả hai, nên khó mà nói cho đúng cô là một ngoại lệ hay là một hiện tượng mới. Thế nhưng, với cung cách đầy trách nhiệm, cô vẫn hiên ngang bước vào quận đèn đỏ lớn nhất thế giới, tìm đến những gã đàn ông lôi thôi lem nhem người Đức để hỏi họ nơi nào diễn ra vật bùn cho nữ giới. Và thậm chí cho đến bây giờ, cô vẫn liên tục tìm ra những cách diễn đạt sử dụng cái chất thải của con người mà người Đức vận dụng. “Scheisse glanzt nicht wenn man sie poliert là Phân có đánh bóng cũng không thể sáng lên được, Scheissegal là Tôi không cho một xu phân nào đâu.” Rồi cô cười lớn: “Đó là một phép nghịch hợp ở Đức, phải không nào?”

Đêm mới bắt đầu, và cả khu phố đèn đỏ nhộn nhịp hẳn lên. Có lẽ đây là cảnh lộn xộn nhất mà tôi bắt gặp ở Đức. Những người bán hàng rong đứng dựa lưng vào tường các câu lạc bộ sex, mắt dò xét tìm khách hàng tiềm năng trong đám đông qua lại. Những phụ nữ xinh đẹp nháy mắt lôi kéo những gã đã lộ rõ vẻ ngất ngây. Đôi ba lần chúng tôi có bắt gặp hình ảnh logo một công ty với đôi nét phác họa cảnh làm tình. Charlotte chợt nhớ tới chuyện Rammstein, một ban nhạc Đức, bị bắt tại Mỹ vì phác họa cảnh làm tình trên sân khấu khi ban nhạc này biểu diễn bài “Buck Dich” (Cúi xuống). Cuối cùng, cô cũng nhận được câu trả lời, từ một người đã làm việc ở khu phố này hàng chục năm. Ông lão nói: “Buổi diễn vật cuối cùng là từ mấy năm trước rồi. Tốn kém quá nên người ta bỏ nó đi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.