Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi - Chương 16

GẠN ĐỤC KHƠI TRONG

Những trường hợp vừa lược thuật trên kia có thể giúp chúng ta vài tia sáng để trả lời cho vấn nạn: Phải chăng niềm tin vào Thiên Chúa là một dạng tâm bệnh? Đó là vấn đề phải đặt ra nếu chúng ta không phủ nhận rằng mình phải vượt thoát lên trên não trạng thuở ấu thời, vượt lên trên những tập quán và những điều tin tưởng huyễn hoặc của gia đình hay địa phương mình. Song, những câu chuyện trên kia cũng cho thấy rằng câu trả lời cho vấn nạn ấy không hề đơn giản. Phải chăng niềm tin vào Thiên Chúa là một tâm bệnh? Đôi khi câu trả lời là: Phải, đó đúng là một tâm bệnh. Trong trường hợp của Kathy – chẳng hạn – niềm tin tuyệt đối của cô vào Thiên Chúa (theo như cô được dạy cho biết ở nhà và ở nhà thờ) rõ ràng đã gây ách tắc cho sự trưởng thành của cô và đã đầu độc tinh thần cô. Cho đến khi dám chất vấn và loại bỏ niềm tin ấy của mình, Kathy mới có thể tiến lên sống một cuộc sống dễ chịu, sinh động và hữu hiệu hơn. Chỉ khi ấy cô mới có thể tự do để lớn lên. Nhưng, câu trả lời đôi khi lại là “không!”. Chẳng hạn, trong trường hợp của Marcia, cô đã vượt thoát ra khỏi thế giới tuổi thơ trong một gia đình lạnh lùng để hòa nhập vào một thế giới rộng lớn và ấm áp hơn; trong tiến trình đó, một niềm tin vào Thiên Chúa cũng dần dần triển nở trong cô – một cách hết sức tự nhiên và thầm lặng. Còn Ted – anh đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa để rồi sau đó, qua tiến trình trị liệu, niềm tin ấy bừng sống dậy nơi anh và trở thành yếu tố chủ chốt trong cuộc giải phóng và cuộc hồi sinh của tinh thần anh.

Chúng ta sẽ nghĩ sao trước câu trả lời vừa có vừa không ấy? Các nhà khoa học, trong nỗ lực tìm kiếm sự thật, thường thích đặt ra các câu hỏi chất vấn. Nhưng nhà khoa học cũng là con người – và cũng như mọi con người khác, họ muốn có những câu trả lời rõ ràng, sáng sủa và dễ dãi. Vì thế, khi tra vấn về thực tại Thiên Chúa, khuynh hướng dễ dãi ấy thường cám dỗ các nhà khoa học rơi vào hai cái bẫy sau đây: một là, giết con rận bằng cách đốt luôn cái áo; hai là, nhìn trời bằng con mắt của “ếch ngồi đáy giếng”.

Nếu ví thực tại Thiên Chúa như một cái áo, thì quả là có rất nhiều con rận trong chiếc áo này. Đó là những cuộc thánh chiến, những tòa điều tra. Đó là việc sát tế súc vật, sát tế con người. Đó là những điều tin tưởng huyễn hoặc hay óc giáo điều. Đó là sự ngu dốt, thói giả hình, tự phụ. Đó là sự khắc nghiệt và bất nhẫn. Đó là những vụ đốt sách, những vụ thiêu sống người. Đó là sự cấm đoán, sự rập khuôn, sự sợ hãi, sự bạc nhược, sự điên cuồng... Bảng danh mục liệt kê các “con rận” này dường như bất tận. Nhưng thử hỏi, tất cả các điều ấy là do Thiên Chúa tạo ra cho con người hay là do con người gây ra cho Thiên Chúa? Niềm tin vào Thiên Chúa, trong rất nhiều trường hợp, được thấy là đầy chất giáo điều – và đầy sức hủy hoại người ta. Thế nhưng, cần phải hỏi: trong những trường hợp đó, người ta đang tin vào Thiên Chúa hay là đang tin vào giáo điều? Những người vô thần triệt để cũng có thể rất “giáo điều” về lập trường vô thần của họ không kém chi tính giáo điều được ghi nhận thấy nơi nhiều tín đồ. Vậy thì, ta nên dẹp bỏ niềm tin vào Thiên Chúa hay nên dẹp bỏ giáo điều?

Một lý do khác làm cho các nhà khoa học dễ đốt áo để giết con rận – đó là vì khoa học tự nó cũng là một niềm tín ngưỡng. Những kẻ mới tập tễnh bước vào với thế giới quan khoa học có thể cuồng nhiệt không kém chi một chiến sĩ của Đức Allah. Trường hợp này càng dễ xảy ra khi người ta đến với khoa học từ một xã hội hay gia đình trong đó niềm tin vào Thiên Chúa gắn chặt với sự dốt nát, mê tín, khắc nghiệt, giả hình... thế là người ta có cả động cơ tri thức lẫn động cơ tâm cảm thúc đẩy mình đập tan những thần tượng của đức tin nguyên sơ. Tuy nhiên, một dấu hiệu trưởng thành nơi nhà khoa học chính là việc anh ta ý thức được rằng khoa học cũng có thể lún vào tư tưởng giáo điều y như bất cứ niềm tín ngưỡng nào khác.

Tôi đã nhấn mạnh trước đây rằng để trưởng thành về mặt tinh thần, chúng ta cần phải trở nên những con người khoa học – nghĩa là chúng ta phải biết hoài nghi những gì mình đã được dạy cho biết, phải biết hoài nghi những quan niệm và những giả đoán phổ biến trong cảnh vực văn hóa của chúng ta. Thế nhưng, chính những quan niệm của khoa học cũng thường hóa thành các ngẫu tượng làm lung lạc người ta – và do đó chúng ta cũng cần phải biết hoài nghi cả chúng nữa. Đã rõ rằng nhiều người có thể trưởng thành nhờ việc thoát ra khỏi một niềm tin nào đó vào Thiên Chúa. Song điều tôi muốn ghi nhận ở đây là: người ta cũng có thể nhờ đi vào trong niềm tin vào Thiên Chúa mà đạt được sự trưởng thành. Chủ nghĩa vô thần hoài nghi hay chủ nghĩa bất khả tri đâu phải là chóp đỉnh của nhận thức mà nhân loại có thể đạt tới. Trái lại, chúng ta có lý để tin rằng đằng sau những quan niệm viễn vông và sai lạc về Thiên Chúa có hàm ẩn một thực tại là chính Thiên Chúa thực. Đây chính là điều Paul Tillich muốn diễn tả khi ông dùng kiểu nói “Thiên Chúa ở bên kia thiên chúa”. Con đường trưởng thành tâm linh có thể trước hết dẫn người ta ra khỏi mê tín dị đoan để đi vào lãnh vực của bất khả tri – rồi sau đó dẫn người ta ra khỏi lãnh địa của bất khả tri để tiến đến một nhận thức đúng đắn về Thiên Chúa. Cách đây hơn chín trăm năm, Sufi Aba Said ibn Abi-l-Khair đã đề cập đến con đường này, khi ông nói:

Bao lâu tháp giáo đường chưa sụp đổ,

Thì công trình thánh vẫn chưa được xây lên.

Bao lâu niềm tin chưa bị loại trừ,

Và cái bị loại trừ chưa trở thành niềm tin,

Thì bấy lâu vẫn chưa có tín đồ Hồi đích thực.[*]

Dù con đường trưởng thành tinh thần có cần thiết phải đi từ hoài nghi đến niềm tin đúng đắn vào Thiên Chúa hay không, thì trong thực tế vẫn có những con người – như Marcia và Ted – đã lớn lên trong chiều hướng của niềm tin. Và rất cần ghi nhận rằng niềm tin mà Ted và Marcia đi vào không hề giống chút nào với loại niềm tin mà Kathy đã bỏ lại sau lưng. Vị Thiên Chúa của giai đoạn trước khi người ta nghi ngờ có thể không giống mấy với vị Thiên Chúa đến sau giai đoạn ấy. Như tôi đã đề cập ở đầu phần này, không có một niềm tín ngưỡng đơn độc, duy nhất. Trái lại, có nhiều niềm tín ngưỡng và – có lẽ – có nhiều cấp độ niềm tin. Một số niềm tín ngưỡng có thể tốt cho người kia nhưng không tốt cho người này, và ngược lại.

Những điều nói trên cần được đặc biệt ý thức bởi các bác sĩ tâm thần và các nhà trị liệu tâm lý. Họ là những người làm việc trực tiếp trên tiến trình trưởng thành của bệnh nhân, nên – hơn ai hết – họ phải nhận định được mức độ lành mạnh trong hệ thống niềm tin của người bệnh. Trong thực tế, vì các bác sĩ tâm thần thường mang dấu vết ảnh hưởng của truyền thống Freud, nên họ có khuynh hướng xem bất cứ niềm tin sâu đậm nào vào Thiên Chúa cũng là một thứ tâm bệnh. Cá biệt có trường hợp khuynh hướng này có thể đi quá mức để trở thành một thứ thành kiến lố bịch. Mới đây tôi gặp một chàng sinh viên năm cuối đại học – anh ta đang cân nhắc để quyết định xem có nên vào sống trong tu viện một vài năm. Lúc ấy anh ta đang còn tiếp tục một tiến trình trị liệu tâm lý vốn đã bắt đầu trước đó một năm. “Tôi không thể nói với bác sĩ của tôi về chuyện tôi muốn vào tu viện. Tôi cũng không thể bộc lộ cho ông ấy thấy hết niềm tin tôn giáo của mình”, anh thú nhận, “vì tôi không hy vọng rằng ông ấy sẽ hiểu”. Vì không biết rõ về chàng sinh viên này, tôi không thể nhận định việc anh ước muốn vào tu viện có phải là một hệ quả của sự rối loạn nào đó hay không. Có điều tôi cảm thấy rất muốn khuyên anh ta hãy bộc bạch hết những suy nghĩ ấy ra cho bác sĩ của anh – vì đó là những vấn đề có tầm quan trọng – và hãy tin rằng vị bác sĩ ấy sẽ lắng nghe anh một cách khách quan. Thế nhưng, rốt cục tôi đã quyết định không nói lên điều mình muốn nói. Vì tôi không dám chắc rằng bác sĩ của anh ta sẽ khách quan; tôi không dám chắc rằng vị bác sĩ ấy sẽ thực sự hiểu.

Những bác sĩ tâm thần và chuyên viên trị liệu tâm lý có những quan niệm phiến diện về tôn giáo thường dễ vô tình phá hại hơn là giúp đỡ bệnh nhân của họ. Họ phá hại, nếu họ cho rằng mọi niềm tín ngưỡng đều tốt và lành mạnh. Họ cũng phá hại, nếu họ vơ đũa cả nắm và cho rằng mọi niềm tín ngưỡng đều bệnh hoạn hay đều là kẻ thù cần diệt trừ. Và, cuối cùng, họ sẽ phá hại nếu họ tránh né không đụng chạm đến vấn đề tín ngưỡng của bệnh nhân khi mà nó đã bật ra lồ lộ là một vấn đề, bởi họ viện cớ rằng vì cần phải hoàn toàn khách quan nên mình không thể quàng lấy những vai trò liên quan tới tâm linh và tín ngưỡng. Vì thực tế là các bệnh nhân thường cần họ “quàng” lấy những vai trò ấy. Tôi không có ý nói rằng các bác sĩ tâm thần nên vứt bỏ sự khách quan đi. Tôi cũng không có ý cho rằng việc quân bình giữa tinh thần khách quan và bản sắc tín ngưỡng riêng của họ là một công việc dễ dàng. Bởi thật sự điều này không dễ. Điều tôi muốn nhấn mạnh – đó là các nhà trị liệu tâm lý cần tế nhị và nhạy bén hơn đối với các vấn đề tín ngưỡng của bệnh nhân mình.

ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG...

Thỉnh thoảng, các bác sĩ tâm thần gặp một loại bệnh nhân khá đặc biệt: đó là những người bị rối loạn về thị giác theo một dạng rất lạ. Những bệnh nhân này chỉ có thể trông thấy một không gian rất hẹp ngay trước mắt họ. Họ không thể trông thấy bất cứ cái gì hơi chệch bên trái hay bên phải, phía trên hay phía dưới tiêu điểm nhìn hạn hẹp của mình. Họ không thể đồng thời nhìn thấy hai vật ở kế bên nhau; họ chỉ có thể nhìn thấy vật này, và phải xoay đầu qua để thấy vật kia. Có thể so sánh triệu chứng này với việc nhìn xuôi theo một con đường hầm – hay ếch ngồi nhìn trời từ đáy giếng: chẳng thấy gì ngoài một khoảng ánh sáng tròn nho nhỏ ở đầu bên kia. Thế nhưng cơ quan thị giác của các bệnh nhân này không có trục trặc nào cả – nghĩa là căn nguyên của triệu chứng không thuộc bình diện thể lý. Dường như, vì một lý do nào đó, họ không muốn nhìn thấy nhiều hơn những gì đập thẳng vào mắt họ, nhiều hơn cái mà họ chọn để tậïp trung chú ý vào.

Còn một lý do khác nữa khiến các nhà khoa học đốt chiếc áo – đó là vì họ chỉ thấy rận mà không thấy áo! Nhiều nhà khoa học hoàn toàn không nhìn thấy chứng cứ của thực tại Thiên Chúa. Họ mắc chứng bệnh “ếch ngồi đáy giếng”. Họ quá tập trung vào nghề nghiệp của họ đến nỗi không ý thức gì về địa hạt tâm linh.

Trong số những nguyên nhân của triệu chứng trên, tôi muốn đề cập đến hai nguyên nhân có liên quan tới chính truyền thống khoa học. Thứ nhất, đó là vấn đề phương pháp luận. Vì khoa học luôn cần phải bám chặt vào kinh nghiệm, vào sự quan sát chính xác và vào khả năng chứng thực, nên nó hết sức nhấn mạnh tầm quan trọng của đo lường.Đo lường một cái gì đó chính là kinh nghiệm về cái ấy trong một chiều kích – và trong chiều kích này, chúng ta có thể thực hiện việc quan sát với độ chính xác rất cao, và người khác cũng có thể lập lại việc quan sát giống như ta. Chính nhờ đo lường mà khoa học đã đạt được những bước tiến vĩ đại trong nỗ lực nhận hiểu vũ trụ vật chất. Nhưng, cũng vì công trạng lớn ấy mà đo lường đã đi đến trở thành một thứ ngẫu tượng của khoa học. Kết quả là nhiều nhà khoa học không chỉ hoài nghi mà còn thẳng tay loại bỏ bất cứ điều gì ở ngoài khả năng đo lường của họ. Dường như họ muốn nói rằng: “Sự gì tôi không đo lường được, tôi không thể biết. Và thật vô ích việc quan tâm tới những gì mình không thể biết. Vì thế, những gì không thể đo lường thì cũng không quan trọng và không đáng tôi phải lưu tâm”. Do thái độ này mà nhiều nhà khoa học loại trừ tất cả những gì là (hay dường như là) bất khả giác ra khỏi sự quan tâm của họ. Dĩ nhiên, vấn đề Thiên Chúa cũng nằm trong số bị họ loại trừ.

Điều gì không dễ tìm hiểu thì không đáng tìm hiểu! Giả đoán kỳ quặc mà phổ biến ấy đang bắt đầu bị chất vấn bới một số bước tiến gần đây trong chính lãnh vực khoa học. Chẳng hạn sự phát triển của các phương pháp nghiên cứu ngày càng tinh vi hơn. Qua việc sử dụng phần cứng như các kính hiển vi điện tử, các máy đo quang phổ, các máy vi tính... và những áp dụng phần mềm như các kỹ thuật thống kê, giờ đây chúng ta đã có thể đo lường những hiện tượng ngày càng phức tạp mà cách đây vài thập niên không ai đo nổi. Tầm nhìn của khoa học, vì thế, đang giãn ra. Và đã giãn ra này vẫn tiếp tục. Nên có lẽ sẽ đến lúc ta có thể nói được rằng: “Không có gì vượt ngoài tầm nhìn của chúng ta. Nếu chúng ta chịu tìm hiểu bao giờ chúng ta cũng có thể tìm ra phương pháp để tìm hiểu”.

Một bước tiến khác nữa cũng đang giúp chúng ta thoát ra khỏi tầm nhìn tù túng của khoa học – đó là sự khám phá mới đây của khoa học về thực tại nghịch lý (reality of paradox). Cách đây một trăm năm, đối với tri thức khoa học thì hễ nghịch lý tức là sai. Nhưng nhờ các khám phá về những hiện tượng như bản chất của ánh sáng, điện từ, cơ học lượng tử và thuyết tương đối, khoa vật lý trong thế kỷ vừa qua đã tiến tới chỗ ngày càng nhìn nhận rằng thực tại có tính nghịch lý – xét trên một cấp độ nào đó. Có thể trưng dẫn nhận định của J. Robert Oppenheimer:

Đứng trước những câu hỏi xem chừng đơn giản nhất, chúng ta có khuynh hướng hoặc không trả lời, hoặc đưa ra một câu trả lời thoạt nghe có vẻ như một câu giáo lý hỏi thưa nào đó – chứ không mang âm hưởng không của những khẳng định rành rành thuộc khoa vật lý. Ví dụ, nếu hỏi rằng phải chăng vị trí của điện tử (electron) vẫn giữ nguyên, ta phải thưa “không”; nếu hỏi phải chăng vị trí của điện tử thay đổi theo thời gian, ta phải thưa “không”; nếu hỏi phải chăng điện tử ở trạng thái bất động, ta phải thưa “không”; nếu hỏi rằng phải chăng điện tử chuyển động, ta cũng phải thưa “không”. Đức Phật cũng đưa ra những câu trả lời như thế khi ngài được hỏi về tình trạng của bản ngã người ta sau khi chết. Nhưng, những câu trả lời ấy là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với truyền thống khoa học của thế kỷ mười bảy và mười tám.[*]

Đã từ bao đời nay, các nhà thần bí vẫn nói với chúng ta bằng thứ ngôn ngữ nghịch lý. Phải chăng chúng ta sắp chứng kiến một cuộc giao duyên giữa khoa học và tín ngưỡng? Khi chúng ta có thể nói rằng “con người vừa khả diệt vừa bất tử đồng thời” và rằng “ánh sáng vừa là sóng vừa là hạt đồng thời” – thì đấy không phải là chúng ta đang bắt đầu nói cùng một thứ ngôn ngữ đó sao? Phải chăng con đường trưởng thành tinh thần dẫn ta đi từ sự mê lầm tín ngưỡng đến thái độ hoài nghi của khoa học – rất có thể cuối cùng sẽ đưa ta tới một thực tại tín ngưỡng đích thực?

Sự bắt đầu của khả năng hợp nhất giữa tôn giáo và khoa học là sự kiện có ý nghĩa nhất và thú vị nhất trong đời sống tri thức của chúng ta hôm nay. Song tất cả chỉ mới đang bắt đầu thôi. Vì nói chung cả tôn giáo và khoa học đều vẫn còn vướng víu trong những khung qui chiếu giới hạn của mình, cả hai vẫn còn bị gò bó trong tầm nhìn chật chội của mình. Chẳng hạn, ta có thể khảo sát thái độ của cả hai liên quan đến vấn đề phép lạ. Đối với phần đông các nhà khoa học, ngay cả ý niệm về một phép lạ cũng bị xem là viễn công và cần phải bị dẹp bỏ. Trong bốn trăm năm gần đây, khoa học đã vén mở ra rất nhiều “qui luật tự nhiên”, chẳng hạn: “Hai vật thể hút nhau tỉ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa chúng” hay “Năng lượng không thể được tạo ra cũng không thể bị tiêu diệt”. Nhưng song song với những thành công ngoạn mục trong việc khám phá ra các qui luật tự nhiên, các nhà khoa học cũng đã biến ý niệm về luật tự nhiên thành một ngẫu tượng trong thế giới quan của họ – như trường hợp họ sùng bái ý niệm về sự đo lường. Điều xảy ra là hễ sự kiện gì không thể được giải thích bởi qui luật tự nhiên (tức những qui luật tự nhiên đã được phát hiện cho tới nay) đều bị xem là phi thực. Nghĩa là, về mặt phương pháp luận, khoa học dường như muốn nói: “Điều gì quá khó tìm hiểu thì không đáng tìm hiểu”. Và về qui luật tự nhiên, cơ hồ nó muốn nói: “Điều gì quá khó hiểu thì không tồn tại”.

Giáo hội tỏ ra có phần rộng thoáng hơn. Đối với thiết chế tín ngưỡng thì những gì không thể được hiểu bởi qui luật tự nhiên (cũng là qui luật tự nhiên được biết cho tới nay) thì đó là phép lạ – và phép lạ là cái có thực. Nhưng trong khi xác nhận sự tồn tại của các phép lạ, Giáo hội lại không khảo sát các phép lạ cho đủ kỹ. Thái độ của tôn giáo dường như là: “Phép lạ không cần phải được điều tra theo khoa học. Chúng phải được chấp nhận như là những hành động của Thiên Chúa”. Như vậy, những con người tín ngưỡng không muốn tín ngưỡng của mình bị khoa học làm cho lung lay; cũng vậy, những con người khoa học không muốn khoa học của mình bị tín ngưỡng làm rúng chuyển.

Những sự kiện chữa lành bệnh một cách kỳ diệu, chẳng hạn, đã được Giáo hội Công giáo sử dụng để xác nhận các vị thánh của mình. Nhiều hệ phái Tin Lành cũng dường như thừa nhận tính tiêu chuẩn của các sự kiện loại ấy. Thế nhưng các Giáo hội không bao giờ nói với giới y sĩ: “Mời các anh tham gia với chúng tôi để ta cùng tìm hiểu những hiện tượng hết sức kỳ diệu này!” Các y sĩ cũng chẳng bao giờ nói với Giáo hội: “Hãy để chúng tôi cùng tham gia với quí vị, và ta cùng khảo sát một cách khoa học những sự kiện có liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp chuyên môn của chúng tôi này”. Thay vào đó, giới chuyên môn y khoa đứng né ra ngoài và khư khư tin rằng không bao giờ có chuyện phép lạ chữa lành bệnh, rằng bệnh được chữa lành ấy đã không hề có nơi đương sự, rằng đó chỉ là một rối loạn tưởng tượng – như kiểu một phản ứng do thôi miên, hoặc rằng người ta đã chẩn đoán sai. Tuy nhiên, rất may là một số nhà khoa học, y sĩ và những con người tín ngưỡng quan tâm tìm kiếm sự thật đang tỏ ra sẵn sàng bắt đầu khảo sát bản chất của những hiện tượng như sự hồi phục bất thình lình của các bệnh nhân ung thư và những trường hợp chữa lành bệnh bằng tâm lý thành công rõ ràng.

Cách đây mười mấy năm, khi tôi tốt nghiệp trường y, tôi tin chắc rằng phép lạ là cái không bao giờ có thực.Bây giờ thì tôi tin rằng phép lạ đang có thực rất nhiều ở xung quanh mình. Sự thay đổi ấy nơi ý thức của tôi là kết quả của hai yếu tố cùng tác động. Yếu tố thứ nhất là toàn bộ những kinh nghiệm mà tôi có được trong tư cách một bác sĩ tâm thần. Những kinh nghiệm ấy ban đầu xem có vẻ rất bình thường thôi, nhưng khi suy ngẫm kỹ về chúng, tôi nhận thấy dường như khi giúp đỡ các bệnh nhân bước đi trên con đường trưởng thành của họ, tôi đã được hỗ trợ rất nhiều bởi một sự giúp đỡ nào đó mà tôi không thể giải thích hợp lý được – tôi cho rằng đó là các trường hợp phép lạ. Những kinh nghiệm này – mà tôi sẽ kể ra một số trong đó – đã dẫn tôi đến chỗ truy vấn lại chính quan điểm của mình trước đây rằng các biến cố phép lạ không hề tồn tại. Cùng với việc chất vấn lại giả đoán của mình, tôi cảm thấy quan điểm mình mở rộng hơn và dễ chấp nhận hơn đối với khả năng tồn tại của những biến cố kỳ diệu. Và cứ thế, càng tìm kiếm, tôi càng nhận ra nhiều hơn. Nếu tôi chỉ được phép hy vọng một điều nơi độc giả khi đọc phần còn lại của quyển sách này, thì tôi sẽ không mong muốn gì khác hơn là mong bạn đọc sở đắc được khả năng cảm nhận những điều kỳ diệu. Michael Stark và Michael Washburn, trong một bài báo mới đây, đã viết về khả năng này như sau:

Sự tự thức được sinh ra và phát triển trong một loại nhận thức đặc biệt – một loại nhận thức đã từng được mô tả một cách khác nhau bởi những người khác nhau. Chẳng hạn, các nhà thần bí gọi đó là sự cảm thụ thần linh giới và là sự thành toàn của thế giới. Richard Bucke gọi đó là ý thức vũ trụ. Buber mô ta nó như mối tương quan liên ngã vị. Maslow đặt cho nó cái tên là “TriThức Hữu Thể”... Chúng ta sẽ dùng từ ngữ của Ouspensky để gọi đó là sự cảm thụ điều kỳ diệu. Hai tiếng “kỳ diệu” ở đây không chỉ nhằm nói đến các hiện tượng phi thường – mà còn bao gồm cả những điều rất bình thường nữa. Bởi vì bất cứ sự gì cũng có thể khơi lên loại nhận thức đặc biệt này, miễn là ta dành cho nó đủ sự chú ý. Một khi sự cảm thụ được tách rời ra và không còn bị chi phối bởi các định kiến và các sở thích riêng, chúng ta sẽ có được sự tự do để cảm nghiệm thế giới như chính nó và nhận thức được sự trác tuyệt của nó... Việc cảm thụ điều kỳ diệu không đòi hỏi phải có đức tin hoặc những giả đoán nào đó. Nó đơn giản chỉ là việc dành sự chú ý đầy đủ và cặn kẽ đối với bất cứ gì diễn ra trong cuộc sống – những gì vốn vẫn có đó và xưa nay ta vẫn xem thường. Kỳ quan thực sự của thế giới luôn luôn có sẵn và có sẵn ở khắp nơi, nơi những bộ phận bé nhất trong cơ thể chúng ta, nơi vũ trụ rộng lớn bao la, và nơi mối liên hệ thâm sâu giữa chúng – cũng như giữa tất cả vạn vật... Chúng ta là thành phần của một hệ sinh thái cân bằng tuyệt vời – trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau và sự độc lập của cá vị cùng nắm tay nhau sóng bước. Tất cả chúng ta đều là những cá thể, nhưng tất cả chúng ta cũng đồng thời là thành phần của một toàn thể lớn hơn. Cảm thụ điều kỳ diệu là điều kiện thiết yếu chủ quan của tự thức. Nó là gốc rễ sản sinh ra những đặc nét và những kinh nghiệm cao nhất của con người.[*]

Suy nghĩ về các phép lạ, tôi nhận thấy rằng khung qui chiếu của chúng ta thường quá bó hẹp nơi những gì có tính vĩ đại hay giật gân. Chúng ta đi tìm những “bụi gai bốc cháy”, những “nước biển phân rẽ ra, dựng như bức thành hai bên tả hữu”, những “tiếng nói phán xuống từ trời!” Trong khi đó, chính các biến cố tầm thường vặt vãnh hằng ngày là cái mà chúng ta nên nhìn ngắm trước hết để cảm nhận sự kỳ diệu – và đồng thời để nắm bắt được những định hướng khoa học. Đây là công việc sẽ được triển khai trong phần sau của quyển sách: Tôi sẽ khảo sát những sự kiện thông thường xảy ra trong tâm thần lâm sàng – những sự kiện đã giúp tôi có được một nhận thức về hiện tượng phi thường của ân sủng.

Nhưng sẽ thật thiếu sót nếu không ghi nhận thêm một điều ở đây: Cuộc hội ngộ giữa khoa học và tín ngưỡng có thể có những nguy hiểm của nó. Chúng ta sẽ xem xét đến sự cảm thụ ngoại cảm giác (extrasensory) và những hiện tượng thần thiêng hay ngoại thường, cũng như những sắc dạng khác của sự kỳ diệu. Điều thiết yếu là chúng ta phải hết sức bén nhạy và cảnh giác. Mới đây tôi có tham dự một cuộc hội thảo về vấn đề chữa bệnh bằng đức tin; trong cuộc hội thảo này, nhiều diễn giả thuộc loại học thức cao đã đưa ra các chứng cứ tầm phào để chứng minh rằng họ (hoặc nhân vật nào đó khác) có khả năng chữa lành bệnh một cách phi thường. Tôi nói “tầm phào” – bởi vì những chứng cứ ấy rất mơ hồ và rất thiếu cơ sở. Một ông thầy đặt tay trên chỗ viêm khớp của một bệnh nhân; ngày hôm sau, chứng viêm khớp ấy biến mất – điều đó đâu có nghĩa rằng bệnh nhân đã được chữa lành bởi ông thầy! Những triệu chứng viêm khớp thường biến đi hoặc sớm hoặc muộn, có thể từ từ hay đột ngột – mà người ta không cần phải làm gì với nó cả. Sự kiện rằng hai biến cố cùng xảy ra trong thời gian không nhất thiết có nghĩa rằng chúng có mối liên hệ nhân quả với nhau. Bởi vì đây là một lãnh vực rất mù mờ và dễ hàm hồ, nên chúng ta cần phải tiếp cận nó với sự hoài nghi đúng mức – nếu không, ta sẽ đưa chính mình và kẻ khác vào chỗ lầm lạc. Chẳng hạn, nhiều người có thể bị lung lạc khi nhận ra sự thiếu chặt chẽ và vu vơ trong chứng cứ thường được đưa ra bởi những con người vốn công khai nhìn nhận rằng các hiện tượng thần thiêng là có thực. Người ta dễ dị ứng với hiện tượng thần thiêng một phần cũng vì họ bị quấy rối bởi những chứng cứ vu vơ như vậy. Lãnh vực hiện tượng thần thiêng thu hút quá nhiều kẻ hời hợt và kém cỏi trong việc kiểm chứng thực tại; vì thế những người thực tiễn hơn dễ bị cám dỗ để kết luận rằng bản thân hiện tượng thần thiêng là cái không hề có thực. Có nhiều người cố tìm những câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi rất không đơn giản, họ ép những quan điểm tín ngưỡng và những quan điểm khoa học kết duyên với nhau một cách bữa bãi, cầu may. Nhiều vụ ép duyên như thế dĩ nhiên thất bại, song như vậy không có nghĩa rằng cuộc hôn nhân giữa tín ngưỡng và khoa học là chuyện không thể có hoặc không nên có. Điều cần cảnh giác là: chúng ta đừng để tầm nhìn của mình bị gò bó bởi căn bệnh “ếch ngồi đáy giếng” vốn rất phổ biến trong giới khoa học – cũng đừng để cho hào quang chói ngời của cõi thiêng liêng lấn át năng lực phê bình và khả năng hoài nghi của chúng ta.

1. Thường thì tính cách đặc trưng của tuổi ấu thời và – do đó – tính cách đặc trưng thế giới quan của một bệnh nhân xuất phát từ “ký ức nguyên sơ nhất”. Vì vậy tôi thường yêu cầu các bệnh nhân kể lại điều đầu tiên mà họ còn ghi nhớ được. Họ có thể tránh né và trả lời rằng họ không thể xác định được vì có quá nhiều điều trong ký ức ban sơ của họ. Nhưng khi tôi thúc giục họ cố chọn ra một điều, câu trả lời sẽ rất đa dạng – chẳng hạn: “À, tôi nhớ mẹ tôi bế tôi ra trước sân nhà và chỉ cho tôi xem ánh trời chiều tuyệt đẹp ở phía xa xa”, hoặc “Tôi nhớ mình ngồi bệt trên sàn nhà bếp, ‘tè’ ra ướt quần. Mẹ tôi vừa huơ huơ chiếc muỗng trên tay vừa quát mắng tôi”. Có lẽ những ký ức ban sơ ấy được nhớ rất rõ bởi vì chúng biểu trưng chính xác bản chất thời thơ ấu của một con người. Vì vậy, thật không đáng ngạc nhiên khi nhận thấy rằng sắc thái của những ký ức ban sơ ấy thường rất giống với sắc thái tâm cảm sâu xa nhất của bệnh nhân đối với bản chất của cuộc nhân sinh.

2. Rõ ràng bài thơ mang âm hưởng của một Thánh Vịnh tán tụng. Tác giả kêu gọi ngợi khen Thiên Chúa vì đặc tính phong phú trong công trình của Ngài. (Chú thích của người dịch)

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.