Cõi Mê - Chương 12
Mười hai
Khủng bố
- Nội ơi nội! Nội ơi! Sếp con tới rồi!
Minh Thảo rối rít gọi trong khi bà Ngọc đang lúi húi trong bếp làm món chả cá Lã Vọng đãi khách quý.
Từ khi ông Hoàng chạy đôn chạy đáo minh oan cho con trai, bà Ngọc dường như khỏe lại phần nào. Tình cảm của vợ chồng già được sưởi ấm thông qua con cháu. Mấy ngày nay bà rất vui. Ba niềm vui đến cùng lúc! Niềm vui lớn nhất của cả gia đình là ông Hoàng nhận được hồi âm sau hai năm trời bôn ba đi Nga, Đức, Hungary và Ba Lan, cốt để tìm cho ra cô Kim Chi, người cuối cùng trong số những phiên dịch viên có ký hợp đồng chính thức với công ty của Đạt. Kim Chi sau khi mãn hợp đồng, rời công ty của Đạt sang Nga làm ăn, rồi theo dòng đời, bươn chải ở Đức, ở Ba Lan và cuối cùng dừng chân tại một nước Đông Âu nhỏ bé và ít dân: Hungary, bởi đó chính là quê hương của người đàn ông mà cô đã kết hôn hai năm nay. Ông Hoàng đi tìm Kim Chi chẳng khác nào mò kim đáy biển. Nhưng rất may là ông quen biết nhiều ở các sứ quán Việt Nam tại các nước Đông Âu, đồng thời biết tận dụng thành tựu của công nghệ thông tin, kể cả việc đăng báo tìm người và nhắn tin trên kênh truyền hình đông người xem ở Đông Âu… Nhờ vậy, Kim Chi đã nhận được lời thỉnh cầu của Đạt, ông Hoàng. Với Kim Chi, Đạt là một giám đốc mà cô quý mến. Kim Chi viết thư cho Đạt để hiểu rõ nội tình, rồi cô làm tờ trình, gửi bằng ba ngả: Thứ nhất, gửi qua sứ quán Việt Nam tại Budapest. Thứ hai, gửi thẳng về Tòa án tối cao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Và thứ ba, gửi cho ông Hoàng. Ông Hoàng nhận được tờ trình của Kim Chi cùng lúc với lá thư xác nhận của ông Satchencô, nguyên Thứ trưởng Bộ Khai thác Thủy sản Liên Xô, đã nghỉ hưu, người trực tiếp lãnh đạo ngành ở miền Viễn Đông. Tờ trình của Kim Chi khớp với những gì Đạt đã ghi trong sổ tay cũng như lời khai trước cơ quan điều tra và khai trước tòa. Sổ tay của Đạt ghi lại, giống hệt sổ chi của phòng kế toán về số tiền chi, chỉ khác vài chi tiết về ngày, giờ. Theo đó, Kim Chi đã ký tên vào sổ tay của Đạt và sổ chi của phòng kế toán nhận mười lăm bao thư gửi cho đoàn Nga trước khi họ rời Sài Gòn bay đi Australia. Trong số này, có năm bao thư chứa hai ngàn đôla. Còn lại, mỗi cái chứa một ngàn đô. Chỉ riêng việc này đã là hai chục ngàn rồi. Còn mười ngàn, Kim Chi viết: “Tôi tận mắt thấy giám đốc Đạt giao cho ông Cổ, giám đốc chi nhánh tại Hà Nội. Ông Cổ đi Nga đàm phán về những khoản phát sinh trong quá trình thi công hợp đồng thứ nhất, sau đó quyết toán hợp đồng này lấy tiền thực hiện hợp đồng thứ hai”. Lúc này, Kim Chi mới biết ông Cổ đang lâm trọng bệnh thì bị bắt, bệnh bột phát lẹ quá, đã chết trong trại giam! Kim Chi là cái phao cuối cùng mà cả nhà ông Hoàng mong đợi. Cô chính là người cứu rỗi cho Đạt đang gánh chịu oan khuất tày trời gần bốn năm qua.
Niềm vui thứ hai là sau đúng mười hai năm kể từ ngày bà Ngọc viết thư kiến nghị Chủ tịch nước công nhận cha mình là liệt sỹ đã hy sinh vì sự nghiệp đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, nguyện vọng chính đáng của bà đã thành sự thật. Nói cho đúng, ngay từ những năm đầu thập kỷ Sáu mươi của thế kỷ Hai mươi, khi Nhà nước xem xét công nhận những người có công với nước, liệt sỹ, thương binh…, gia đình bà Ngọc đã rất nhiều lần làm đơn đề nghị. Thế nhưng trường hợp của ông giáo Hải, cha bà, vẫn bị gạt ra. Bà Ngọc buồn vô cùng. Mộ cha không tìm thấy, danh phận không rõ ràng. Lúc đó, có kẻ ác tâm còn nói rằng cha bà mang mười hai ngàn đồng bạc Đông Dương tót vô Nam chứ đâu có bị địch bắt mà đòi liệt sỹ liệt xiếc gì! Cả gia đình chịu tiếng dơ, tiếng nhục! Năm 1986, khi mà mô hình Tổng Công ty Biển do chồng bà làm Tổng giám đốc đang phất lên rực rỡ, bà Ngọc xin về hưu. Bà dành hai tháng trời đi khắp vùng nhà thờ Phát Diệm tìm mộ cha, nhưng vô vọng. Bà về quê, họp mặt chị em, con cháu, làm lễ chiêu hồn cho cha. Cha mẹ bà sanh con một bề, bà là con gái đầu lòng, sau còn bốn người em gái. Con rể nhà này có hai giáo sư, hai thứ trưởng, một ông thiếu tướng. Lễ chiêu hồn diễn ra đúng ba ngày. Sọ dừa làm xương sọ, những cây trúc vàng óng của quê hương làm xương tứ chi, cành dâu làm xương sườn… Bộ cốt của cha được hình thành thật khéo, thật giống, sau đó mộ cha được lập. Năm đó, tính theo ngày cha bị tự vệ nhà thờ Đá bắt là chẵn bốn chục năm. Lễ chiêu hồn cha, lập mộ cha hoàn tất, bà tiếp tục viết đơn kiến nghị cấp trên công nhận cha bà là liệt sỹ. Gửi kèm với đơn là giấy xác nhận của nguyên Chủ tịch thành phố Hải Phòng xác nhận rằng ngày mười hai tháng Mười hai năm đó, chính ông đã giao nhiệm vụ cho ông giáo Hải dẫn mười hai người gánh mười hai bánh thuốc lào, cầm theo mười hai ngàn đồng bạc Đông Dương vượt vùng tạm chiếm vào vùng tự do Thanh Hóa để làm kinh tế cho Ủy ban kháng chiến Kiến An. Đơn gửi đi, cả năm trời, bặt vô âm tín. Quá buồn, quá giận, bà Ngọc giấu chồng, viết thư gửi các vị lãnh đạo cao nhất. Trong thư có câu:
… Cha tôi là một trí thức, con nhà giàu, vì yêu nước nên đã theo tiếng gọi của Bác Hồ, của Việt Minh đi làm cách mạng. Khi cha tôi bị giặc bắt, thà chết không khai báo, bị sát hại dã man: chặt làm ba khúc, chôn ba nơi… Vậy mà tại sao Nhà nước không công nhận cha tôi là liệt sỹ?!
Thế rồi tiếng kêu oan của bà đã động thấu thiên đình! Cách đây ba ngày, tức là đúng mười hai năm sau ngày bà viết thư cho các vị lãnh đạo cao nhất, cha bà đã được công nhận là liệt sỹ. Bà được mời đi nhận Bằng Tổ quốc ghi công. Bà mang tấm bằng về đặt lên bàn thờ, nhìn ảnh cha, bà đứng chết trân, không khóc, không nói được lời nào. Còn nước mắt nữa đâu mà khóc!
Niềm vui thứ ba: Cháu gái Minh Thảo chính thức báo cáo với ông bà nội rằng cháu có người yêu! Không ai xa lạ, người ấy chính là sếp của Minh Thảo. Bữa nay chủ nhật, bà bảo cháu gái mời sếp tới nhà chơi để bà coi mặt cháu rể tương lai! Bà Ngọc là một đầu bếp giỏi. Bà được cha mẹ dạy dỗ theo tiêu chí, khuôn phép công dung ngôn hạnh. Bà được mẹ truyền cho đức tần tảo, khéo tay, hay làm. Căn bếp của bà, những món ăn do bà nấu nướng, pha chế, cho dù là thời kỳ gian khó thiếu thốn trăm bề ở miền Bắc trước kia, cũng như hiện nay, luôn luôn xứng đáng là điển hình của một phần văn hóa ẩm thực dân tộc. Bà Ngọc có tài làm tương - tương Bần, kiểu Bắc, làm các loại mắm, muối dưa: dưa hành, dưa kiệu, cà pháo, cải chua và nhất là muối tỏi. Mùa nào thức ấy, bà Ngọc luôn cho chồng con, cháu mình thưởng thức những món ăn ngon, bổ dưỡng, những vưu vật mà trời đất ban cho con người. Ông Hoàng tự hào về tài đảm đang, nội trợ của vợ. Họ hàng, bạn bè, trong đó có không ít người nước ngoài, khi được mời đến ăn tiệc, đều hết lời ngợi khen, thán phục tài nấu ăn của bà Ngọc.
Nói riêng về món chả cá hôm nay bà làm để thết cháu rể tương lai, quả là một kỳ công. Cả nhà bà Ngọc thích ăn món chả cá, nhưng mê nhất có lẽ là hai cha con Đạt, Minh Thảo. Đã có mấy ai khi ăn chả cá mà biết được công phu của món này. Thứ nhất, cá để làm chả không phải cá nào cũng được. Tất nhiên, cá lóc cũng có thể dùng làm nguyên liệu, nhưng ăn bở, không dai, không thơm ngậy, ăn nhiều mau ngán, không đạt yêu cầu. Chả cá bắt buộc phải làm từ cá lăng sống tự nhiên ở vùng đầu nguồn sông đá vôi. Nhờ khí hậu và thủy thổ, hơi đá, hơi đất, hơi rừng, nhờ nguồn phù du và những thức ăn sinh sản tại đầu nguồn sông mà cá lăng có thịt thơm như thịt gà, dai, ngọt và ngậy, ăn nhiều bữa liền nhau cũng không ngán, khó có loại cá nào sánh kịp. Con cá lăng làm chả ngon phải có trọng lượng từ bốn ký lô trở lên, nhỏ quá, không đủ độ dai và không ngọt, kém thơm. Bà Ngọc có mối quen ở chợ, nguồn cá lăng ngày càng hiếm, mấy năm nay có cá lăng hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An bổ sung. Bà Ngọc đã từng gợi ý với chồng, nên kêu gọi đầu tư nuôi cá lăng vì đây là loại cá có chất dinh dưỡng cao, là thực phẩm mà cũng là thuốc, không sợ béo phì, không cholesterol, ai bị tiểu đường cũng ăn tốt!
Cá lăng đang bơi, bắt lên làm sạch, lọc lấy thịt nạc rồi xắt lát thật đều, cỡ bằng hai ngón tay, sau đó ướp ngay với các loại gia vị. Không bao giờ nên dùng bột ngũ vị hương bán sẵn, vì không biết liều lượng từng vị trong đó thế nào! Bí quyết là ở cái liều lượng từng loại gia vị và cách ướp cá. Sau khi ướp tối thiểu ba chục phút, đem nướng trên hỏa lò than đước, ngày trước người Bắc gọi là than hoa hoặc than Tàu. Khi nướng tưới mỡ lên. Cá vừa chín tới, gắp vào chén, ăn chung với đậu phộng rang giã nhỏ, rau mùi, thì là và hành hương chẻ nhỏ ngâm dấm. Dứt khoát phải chấm mắm tôm! Phi mắm tôm bất thành chả cá! Món chả cá khởi thủy ăn bằng cách nướng như thế. Thời của bố mẹ bà Ngọc, cũng là thời của các nhà văn như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Vỹ… trở về trước, chả cá là phải nướng, chứ không đem xào mỡ hoặc dầu như ngày nay. Đã gọi là chả thì phải nướng chứ xào thì sao gọi là chả? Người Tàu nói khoái chá, là nói nem nướng! Chỉ có nướng mới ngon. Giữa nướng và xào trên chảo mỡ có một khoảng cách khá xa. Cái khoảng cách ấy chính là một trong những khía cạnh của Dịch lý: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái; làm nên sự tế vi của hương của vị, do lửa than trực tiếp ngấm vào thịt cá. Khi xào trên chảo mỡ, tức là đã vô tình ngăn cách lửa than với cá rồi. Âm dương cách trở thì còn gì! Thi vị làm sao làn khói hỏa lò nướng chả bốc lên quấn lấy ánh mắt, làm xao động tinh thần, làm hồng hào gương mặt của thực khách, khiến cho lòng người thơ thới, tiết ra dịch vị để mà thưởng thức cho đã mùi đời. Cứ mỗi lần ăn chả cá, Minh Thảo lại nhớ tới bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ, bài thơ thâm thúy, đã vẽ được rất sắc sảo tâm thế, gương mặt điển hình của giới nhà văn nhà báo một thời… Chính là trong cái làn khói và mùi hương của hỏa lò nướng chả cá, trong men rượu nếp cái hoa vàng thơm ngon, rất bốc nhưng say một cách vô cùng đằm thắm, quyến rũ, người ta bảo rượu nếp cái hoa vàng có thể sánh với bất cứ loại mỹ tửu nào trên cõi mê này! Chính là trong cái không khí và mùi hương ấy, giữa lúc ngà ngà say, vào một buổi chiều đầy gió và mưa, nhà thơ Nguyễn Vỹ đọc cho bạn bè nghe bài thơ vừa viết nhan đề Gửi Trương Tửu, ông bảo rằng ông viết trong lúc say:
Nay ta thèm rượu nhớ mong ai!
Một mình rót uống chẳng buồn say!
Trước kia hai thằng hết một nậm
Trò chuyện dông dài mặt đỏ sẫm
Nay, một mình ta, một be con
Cạn rượu rồi thơ mới véo von!
Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác
Mà coi đồng tiền như cái rác
Kiếm được xu nào đem tiêu hoang
Rủ nhau chè chén nói huênh hoang
Xáo lộn văn chương với chả cá
Rồi ngủ một đêm mộng với mê
Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!
Thời thế bây giờ vẫn thấy khó
Nhà văn An Nam khổ như chó!
Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Và nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết
Mà thương cho tôi, thương cho anh
Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!
Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?
Tôi làm Trạng nguyên, anh Tể tướng
Và anh bên võ, tôi bên văn
Múa bút tung gươm há một phen?
Chứ như bây giờ là trò chơi
Làm báo làm bung chán mớ đời!
Anh đi che tàn một lũ ngốc
Triết lý con tiều văn chương cóc!
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà
Ra chợ bán văn, ngày tháng qua!*
Trương Tửu làm ở tạp chí Hữu Ích của Lê Văn Trương, người chủ trương triết lý sức mạnh. Nguyễn Vỹ làm cho Tạp chí Phụ nữ của Nguyễn Thị Thảo tòa soạn ở Ngõ Hội Vũ. Sau, Nguyễn Vỹ vô Sài Gòn, mở tạp chí Phổ thông, chuyên về văn học.
Cho nên tôi buồn không biết mấy!
Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy!
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa
Bực chí thành say mấy cũng vừa!
Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ!
Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ!
Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ
Rút cục chỉ còn mộng với mơ!
Kết bài thơ, tác giả viết: Viết rồi vẫn còn say!
Bài này đăng lần đầu trên tờ Phụ nữ Tân văn, Hà Nội. Theo Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: “Với Nguyễn Vỹ, chúng ta mất hẳn cái cười kiêu ngạo ấy và ngơ ngác thấy sắp hàng cùng với… chó”. Cái lối sắp hàng kỳ quái ấy đã làm phật ý Tản Đà. Một hôm say rượu, Tản Đà trách Nguyễn Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?”! Minh Thảo đọc chuyện này từ thời còn học trung học, cô cười đến đau cả quai hàm. Các nhà văn tếu thật! Thảo thương giới nhà văn, những người mà cô hằng ngưỡng mộ. Nói về các vị ấy, Aragon viết rất chí lý rằng: … Bóng các người làm thơm bao buổi sớm! Nhà văn trên toàn cầu, xưa nay vốn nghèo, ít người giàu có và sung sướng về vật chất. Nhà văn Việt Nam càng nghèo. Khi cả dân tộc bị nô lệ, lầm than, dân lành đói ăn thì họ cùng chung số phận là phải thôi. Nhưng cái kiếp làm thi sỹ dường như khổ hơn người thường gấp bội. Họ đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh mà không Trạng nguyên cũng chẳng Tể tướng, rút cục chỉ còn mộng với mơ!
Văn học làm cho con người lương thiện và hoàn thiện hơn. Nhà văn và những người yêu thích văn chương thường mang bản tánh lương thiện. Thảo đọc nhiều, cô cứ nghĩ mãi về cái câu Rút cục chỉ còn mộng với mơ! Đời cô rồi sẽ ra sao? Mê văn chương nhưng lại đi theo nghề quản lý kinh doanh. Ông Ăngghen thuở hàn vi là một nhà buôn, nhưng lại là thiên tài triết học. Người ta bảo thế là trái khoáy, nhưng trái lại, Thảo thấy chả trái tí nào. Lại bảo tuổi Giáp Dần thông minh nhưng cao số, nên lấy chồng trễ, ngoài ba chục mới cưới thì chỉ một lần đò, nếu thành hôn trước ba mươi tuổi thì phải hai lần đò, nhưng mà rất giàu… Minh Thảo nghe vậy, chỉ cười. Tuổi cô là tuổi đầy tự tin! Cô vẫn làm nghề quản lý mà vẫn thích văn chương! Mỗi lần bà nội làm món chả cá, cô lại nhớ đến quán chả cá Lã Vọng ở Hà Nội, nhớ cái bàn ở lầu một, kế cửa sổ. Lần đầu bố cho cô tới ăn, đã giới thiệu: Chỗ này ngày xưa các cụ Tản Đà, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng… thường ngồi ăn và cao đàm khoát luận… Và cô đã hơn một lần cười phát sặc sụa khi đọc bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ. Cứ ăn chả cá là cô lại nhớ đến những ngày gia đình đã từng đầm ấm, hạnh phúc. Mỗi lần nhớ đến chả cá cô lại nhớ bài thơ này, nhớ bố cô, người có thể ăn chả cá trừ cơm hàng tuần liền.
Bà nội Minh Thảo cũng đang nhớ tới con trai. Nếu con bà ở nhà lúc này, thế nào Đạt cũng vừa bốc bải ngồm ngoàm ăn từ trong bếp ăn ra, vừa giục ầm cả nhà lên:
- Mẹ ơi, nướng nhanh tay lên, con đói cồn cào ruột gan rồi!
Trong tù, Đạt mắc trọng bệnh, không biết có thể trụ được đến ngày mọi sự trắng đen rõ ràng? Lòng người mẹ như lửa đốt. Chưa có đêm nào bà ngủ yên giấc, vì thương con, chỉ lo chưa minh oan được mà con trai có mệnh hệ nào thì dưới suối vàng làm sao thanh thản! Ông Hoàng, bà Ngọc biết bệnh tình của Đạt, chỉ có Minh Thảo là không, mọi người giấu cô. Dù bận rộn cách mấy, tháng nào cô cũng cùng ông bà nội lên Z30 D thăm bố một ngày.
- Nội ơi nội! - Giọng nói trẻ trung ngọt ngào của Minh Thảo ríu rít từ ngoài cửa, giờ cả hai đứa đã sát ngay bên bà - Thưa nội, đây là anh Ngọc Bắc…
- Cháu chào bà nội!
Bắc cười rất tươi, cái miệng này sang lắm đây! Bà Ngọc nhìn và nhận ngay ra điều ấy.
- Chào cháu! Bà rất mừng được đón cháu đến chơi. Em Thảo kể về cháu hoài, nay bà mới được gặp. Cháu vô dùng bữa nghe cháu!
- Nội ơi, con đói muốn xẻ ruột ra rồi nè!
- Bố cô, đói thì rửa tay rồi mời bạn ăn cho ngon miệng, bà dọn xong cả rồi đấy. Món này vừa nướng vừa ăn mới ngon, mới vui các cháu ạ!
Ông Hoàng không có nhà. Ông đang ở Thủ đô. Những tài liệu mới nhận được cần đến tận tay những địa chỉ cần thiết. Ông đã nộp cho Chánh án Tòa án tối cao, cho Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao, và tất nhiên, cho lãnh đạo Bộ, nơi ông đã từng làm việc. Gần ba năm qua, ông dành hết công sức, tiền bạc và nhất là ý chí, nghị lực, cho những chuyến đi nước ngoài tìm nhân chứng. Ông quyết tâm tìm ra sự thật. Ông tin rằng con trai ông vô tội! Một cán bộ, là sản phẩm của nền giáo dục của chế độ Xã hội Chủ nghĩa, là sản phẩm của Đảng, nếu không gìn giữ nhân cách, có thể tha hóa. Nhưng, con ông được vợ chồng ông dạy dỗ tỉ mỉ, chu toàn, nền tảng đạo lý của gia đình không thể nào băng hoại được. Là người cha, ông hiểu con ông chứ!
Đời còn nhố nhăng … hình như có một nhà thơ thời tiền chiến đã viết như thế. Ba Đào X.O đang ngồi một mình trước ly Hennessy X.O. Một mình uống rượu, không cốt để thưởng rượu mà cốt để tính nước cờ cho ngày mai, cho tương lai. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà mình làm cái chi, cứ ngỡ là mới nhứt, là đầu tiên thì thằng cha Bắc Kỳ cũng đã đi trước một bước, cũng làm thành công ở Hà Nội rồi! Điên thật!
Chợ đông, trăm người bán, vạn người mua, chả ai tranh chấp đè nén gì mình, nhưng cứ nghĩ cái cách thằng Bắc thành công mà ứa gan. Mình không nghĩ ra cái vụ khai hoang phục hóa, vừa được tiếng với thành phố, được mấy ông lãnh đạo Thành ủy và Ủy ban nhân dân mời lên tiếp đón rình rang, khen ngợi, lại vớ bẫm một lúc gần hai trăm hécta xanh rờn, đẹp như mơ! Thằng này hên thiệt! Mà nó mới ba chục tuổi đời chứ mấy! Đáng nể! Đáng nể nhưng mà tức muốn rỏ máu đầu ngón tay, tức ứa gan thắt phổi! Thôi thì đổ cho số phận. Nghĩ đến số phận là A.Q chánh hiệu con nai tơ rồi, là phép tự lừa, phép thắng lợi tinh thần, chả thèm ganh tức với ai nữa.
Thế nhưng không ganh sao được khi mà nó hốt bạc trong lúc cái Hội Nhập Bảy của mình ế dài dài! Từ trước khi nó mở đường tráng bê tông átphan trên bán đảo, ở đó chỉ có duy nhất nhà hàng Hội Nhập. Khách tới ăn nhậu đông như mắc cửi. Lúc đó du khách đến bằng đường thủy, vừa thơ mộng, vừa hốt được mớ tiền tàu du lịch. Nay nó mở đường bộ, khách đến bằng đường bộ quá nửa, chỉ những người sành điệu mới khoái đi tàu thủy. Nhưng ác nhứt là khu vui chơi giải trí và nhà hàng ăn uống của nó hút hết khách của mình. Rừng phòng hộ do nó trồng nay đã xanh um, nó còn thả vài trăm con thú quý hiếm vô đó. Ác nhơn thiệt! Bắc ơi, mày chơi anh Ba mày vố này đậm quá! Tao đâu có chịu thua mày, thằng Bắc Kỳ ranh con!
Thằng Thăng được triệu tới. Càng ngày nó càng bảnh. Ngó bộ vó của nó, Đào phát ham! Ước gì mình cũng có phong độ như nó! Gái đẹp thì Đào đâu có thiếu gì, nhưng tự nhiên mà các em lăn xả vào dâng hiến mới khoái, chứ mua bằng tiền thì cũng như không, ăn rồi chán liền…
- Dạ… đại ca kêu em?
- Ờ, chú mày vừa ở đâu?
- Dạ, ở số Bốn ạ. Trong hệ thống nhà hàng của mình, chỉ có cái số Bốn là bết. Thảo nào người Tàu họ cữ số tứ.
- Ăn nhằm gì, cái đó ít khách là phải, bởi trong xóm lao động, bà con lo đi làm mướn, về đêm thì lo sát phạt đổ chến, đói thì kêu mì gõ chứ bạc đâu mà dzô nhà hàng! Đường sá dzô số bốn nhỏ hẹp, vòng vèo, dân xì ke, mại dâm đứng đầy đường, khách xịn rất ớn, không tới là phải! Địa thế đó không hạp, không phải chốn ăn chơi. Để ta tính lại cái số Bốn. - Đào đưa cho thằng Thăng ly rượu, trong khi thằng Thăng vẫn đứng, đại ca chưa bảo ngồi, nó đâu dám! - Chú mày có bao giờ để mắt tới cái số Bảy bên Thủ Thanh?
- Dạ, em vẫn qua đó thường…
- Lần mới nhất là bữa nào?
- Dạ, cách nay gần tháng…
- Quan liêu hỉ. Ta nuôi chú mày để làm ra tiền chứ có nuôi để học đòi làm một thằng cán bộ nhà nước quan liêu khi mô?
- Dạ…
- Nó đang ế chỏng gọng. Hôm nay, ta chính thức giao cho chú mày nhiệm vụ: Mần răng thì mần, cốt sao cho số Bảy hết ế ẩm. Vật nào cản ngại nó, chú mày phải… khai thông nghe!
Thằng Thăng đánh một vòng đường thủy rồi đường bộ quanh bán đảo Thủ Thanh, sục vào ăn uống nhảy nhót, nghĩa là sử dụng tất cả các loại dịch vụ của Ngọc Viễn Đông. Cú này nó xài khẳm tiền, tất nhiên, việc phải chi thì cứ chi, miễn là hiệu quả. Đó là phương châm của đại ca X.O.
Sau một tuần thám thính, thằng Thăng phát hiện ra điểm mấu chốt khiến cho Ngọc Viễn Đông hút hết thực khách của Hội Nhập Bảy là vì nó thật sự văn minh và hiện đại, nó là cục nam châm khổng lồ hút du khách đến thưởng lãm, thư giãn, bồi bổ, phục hồi sức khỏe. Như thế, thằng Thăng rút ra kết luận: Muốn làm mất khách của Ngọc Viễn Đông, không thể cạnh tranh bằng dịch vụ tốt hơn, chất lượng cao hơn, điều đó là không tưởng! Chỉ còn một con đường là… quậy! Quậy liên tục, tạo nên ấn tượng mất an toàn ở Ngọc Viễn Đông thì bố ai còm dám vác xác tới đó nữa! Cho thêm tiền, nhiều tiền cũng xin kiếu! Thằng Thăng trình bày phương án, X.O gật đầu ba cái, nhìn nó, hy vọng… nhưng không nói gì!
Hôm sau, ở khu giải trí dưới nước của Ngọc Viễn Đông có một vụ tựa như cuộc đánh lộn. May mà nhân viên an ninh của Ngọc Viễn Đông - thuê của tập đoàn dịch vụ vệ sỹ - can thiệp kịp thời nên không thành nghiêm trọng. Tuy thế, một tờ báo èo uột, đang cần tăng lượng phát hành, chộp được cơ hội này đã làm ầm lên hai ba ngày.
Năm ngày sau, lại một vụ đổ máu ngay nhà hàng trung tâm. Máu đổ, một thực khách gãy chân, một bể đầu, hai nhân viên an ninh bị thương nặng. Đồ đạc trong phòng ăn tanh bành! Cơ động một một ba và cảnh sát hình sự tới nơi thì những hung thủ chủ động gây chiến đã biến mất!
Toàn Cầu rúng động. Minh Thảo nhận định:
- Em nghĩ rằng hai vụ đánh lộn trong vòng một tuần, không phải ngẫu nhiên…
- Anh cũng nghĩ vậy. Những tên chủ động gây sự ăn uống rất sang, toàn thứ mắc tiền, và, anh nghe kể lại thì khi đánh nhau, chúng nó có nghề…
- Hai tờ báo đang mở chiến dịch báo chí khai thác sâu về vụ này. Ảnh hưởng không nhỏ đâu, anh à!
- Em đã tăng cường lực lượng an ninh chưa?
- Dạ rồi, em đã yêu cầu công ty vệ sỹ bố trí gấp ba lần hơn trước.
- Nên cho nhân viên an ninh mặc thường phục.
- Dạ… Em hiểu… Nhưng anh ơi, không ai nắm tay cả ngày được!
- Được, anh sẽ làm việc với các cơ quan chức năng cụ thể về chuyện này…
Ngọc Bắc mời Hội đồng tư vấn thông báo tình hình an ninh ở Ngọc Viễn Đông. Mọi người thống nhất với nhận định của Bắc là đã xuất hiện hành động khủng bố nhằm phá hoại danh tiếng của Toàn Cầu. Thành viên tư vấn chuyên về an ninh đến làm việc với các cơ quan chức năng… Hai ngày sau, trong khi cơ quan chức năng chưa kịp triển khai theo kế hoạch mà Toàn Cầu đề nghị, thì…
Nhận được tin bốn thanh niên đang ăn nhậu, trong đó có hai tên đã quậy phá bữa trước, ba nhân viên an ninh mặc thường phục trong vai thực khách bước vô nhà hàng. Làm như vô tình, họ đến ngồi vào chiếc bàn gần với bàn của bọn quậy. Bốn tên này gọi rượu Hennessy X.O, và ăn tôm hùm. Quả nhiên, sau khi ba nhân viên an ninh kêu bia, nhân viên nhà hàng đang khui bia rót ra ly thì từ bàn bên kia, vang lên giọng rất hách dịch:
- Ê, có phục vụ không thì biểu? Kêu mấy lần rồi mà sao không đưa món lẩu tôm hùm lên?
- Dạ thưa quý anh chờ cho giây lát, - nhân viên phục vụ lễ phép - chờ cho lẩu chín kỹ thì chất bổ trong đầu tôm, càng tôm mới ra nước, mới ngon miệng ạ!
- Ta biểu đưa ra thì cứ đưa ra! Lý sự! Mi không biết ta là tay tổ dzề ẩm thực sao?
- Dạ… xin lỗi anh hai…
- Lỗi phải gì, hỗn! Cút đi cho rảnh mắt ta!
Quản đốc nhà hàng chạy tới. Anh ta mềm mỏng:
- Xin quý khách bớt giận, chúng tôi xin lỗi vì chậm trễ!
- Xin lỗi vì chậm trễ! – Thực khách trề môi gằn giọng nói đầy mỉa mai – Dzầy mà biểu phục vụ văn minh, tiện nghi, hiện đại. Bịp bợm, láo khoét!
- Dạ, có gì không phải xin quý khách góp ý đàng hoàng, xin chớ nặng lời…
Bốp, bốp! Hai cái tát nảy lửa giáng vào mặt người quản đốc, nhanh tới mức nhân viên an ninh có nghề mà không can thiệp kịp. Đến mức này thì… Ba nhân viên an ninh bật dậy, một người nhanh chóng chụp tay kẻ vừa tát quản đốc, tra ngay vô còng số tám. Ba tên còn lại điên cuồng lao vào đấm đá. Ngay từ lúc bọn khủng bố lớn giọng hách dịch mắng mỏ nhân viên phục vụ, ở quầy thu tiền, nút chuông báo động khẩn đã được nhấn. Ngọc Bắc đang ngồi ở phòng giám đốc Minh Thảo, cách nhà hàng chừng năm trăm mét, chạy như bay tới. Lúc này, một tên rút mã tấu chém tới tấp vào ba nhân viên an ninh. Một người bị mã tấu pheng đứt một ngón tay, máu phun ra có vòi. Bắc phóng tới như một cơn lốc, tung một cú song phi khiến hai tên khủng bố ngã dúi vô gầm bàn. Hai nhân viên an ninh hạ gục tên còn lại. Một tên đội bàn bật dậy bỏ chạy, tên có mã tấu nhanh như cắt chém Bắc từ phía sau. Linh cảm báo cho anh lưỡi hái tử thần ở trên đầu đang giáng xuống, anh né đầu và ngã ngửa ra, tung một cú đá vào hạ bộ đối thủ. Nó đã kịp xuống tay, rồi rống lên một tiếng, và gục xuống. Cánh tay trái của Bắc dính mã tấu, máu tuôn xối xả. Toàn bộ lực lượng an ninh khép chặt vòng vây, cả bốn tên khủng bố bị bắt. Minh Thảo đang làm việc với một đoàn khách nước ngoài ở khu biệt thự nghỉ dưỡng thì nhận được hung tin. Cô về tới nơi, vừa khóc nức nở vừa băng bó cho Bắc, rồi bảo lái xe đưa Bắc cùng nhân viên an ninh bị mất ngón tay đi cấp cứu. Cô ở lại tiếp nhóm cảnh sát hình sự vừa tới.
Tại cơ quan công an, bọn khủng bố trước sau chỉ khai mình là khách ăn uống, quá bực bội vì thái độ phục vụ của nhà hàng nên nóng nảy tát tai một nhân viên hỗn láo. Sau đó, chính những người trong nhà hàng đã tấn công nên chúng phải tự vệ. Bọn chúng khai là lần đầu tiên đến Ngọc Viễn Đông, không hề biết gì về hai vụ đánh lộn trước đó!
Cánh tay trái của Bắc bị chém gãy xương, máu ra quá nhiều khiến Bắc hôn mê suốt hai đêm một ngày. Trong lúc Bắc hôn mê, nhiều lần Minh Thảo nghe Bắc gọi Ba ơi, Mẹ ơi, và nói trong đau đớn, mê sảng, giọng rất yếu, rất khó nghe. Minh Thảo cố gắng lắm mới chắp nối được điều mà Bắc muốn nói: Cha ở đâu? Làm sao tìm được cha giữa đất Sài Gòn này? Mọi người hãy giúp tôi tìm cha. Cha tên là Hòa, đại úy pháo binh, từng mổ để cắt ruột thừa ở trạm quân y gần Khe Sanh Quảng Trị, năm Sáu mươi chín… Đó là những ngày Minh Thảo vô cùng đau khổ và ân hận. Cô thương Bắc bao nhiêu thì cô càng sỉ vả mình, giận mình bấy nhiêu. Cô nghĩ vì cô sơ suất, không đến nơi đến chốn nên mới sanh sự này. Hai ngày sau Ngọc Bắc mới tỉnh lại. Minh Thảo đau khổ xin lỗi anh:
- Tại em, em đã không có biện pháp nào ngăn chặn được bọn khủng bố nên mới ra cơ sự thế này! Em tệ quá! Em xin lỗi anh! Anh mà có mệnh hệ nào, em sẽ chết theo anh liền, Bắc ơi!
Minh Thảo khóc nức nở, nước mắt tuôn lã chã.
- Em không phải tự dằn vặt mình làm gì. - Bắc cất giọng rất yếu ớt - Đúng như em nói, không ai nắm tay cả ngày! Chính là tại anh!
- Em có tội với anh, xin anh tha thứ cho em!
- Đừng khóc nữa, Thảo! Phải cứng rắn lên. Anh có chết đâu mà khóc! Từ nay, phải tính hết mọi tình huống. Anh quá khờ, chủ quan, chưa lường được tình huống xấu. Nhà hàng ở gần sông, vụ gây án lần thứ nhất, chúng tẩu thoát quá dễ dàng, chạy vài bước lao xuống sông là êm! Phải có biện pháp an ninh chặt chẽ hơn, phải lường trước mọi hành động phá hoại, kể cả bằng phóng hỏa hoặc chất nổ, em ạ. Anh ân hận nhất là việc lắp đặt camera. Anh đã có ý tưởng ngay từ đầu, đã có trong thiết kế, nhưng khi thi công lại không làm rốt ráo cho nên riêng khu giải trí dưới nước và nhà hàng vẫn chưa lắp đặt! Kinh doanh hơn bốn tháng rồi mà chưa lắp camera và hệ thống báo động! Chủ quan quá! Anh nhớ ngay ngày đầu tiên em nhận trách nhiệm làm giám đốc Ngọc Viễn Đông, em đã nhắc anh chuyện lắp đặt thiết bị bảo vệ an ninh, phòng chống cháy nổ… Nhưng, em biết không, bên công ty nhập khẩu thiết bị họ làm chậm chạp lề mề quá, khi xảy ra vụ khủng bố thứ nhất, anh hối họ, họ trả lời xanh rờn là lô hàng nhập chưa về! Tai hại thật! Lẽ ra anh phải tự nhập lô hàng này. Sai một ly đi một dặm!…
Thằng Thăng đã lót ổ khá kỹ với đám đệ tử. Thằng Mỳ dùng mã tấu chém đứt một ngón tay nhân viên an ninh và chém gãy tay Bắc, nói như vẹt: Chỉ là tự vệ, nó không chủ ý hại người ta, nó xin nạn nhân tha tội, xin nộp phạt, xin đi cải tạo lao động!
Hai thằng còn lại cũng xoen xoét: Bị nhân viên nhà hàng có võ tấn công trước! Thằng Thăng tỏ ra rất khôn ngoan, nhận hết lỗi: Chỉ vì có chút hơi men nên nóng nảy, gây ra chuyện đáng tiếc. Xin các anh công an xá tội cho chúng em, trót dại rồi, chúng em xin chịu phạt tiền và xin đi lao động công ích!
Thế nhưng Công ty Toàn Cầu kiên quyết đưa vụ việc ra tòa.
Ngay sau khi xảy ra chuyện, lo rằng sự việc sẽ phức tạp, rút dây sẽ động rừng cho nên Ba Đào mời ông Hòa tới, tiếp đãi nồng hậu như mọi khi rồi thủng thẳng kể chuyện thằng Thăng ham vui đi chơi với bạn, rồi đánh lộn ở nhà hàng, hiện đang bị tạm giữ … X.O kể cứ như không, rồi tỏ ra rất ân hận vì bận kinh doanh quá không thường xuyên nhắc nhở em Thăng!
Thế là ông Hòa lại phải ra tay! Ông điện thoại và đi kêu cửa nhờ can thiệp cho thằng cháu đích tôn.
Hai tháng sau, phiên tòa xét xử vụ gây rối ở Ngọc Viễn Đông khai mạc. Ngọc Bắc đến tòa với cánh tay bó bột. Tại tòa, bọn thằng Thăng chỉ khai nhận là do có hơi men, nên không kiềm chế, nóng nảy nên đã tát tai nhân viên, còn sau đó do bị tấn công trước nên bất đắc dĩ phải dùng mã tấu là để tự vệ, vì nhân viên nhà hàng có võ nghệ cao cường, nếu không xài mã tấu thì chúng chỉ có nước chết!
Luật sư của bên bị biết khai thác tình trạng có hơi men: Bốn người đã uống hết một chai Hennessy X.O và bốn lon bia, tức là đang say rượu, thân chủ không cố ý gây thương tích…, đồng thời khoét vào điểm yếu của bên nguyên là thiếu chứng cứ. Luật sư bên bị yêu cầu bên nguyên chứng minh thân chủ của ông ta tấn công trước. Thế nhưng chứng cứ chỉ là lời khai của nhân viên nhà hàng, không chụp được ảnh, không quay được phim, thực khách hôm ấy hoảng sợ, tản mát hết, biết ai mà tìm để làm chứng! Đăng báo hai tuần liền mà không có ai ra làm chứng trước tòa!
Thế là… thằng Thăng và đệ tử của nó được tự do sau khi phải bồi thường cho hai nạn nhân, phải nộp phạt bằng tiền vì tội gây rối trật tự công cộng! Duy có thằng Mỳ, chơi mã tấu, bị phạt ba tháng cải tạo lao động.
Sau phiên tòa, Ngọc Bắc vô cùng nản! Giáo sư Bảo, thành viên Hội đồng tư vấn buồn bã nói:
- Thời buổi này nhiễu nhương quá, thật giả lẫn lộn, người ngay với kẻ gian lẫn lộn! Cho nên người ta nói, làm doanh nhân thời nay, chỉ ngay thẳng trung thực, chấp hành luật pháp không thôi chưa đủ!…
- …
Im lặng. Trên đường trở về Toàn Cầu, cả xe im ắng, không ai nói một câu nào…
Đêm ấy, Bắc lại thức trắng đêm. Lần đầu tiên anh trực diện với thằng Thăng, thằng Mỳ và đồng bọn của chúng. Điều khiến anh suy nghĩ mãi là tại sao những kẻ thủ ác lại có bộ mặt lương thiện, phải công nhận rằng chúng rất đẹp trai, da dẻ hồng hào, quần áo tươm tất. Hình ảnh bọn tội phạm đã thay đổi? Hơn thế nữa, thân nhân của kẻ gây án lại được giới thiệu là “Ông Nguyễn Kỳ Hòa, ông nội của Nguyễn Quốc Thăng, nguyên đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam”! Ông ta cao lớn, gương mặt phương phi, đẹp lão, dáng vẻ của một chính khách. Đôi mắt, nụ cười của ông Hòa, của thằng Thăng sao Bắc thấy quen quen, hình như anh đã gặp ở đâu rồi… Khi tòa phán quyết xong, ông Hòa chủ động đón gặp Bắc ở hành lang tòa án, ông đã thay mặt gia đình xin lỗi hai nạn nhân của Ngọc Viễn Đông, lời lẽ chân tình. Vậy là sao?
Cho đến lúc ấy, Bắc vẫn chưa hay rằng ông Hòa là ba của Phương Nam. Hình ảnh Phương Nam chưa khi nào rời khỏi tâm trí Bắc, nhưng do công việc bộn bề, do tự ái vì bao nhiêu lời mời, lời đề nghị đều bị Phương Nam từ chối, nên Bắc không chủ động phôn cho Nam nữa. Người ta bảo niềm vui, niềm hạnh phúc chỉ đến khi nào con người biết quên mình, biết hy sinh. Nếu còn nghĩ đến mình nhiều quá, không biết quên mình thì niềm vui cũng không đến chứ nói chi hạnh phúc. Khoảng cách tâm lý kéo thật xa khoảng cách không gian, thời gian, tới mức khó có thể lấp đầy.
Thằng Thăng bị đại ca X.O riềng cho một trận kinh hồn. Lần đầu tiên nó bị Ba Đào chửi bới thậm tệ. Nó càng thanh minh thì càng bị chửi nặng hơn. Trong vụ vừa rồi, X.O mất không năm chục triệu đồng, tức mười cây vàng. Tất nhiên là thằng Thăng phải chai hia, ông Hòa bà Lịch phải nôn ra năm cây lo phần bồi thường cho nạn nhân và quà cáp…! Ba Đào lo khoản luật sư, tòa án và các khoản khác. Tiền thì Ba Đào không tiếc, chỉ ức là mục tiêu giao cho thằng Thăng xem như không đạt được, mà ngược lại, sau vụ án này, do tò mò, hiếu kỳ, khách đổ về Ngọc Viễn Đông còn rần rần rộ rộ hơn trước. Nhà hàng Hội Nhập Bảy càng ế thê ế thảm. X.O giật mình: bảy là thất, thất là mất. Cũng như bốn là tứ, người Tàu đọc gần giống tử là chết. Xui thiệt tình. Trong hệ thống nhà hàng Hội Nhập chỉ có hai cái số Bốn và số Bảy là chẳng ra gì… Mình là người gốc Hoa mà không kiêng cữ là sao cà? Có thờ có thiêng, có kiêng có lành, đáng đời mi, ai biểu quá tự tin, quên cả Trời, Phật!
Thằng Thăng bị riềng là phải.
Nó buồn, nó nhớ đến Ngọc Tiên và cô em gái Ngọc Chân tại biệt thự Mùa Thu. Sức quyến rũ của cả hai chị em Ngọc Tiên, Ngọc Chân là vô tận. Hầu như tuần nào thằng Thăng cũng ghé hai nàng tiên này một đôi lần. Khi cô chị vắng nhà thì nó là của cô em. Khi cô chị về tới nhà thì nó là của cô chị. Ngọc Tiên quá tự tin nên không hề nghĩ rằng thằng Thăng chơi cú đúp, đã cà lảm chị lẫn em. Nếu biết thì liệu Ngọc Tiên sẽ phản ứng thế nào? Còn Ngọc Chân, cô chỉ cần tình dục, cô có mất gì đâu! Tuần nào anh Thăng của cô cũng đến với cô nhiều hơn là chị Tiên. Cô trẻ hơn, anh Thăng của cô mê mết cô hơn chị Tiên là cái chắc.
Sức sống của tuổi trẻ thật mãnh liệt, sau ba tháng, cánh tay của Bắc phục hồi như bình thường! Ngọc Bắc chỉ nằm bệnh viện đúng hai tuần, khi vết thương được băng bó cố định, anh xin ra viện vì công việc lút đầu, một mình Minh Thảo sẽ rất mệt. Dự án Ngọc Viễn Đông ngày càng cuốn hút khách thập phương, trong đó có rất nhiều khách nước ngoài.
Toàn cầu hóa là xu hướng đang được các nước trên thế giới quan tâm. Lý thuyết về một nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu, về tập đoàn kinh tế đa quốc gia khiến Minh Thảo suy nghĩ rất nhiều khi làm việc cho Toàn Cầu. Cô biết Công ty Toàn Cầu trường vốn. Không một công ty trách nhiệm hữu hạn nào ở trong nước có tiềm lực tài chính mạnh như Toàn Cầu. Điều này thật đáng mừng nếu dừng mức độ phát triển công ty tại đây. Thế nhưng, muốn đưa công ty vào giai đoạn phát triển mới, quy mô lớn hơn, đủ sức hội nhập với thế giới như ý định của Ngọc Bắc, thì cần phải thu hút vốn trong nước và vốn nước ngoài để khai thác không chỉ một trăm năm chục hécta như hiện tại, mà là toàn bộ diện tích bán đảo Thủ Thanh. Bên kia sông, thành phố đã liên doanh với nước ngoài xây dựng khu đô thị mới. Không có lý gì địa hình thuận lợi như bán đảo này mà chín chục phần trăm diện tích tự nhiên vẫn là vương quốc của sình lầy, bần ổi, bình bát, sú, vẹt, dừa nước.
Chính phủ đang hô hào cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhằm khai thông nhiều kênh, nhiều nguồn tạo vốn. Nhưng tiến trình cổ phần hóa rất trì trệ. Các chuyên gia kinh tế nước ngoài, nhất là những chuyên gia của Ngân hàng Thế Giới và các tổ chức của Liên Hiệp Quốc cho rằng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang là mũi nhọn phát triển của Việt Nam trong vòng mươi, mười lăm năm tới. Minh Thảo đề xuất với Ngọc Bắc xây dựng dự án quy hoạch phát triển toàn bộ bán đảo Thủ Thanh, biến Toàn Cầu thành một tập đoàn đa thành phần, đa sở hữu, trong đó Toàn Cầu là nòng cốt, tiên phong, vì sự hùng mạnh và lành mạnh về tài chính; nên có một phần sở hữu Nhà nước, và đặc biệt phải thu hút đầu tư nước ngoài. Dự án này quá lớn, nó là một thành phố mới lộng lẫy, nó là tương lai, là thế kỷ Hai mươi mốt của Sài Gòn…
Ngọc Bắc hiểu tầm nhìn xa của Minh Thảo. Anh tán thành. Theo tính toán ban đầu, dự án khai thác bán đảo Thủ Thanh, giai đoạn một, cần nguồn vốn khoảng mười ngàn tỷ đôla, xây dựng trong thời gian khoảng hai chục năm.
* * *
Cuộc chạy đua đi tìm công lý của Nguyễn Ngọc Hoàng đã tới đích! Lãnh đạo Bộ có công văn trình Thủ tướng, Thủ tướng có công văn gửi Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao. Cả một guồng máy tư pháp, hành pháp vận hành… Tóc ông Hoàng bạc trắng, không còn lấy một sợi muối tiêu nào!
Trong thời gian tiếp xúc với các cơ quan chức năng ở Hà Nội, ông Hoàng mới vỡ lẽ ra nhiều điều. Thứ nhất, nguyên do vì đâu mà ông về hưu theo cách quá đặc biệt. Thứ hai, ông đã rõ vì sao Đạt bị phục hồi điều tra để rồi bị Tòa sơ thẩm kết án chung thân. Có nhiều rất nhiều nguyên nhân, nhưng cốt yếu xuất phát từ sự mẫn cán và tinh thần tấn công triệt để bọn tham nhũng sâu dân mọt nước của những người như ông Trọng, bên cạnh, đằng sau Trọng là Hòa, cùng những người khác ở ngay trong ngành của Hoàng…
Khám phá ấy làm Hoàng choáng váng. Cả đời ông, ông không muốn và không hề gây thù chuốc oán với ai. Việc tranh luận gay gắt về quan điểm, nhận thức, lập trường trong sinh hoạt chính trị trước mỗi kỳ Đại hội, theo Hoàng là bình thường, tất yếu phải làm. Việc tuyển dụng cán bộ, nhân viên cho một Tổng công ty lớn, Hoàng thường giao cho cán bộ phụ trách tổ chức nhân sự. Hoàng tin cấp dưới, tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy tính năng động và sở trường của họ. Ông không bao giờ ôm sân. Chính vì thế ông đâu có biết được ai là con, là cháu, là người nhà của ông A, ông B, ông C đến xin việc mà tiếp nhận hay không tiếp nhận! Thật không ngờ, ông đã gieo mầm thù hận.
Hoàng phê phán những quan điểm bảo thủ, cản trở công cuộc Đổi mới chứ đâu chỉ nhắm vào cá nhân nào? Việc ông A, ông B, ông C không xin được việc cho con cho cháu là khách quan chứ đâu phải vì Hoàng ích kỷ, ác độc? Rõ ràng, ngay cả chuyện này cũng xuất phát từ quan niệm khoa học hay rị mọ về chính sách cán bộ, tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ nhân viên. Hoàng áp dụng phương pháp tuyển chọn khoa học, vì nhu cầu công việc mà tìm người phù hợp, chứ không vì nhất thân nhì thế mà nhận bừa nhận ẩu để rồi gánh hậu quả khôn lường… Cuộc đời có nhiều điều phi lý, thậm phi lý mà Hoàng không thể nào giải thích, không tài nào cắt nghĩa ra. Phương pháp tư duy của Hoàng tiến bộ vượt xa phương pháp tư duy của những người ngăn cản ông. Ông tin rằng mình đúng, mình là tiên phong, thực tâm đổi mới. Ông đi vào thế giới của ông với niềm say mê không bao giờ phai lạt.
Những người ngăn cản ông, chống phá ông cũng tin rằng họ thực tâm vì dân, vì nước, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, lợi ích của quốc gia. Cho nên, họ kiên quyết chống, triệt để chống mọi biểu hiện tiêu cực… Và, thế là đến lượt Hoàng cùng hai con ông phải gánh chịu.
Nhân dịp Quốc khánh, Chủ tịch nước ký lệnh ân xá cho những phạm nhân cải tạo tốt. Đạt được ân xá, tự do sau bốn năm tám tháng mười ngày và tám tiếng đồng hồ bị tù!
Không một dòng thông báo nào của tòa án trên các phương tiện thông tin đại chúng về những chứng cứ mới thu thập được chứng tỏ Đạt không tham nhũng! Thôi thì… ngậm bồ hòn làm ngọt, được trả tự do, về với đời thường, không điên loạn hay chết rục trong tù là may lắm rồi! Cả nhà ông Hoàng mừng. Mừng nhất là con gái Minh Thảo. Riêng Đạt, anh như người mắc chứng tâm thần, cả ngày cứ ngơ ngơ ngác ngác. Anh cầm Quyết định cho anh tự do mà hỏi bâng quơ:
- Thế ai là người đi thanh minh với bạn bè, với thiên hạ rằng tôi không tham nhũng?! Ai???
Mắt Đạt ngày xưa sáng là thế mà nay đỏ sọng màu máu, ráo hoảnh, anh nhìn xa xăm, vô định, như kẻ mất hồn… Một tuần sau khi ra tù, do tình trạng trầm uất hay do một chứng bệnh từ thuở nào không biết, tự nhiên Đạt ngã gục trong toalét. Bà Ngọc phát hiện, la rầm lên, rất may là có ông Hoàng ở nhà. Khi Đạt tỉnh lại thì không giơ tay phải lên được, các ngón tay bất động, nhức nhối. Đạt vô tới bệnh viện, nửa mặt bên phải của anh cứng ngắc. Bác sỹ bảo anh bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người. Bà Ngọc đau xót nhìn con trai nằm như cái xác vô hồn trong bệnh viện. Quả là họa vô đơn chí, phước bất trùng lai!
Dù bận rộn cách mấy, ngày nào Minh Thảo cũng mang đồ ăn vào bệnh viện, tự tay cô bón cho ba ăn. Thức ăn của ba cô bây giờ chỉ là súp nấu thật nhừ hoặc là cháo hầm kỹ. Đạt ăn uống khó khăn, người xanh xao, mặt héo hắt nhăn nhó vì đau đớn. Anh không nói được thành tiếng rõ ràng. Ngọc Bắc tuần nào cũng ghé thăm Đạt, đi cùng với Minh Thảo. Ngày mới ở tù về, nghe con gái giới thiệu Bắc là bạn thân, Đạt nhìn Bắc, yên lòng, mừng cho con. Nhìn chàng trai này không chỉ Đạt mà cả ông Hoàng, bà Ngọc đều rất tin cậy, quý yêu, trân trọng. Cả gia đình ông Hoàng mong cho hai trẻ thương nhau, mau tiến tới chuyện trăm năm.
Hết chuyện nọ xọ chuyện kia, Ngọc Bắc và Minh Thảo bị công việc và gia cảnh cuốn hút hết thời gian, thậm chí, có tuần lễ, họ không được ở bên nhau lấy một vài tiếng đồng hồ. Trước kia, khi cha còn trong tù, Minh Thảo rất buồn nhưng vẫn còn hy vọng là cha cô sẽ được minh oan. Nay cha cô được trả tự do, như một phạm nhân cải tạo tốt được ân xá, chứ không phải cha cô được minh oan! Đau lắm, nhục nhã vô cùng. Thôi, đành chấp nhận để được tự do về với gia đình. Thế nhưng oan nghiệt thay, ba lại bị liệt nửa người, sống như vậy thì là cực hình rồi, ba ơi! Ba có làm điều gì thất đức đâu mà sao ông Trời lại đày đọa ba? Con thương ba quá mà không biết làm sao giúp ba thoát khỏi căn bệnh quái ác này… Thảo buồn, lo nhiều quá, có đôi lúc như thất thần, đầu óc chuếnh choáng, đi không vững, kiệt sức! Một đêm, hai đêm rồi cả tuần liền túc trực bên giường bệnh chăm sóc ba, cô không tài nào chợp mắt, vì thương ba, vì nỗi oan của ba cô lớn quá. Sao đời lại bất công với ba cô đến vậy? Tại sao?…
Sáng, Thảo đến công ty, Ngọc Bắc gặp cô, la lên hoảng hốt:
- Trời ơi, tóc em sao vậy?
- Có sao đâu anh? - Thảo đưa tay vuốt tóc, cố nở một nụ cười chào Bắc.
Anh chị em ở văn phòng tụ lại, ai cũng kinh ngạc nhìn mái tóc dài, đen nhánh và óng ả của Minh Thảo nay biến thành màu đỏ như lửa. Lông mày cô cũng màu lửa!
Bắc thấy nhói lên trong lòng niềm thương, nỗi xót… Anh chợt nhận ra mắt Thảo cũng không bình thường, màu mắt như đục sậm lại, tia nhìn đờ đẫn. Anh lấy từ bình bông một bông cẩm chướng đỏ, hỏi Minh Thảo:
- Em nói cho anh nghe, bông này màu gì?
- Màu đen, đen huyền, vậy mà anh còn hỏi em!
- Trời ơi! Vậy bông này màu gì? – Bắc lấy ra bông cúc trắng.
- Dạ, màu vàng.
Bắc cầm lên tay cuốn tạp chí chuyên về kiến trúc xuất bản ở nước ngoài, có bìa màu đen tuyền:
- Còn bìa cuốn tạp chí này?
- Dạ, xanh lơ…
- Lấy xe đưa Thảo đi bệnh viện ngay! - Bắc hét lên - Em bệnh nặng rồi! Tóc em đỏ rực như lửa mà em không hay, mắt em… có vấn đề rồi!
- Không, em hơi mệt chứ bệnh chi mà vô đó, em sợ bệnh viện quá trời, anh ơi! Đêm nào em cũng thấy bác sỹ dùng tay, rồi dùng y cụ khôi phục nhịp tim dập ầm ầm trên ngực bệnh nhân. Chỉ mươi phút sau, họ lắc đầu, rút hết các loại dây truyền, dây thở để đưa bệnh nhân xuống… nhà xác. Đêm nào cũng một, hai người chết! Kinh sợ lắm, anh ơi! - Minh Thảo nói hổn hển, như sắp khóc òa lên!
Hôm qua, thấy mặt cháu gái xanh như nõn chuối, bà Ngọc bắt Thảo ngủ ở nhà, không cho cháu đến bệnh viện, sợ cháu kiệt sức. Ông Hoàng cũng vậy, nhưng Thảo không nghe. Hoàng giảng giải cặn kẽ, y như Thảo còn bé tí như ngày xưa:
- Cháu đừng nghĩ quẩn, chẳng phải ông Trời đày đọa như cháu nghĩ. Là tới lúc bệnh mà thôi. Người xưa thì cho là số mệnh! Kia, cháu coi, các ông các bác nằm trong khoa này toàn là trên bảy chục tuổi cả, họ đi theo Đảng suốt đời, nay về hưu thì cơ thể rã rời, kiệt sức, mang đủ loại bệnh. Phổ biến là tai biến mạch máu não. Đêm nào cũng vài người xuống nhà xác, cháu thấy chưa? Ở lầu hai còn khủng khiếp hơn nhiều: toàn bệnh nhân bị ung thư, giai đoạn cuối, di căn rồi, chết như bỡn. Sinh lão bệnh tử là quy luật, chạy trời không khỏi nắng. Đừng có buồn lo quá sức mà nguy cho sức khỏe, cháu à!
Sức khỏe Minh Thảo suy sụp quá lẹ. Ngọc Bắc nhận ra điều ấy. Anh quyết định bứng Minh Thảo khỏi công việc và không khí gia đình, đi nghỉ dưỡng một tuần, nếu không cô sẽ nguy to! Anh đến thăm ông Hoàng bà Ngọc, dẫn theo một người giúp việc mà anh vừa nhờ bạn bè tìm cho, để túc trực chăm sóc Đạt tại bệnh viện. Vợ chồng ông Hoàng rớm lệ, vô cùng cảm kích trước tấm lòng của Ngọc Bắc.
Bắc lái xe đưa Thảo đi Nha Trang. Họ thuê một chiếc tàu, ra một hòn đảo nhỏ, mang theo hải sản, rau tươi, gia vị, đồ làm bếp, đồ uống… lên đảo dựng lều bạt, nhóm lửa nướng tôm, nướng ốc. Họ mua đủ loại tôm, cá, ốc, cả cồi biên mai nữa, tươi rói, loại ngon nhất, là đặc sản vùng biển Nam Trung Bộ. Họ nấu nướng, ăn uống, và đuổi nhau chạy trên đảo, la hét om sòm trong tiếng sóng biển rì rào đêm ngày mơn trớn hòn đảo nhỏ với bãi cát mịn màng trắng phau như bờm sóng. Giọng Thảo nói đã trong hơn, nụ cười hồn nhiên trở lại. Khí hậu trong lành, biển cả bao la và tình cảm dạt dào của Ngọc Bắc đã khiến cho Minh Thảo hoàn hồn. Cô ăn ngon miệng, lao xuống biển bơi đua với Bắc. Trưa, hai người nghỉ trên đảo, rồi lại xuống biển. Nước biển trong xanh nhìn rõ đáy, thấy cả những con tôm, con cá, con hào… đang nhởn nhơ bơi lội. Tự do và yên bình quá! Trên là trời xanh gió lộng, dưới là biển xanh thơ mộng, bên anh là em, thân hình với những đường cong gợi cảm… Họ bơi đua, lần nào Bắc cũng để cho Thảo thắng! Chợt Thảo la lên:
- Em đạp phải vỏ hà, anh ơi!
Ngọc Bắc lao tới, gan bàn chân trái của Thảo có một vết rách mỏng, máu đỏ đang từ từ tươm ra. Anh ẵm gọn Thảo trên tay, lội ra ba bước để nhúng chân Thảo xuống cho sạch cát, rồi trở lại bờ, anh đặt Thảo lên bãi cát trắng tinh, tay phải nâng bàn chân trái của Thảo lên mà thổi nhè nhẹ. Thổi xong, anh gắn chặt miệng mình vào vết xước, thót ruột mút máu. Thảo nhìn anh, cảm thấy bao nhiêu đau rát khi nãy biến mất. Khi vết xước cầm máu, Bắc dùng hai bàn tay to và dày cui xoa bóp nhè nhẹ gan bàn chân, rồi bắp chân, xoa ngược lên tới bẹn thì… dừng lại. Anh lặp lại ở chân bên kia. Minh Thảo sung sướng run bắn người. Lần đầu tiên, cô cảm nhận được hơi hám của bàn tay người con trai ngấm vào da thịt mình. Cô nổi da gà, và lạ thay, sắc hồng vốn có đã trở lại với da thịt Minh Thảo. Đúng là thần dược!
Thảo nói:
- Anh ơi, biển đẹp quá! Mình ra thật xa nghe anh, thật xa để chỉ có hai đứa mình!
- Anh sẵn sàng, chỉ lo chân em đau…
- Ồ hết rồi! Anh là Hoa Đà tái thế của em!
Họ bơi ra thật xa bờ, xa hẳn con tàu đang neo đậu. Đến lúc Thảo kêu mệt, họ dừng lại. Bắc ẵm Minh Thảo nằm nghỉ trên phao. Sóng dập dờn êm ái. Nước biển xanh ngắt và trong như nước Thánh. Thảo khép mắt tránh ánh mặt trời, thả lỏng toàn thân, còn Bắc thì say sưa nhìn ngắm và hít thở… Bộ đồ tắm hai mảnh màu xanh biển, tư thế Thảo nằm nghỉ trên phao bơi làm nổi bật những miền da thịt bấy nay kín đáo, e ấp, càng kín đáo e ấp thì càng hấp dẫn. Bây giờ những miền da thịt ấy đã thật sự tìm lại sắc trắng hồng vốn có của mình, và như có cánh… chỉ chực thăng hoa. Da thịt Thảo như có phép màu cuốn hút Bắc, cuốn mãi, cuốn mãi, đưa anh vào cõi mê của tình yêu… Ngọc Bắc chưa bao giờ như lúc này, chìm đắm trong niềm khát khao được chan hòa với Thảo, được giao cảm đến tận cùng, được chia sẻ, dâng hiến cho em và nhận từ em cái mùi hương thơm tho đến tê dại cả lưỡi, cả môi, làm rộn ràng từng tế bào anh đang cục cựa, rạo rực đòi hỏi, ao ước… Dường như linh cảm được những khát khao đang bị dồn nén trong anh, Thảo mở mắt nhìn anh đắm say, cô cầm bàn tay anh hôn say sưa, rồi hé môi hướng về mặt anh… Chỉ chờ có vậy, Ngọc Bắc run rẩy, nhẹ nhàng gắn môi anh vào cái miệng xinh tươi của Minh Thảo, rồi hôn tha thiết, hôn mãnh liệt, hôn đến hụt hơi… Những nụ hôn ngọt lịm tưởng như không có gì trên đời này ngọt hơn! Những nụ hôn bốc lửa! Ngọn lửa tình yêu âm ỉ cháy trong vỉa quặng dầu giữa lòng đất, bây giờ phát lộ, phụt lên mãnh liệt, bất diệt!
Phép màu xuất hiện. Trên đường bơi trở lại bờ, Bắc vẫn để Thảo nằm trên phao, anh chợt nhận ra mái tóc Thảo đã ngả dần sang màu hạt dẻ, lông mày cô cũng thế. Và lạ chưa, ba sợi tóc chìa ra ở mép quần tắm của Thảo khi sáng còn đỏ như lửa, giờ này cũng ngả màu hạt dẻ rồi. Ơn Trời! Người hiền lành, nhân hậu và thông minh như em đã được Trời thương! Ngọc Bắc sung sướng quá, anh không bơi nữa, dừng lại, gào lên:
- Xin cám ơn Trời! Tóc em tôi đã không còn màu đỏ bệnh hoạn nữa, ngả sang màu hạt dẻ rồi, chắc chắn sẽ trở lại đen nhánh, Thảo ơi! Xin cám ơn Trời! Cám ơn em, Thảo ơi! Em khỏe rồi, Thảo ơi!
Nếu lúc đó có người thứ ba, chắc ai cũng bảo Bắc phát rồ. Còn Thảo, cô khóc, khóc vì thấy anh thương yêu mình, lo lắng cho mình. Nửa ngày trên đường đi từ Sài Gòn ra Nha Trang, một đêm ngủ ở khách sạn, một ngày ra đảo, Thảo được tắm trong tình yêu thương của anh, trong sáng, lành mạnh và vô cùng mãnh liệt. Tình yêu là như vậy? Thảo nào người ta khao khát tình yêu từ hàng ngàn năm rồi. Sung sướng quá! Thảo khóc và ôm chặt Bắc. Mặt cô úp vào bộ ngực vạm vỡ của anh. Hơi ấm, nhân điện từ lồng ngực anh lúc này truyền sang cô mà cô nghe được, cảm được rõ mồn một. Cô hồi sinh trong tình yêu…
Dự định ban đầu của Ngọc Bắc là cho Thảo nghỉ dưỡng một tuần, nếu Thảo còn chưa khỏe, sẽ để cô lại nghỉ tiếp, anh về Sài Gòn lo công việc. Nhưng qua đêm thứ tư ở Nha Trang thì Thảo thấy khỏe hẳn. Tình yêu chân thành và mãnh liệt như thế, cảnh đẹp như thế, thì sỏi đá cũng trổ bông nói chi con người! Cô phấn chấn, muốn được làm việc. Cô biết hàng núi công việc đang chờ hai người. Cô cũng sốt ruột về ba. Cô nói:
- Anh ơi, em khỏe rồi! Mình về thôi kẻo lại xảy ra sự gì ở Ngọc Viễn Đông nữa thì…!
- Em lo lắng nhiều quá, không nên đâu. Người ta bảo phải lao động, nhưng cũng phải biết nghỉ ngơi, em ạ. Mình làm cả đời kia mà. Sự nghiệp của anh, cũng là sự nghiệp của em, chúng ta coi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc. Muốn hạnh phúc thì phải khỏe! Cứ nghỉ cho đúng một tuần…
- Không, em muốn về. Anh chiều em nghe!
Ngọc Bắc ôm chặt Thảo trong lòng, cả hai đều không một mảnh vải trên người. Bốn đêm nay, họ ngủ chung giường. Đêm đầu, cả hai cùng thiếp đi vì mệt. Nửa đêm về sáng, Bắc tỉnh dậy, ngắm Thảo đang ngủ ngon trong vòng tay anh. Tất nhiên là cả hai đều mặc đồ ngủ! Ngày hôm sau, Minh Thảo vẫn ngủ mê mệt, ngủ trả bữa, chỉ thức dậy lúc Bắc gọi để cô dùng ba bữa ăn. Nhờ Trời, cô ăn thấy ngon miệng. Vì các món ăn chế biến từ hải sản tươi rói hợp khẩu vị, không khí trong lành hay chính vì bên cô có Bắc? Ăn tối xong, cô lại ngủ. Đến chín giờ, anh đưa cô đi dạo trên bãi biển. Mười giờ, họ đi dancing. Minh Thảo dường như đã hồi phục phần nào… Họ ôm nhau nhảy đến mười một giờ rưỡi. Bắc lái xe đi ăn khuya. Thảo ăn tô phở lúc này sao thấy ngon lạ ngon lùng! Hai người về tới khách sạn thì đã một giờ sáng. Bắc mở nước nóng và kêu Thảo vô tắm. Thảo chốt cửa, Bắc kêu mở ra để anh vô tắm cho cô. Thảo không chịu. Cô muốn lắm, nhưng mắc cỡ.
Đêm ấy là đêm thứ hai họ ngủ cùng giường với nhau. Mấy chuyến đi nước ngoài, Bắc đâu có được diễm phúc như vầy. Anh sung sướng, van nài Thảo cho anh mở áo váy ngủ ra để anh chiêm ngưỡng. Thảo la lên:
- Không! Không bao giờ! Anh đừng làm em sợ.
Kỳ thực thì Thảo không sợ, nhưng cô mắc cỡ. Cô sợ anh coi thường mình. Khôn ba năm dại một giờ… Bà nội nhắc cô câu nói ấy biết bao nhiêu lần kể từ khi cô rời gia đình du học nước ngoài.
Nhưng Bắc không chịu nổi. Con người chứ đâu phải gỗ đá! Nửa đêm, Thảo ngủ ngon lành, khuôn mặt cô tựa trăng rằm. Trong giấc ngủ, Bắc nhận ra da thịt đang tìm lại sinh lực vốn có của cô. Anh hôn vào cái miệng xinh xắn có nhân trung sâu, cằm chẻ, cặp môi đầy đặn hình trái tim, mỗi khi cười như nửa vành trăng ôm lấy hàm răng trắng đều làm rạng rỡ gương mặt. Anh hôn nhẹ, sợ cô thức giấc. Rồi Bắc lạc vào cõi mê của sự quyến rũ rừng rực phát ra từ em yêu. Anh áp mặt lên bộ ngực phập phồng của Thảo. Thảo vẫn ngủ ngon, nhưng dường như cặp nhũ hoa bánh dầy của em thì đang thức, nó cương cứng hai đầu nhũ bé xíu. Bắc ngậm vào từng núm, mút nhẹ qua lần vải mỏng tang của chiếc váy ngủ. Anh gần như lịm đi trong sung sướng. Rồi Bắc trở thành con cọp đói trước miếng mồi ngon từ lúc nào không hay. Nhưng anh lại tôn thờ em, lòng anh thánh thiện. Anh coi chuyện ân ái với người anh yêu là thiêng liêng… Tự mâu thuẫn, lúc thì hừng hực lửa dục, đói khát, lúc lại tỉnh như sáo vì lý trí ra lệnh, Bắc cứ loay hoay mãi và càng loay hoay anh càng nghiệm ra rằng thân thể của người yêu là một công trình nghệ thuật tuyệt vời. Tạo hóa quả là một kiến trúc sư tài ba nhất! Sao em thơm tho đến thế! Xạ hương em quấn quýt anh đến tê quắn đầu lưỡi, ngây dại các tế bào. Bắc là người nhạy cảm như thần. Còn nhớ cái thời bụi bặm, lang bạt kỳ hồ lên Lạng Sơn làm cửu vạn và tập tọng buôn lậu. Rượu say, Bắc được chúng bạn rủ rê đi chơi gái. Vào một động mại dâm trá hình trong quán cà phê, anh bị dúi cho một em mắt xanh mỏ đỏ. Chuẩn bị hành sự… chợt con bé ngoác mồm ngáp một cái thật dài, âm thanh chói tai đã đành nhưng hơi hám thoát ra từ miệng con bé khiến cho Bắc phát ọe, mửa thốc mửa tháo ngay trên bụng nó. Nhớ đời! Từ đó, dù bản năng tính dục đòi hỏi điên cuồng cách mấy, anh cũng không bao giờ dám nghĩ đến chuyện đi mãi dâm…
Bậy bạ hết sức, Bắc tự rủa mình, đang ở chốn thiên đường với tiên nữ thánh thiện thế này mà lại nhớ chuyện dưới đáy xã hội nhơ nhuốc, làm vẩn đục chốn đào nguyên linh thiêng. Bắc uống cạn nửa chai nước suối, anh hôn Thảo say sưa qua lần áo váy ngủ, rồi dừng lại ở cái vị trí mà chúa dấu vua yêu. Anh hít căng lồng ngực. Xạ hương em thơm tho ngầy ngậy như hoa sữa, còn hơn hoa sữa đường Nguyễn Du gấp bội, tới mức không thể tuyệt vời hơn! Anh áp đôi môi dày, nóng hổi của mình vào đó, lâu thật lâu, và anh… hết nhịn nổi! Đúng vào lúc đó, Thảo thức dậy. Cô nói với anh:
- Anh! Đừng! Anh!… Em xin anh! Tỉnh lại đi anh… Sao mặt anh trông khác thế?
Khi thèm khát đến cao độ, mặt người đàn ông trở nên ngây dại, giờ thì Bắc mới thấy người đời nói đúng. Thảo là người nhạy cảm cũng như thần. Cô nhận ra điều đó! Bắc cười, không thể dối em, thú nhận:
- Anh… anh ngây dại trước thân thể tuyệt mỹ và xạ hương kỳ ảo của em, Thảo ơi!
Đôi mắt Thảo đã đen trở lại, thăm thẳm, quyến rũ. Quả là gái gặp hơi trai! Thần dược cũng không bằng. Bắc nhớ mấy câu thơ:
Anh chôn chân trong thăm thẳm mắt em
Hồn run rẩy trước cánh đồng ma lực
Em nồng ấm mà xa gần hư thực
Anh hóa nghèo bên của nả trời cho…*
Trích Vũ điệu thời gian, thơ Lê Quang Sinh.
Trời rạng sáng. Bắc thiếp đi trong thèm khát, đến khi Thảo gọi anh dậy thì đồng hồ đã điểm tám tiếng chuông.
Anh đưa Thảo ra bến tàu, chiếc tàu anh thuê đang đợi sẵn. Bắc đưa Thảo lên hòn đảo nhỏ, cách bến cảng sáu chục phút. Nha Trang có chừng gần trăm hòn đảo lớn nhỏ, vài chục đảo đã có người đặt chân đến. Hòn đảo mà Bắc đưa Thảo tới sáng nay rộng chừng một trăm hécta, hầu như chưa có dấu chân người. Nó là một hòn núi hình trái tim, nơi cao nhất cách mặt biển chừng hơn trăm mét, xung quanh núi là đất bằng, nhiều cây trái, có những bãi sỏi rất rộng, đào xuống ba mét thì nước ngọt phun lên rất trong, mát. Quanh đảo là bãi cát trắng phau, đảo nằm cách xa hai km vùng tĩnh không của máy bay cất và hạ cánh tại phi trường Nha Trang. Nghĩa là hoàn toàn yên tĩnh. Ngọc Bắc đã có tờ trình với chính quyền địa phương về việc khai thác đảo này làm điểm du lịch nghỉ dưỡng. Anh dự tính đầu tư giai đoạn một năm triệu đôla, hai phần ba cho hạ tầng cơ sở và du lịch nghỉ dưỡng, còn một phần ba cho nuôi trồng thủy sản. Anh không nuôi ngọc trai, tôm hùm, người ta làm nhiều rồi, hiệu quả không cao, mà chỉ nuôi một loại hải sản đang được giới mày râu trên toàn thế giới ưa chuộng. Đó là con hải mã. Anh đặt tên cho hòn đảo nhỏ này là Minh Ngọc, Viên ngọc sáng, ghép hai chữ lót trong tên anh và Thảo. Hai người lên đảo, Thảo thốt lên:
- Y như miền đào nguyên ở trần gian!
Suốt một ngày chỉ có trời, biển và người yêu. Cả hai cùng vui sướng lịm người! Năm rưỡi chiều họ mới rời đảo về thành phố. Bữa tối, anh đưa cô sang Làng Một ăn hải sản tại một nhà hàng thủy tạ dân dã ngay sát bờ biển. Cổng vào nhà hàng có một cây dừa lửa, còn độc một trái. Bắc hỏi chủ quán: Anh có bán không? Chủ quán, vốn là một ngư dân vạm vỡ, cười ngoác miệng tới mang tai, nói sang sảng, vui vẻ: Không bán mà cho! Anh ta hái trái dừa xuống, rửa sạch, dùng dao bén chặt trái dừa rất khéo, cắm vô đó một ống hút, đặt lên cái đĩa sứ Minh Long tráng men xanh da trời rất đẹp, màu men mà người châu Âu kêu bằng King Blue – màu xanh Vua, rồi cho con gái bưng ra, lịch sự mời Thảo. Thảo cảm động quá! Chủ nhân và cô con gái quá dễ thương. Bắc uống bia Heineken chai, ướp lạnh, không bao giờ anh dùng đá cục. Từ hôm ra Nha Trang đến giờ anh mới uống bia. Họ ăn uống rất ngon, như chưa bao giờ họ được ăn ngon như thế. Ốc nhảy nướng, tôm thẻ đang bơi hấp bia, và cá bống mú tươi rói chưng với tương hột, nấm hương, hành tươi Hà Nội, gừng non xắt như que tăm, bún Tàu - ngoài Bắc gọi là miến đậu xanh - và cọng rau cải ngọt.
Khi về đến khách sạn thì Bắc cũng thấm mệt chứ nói chi Thảo. Đây là đêm thứ ba họ ngủ chung giường! Anh mở đầy bồn nước nóng cho Thảo vô ngâm. Thảo vô chừng mười phút thì anh gõ cửa, bảo vô tắm cho cô. Thảo thích vậy lắm, nhưng cô ngượng. Anh năn nỉ mãi, đến năm phút vẫn đứng ngoài nài nỉ, Thảo xiêu lòng. Bắc suýt kêu lên vì lần đầu tiên anh mục kích sở thị cặp nhũ hoa bánh dầy của Thảo. Anh bủn rủn tay chân trong giây lát rồi trấn tĩnh lại, kỳ cọ tắm rửa cho cô. Thảo nhắm nghiền mắt vì ngượng ngùng, vì sung sướng! Anh toan đưa tay kỳ xuống phía dưới, nơi cô vẫn còn mặc chiếc quần xịp hàng hiệu, rất đẹp, có bông hồng trắng ở trung tâm vị trí chúa dấu vua yêu, nơi khe suối trinh nguyên, và ba bông khác dàn hàng ngang ở phía trên một chút. Cô nhạy cảm như thần, chụp lấy tay anh:
- Không! Anh đừng làm em sợ! Em không chịu vậy đâu! Anh chỉ được tắm phần trên thôi! Em nói nghiêm túc đó, anh!
Thế cũng tuyệt vời rồi! Bắc ngoan ngoãn nghe cô. Rồi cô bảo:
- Để em tự tắm nốt. Anh tắm rồi đi ngủ cho khỏe kẻo khuya lắm rồi!
- Giờ này em bảo gì anh cũng tuân theo! - Bắc nói và cười rổn rảng.
Thảo nghiêm giọng:
- Em nghiêm túc đó, anh!
Thảo chà răng rồi cẩn thận dùng chỉ y tế làm sạch hàm răng đẹp của mình, rồi ra ngoài, lên giường trong trạng thái nguyên thủy của loài người. Thảo đắp mền nằm… chờ anh. Trong kia, Bắc thật vất vả với cục cưng của mình. Nó quá bướng. Nó đang đói. Nó nổi loạn. Không làm cách nào nhốt được nó! Bắc đành quăng xilíp, quấn khăn lông đi ra. Minh Thảo đã ngủ. Bắc mỉm cười. Một ngày đi biển, mệt là phải. Anh uống hết một chai nước suối rồi vén mền, nhẹ nhàng nằm xuống bên Thảo. Anh sung sướng run bắn lên khi thấy Thảo trần như nhộng. Cả một tòa thiên nhiên rực rỡ trước mắt anh, trong tầm tay anh, tỏa xạ hương ngấm vào mũi, vào phổi, vào từng tế bào vô cùng nhạy cảm của anh. Ôi cái mùi hương khiến anh ngây ngất, thúc giục anh tiến tới… Nhưng anh kìm lại được. Em nghiêm túc đó, anh! Khi nói câu ấy, giọng Thảo rất nghiêm. Bắc hiểu, câu đó là quân lệnh như sơn! Anh ngắm cô, rúc đầu vào mái tóc dày, đang đen trở lại của cô, rồi dịu dàng hôn lên miền da thịt đang hồng hào cựa quậy dưới môi dưới lưỡi anh. Anh biết Thảo không ngủ, nhưng muốn được anh nghĩ là cô đang ngủ. Vì thế anh hôn rất nhẹ. Hôn bằng cả mắt, không, anh hôn cô bằng tất cả các giác quan, cả bằng hơi thở. Cô tràn ngập trong anh. Xạ hương cô ngấm vào máu anh. Bắc nghĩ, hôm nay và muôn đời, hương thơm ấy sống mãi trong anh… Anh hôn trên từng xăngtimét, nhưng dừng lại thật lâu ở những đỉnh núi và khe sâu, anh thưởng thức báu vật mà Trời ban cho anh. Minh Thảo run rẩy cố kìm nén tiếng rên đang chực bật ra khỏi miệng vì sung sướng, vì khát khao… Thấy thế, Ngọc Bắc ghì chặt vòng tay, ẵm bổng cô lên đặt trên bụng mình. Chỉ một tích tắc nữa thôi, hai người sẽ hòa làm một… Thảo rên rỉ:
- Đừng, đừng làm lúc này, anh yêu!
Nhưng Ngọc Bắc làm như không nghe thấy lời van xin của cô. Anh cong người lên điều chỉnh… Thảo tỳ cả hai đầu gối xuống giường, bật dậy, nhìn vào gương mặt vừa ngây dại vừa bừng bừng niềm mê đắm cháy bỏng:
- Anh Bắc! Tỉnh lại đi! Hãy để dành cho đêm tân hôn…
Bắc rùng mình, thở thật dài…
Họ ân ái suông như thế tới lúc sáng bảnh!
Thảo mệt. Ngọc Bắc đánh xe đi mua phở ở tiệm phở ngon nhất Nha Trang. Hai người ăn xong, anh uống cà phê, Thảo uống nước dừa. Sau đó Thảo xin phép anh ngủ bù! Ngọc Bắc có việc. Anh tới làm việc với lãnh đạo tỉnh về việc khai thác đảo Minh Ngọc, chính là cái hòn đảo hôm qua anh đưa Minh Thảo tới.
Một mình trong phòng, Minh Thảo gọi điện về thăm ông bà nội, hỏi về sức khỏe của ba.
- Ba cháu có khá hơn. Hôm qua ăn được nhiều hơn và tỉnh, cháu ạ! Cháu yên tâm nghỉ cho lại sức nghe cháu. Cô An giúp việc do anh Bắc đưa tới, tận tâm và sạch sẽ lắm, cháu đừng lo lắng quá, có mệnh hệ gì thì bà sống sao nổi, Thảo ơi!
- Nội ơi, con khỏe rồi! Tóc con đã ngả sang màu hạt dẻ, đẹp lại rồi! - Giọng Thảo lại như ngày xưa, tươi vui, nhí nhảnh, ngọt ngào với bà nội - Nhờ anh Bắc chăm sóc, con mới được vậy đó. Ảnh nói rồi tóc con sẽ đen nhánh và óng ả như trước. Ngày mai tụi con sẽ về, ở nhà nhiều việc lắm!
Trò chuyện với bà nội xong rồi cô ngủ thiếp trong giấc chiêm bao. Trong mơ, cô thấy mình và Bắc đang ở thung lũng Tình Yêu, Đà Lạt. Từ ngày gặp Ngọc Bắc, Thảo rất hay nằm mơ, lạ lắm, những giấc mơ xen lẫn với cảnh đời thực. Thực với mơ trộn lẫn. Nhiều khi đêm cô mơ thế nào, hôm sau, chuyện xảy ra na ná như thế!
Cô nhớ có lần anh kể rằng, anh ở Đà Lạt và ước ao được có cô ở bên để dắt cô đi vào rừng thông nghe mưa, ngắm mưa! Lãng mạn quá, anh ơi! Thảo đang mơ: Hai người leo lên đỉnh đồi thông trong thung lũng Tình Yêu. Bắc bảo cô đọc thơ anh nghe. Thảo đọc liền một lúc mấy bài thơ tình của Lécmôntốp, Pêtôphi và Aragông. Sau đó, cô hát quan họ Bắc Ninh, rồi hát những bản tình ca mà anh thích… Anh nghe Thảo say sưa, khen giọng Thảo hệt giọng Hương Quỳnh. Biết rằng Thảo không thích anh khen mình giống ai, anh nói thêm: Nhưng em hát như lên đồng cho nên diễn cảm thật hơn, mê đắm hơn! Thảo nghe anh khen, đỏ bừng mặt. Hôm đó, Thảo mặc đầm trắng, tóc cài ru băng trắng trông như cô dâu. Anh thì mặc jean, áo thun in dày đặc chim cò, tháp nhà cao tầng và những cây cầu nổi tiếng trên thế giới. Anh thật trẻ trung, đẹp trai và đầy sức lôi cuốn. Thảo khen anh trẻ, đẹp, còn Bắc thì cứ lo Thảo chê mình già, anh hơn cô tới năm tuổi, lại bươn chải vất vả nhiều. Cô nói:
- Ai bảo anh già? Em thì không bao giờ! Ngày xưa, khi cụ Nguyễn Nghiễm lấy bà vợ thứ ba ở xứ quan họ Kinh Bắc, đẻ ra Đại thi hào Nguyễn Du thì cụ già hơn vợ ba mươi sáu tuổi kia mà! Tình yêu đâu có tuổi! Nếu câu nệ về tuổi tác không lấy nhau thì làm sao nhân loại có Đại thi hào Nguyễn Du! Anh mới sinh trước em có năm tuổi mà đòi… già!
Lý lẽ thật sắc sảo. Bắc nhìn sâu vào đáy mắt Thảo:
- Cứ cho là anh trẻ, em biết vì sao không? Nhờ anh ở bên em đấy! Có hương thơm của em, anh thấy mình vừa tròn đôi tám chứ không phải đã qua tam thập, ba mươi hai kể cả tuổi mụ rồi, em!
Mắt Thảo thăm thẳm nhìn anh, cô cười, hàm răng trắng đều như ngọc. Nụ cười làm gương mặt thông minh của cô càng bừng sáng. Anh bước vào tuổi ba mươi mốt, cái tuổi đẹp nhất của thân hình một người đàn ông. Thảo nghĩ, người như anh, sau này, ngoài năm chục vẫn như thanh niên! Lúc ấy, nghĩa là hai mươi năm sau, mình sẽ thế nào? Mình sanh con, sẽ già hơn anh, và xấu đi, liệu anh có còn yêu thương mình như hôm nay? Hay là, lại như ba mẹ mình, bỏ nhau, khinh nhau…
Không, chắc chắn anh và mình sẽ không như thế, không bao giờ xa nhau, nghe anh! Với Thảo, Bắc là người tình lý tưởng: biết cưng chiều, biết trân trọng, nâng niu, biết hy sinh không điều kiện cho người yêu…
Hai người nắm tay nhau chạy ngược lên đỉnh đồi. Gió thổi lồng lộng tung bay chiếc váy trắng của Thảo. Bắc ngây người trước vẻ đẹp hồn nhiên của Thảo!
Đang trong giấc mơ, nhưng Thảo lặp lại hình ảnh thật khi hai người ở trên đảo nhỏ hôm qua. Bắc đang ôm cô, vuốt ve mái tóc dài, say sưa ngắm cô, chợt anh thốt lên:
- Minh Thảo, có khi nào em chán anh, em đi thương người khác?
- Phỉ phui cái miệng anh! Sao anh lại nghĩ xấu cho em?
- Là bởi em… đẹp như tiên giáng trần!
- Xạo ke à! Đừng nịnh em, em phổng mũi bây giờ!
- Mũi em đẹp lắm, em biết không? Em đẹp vừa vừa thôi, đẹp quá, anh chỉ lo mất em!
- À, há! - Thảo chọc anh - Giả sử như em chê anh, bỏ anh, theo người khác, anh tính sao?
Ngọc Bắc sa sầm mặt, thoắt một cái, gương mặt chìm trong nỗi buồn… Anh xúc động đọc bốn câu thơ mà Thảo mới nghe lần đầu:
Người mang lại ái tình không ở cùng tôi nữa!
Nhưng hương em còn quấn mỗi câu thơ
Trời xanh của sông Hàn nay đã vỡ
Mỗi câu thơ là một mảnh trời xưa…
Phải là một người mang nỗi đau thất tình lớn nhất thế gian này mới rút ruột thốt ra những câu thơ như thế! Thảo lặng đi một hồi, cô muốn người yêu đọc lại cho mình nghe một lần nữa. Hiểu được yêu cầu của Thảo qua ánh mắt, Bắc lặp lại. Giọng trầm, ấm áp của anh cất lên trên nền nhạc là tiếng sóng biển…
Thảo đang trong giấc mơ cho nên lúc này giọng trầm ấm áp của Bắc cất lên trên nền nhạc trời là tiếng thông reo giữa thung lũng Tình Yêu, khiến Thảo như bị hút hồn, tê mê…
- Sao anh làm thơ thất tình đau khổ vậy? Chắc anh đã từng… đau khổ lắm, nên anh mới làm thơ thất tình hay và đau đớn đến thế…
- Ồ, không! Chế Lan Viên đấy! Mặc dù có nhiều người mang trong lòng sự đau khổ gấp nhiều lần ông Chế, nhưng làm được bốn câu thơ ấy thì quả là chỉ có Chế Lan Viên! Người yêu đầu đời của ông là một người con gái sông Hàn, Đà Nẵng mà…
Thảo choàng thức giấc. Cô không thấy anh. Anh chưa về? Cô có cảm giác như anh đang ở đâu đây, đang ngắm nhìn cô, vuốt ve cô. Anh hôn cô thật lâu trên những miền nhạy cảm nhất… Cô thấy người run lên, tê mê vì sung sướng, vì ham muốn… Mỗi lần nhớ đến anh, nhớ đến những lúc hai đứa gần nhau, cô thường run lên như thế.
… Cô nằm xuống và lại mơ tiếp. Họ hôn nhau. Người đàn ông hôn như mưa trên mặt, trên cổ, hôn khắp thân hình người con gái. Hai thân thể như dán vào nhau trên đỉnh đồi có những cây thông già hàng trăm tuổi. Gió vẫn vi vu thổi. Nắng vẫn dát vàng trên thung lũng. Trời trên kia cao thật cao và xanh rất xanh. Chỉ có em và anh. Ôi em ước gì cuộc đời chỉ toàn là những giờ phút lãng mạn và tràn đầy hạnh phúc. Thảo bật khóc vì… hạnh phúc. Những giọt nước long lanh như ngọc lăn trên đôi má lúc nào cũng hồng như thoa phấn. Người đàn ông hôn và uống những giọt ngọc ấy. Anh có ước muốn được tan biến vào trong cô, ngay lúc này, ngay tại đỉnh đồi thông reo tuyệt vời này. Nhưng một sự thôi thúc cũng mãnh liệt không kém là anh phải giữ gìn hạnh phúc, phải biết gìn vàng giữ ngọc, tất cả dành cho đêm tân hôn! Bắc ôm chặt Thảo trong lòng, bảo rằng anh thuộc vào lớp người “cũ”: trọng nghĩa khinh tài, thiên về lý tưởng, về những chuẩn mực truyền thống, bao giờ cũng coi vẻ đẹp tinh thần là tuyệt đối. Thảo vừa khao khát, vừa sung sướng trước thái độ trân trọng của anh…
Cúc cu! Cúc cu! Tiếng chuông cửa đánh thức Minh Thảo ra khỏi giấc mơ. Bắc về, như một cơn gió xuân mang sinh khí ùa vô phòng. Anh ẵm Thảo lên, đặt xuống giường và run rẩy, hối hả mở chiếc váy ngủ bằng valize màu vàng lạt, mịn màng như da Thảo, hôn như mưa trên thân thể cô. Anh để lại quá nhiều dấu răng! Minh Thảo sung sướng đến nghẹt thở…
Đêm thứ tư, họ lại thức bên nhau trong căn phòng sang nhất của khách sạn nhỏ nhưng có vị trí đẹp nhất thành phố biển. Họ đọc thơ, hát cho nhau nghe và dâng cho nhau tất cả, trừ chuyện cuối cùng… là họ chưa làm! Ngọc Bắc mê tơi hôn Thảo. Đến lúc ham muốn tột độ, anh làm theo bản năng, định giao hòa hai đứa làm một, Minh Thảo lịm người, rồi… đau khổ rên rỉ:
- Đừng anh, đừng! Không phải bây giờ…!
Ngọc Bắc thở dài rồi nằm vật sang bên. Thảo thương anh quá. Rồi, bằng cái miệng xinh đẹp của mình, cô yêu anh, cô hôn anh đến vã mồ hôi hột! Bắc ôm chầm lấy người yêu, anh thốt ra những lời có cánh:
Những ngày mai của anh hiện trên mặt em
Như gân lá trên lá cây ăn bánh
Miệng em cười như chạm trong lửa thắm
Vẻ nồng nàn ánh lên trên đôi mắt em
Như giọt nước trên tấm da cừu sinh động mượt êm…
Sóng gợn reo say trên miền thân thể
Và lòng anh yêu da thịt của em
Như tiếng chuông kêu đổ hồi ròn rã
Đổ liên hồi trong máu khiến say thêm
Anh như con sông bỏ dòng chảy cũ
Để trở về lòng cát sắc em xinh
Anh như đàn én bay về tổ
Năm năm tìm về trời của em xanh
Ngày lại ngày anh vững bền vẫn ở
Trong thịt da em bao mơn trớn ân tình
Anh nguyện sống trên đất này đặng mà vĩnh viễn
Lở và bồi trong sóng mạnh của em
Em ái ân hồi anh lại mỗi đêm
Như trái tim vẫn hồi nhịp đập
Nàng tiên hỡi rượu bồ đào trong mắt
Nàng tiên hỡi niềm say mê mật ngọt mê ly
Đời em tạo đời anh như ngọn lửa diệu kỳ
Ngọn lửa cháy lên chân trời vô biên bất diệt*
Thơ ngợi Dito, thơ René Dipestre.
Thảo lặng người đi, rồi bật dậy trườn lên người Bắc, hôn lấy hôn để, đằm thắm, quyến rũ:
- Anh đọc thơ hay quá, anh yêu! Đọc nữa đi anh!
- Bài thơ ấy thật hợp tâm trạng anh, cứ như là bài thơ ấy do anh làm ca ngợi em!
- Em sung sướng vô cùng, Bắc ơi! Liệu em có thật xứng với những vần thơ ấy?
- Thật, em ạ. Nếu anh biết làm thơ hay, anh sẽ có những câu thơ hay hơn nhiều, để xứng với em!
Bốn đêm tuyệt vời thơ mộng, mãnh liệt lửa tình ở Nha Trang sẽ là kỷ niệm mang theo suốt đời của hai người. Chuyện đến giờ G mà ngừng lại được, Thảo nghĩ, có kể cho bà nội hoặc những bạn gái thân nhất, chắc họ chỉ cười và cho là đậm chất tiểu thuyết, không thể nào tin được! Trong đêm tràn đầy tình thương yêu đó, một lần nữa, Thảo hỏi:
- Có bao giờ anh chê em? Giả sử chúng mình cưới nhau, có con với nhau, rồi hai chục năm sau, khi anh ngoài năm mươi mà vẫn trẻ trung trong khi em thì lụ khụ, xấu xí, anh sẽ chê em, chạy theo mấy cô gái trẻ?
- Không bao giờ! Đừng nói thế về anh! Tình yêu của anh, trái tim của anh thuộc về em, cuộc đời anh mãi mãi thuộc về em!
Thảo rướn người lên ghì chặt anh xuống ngực mình, giọng run lên:
- Hôn em nữa đi anh! Hôn nhiều nữa đi anh!
Bắc hụi đầu vào ngực cô… Anh hôn thật lâu những miền nhạy cảm nhất, những đường cong tuyệt mỹ trên cơ thể người yêu. Cô run lên từng chặp, từng chặp vì sung sướng, vì ham muốn… Thảo thấy khát khô cả môi, khô cả cổ. Hôn nhau xong, yêu nhau xong bao giờ người ta cũng thấy khát! Cô rót nước cho anh, anh uống hết nguyên chai. Cô cũng thế, uống một hơi hết ly nước và rót tiếp. Đêm qua cô cũng thấy khát như vậy. Cả anh cũng khát. Không khát sao được khi người ta nồng nàn bên nhau mà không được dâng hiến tất tần tận cho nhau?! Rồi cả hai cùng thiếp đi. Đến khi chuông đồng hồ báo tám giờ sáng, Bắc tỉnh dậy, trong vòng tay anh, Minh Thảo nhỏ bé và dễ thương vẫn đang ngủ ngon lành. Ngắm Thảo ngủ, Bắc thấy sức quyến rũ của Thảo mãnh liệt quá! Trong lòng anh trào dâng niềm yêu thương và khát khao…

