CHƯƠNG 39: ĐƯA DÂU ĐI BẮC GIANG

Ngày hôm sau, chiếu chỉ được đưa ra, Ngoạn Thiềm được phong làm công chúa, mang danh chị gái của Thái Tông, được gả cho Nguyễn Nộn, kết tình thông gia. Đoàn đưa dâu đưa đến Bắc Giang.

Từ Thăng Long để đi được đến Bắc Giang phải qua đoạn sông Hồng phía Tây Nam, ở đó có cầu phao được làm bằng những thân tre được bện chặt dây thừng, nối từ đầu này sang đầu kia của khúc sông. Từng đợt người băng qua cầu phao.

Trần Thủ Độ cũng thành toàn cho ta được theo xa giá của nàng tiễn nửa đoạn đường rồi quay về. Ta cũng chỉ đi theo, không tiết lộ nhiều về thân thế.

Trên đường về Thăng Long, đoàn người mấy chục người cưỡi ngựa nước kiệu tiến về hướng cầu phao. Bất chợt, từ xa, nghe tiếng hỗn loạn, tiếng gào thét, khóc lóc, chửi bới, binh khí chạm nhau. Người dẫn đầu đoàn ra hiệu cho tất cả im lặng, tấp vào bên lề, không đi đường cái nữa.  Sau đó, sai một người lính đi lên thám thính. Chốc sau, người lính quay về báo phía trước có toàn cướp, mọi người có vẻ hoang mang.

Địa hình khu vực này của Bắc Giang, đồi núi hiểm trở, trùng điệp, khó di chuyển, dễ bị lạc, thích hợp đánh du kích. Đó cũng là lí do lớn nhiều năm nay, triều đình nhiều lần cử quan dẹp mãi không yên. Ngoài thế lực lớn nhất là Nguyễn Nộn, còn nhiều toán cướp lợi dụng địa hình đồi núi hiểm trở để hoạt động.

Người lính dẫn đầu đoàn sau một hồi bàn bạc về tương quan lực lượng liền quyết định phái một nhóm nhỏ tiến về trước giúp dân dẹp loạn, phần lớn ở lại chờ. 

Một chốc sau, toán cướp tan rã, bị đuổi chạy về phía rừng cây, phía bọn ta đang đứng, mọi người liền chuẩn bị vũ trang ứng phó.

Không biết một mũi tên từ trong không trung bay đến, cắm vào chân con ngựa ta đang cưỡi, con ngựa hí lên và đứng thẳng, huơ 2 chân trước tán loạn trong không trung rồi điên cuồng phi vào trong rừng cây. Ta nghe mọi người chung quanh gào lên rồi đuổi theo.

Ta nhớ chuyện lần trước ở Xạ Đình, liền cầm chặt dây cương, cúi đầu thấp, ép sát vào mình ngựa, bóng cây lướt vun vút trước mặt. Chỉ biết chờ cho ngựa dừng lại.

Đến lúc ngựa dừng lại, nó thở hồng hộc, ta cả đầu choáng váng, bao tử nhộn nhạo. Vội trườn xuống khỏi lưng ngựa, nằm phịch xuống nền đất đầy lá khô và mảnh gỗ, hơi thở ta loạn nhịp, định nôn mấy lần mà kìm lại được. Ánh sáng mặt trời trên cao chen qua những tán cây, chói lóa , ta lấy cánh tay vội che mắt lại, thở dốc, mỗi lần thở ra, bụng thít chặt lấy xương sườn, nhói lên từng cơn.

Con ngựa gần đó đi qua đi lại gốc cây, chân giẫm xuống đất, móng ngựa bằng sắt đánh cộc cộc xuống đất đều đều hối hả, làm đầu ta muốn nổ tung. Sau một hồi do dự, nó phóng vào rừng, ta bất lực nằm dưới đất thều thào:

  • Đừng đi , đừng đi…

Cuối cùng, không chịu nổi, vùng dậy, lại cạnh gốc cây khác gần đó, nôn lấy nôn để, dạ dày quặn lên từng cơn. Đến khi không còn gì để nôn, ta cả miệng chua lét, chùi miệng, ngồi xuống đất, dụi mắt nhìn xung quanh, Chung quanh là cảnh xa lạ, không thể nhận ra, có thể ngựa đã chạy sâu vào trong rừng. Ta thất thểu đi vòng quanh tìm lối ra, khi nắng đã tắt vẫn không thấy đường ra khỏi khu rừng không một bóng người.

Đi cả một buổi thì bỗng phát hiện có ai đó đang lén đi theo, nhìn ra sau thì thấy 1 đứa trẻ ăn mặc rách rưới, tóc tai bù xù, trên người còn có mùi hôi dường như đã nhiều ngày không tắm. Ta lại gần, tỏ ý không có gì phải sợ, chìa ra cho thằng bé miếng mứt ô mai và dứa đem theo, được gói trong bọc vải, hỏi nhỏ: 

  • Ngươi là ai?

Thằng nhỏ lúc đầu còn dè chừng, sau đó chộp lấy và ngấm nghiến miếng mứt, dường như là thứ ngon nhất nó được ăn, khuôn mặt sáng bừng phấn khởi.

  • Ta sống trong khu rừng này.
  • Ngươi dẫn ta ra khỏi đây được không? Giọng ta nài nỉ, tay nhặt miếng lá cây khỏi tóc thằng bé, cái mái tóc rối như tổ chim.
  • Bìa rừng rất xa. Giọng nó như không thể tin được.
  • Vậy…ngươi dẫn ta về nhà được không, ta bị lạc. Ta cố sức năn nỉ thằng nhóc, nhìn ra nó nhỉ nhỏ hơn ta 1, 2 tuổi là cùng. 

Sau một lúc chần chừ, nó dẫn ta về ngôi nhà lá giữa rừng, hứa sáng mai sẽ đưa ta ra bìa rừng. 

Khi về đến nhà thằng nhóc thì trời đã nhá nhem tối. 

Bên ngoài căn nhà có nuôi gà vịt, cùng một mảnh vườn trồng rau nhỏ và bao quanh là hàng rào tạm bợ. Nghe kĩ thì từ đây có thể nghe tiếng nước chảy, có lẽ gần một dòng sông hay con suối nào đó. Nhà được lợp bằng mái lá, khung tre nứa, nhìn khá vững chãi. Nép mình bên cạnh là căn bếp nhỏ, chất đầy củi. Trong nhà không có gì ngoài chiếc giường làm từ một miếng ván gỗ to, bàn ăn. Thằng nhỏ dùng bật lửa tre đốt đèn dầu lên, căn phòng tù mù dần dần sáng lên.  Ta ngồi trên chiếc ghế đẩu, nhìn vào cảnh nhà đơn sơ hỏi:

  • Cha mẹ ngươi đâu?
  • Đã mất rồi, mấy ngày trước. Thằng nhỏ trả lời mặt ráo hoảnh.
  • Sao lại mất? Giọng ta thảng thốt
  • Có cướp. Nói đến đây thì nó quay mặt đi, ngưng bặt, chả muốn trả lời thêm lời nào của ta nữa

Xong nó lẳng lặng xuống bếp, múc từ nồi gang chút cháo cho ta ăn đỡ đói. Chén cháo loãng, màu trắng nhợt được đựng trong cái bát nhỏ đã sứt miệng. 

Thằng nhỏ hứa sáng mai sẽ dẫn ta ra vào chợ, nơi gia đình nó hay ra đổi củi, rau lấy thịt. Ta mượn đỡ quần áo rồi mặc vào, còn trang sức, quần áo sang trọng thì gói trong túi vải.

Nhờ có ít cháo loãng từ căn bếp nhỏ mới có sức chống chọi, đêm đến ta vẫn còn nghe thằng nhó thút thít khóc thầm. Có lẽ nỗi đau trong lòng nó chưa vơi. Nhìn lại cảnh nhà, tự hỏi, làm sao một đứa trẻ có thể tồn tại được một mình ở giữa rừng được chứ. Ta định bụng nếu có thể về Thăng Long, nhất định sẽ đem nó về, cho ăn học tử tế với người ta.

 

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.