Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi - Chương 02

PHẦN 1: QUY PHẠM

NỖI KHÓ VÀ NỖI KHỔ

Cuộc đời đầy gai góc.

Đó là một chân lý vĩ đại, một trong những chân lý vĩ đại nhất. Đó là một chân lý tuyệt vời vì một khi chúng ta thực sự hiểu nó là chính lúc chúng ta vượt qua nó. Một khi chúng ta thực sự biết rằng đời là khó - và đón nhận nó - thì cuộc sống sẽ không còn khó nữa. Bởi vì nếu người ta chấp nhận nó thì nó hết còn là vấn đề.

Đa số người ta không hoàn toàn nhìn nhận sự thực “đời là khó”. Thay vào đó, họ rên rỉ, thét la về mớ ngổn ngang rối rắm của họ, về những gánh nặng và những thử thách của họ - cơ hồ như cuộc sống nói chung vốn dễ, cơ hồ như cuộc sống đáng ra phải dễ. Họ gào lên rằng những phiền toái mà họ gánh chịu là những phiền toái không đáng có, họ nghĩ đó là những khó khăn dành riêng một cách nghiệt ngã cho họ hoặc gia đình họ, dòng họ, giai cấp, dân tộc, chủng tộc họ... còn kẻ khác thì khoẻ re. Tôi hiểu những tiếng rên rỉ này vì chính tôi đã từng rên rỉ.

Đời sống là một chuỗi dài những vấn đề. Chúng ta muốn rên rỉ về chúng hay là muốn giải quyết chúng đây? Chúng ta có muốn dạy cho con cái mình biết giải quyết các vấn đề của cuộc sống không?

Qui phạm là thứ dụng cụ cơ bản mà chúng ta cần có để giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Không có qui phạm thì không thể giải quyết được gì. Với vài qui phạm thì chỉ giải quyết được vài ba chuyện. Song với toàn bộ qui phạm thì ta có thể giải quyết hết tất cả mọi vấn đề.

Việc đương đầu và giải quyết các khó khăn là một tiến trình không mấy êm ái, và chính bởi đó nên đời mới khó. Một cách tự nhiên, các khó khăn khơi lên trong ta tâm trạng nản lòng hay cảm xúc đớn đau hoặc u sầu, cô đơn, mặc cảm, hối tiếc, giận dữ, lo sợ, hoang mang, khổ sở, tuyệt vọng... Những cảm xúc ấy chẳng dễ chịu chút nào, chúng hành hạ không kém gì những đớn đau trên thân xác, một đôi khi ta có thể so sánh chúng với những cơn đau khủng khiếp nhất của xác thịt mình. Thật vậy, do bởi chúng ta đau nên chúng ta mới gọi các sự cố gây ra những nỗi đau ấy là các vấn đề. Và vì cuộc sống không ngừng phô bày ra hết vấn đề này đến vấn đề khác nên cuộc sống bao giờ cũng gai góc, bao giờ cũng đầy những nỗi khổ cùng với niềm vui.

Tuy nhiên, chính trong toàn bộ cái tiến trình đương đầu và giải quyết các vấn đề này mà cuộc đời có được ý nghĩa của nó. Các vấn đề của cuộc sống chính là mặt cắt phân biệt giữa thành công và thất bại. Các vấn đề ấy huy động lòng can đảm và óc sáng suốt của chúng ta; hay nói đúng hơn, chúng tạo ra nơi chúng ta sự can đảm và sáng suốt. Nếu cuộc sống không có vấn đề thì người ta chẳng thể nào trưởng thành tâm thần và tâm linh được. Để giúp phát triển tâm linh của một người, chúng ta thách đố và trang bị cho người ấy khả năng giải quyết các vấn đề - không khác gì ở trường người ta đưa các bài toán cho bọn nhóc của chúng ta tự giải lấy. Chúng ta có học hỏi được gì chăng thì đấy là nhờ ở quá trình đương đầu và giải quyết các vấn đề, một quá trình luôn gắn liền với sự nhức nhối. Như Benjamin Franklin đã nói: “Those things that hurt, instruct” (những gì gây đau đớn cho ta đều giúp dạy khôn ta). Đó là lý do tại sao những người khôn ngoan không học cách để sợ hãi mà là học cách để đón nhận các vấn đề và các phiền nhiễu của chúng.

Đa số chúng ta lại không được khôn ngoan như thế. Chính vì sợ đớn đau mà hầu như tất cả chúng ta - kẻ ít người nhiều - đều cố tránh các vấn đề. Chúng ta chần chừ nấn ná, hy vọng bão tố đi qua. Chúng ta phớt lờ chúng, quên chúng, làm như chúng không có đó. Để có thể phớt lờ chúng, ta không ngại tìm sự bổ trợ nơi thuốc ngủ hoặc ma túy - ta nghĩ rằng mình có thể quên các vấn đề gây ra nỗi khổ bằng cách tránh trớ nỗi khổ. Ta tìm cách đi lòng vòng xung quanh các vấn đề hơn là xông vào trực diện chúng. Ta cố thoát ra khỏi chúng hơn là lãnh nhận trọn vẹn chúng.

Xu hướng tránh né các vấn đề và tránh né nỗi khổ sở do các vấn đề chính là căn chứng của mọi thứ bệnh tâm thần nơi người ta. Vì đa số chúng ta đều có ít nhiều xu hướng này nên đa số chúng ta đều ít nhiều bị suy nhược tâm thần, không có được một tâm thần hoàn toàn lành mạnh. Một số trong chúng ta còn đi rất xa trong việc tránh né các vấn đề và các nỗi khổ gây ra bởi chúng. Ta xa lánh tất cả những gì là thực tiễn, cố tìm một ngõ thoát dễ dãi. Ta vun quén mộng mị và nấp vào trong đó, đôi khi đến mức gạt bỏ hoàn toàn thực tại. Như một câu nói thật hàm súc của Carl Jung: “Để tránh né những đau khổ thường tình, người ta luôn luôn gặp... rối loạn tâm thần”.

Cuối cùng thì cái mà người ta gặp thấy lại làm họ khổ sở hơn nhiều so với cái mà người ta muốn tránh né. Rối loạn tâm thần tự nó trở thành vấn đề khó khăn nhất. Thế là nhiều người lại loay hoay tìm cách tránh né chính vấn đề này - tức vấn đề loạn tâm thần, họ dùng đủ cách để che chắn lấp liếm nó. Rất may là cũng có một số có đủ can đảm để đối diện với tình trạng rối loạn tâm thần của mình - và với sự hỗ trợ của khoa tâm lý trị liệu, họ bắt đầu học cách cảm nhận những nỗi đau khổ đời thường. Bất luận trường hợp nào, hễ chúng ta tránh né những nỗi khổ do các vấn đề gây ra thì chúng ta cũng đang tránh sự trưởng thành mà các vấn đề ấy yêu cầu nơi chúng ta. Điều đó giải thích tại sao khi chúng ta ở trong tình trạng suy nhược tâm thần kinh niên thì chúng ta ngừng trưởng thành và trở nên “lún lầy”. Nếu không được chữa trị, tinh thần con người sẽ bắt đầu teo rút lại, héo queo.

Vì thế chúng ta hãy tự trang bị cho mình và cho con em mình những phương thế khả dĩ đem lại sự cường tráng cho tâm thần và tâm linh. Tôi có ý muốn nói rằng chúng ta hãy ý thức và dạy cho con em mình ý thức về sự cần thiết của đau khổ và giá trị rút ra từ đau khổ, ý thức về sự cần thiết phải đối diện trực tiếp với các vấn đề và đảm nhận nỗi phiền toái gắn liền với các vấn đề. Tôi đã khẳng định rằng quy phạm là khí cụ căn bản mà chúng ta cần có thể giải quyết các khó khăn kiếp người. Những khí cụ này chính là những kỹ thuật đau khổ, là những phương thế đảm nhận nỗi đau của các vấn đề sao cho có thể nắm hiểu chúng và giải quyết chúng một cách hữu hiệu - và chính trong tiến trình ấy ta học hỏi và lớn lên. Quả vậy, học qui phạm chính là học cách đau khổ và đồng thời cũng là học cách để trưởng thành.

Những khí cụ, những kỹ thuật, những phương thế nói trên hình thành nên cái mà tôi gọi là qui phạm. Vậy một cách cụ thể chúng gồm những gì? Có bốn điều như sau: thứ nhất, biết đình hoãn khoái cảm; thứ hai, biết nhận lãnh trách nhiệm; thứ ba, phụng sự cho sự thật; thứ tư, biết quân bình. Hiển nhiên đây không phải là những khí cụ phức tạp đòi hỏi khả năng chuyên môn cao mới áp dụng được. Trái lại, đây chỉ là những khí cụ rất giản dị, và hầu như mọi đứa trẻ đều biết vận dụng chúng ngay từ độ tuổi lên mười. Ấy thế mà các vị tổng thống và các vua chúa lại xem ra thường quên dùng chúng trong những trường hợp cần phải dùng. Vấn đề không nằm ở chỗ tính phức tạp của khí cụ mà là nằm ở chỗ người ta có muốn dùng các khí cụ ấy hay không. Bởi vì đây là những khí cụ giúp người ta đương đầu chứ không phải chạy trốn đau khổ - nên hễ ai cố lẩn tránh những nỗi khổ đời thường thì cũng tránh né cả những khí cụ này. Vì thế, sau khi phân tích mỗi khí cụ lần lượt, chúng ta sẽ dành phần tiếp sau đó để khảo sát chính ý chí muốn sử dụng chúng - tức tình yêu.

ĐÌNH HOÃN KHOÁI CẢM

Cách đây ít lâu, một chuyên viên phân tích tài chánh đến phàn nàn với tôi về khuynh hướng ù lì trì trệ trong công việc của chị. Chúng tôi đã xem xét cảm nghĩ của chị đối với những người chủ việc và tìm hiểu mối liên quan giữa những cảm nghĩ ấy với cảm nghĩ của chị về quyền bính nói chung - và về cha mẹ chị nói riêng. Chúng tôi cũng khảo sát thái độ của chị đối với công việc và đối với sự thành công - và mối liên hệ giữa thái độ này với cuộc sống hôn nhân và sắc thái tính dục của chị, với khát vọng muốn ganh đua với chồng trong khi vẫn lo sợ sự ganh đua như thế. Thế nhưng bất chấp mọi công việc phân tâm kỹ lưỡng và đầy bài bản ấy chị vẫn tiếp tục ù lì y như cũ. Cuối cùng, một hôm chúng tôi đã dám nhìn thẳng vấn đề. Tôi hỏi chị có thích bánh ngọt không. Chị nói có. “Vậy chị thích phần nào hơn, phần bánh hay phần nhân?” Chị nhanh nhẩu trả lời rằng chị thích phần nhân. “Vậy chị ăn bánh ngọt theo cách nào?”, tôi buột miệng hỏi và bỗng cảm thấy mình là một chuyên viên trị liệu ngốc nghếch nhất thế giới. Chị trả lời: “Dĩ nhiên là tôi ăn phần nhân trước”. Thế là xuất phát từ tập quán ăn bánh ngọt của chị. Chúng tôi xem xét đến tập quán làm việc của chị - và quả đúng như dự đoán, té ra là hằng ngày chị vẫn dành những khoảnh khắc đầu tiên để làm phần công việc dễ chịu hơn và dành năm, sáu tiếng đồng hồ sau đó để làm cái phần công việc “xương xẩu” còn lại. Tôi đề nghị rằng nếu chị chịu khó hoàn thành phần việc khó ưa kia trước - trong tiếng đồng hồ đầu tiên - thì chị sẽ được thoải mái trong suốt sáu tiếng đồng hồ sau đó. Tôi bảo với chị rằng thà chịu một một giờ đồng hồ khổ sở và sau đó có được sáu giờ khoan khoái còn hơn là được một giờ dễ chịu để rồi phải trải qua sáu giờ bực bội. Chị đồng ý - và vốn là một con người có ý chí khá mạnh, từ đó chị không còn tính cách ù lì trì trệ nữa.

Đình hoãn khoái cảm là một phương pháp bố trí những niềm vui và nỗi đau của cuộc sống sao cho có thể gia tăng sự dễ chịu bằng cách đón nhận sự khổ sở trước và uống cạn lấy nó. Đó là phương pháp duy nhất hữu hiệu để sống.

Đa số các em bé đã học biết phương pháp này từ rất sớm, đôi khi từ độ tuổi lên năm. Chẳng hạn, một trẻ năm tuổi khi chơi trò chơi với bạn đã có thể chủ động nhường cho bạn được phiên trước và em nhận phiên sau. Ở tuổi lên sáu, trẻ em đã có thể ăn phần bánh trước và để dành phần nhân lại thưởng thức sau. Đến tuổi đi học, các em thể hiện sự đình hoãn khoái cảm một cách rõ rệt và thường xuyên hơn, nhất là về chuyện làm bài tập ở nhà. Một em bé mười một hay mười hai tuổi đã biết tự nguyện ngồi vào góc học tập và làm xong bài tập của mình trước khi xem tivi. Đến tuổi mười lăm mười sáu thì việc đình hoãn khoái cảm đã mang dáng dấp của người lớn và được kể như chuyện bình thường.

Tuy nhiên, nhiều phụ huynh và thầy cô cũng ghi nhận rằng có khá đông thanh thiếu niên tỏ ra rất kém khả năng đình hoãn ấy, hoặc hoàn toàn không có khả năng đình hoãn ấy. Đây là những học sinh có vấn đề. Cho dù trí thông minh không tệ, điểm của chúng vẫn kém chỉ vì chúng không chịu học bài. Lâu lâu chúng mới thoáng thăm qua lớp một lần, rồi biến mất. Chúng náo động và sự náo động của chúng lan ra cả đời sống xã hội. Chúng thường xuyên ẩu đả nhau, học đòi chích choác và dính vào rắc rối với cảnh sát. Khẩu hiệu của chúng là chơi trước trả sau. Thế là người ta phải nhờ đến các bác sĩ tâm thần và các chuyên viên tâm lý trị liệu. Song đa số trường hợp đã quá muộn. Những thanh thiếu niên này cự tuyệt mọi sự can thiệp của người khác vào lối sống phá phách của chúng. Ngay cả khi các nhà tâm lý trị liệu dùng sự cởi mở thân tình và thái độ cảm thông chế ngự được sự bướng bỉnh ấy - thì tính cách xung động của các thanh thiếu niên này vẫn nghiêm trọng đến nỗi chúng khó mà đi vào hẳn hoi trong một tiến trình tâm lý trị liệu đúng nghĩa. Chúng hẹn rồi lại bỏ hẹn. Chúng tránh né những liệu pháp quan trọng bởi chúng không ưa. Và thường thì mọi cố gắng can thiệp đều vô hiệu, chúng bỏ học để theo đuổi sự bê tha cho đến khi bước vào những cuộc hôn nhân bão tố, vướng những tai nạn, vào những bệnh viện tâm thần hoặc đi ở tù.

Tại sao vậy? Tại sao trong khi đa số người ta có được cái khả năng đình hoãn khoái cảm thì vẫn có một thiểu số hoàn toàn bất lực không đạt được khả năng này? Thật không thể đưa ra một giải thích có tính khoa học và thỏa đáng được. Vai trò của các yếu tố di truyền không được nhận thấy rõ lắm. Còn nói rằng phải có “kẻ thế này người thế kia” thì lại không đủ mạnh để làm một giải thích khoa học. Song trong số các khả năng giải thích thì nổi rõ lên hơn cả chính là vai trò của cha mẹ trong gia đình.

LỖI CỦA CHA MẸ

Đừng cho rằng do bởi gia đình thiếu khuôn khổ mà các thiếu niên trở thành ngang tàng, vô kỷ luật. Trái lại, xem ra chính các em này là những em trải qua tuổi ấu thời bị tát tai, bị quất roi, bị đấm và bị đá nhiều hơn - ngay cả những khi chỉ vì vướng một sai sót nhỏ. Nhưng cái thứ kỷ luật ấy thật vô nghĩa. Bởi đó chỉ là một thứ kỷ luật bừa bãi.

Thứ kỷ luật đó vô nghĩa bởi vì chính cha mẹ đã tỏ ra vô kỷ luật - và nêu những mẫu gương vô kỷ luật cho con cái mình. Họ là loại cha mẹ “nói một đường làm một nẻo”. Họ thường xuyên say xỉn ngay trước mặt lũ trẻ. Họ sẵn sàng cãi nhau và đánh nhau “hằm bà lằng” bất chấp con cái họ đang có ở đó. Họ ăn ở “bầy hầy”, nhớp nhúa. Họ hứa lung tung mà chẳng nhớ giữ lời. Lối sống của họ không trật tự ngăn nắp nên mọi cố gắng dạy cho con cái sống trật tự ngăn nắp chỉ như “nước đổ đầu vịt”. Nếu trong gia đình xảy ra chuyện cha đánh mẹ như cơm bữa, thì việc đánh phạt thằng bé vì nó đánh chị nó sẽ có nghĩa lý gì? Có nghĩa gì khi bảo nó hãy biết kìm hãm cơn nóng giận. Vì ở tuổi ấu thời chúng ta dường như chỉ sống và quan hệ với cha mẹ nên cha mẹ là hình ảnh kiểu mẫu trước đôi mắt trẻ thơ. Em bé nhìn cha mẹ đi đứng nói năng để làm chuẩn mực cho cách đi đứng nói năng của mình. Nếu cha mẹ sống nề nếp, trật tự thì em bé sẽ nghĩ rằng nề nếp, trật tự là chuẩn mực sống. Nếu cha mẹ sống buông tuồng, vọng động thì em bé sẽ nghĩ rằng chuẩn mực sống là buông tuồng, vọng động.

Song còn có một điều quan trọng hơn cả gương mẫu nữa, đó là tình yêu. Điều đáng ghi nhận là ngay cả trong những gia đình lộn xộn nhất đôi khi vẫn có tình yêu đích thực - và những gia đình ấy có thể sản sinh ra những con cái ngoan ngoãn. Và trái lại, có những cha mẹ là bác sĩ, luật sư, nhà hoạt động xã hội... vốn có một lối sống nghiêm túc và mô phạm nhưng chỉ vì thiếu tình yêu mà con cái họ đi vào xã hội một cách hư hỏng như bất cứ đứa trẻ hư hỏng nào đến từ những gia đình lộn xộn.

Nói cho cùng thì tình yêu là mọi sự. Chúng ta sẽ khảo sát huyền nhiệm tình yêu trong những phần sau của sách này. Song vì lý do mạch lạc, thiển nghĩ ngay lúc này chúng ta cũng cần đề cập vắn tắt về tình yêu và mối tương quan giữa tình yêu với quy phạm tức kỷ luật.

Khi chúng ta yêu cái gì thì nghĩa là cái đó có giá trị đối với chúng ta, và khi một cái gì có giá trị đối với chúng ta thì chúng ta dành thời giờ cho nó - dành thời giờ để thưởng ngoạn nó và dành thời giờ để săn sóc nó. Hãy quan sát một cậu trai đang thích thú với chiếc xe hơi riêng của mình và hãy để ý đến những khoảng thời giờ cậu bỏ ra để chiêm ngắm nó, lau chùi nó, tu sửa nó... Hoặc hãy chiêm ngắm một ông già trau chuốt vườn hoa hồng yêu quí của ông, bạn sẽ thấy ông dành biết bao thời gian để cắt, tỉa, tưới, bón phân và chăm sóc từng cuống hoa, cành lá. Cũng vậy, khi chúng ta thương yêu con cái mình, chúng ta sẽ dành thời gian cho chúng, chúng ta không ngại trao tặng cho chúng thời gian quí báu của chúng ta.

Giáo dục bao giờ cũng cần có thời gian. Nếu chúng ta không có thời gian hay không muốn dành thời gian cho con cái, thì thậm chí chúng ta sẽ không nhận ra những lúc mà chúng tế nhị biểu lộ nhu cầu cần đến sự điều chỉnh, uốn nắn của chúng ta. Hoặc giả như trường hợp không thể không nhận ra nhu cầu cần được uốn nắn của con cái - vì nhu cầu ấy quá rõ và quá lớn - thì chúng ta vẫn có thể phớt lờ, viện cớ rằng “thôi thì để mặc kệ chúng, như vậy khỏe hơn”. Rồi cuối cùng, nếu chúng hành động sai trái quá khiến chúng ta áy náy đến độ phải ra tay, thì thường là chúng ta áp đặt cho bọn trẻ những kỷ luật không phù hợp - thậm chí vô lý nữa - bởi vì chúng ta hành động do giận dữ đúng hơn là do cân nhắc suy xét.

Những cha mẹ biết dành thời giờ cho con cái không chỉ những khi có vấn đề mà ngay cả những lúc bình thường sẽ dễ dàng nhận ra các trường hợp cần phải tích cực uốn nắn con cái mình - và họ sẽ kịp thời can thiệp một cách đầy cẩn trọng, sự can thiệp ấy có thể mặc những nội dung khác nhau. Đây là những cha mẹ biết quan sát xem con cái mình ăn bánh ngọt theo kiểu nào, chúng học hành làm sao, họ phát hiện ra những trường hợp chúng nói dối và những trường hợp chúng chạy trốn chứ không đối diện các khó khăn. Họ bỏ thời giờ ra để sửa dạy con cái trong những lệch lạc ấy; họ lắng nghe chúng, trả lời chúng; khi thì theo sát hơn một chút, khi thì buông lỏng hơn một chút; khi thì nhắc nhở chúng, khi thì kể chuyện cho chúng nghe; khi thì âu yếm, lúc thì nghiêm nghị...

Rõ ràng là sự sửa dạy của những cha mẹ yêu thương con có tác dụng tốt hơn nhiều so với sự sửa dạy của những cha mẹ không yêu thương con. Nhưng đây chỉ mới là điểm khởi đầu. Khi dành thời giờ tìm hiểu và suy nghĩ về các nhu cầu của con cái mình, cha mẹ nào yêu thương con cũng luôn luôn cảm thấy ưu tư khi cân nhắc giữa các quyết định và cũng thật sự chia sẻ nỗi khổ sở của con cái mình. Con cái họ không thể không nhận ra điều đó. Chúng cảm nhận được rằng cha mẹ chúng sẵn lòng chia sẻ ưu tư với chúng. Và cho dù có thể chúng không lập tức diễn tả lòng biết ơn, thì ít nhất chúng cũng học biết đón nhận nỗi khổ. Chúng sẽ tự nhủ rằng “nếu cha mẹ tôi vui lòng chịu khổ với tôi thì nỗi khổ ấy hẳn không phải là cái gì quá tệ hại, tôi sẽ mạnh dạn đón nhận nỗi khổ ấy của mình”. Đấy là bước đầu của ý thức kỷ luật - tức ý thức sống một cách có qui phạm.

Thời gian và chất lượng thời gian mà cha mẹ sử dụng cho con cái là thước đo để con cái thấy chúng được cha mẹ quí trọng như thế nào. Một số cha mẹ thiếu quan tâm đúng mức đối với con cái thường lấp liếm khuyết điểm đó của mình bằng cách lặp đi lặp lại một cách máy móc rằng họ thương yêu con họ lắm. Nhưng con cái họ không bao giờ hoàn toàn tin vào những lời lẽ sáo rỗng đó của họ. Trong ý thức, chúng có thể muốn tin rằng chúng được cha mẹ yêu thương thật sự, nhưng trong vô thức chúng biết rằng lời nói và hành động của cha mẹ chúng không ăn khớp với nhau.

Đàng khác, đối với những trẻ được cha mẹ yêu thương thực sự, đôi khi trong ý thức chúng cảm thấy - hoặc ngay cả thốt lên lời phàn nàn - rằng cha mẹ không quan tâm chúng - thì trong vô thức chúng vẫn hiểu rằng mình được cha mẹ yêu quí thực sự. Sự nhận hiểu ấy đáng giá hơn vàng. Vì khi đứa trẻ biết rằng nó được yêu quí, khi tự trong thâm sâu nó hiểu rằng nó có giá trị, nó sẽ biết tự quí trọng chính bản thân nó.

Nhận hiểu mình có giá trị, đó là điều kiện thiết yếu để có được một tâm thần lành mạnh và là một nền tảng để xây dựng ý thức kỷ luật. Và sự nhận hiểu đó là hoa quả trực tiếp của tình yêu nơi cha mẹ. Đồng thời, phải làm sao để có được sự xác tín ấy trong buổi thiếu thời, vì nếu đợi đến trưởng thành thì sẽ rất gay go để có được niềm xác tín như vậy. Mặt khác, khi đứa trẻ nhìn qua tình yêu của cha mẹ mà hiểu rằng mình có giá trị, thì dường như sau này trong tuổi trưởng thành tinh thần của chúng không thể bị phá hại do các đổi thay, biến động xảy đến.

Sở dĩ nói sự nhận hiểu mình có giá trị nền tảng để xây dựng ý thức kỷ luật vì một khi người ta xem mình có giá trị, họ sẽ dùng mọi cách thế cần thiết để tự săn sóc chính mình. Một người có ý thức kỷ luật là một người biết tự săn sóc. Trước đây chúng ta có đề cập đến phương pháp đình hoãn khoái cảm - trong đó có việc bố trí thời giờ; vậy ở đây ta có thể lấy ví dụ về vấn đề thời giờ. Nếu tôi hiểu mình có giá trị, tôi sẽ hiểu thời gian của mình có giá trị, tôi sẽ muốn dùng nó một cách tốt nhất. Người nữ chuyên viên phân tích tài chánh trên kia của chúng ta sở dĩ ù lì trì trệ vì chị không quí thời giờ của chị. Bởi nếu chị biết quí thời giờ, hẳn chị đã không để phần lớn thời gian một ngày của mình trôi qua một cách buồn tẻ và vô tích sự như thế. Điều này chắc chắn có liên quan đến thuở thiếu thời của chị. Được biết hồi nhỏ, hễ đến dịp hè hay các lễ nghỉ, chị đều được cha mẹ gửi đến ở với người giám hộ - mặc dù nếu cha mẹ chị muốn, họ có thể săn sóc đứa con gái mình một cách chu đáo được. Vấn đề là họ không quí mến con họ. Họ không muốn chăm sóc nó. Vì thế chị lớn lên trong tâm trạng xem mình chẳng có mấy giá trị, chị không thấy bản thân mình đáng được chăm sóc, do đó chị không quan tâm đến chính mình. Chị không cảm thấy mình cần phải sống một cách có khuôn khổ. Dù là một phụ nữ thông minh và tháo vát, chị vẫn cần những chỉ dẫn rất sơ đẳng về ý thức kỷ luật - vì chị không nhận ra giá trị thực của mình và giá trị thời giờ của mình. Phải đợi đến khi hiểu được rằng thời gian của mình có giá trị. Chị mới cảm thấy cần phải tổ chức thời giờ, trân trọng thời giờ và tận dụng thời giờ của mình hết sức có thể.

Nhờ cảm nghiệm được tình yêu và sự săn sóc ân cần của cha mẹ trong tuổi thiếu thời, những đứa trẻ may mắn ấy sẽ lớn lên không chỉ với một ý thức sâu sắc về giá trị của mình mà còn với một niềm an tâm sâu thẳm. Trẻ em nào cũng có nỗi sợ bị bỏ rơi, một nỗi sợ không phải là vô căn cứ. Nỗi sợ này bắt đầu xuất hiện khi em bé được sáu tháng tuổi - nghĩa là vừa khi nó cảm nhận được rằng nó là một cá thể tách biệt với cha mẹ nó. Sở dĩ nó sợ bị bỏ rơi bởi vì song song với việc cảm nhận mình là một cá thể, nó cũng cảm nhận rằng mình là một cá thể hoàn toàn bất lực, hoàn toàn phải cậy dựa vào cha mẹ để có thể sống còn. Đối với đứa trẻ, bị cha mẹ bỏ rơi đồng nghĩa với chết. Hầu hết các cha mẹ - ngay cả những cha mẹ hơi lãnh đạm với con cái - cũng đều dễ nhạy bén nhận ra nỗi sợ ấy nơi con mình, và họ lặp đi lặp lại hoài lời trấn an đứa trẻ: “Ồ, ba má không bỏ con đâu”; “Ba má sẽ trở lại đón con mà...”; “Ba má sẽ không quên con đâu...” Nếu quả thực cha mẹ làm đúng như lời họ nói - một cách trung thành bền bỉ, thì khi lớn lên đứa trẻ sẽ không còn nỗi sợ bị bỏ rơi nữa, thay vào đó nó sẽ cảm thấy thế giới và cuộc sống thật an toàn; nó tin rằng sự che chở luôn luôn có sẵn bất cứ khi nào nó cần đến. Và nhờ tâm trạng tin tưởng ấy, đứa trẻ dễ dàng chấp nhận đình hoãn sự dễ chịu lại sau - bởi vì nó chắc chắn rằng những sự an ninh, yên ổn (ví dụ như mái nhà mình và cha mẹ mình) bao giờ cũng có đó, nếu nó cần.

Rất nhiều đứa trẻ khác không được may mắn như thế. Có biết bao trẻ con đã thực sự bị bỏ rơi trong tuổi ấu thời của mình - do cha mẹ chết, do thất lạc, do sự hoàn toàn bỏ bê trách nhiệm, hay - như trong trường hợp của nữ chuyên viên phân tích tài chánh nói trên - chỉ do thiếu sự quan tâm đúng mức của cha mẹ. Một số trẻ khác, dù thực sự không bị bỏ rơi, song lại không nhận được sự xác nhận và sự trấn an tích cực nào để chúng tin chắc rằng chúng sẽ không bị bỏ rơi. Chẳng hạn, có những cha mẹ muốn áp đặt kỷ luật cho con mình một cách nhanh chóng và hữu hiệu nhất, họ hù dọa - có khi rõ ràng, có khi kín đáo - rằng họ sẽ bỏ rơi đứa trẻ nếu nó không chấp hành điều họ đưa ra. Dĩ nhiên, đối với đứa trẻ, bị bỏ rơi có nghĩa là chết. Thì ra, những cha mẹ này dùng tình yêu để đổi chác sự kiểm soát và thống trị trên đứa trẻ, điều họ nhận được là họ có những đứa con vô cùng lo sợ về tương lai. Bởi vì những đứa trẻ bị bỏ rơi - dù trong tâm lý hay ngoài thực tế - sẽ bước đến tuổi trưởng thành với không một chút tin tưởng nào về sự an toàn và ổn định của cuộc sống. Trái lại, chúng cảm thấy thế giới đầy hiểm nghèo và đe dọa, và chúng không chấp nhận đánh đổi bất cứ sự khoan khoái dễ chịu nào của hiện tại để lấy sự hứa hẹn về một điều gì đó tốt hơn trong tương lai. Đối với chúng, tương lai là một cái gì rất mờ mịt, bất quyết.

Tóm lại, để trẻ em có được khả năng đình hoãn khoái cảm thì thiết yếu chúng phải có những mẫu gương về ý thức kỷ luật, chúng phải nhận hiểu giá trị của chúng và phải tin tưởng - một mức nào đó - về sự yên ổn của cuộc sống. Sẽ là lý tưởng nếu những “tài sản” ấy được trao ban xuyên qua ý thức kỷ luật và sự quan tâm sâu sát của cha mẹ. Đó là những món quà quí giá nhất mà những kẻ làm cha làm mẹ có thể để lại cho con cái. Nếu không may mắn nhận được những món quà ấy từ cha mẹ thì trẻ em có thể nhận được do những nguồn khác - song trong trường hợp này, tiến trình đắc thủ các khả năng ấy sẽ rất phức tạp và cam go, thường đòi sự nỗ lực cả đời và thường không thành công mấy.

Báo cáo nội dung xấu