Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi - Chương 15

TRƯỜNG HỢP CỦA THEODORE

Ted đến gặp tôi năm anh ba mươi tuổi – và đang sống hoàn toàn cách biệt xã hội như một nhà ẩn tu. Anh đã “ẩn tu” như thế trong một căn lều nhỏ ở sâu trong rừng ròng rã bảy năm. Anh chỉ có vài bạn quen, và không thân thiết với một ai cả. Đã ba năm rồi anh không hề biết đến bạn gái. Lâu lâu một lần, anh làm vài công việc mộc lặt vặt – còn phần lớn thời gian anh ngồi câu cá hay đọc sách hoặc hoạch định những chuyện chẳng lấy gì làm quan trọng. Chẳng hạn, anh tính tới tính lui hàng giờ để xem mình sẽ nấu món gì cho bữa tối – hoặc sẽ nấu như thế nào; anh suy nghĩ nhiều ngày về chuyện nên hay không nên mua một món dụng cụ rẻ tiền nào đó. Thực ra, Ted là một chàng trai giàu có, nhờ một món gia sản khá lớn mà anh thừa hưởng. Anh cũng là một con người trí thức với đầu óc sắc sảo. Thế nhưng, trong buổi gặp gỡ đầu tiên với tôi, anh đã phàn nàn về tình trạng què quặt của mình: “Tôi vẫn biết là mình nên làm một điều gì đó có ý nghĩa hơn và có tính xây dựng hơn cho cuộc sống mình. Nhưng không hiểu tại sao tôi không thể quyết định về bất cứ chuyện gì, thậm chí cả những chuyện hết sức lặt vặt. Tôi biết mình cần có một sự nghiệp. Tôi biết mình nên theo đuổi học trình sau đại học và đi vào một nghề nghiệp nào đó... Nhưng tôi không cảm thấy một chút hứng thú nào. Tôi đã nghĩ đến đủ thứ lãnh vực mà mình có thể chọn: dạy học, nghiên cứu, chính trị, y khoa, nông nghiệp, sinh thái, v.v... Nhưng rốt cuộc đó chỉ toàn là những ý tưởng suông, còn chính bản thân tôi không nhúc nhích tí nào cả. Đôi khi tôi cảm thấy thích thú với một ý tưởng nào đó được một hay hai ngày, nhưng rồi dường như dự phóng nào cũng có những vấn đề không thể vượt qua. Dường như chính đời sống cũng là một vấn đề mà tôi không vượt qua nổi!

Theo Ted cho biết, vấn đề của anh bắt đầu năm anh mười tám tuổi, hồi anh bước vào đại học. Trước đó mọi sự đều bình thường. Anh trải qua một tuổi thơ bình thường trong một gia đình ổn định và khá giả. Cha mẹ anh quan tâm săn sóc cho anh một cách chu tất, mặc dù họ không quan tâm lẫn nhau mấy. Anh đi học trường nội trú, thường xuyên được điểm cao và được khen thưởng. Rồi, một sự kiện đáng kể: anh có một mối tình sâu đậm với một cô gái, song nàng quay lưng chia tay anh một tuần trước khi anh vào đại học. Anh suy sụp tinh thần và thường xuyên uống rượu trong năm thứ nhất. Dù vậy, anh vẫn đạt những điểm cao. Sau đó anh trải qua một số cuộc tình nữa, song tất cả đều gãy đổ. Việc học của anh bắt đầu sa sút. Anh bỏ bê bài vở. Rồi Hank, một người bạn thân của anh, bị chết vì tai nạn xe hơi vào giữa năm thứ ba. Nhưng anh đã vượt qua được cú sốc ấy; thậm chí anh đã ngừng uống rượu trong cùng năm đó. Duy chỉ có vấn đề quyết định là anh vẫn còn gặp khó khăn ngày càng hơn. Ngay cả việc chọn một đề tài để viết luận văn tốt nghiệp vào năm cuối anh cũng không thể quyết định được. Kết thúc thời gian chính khóa, anh thuê một phòng trọ bên ngoài ký túc xá đại học. Lúc này chỉ cần nộp một tiểu luận nữa thôi là anh sẽ được công nhận tốt nghiệp. Để hoàn thành bài tiểu luận ấy, người ta thường chỉ mất một tháng – còn anh, anh đã phải mất đến ba năm. Tốt nghiệp rồi, hoàn toàn vô định, anh vào “ẩn tu” trong rừng.

Theo cảm nhận của Ted thì chắc hẳn vấn đề của anh phát xuất từ nguyên nhân liên quan đến tính dục. Các khó khăn của anh đã chẳng bắt đầu với một cuộc tình đổ vỡ đó sao? Hơn nữa, anh đã đọc hầu như không sót một tác phẩm nào của Freud (trong đó có nhiều quyển chính tôi cũng chưa đọc). Vì vậy trong suốt sáu tháng trị liệu đầu tiên, chúng tôi đã tập trung khảo sát kỹ lưỡng sắc thái tính dục của anh thời thơ ấu – và đã không dò ra một tia sáng nào đáng kể cả. Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn trị liệu đầu tiên ấy, một vài khía cạnh đáng chú ý trong tính cách của anh đã bộc lộ ra. Chẳng hạn, Ted hoàn toàn thiếu cảm hứng đối với bất cứ chuyện gì. Anh mong thời tiết tốt để rồi khi có được thời tiết tốt, anh nhún vai và nói: “Nắng hay mưa cũng thế thôi. Đối với tôi, ngày nào cũng như ngày nào”. Câu cá ở hồ, anh bắt được một con cá măng thật to, nhưng anh quăng trả nó xuống hồ – vì “tôi không thể ăn hết con cá đó, và tôi không có bạn bè để chia sẻ cho họ”.

Liên quan với tình trạng thiếu hứng khởi này là sự khinh mạn tất cả. Anh dường như chê tất cả mọi sự trên đời. Anh nhìn đâu cũng thấy dở và tệ. Tôi mường tượng rằng anh dùng sự khinh mạn ấy để có cớ mà giữ khoảng cách với những gì rất có thể đánh động cảm xúc của anh. Thêm nữa, Ted tỏ ra là một con người rất khép kín – điều này đã làm cho cuộc trị liệu diễn tiến khá chậm chạp. Những chi tiết quan trọng nhất về bất cứ chuyện gì đều phải được thúc ép anh mới nói ra. Ted kể một giấc mơ: “Tôi đang ở trong một phòng học. Có một vật – tôi không biết vật gì – mà tôi đã đặt trong một chiếc hộp. Tôi khóa kín chiếc hộp này để không ai có thể biết vật gì đang ở bên trong. Tôi đã nhét chiếc hộp này vào trong một bộng cây khô – và đã bịt kín miệng lỗ trên thân cây bằng những chốt gỗ giả tạo lớp vỏ cây, trông giống như một thân cây tự nhiên chưa có dấu tay người chạm đến. Ngồi trong lớp học, tôi bất chợt nhớ lại rằng mình chưa làm cho các chốt gỗ kia tiệp màu lắm với màu vỏ cây. Tôi trở nên hết sức bất an. Một cách vội vã, tôi bỏ lớp học, phóng nhanh về khu rừng và gia công lại những chiếc chốt gỗ sao cho không ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa các chốt gỗ ấy và vỏ cây xung quanh. Rồi, tôi cảm thấy an tâm hơn và trở lại lớp học”. Lớp học và phòng học trong giấc mơ Ted – cũng như đối với nhiều người – là biểu tượng cho cuộc trị liệu. Và như vậy rõ ràng là Ted không muốn tôi khám phá ra cốt lõi của sự rối loạn tâm thần nơi anh.

Trong một buổi gặp gỡ vào tháng trị liệu thứ sáu, Ted đã vô ý để lộ một kẽ hở nhỏ đầu tiên. Số là buổi chiều hôm trước anh ghé chơi tại nhà một người quen. Và anh kể: “Thật là một buổi chiều vô vị. Anh ta bắt tôi nghe một đĩa hát mà anh ta mới mua. Đó là nhạc nền do Neil Diamond soạn riêng cho phim Jonathan Livingston Seagull. Dở ơi là dở! Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao những kẻ có học lại có thể thưởng thức thứ rác rưởi ấy và có thể gọi đó là âm nhạc”.

Sự cay cú của Ted làm tôi đặc biệt chú ý đến những gì anh nói. Tôi hỏi: “Jonathan Livingston Seagull là một cuốn sách đạo. Vậy nhạc đó cũng là nhạc đạo, phải không?”

- “Nếu người ta có thể gọi đó là nhạc thì người ta cũng có thể gọi đó là nhạc đạo” – Ted bĩu môi.

- “Có lẽ cái làm anh khó chịu là đạo chứ không phải là nhạc?” – tôi thăm dò.

- “Đúng. Tôi thật không chịu nổi thứ đạo ấy”.

- “Thứ đạo ấy là thứ đạo nào vậy?”

- “Thứ đạo ủy mị, ướt át tình cảm”.

- “Nghĩa là cũng còn có những thứ đạo khác nữa, phải không?” – tôi hỏi.

Ted trông có vẻ lúng túng. Sau một phút ngập ngừng, anh nói:

- “Nói chung, đạo nào cũng vậy. Tôi thấy chán mọi tôn giáo”.

- “Từ trước tới giờ anh vẫn thế?”

Ted phá lên cười, lắc đầu: “Không! Hồi còn là một thiếu niên, tôi rất sùng đạo. Vào năm cuối ở trường trung học nội trú, tôi thậm chí là một lễ sinh trong nhà thờ”.

- “Rồi sao?”

- “Sao nghĩa là sao?”

- “Nghĩa là điều gì đã xảy ra với lòng đạo của anh?” – tôi hỏi.

- “Chẳng có gì cả. Tôi không thích nữa. Và tôi bỏ”.

-  Anh bỏ như thế nào?”

- “Thế nào nghĩa là thế nào?” – Ted nổi cáu – “Thì tôi bỏ đạo y như người ta bỏ bất cứ điều gì khác. Vậy thôi”.

-  Anh đã bỏ vào thời điểm nào?”

- “Tôi không biết. Tôi không rõ. Chỉ biết rằng thời gian ở đại học tôi không bao giờ đi nhà thờ”.

- “Không bao giờ thật ư?”

- “Phải. Không một lần nào cả”.

- “Nào. Hồi năm cuối trung học, anh là một lễ sinh trong nhà thờ” – tôi nhận định – “Rồi mùa hè ấy anh có một cuộc tình đổ vỡ. Rồi anh không bao giờ đi nhà thờ nữa. Như vậy, đó là một thay đổi đột ngột. Anh không nghĩ rằng việc cô bạn gái phũ phàng với anh có liên quan với sự thay đổi ấy nơi anh sao?”

- “Tôi chẳng nghĩ gì cả. Nhiều bạn học khác của tôi cũng thay đổi kiểu như tôi. Chúng tôi lớn lên vào một thời mà tôn giáo trở thành chuyện lạc hậu. Có lẽ cô bạn gái ấy có liên quan với sự thay đổi của tôi, song cũng có thể cô ấy không liên quan gì. Tôi không thể xác định được. Chỉ biết rằng tôi đã trở nên chán ngấy tôn giáo”.

Một tháng sau đó, xảy ra phát hiện thứ hai. Lúc đó chúng tôi đang tập trung khảo sát tình trạng thiếu hứng khởi nơi Ted – dĩ nhiên chính anh đã thừa nhận rằng anh không cảm hứng về bất cứ chuyện gì. Ted kể: “Lần cuối cùng mà tôi cảm thấy hăng hái trong lòng đã cách nay mười năm, khi tôi đang học năm thứ ba đại học. Lúc ấy là cuối học kỳ mùa thu – và tôi đang viết luận về thi ca Anh hiện đại”.

- “Đề tài của bài luận ấy là gì? – tôi hỏi.

- “Tôi không thể nhớ. Đã quá lâu rồi”.

- “Chắc chắn là anh có thể nhớ, trừ phi anh không muốn nhớ” – tôi nói.

- “Ờ, ờ. Hình như bài luận ấy có liên quan với Gerard Manley Hopkins. Ông ta là một trong những nhà thơ bậc thầy của loại thơ hiện đại. Có lẽ bài luận của tôi viết về bài thơ Pied Beauty của ông ta”.

Tôi bật đứng dậy, đi vào thư viện riêng của mình. Một lát sau, tôi trở lại văn phòng với một tập thơ tuyển của các tác giả Anh trên tay. Tập thơ đã được tôi cất giữ từ những năm đại học, nay đã vàng ố. Bài Pied Beauty ở trang 819, tôi đọc lớn tiếng cho cả Ted cùng nghe:

Glory be to God for dappled things –

For skies of couplepcolour as a brindled cow,

For rose-moles all in stipple upon trout that swim;

Fresh-firecoal chesnut-falls; finches’ wings;

Landscape plotted and pieced–fold, fallow, and plough;

And all trades, their gear and tackle and trim.

All things counter, original, spare, strange;

Whatever is fickle, freckled (who knows how?)

With swift, slow; sweet, sour; adazzle, dim;

He fathers-forth whose beauty is past change;

Praise him.[†]

Gấp tập thơ lại, nước mắt tôi ứa ra. “Một bài thơ căng đầy cảm hứng – và cũng đầy sức kích cảm”, tôi nói.

- “Vâng” – Ted đáp.

- “Đó cũng là một bài thơ đầy tâm tình tín ngưỡng”.

- “Vâng”.

- “Anh viết bài luận ấy vào cuối học kỳ mùa thu. Có lẽ lúc đó là tháng giêng?”

- “Vâng”.

- “Nếu tôi tính không sai thì vào tháng sau đó, tức tháng hai, anh bạn Hank của anh tử nạn?”

- “Vâng” 

Một sự căng thẳng xâm chiếm tâm trí tôi. Tôi không biết mình có nên nói ra những nhận định mới vừa loé lên trong suy nghĩ của mình hay không. Cuối cùng, tôi quyết định không úp mở: “Cô bạn gái đầu tiên phụ tình anh năm anh mười bảy tuổi; anh bắt đầu mất cảm hứng đối với nhà thờ. Ba năm sau, người bạn thân của anh gặp tai nạn và mạng vong; anh trở thành mất cảm hứng đối với mọi sự”.

- “Tôi không bỏ cảm hứng. Chính cảm hứng bỏ tôi” – Ted như gào lên phân trần. Tôi chưa bao giờ trông thấy anh ta xúc động đến vậy.

- “Chúa đã bỏ anh, nên anh bỏ Chúa?”

- “Có thể là như thế. Mà tại sao không cơ chứ! Cuộc đời này đáng ói mửa. Thế giới này đáng ói mửa”, Ted lại gào lên.

- “Tuổi thơ của anh chắc đầy hạnh phúc?”

- “Không. Tuổi thơ của tôi cũng đáng ói mửa”.

Thì ra, bên trong cái vẻ bề ngoài êm ả của nó, gia đình của Ted thời thơ ấu đã là một hỏa ngục cho anh. Hai người anh trai của anh thường đánh đập anh hết sức tàn bạo. Bố mẹ anh, vừa quá bận rộn với công việc riêng của mỗi người vừa quá lo hục hặc đay nghiến nhau, đã không mấy lưu tâm đến con cái. Ted bị các anh mình mặc tình hiếp đáp mà không hề nhận được một sự che chở nào từ bố mẹ. Chú bé Ted chỉ tìm được sự khuây khỏa trong những lần lẩn trốn về miền quê, một mình bước đi lang thang giữa cỏ cây muông thú, (rõ ràng là lối sống ẩn sĩ của anh hiện nay đã bắt rễ từ trước khi anh lên mười tuổi). Vào trường nội trú là một giải thoát đối với Ted, dù cuộc sống ở đó vẫn có những cay nghiệt. Khi Ted kể về những điều này, tôi như thấy rõ sự căm phẫn đối với cuộc đời bừng lên trong ánh mắt và trong giọng nói của anh. Trong những tháng sau đó, Ted sống lại không chỉ với nỗi đau của thời thơ ấu và nỗi đau về cái chết của Hank – mà còn là nỗi đau của hàng ngàn sự mất mát và phũ phàng khác nữa. Cả cuộc đời anh tựa như một dòng xoáy trào lên hết nỗi khổ này đến niềm đau khác, một cuộc đời toàn những bất trắc và nghiệt ngã.

Sau mười lăm tháng trị liệu, sự chuyển biến xảy ra. Hôm ấy, trong lần đến gặp tôi như thường lệ, Ted mang theo một tập sách nhỏ. Anh nói: “Ông luôn luôn nhận xét rằng tôi quá bưng bít. Và quả thật đúng như thế. Tối qua, khi đang sục sạo mấy sách vở cũ, tôi bắt gặp tập nhật ký này. Đây là những gì tôi đã viết trong năm thứ hai đại học. Từ đó đến nay tôi chưa hề lật xem lại. Tôi đoán rằng ông cũng muốn xem qua nó để có một ý niệm về tôi cách đây mười năm”.

Tôi nhận tập nhật ký của Ted – và bỏ ra hai buổi tối sau đó để đọc. Thực ra, tôi chẳng phát hiện gì thêm đáng kể từ những gì anh ta viết trong đó – ngoại trừ một ghi nhận rằng ngay từ mười năm trước, anh đã bộc lộ rất rõ khuynh hướng co cụm lại với mình vì khinh mạn tất cả (và sự khinh mạn này là phản ứng của anh trước những nỗi đau cuộc sống). Nhưng, có một đoạn ngắn trong tập nhật ký ấy thu hút sự chú ý của tôi. Ted ghi lại chuyến đi lang thang bách bộ một mình vào một ngày chủ nhật của tháng giêng – nửa chừng, một cơn bão tuyết dữ dội ập tới, và anh về tới ký túc xá vào khoảng chín, mười giờ đêm. Anh viết: “Thật mừng vì cuối cùng mình về đến phòng – không giống như tâm trạng của mình trong lần suýt chết hồi mùa hè năm ngoái”. Ngày hôm sau, trong cuộc gặp gỡ thường lệ, tôi yêu cầu Ted kể rõ hơn về “lần suýt chết hồi mùa hè năm ngoái” mà anh nhắc đến trong nhật ký.

- “Ơ! Chuyện đó tôi đã kể với anh rồi mà” – Ted thoái thác.

Đúng là bất cứ khi nào Ted muốn tránh đề cập đến một điều gì, anh ta luôn chối quanh kiểu đó.

- “Anh lại cố ý bưng bít nữa rồi” – tôi nói.

- “Ồ, không đâu. Tôi nhở dường như là tôi đã kể. Mà thực ra câu chuyện cũng rất đơn giản thôi. Vào thời gian tôi làm việc ở Florida dịp hè giữa năm thứ nhất và năm thứ hai, tôi gặp một trận cuồng phong. Vốn tính thích giông bão, tôi băng mình giữa những đợt gió giật ác liệt nhất đi về phía bến tàu. Một ngọn sóng ầm ầm xô vào và cuốn tôi ra khơi. Rồi một ngọn sóng khác đã đẩy tôi trở vào bờ. Tất cả diễn ra rất nhanh. Và câu chuyện chỉ có thế!”

- “Anh ra bến tàu vào đúng lúc bão giật?” – tôi sửng sốt hỏi Ted.

- “Thì tôi đã nói với ông rằng tôi thích gió bão. Tôi muốn cảm giác thật sát gần cơn phẫn nộ của thiên nhiên”.

- “À, ra thế”, tôi nói, “Tôi cũng thích bão. Nhưng tôi nghĩ mình không bao giờ liều lĩnh đến như vậy”.

- “Ồ, ông cũng biết là trong tôi có một bản năng tự sát” – Ted trả lời tỉnh queo – “Và vào mùa hè đó tôi thường cảm thấy một sức thúc đẩy hướng đến cái chết. Tôi đã thử phân tích hành động ấy của mình. Nói thật, tôi không thể nhớ là trong lúc mình lao ra như thế mình có ý thức muốn chết hay không. Có điều chắc chắn rằng tôi lúc ấy vừa không quan tâm mấy đến sự sống vừa hiểu rõ rằng mình có thể đang đâm đầu vào chỗ chết”.

- “Anh đã bị sóng cuốn ra khơi?”

- “Vâng. Lúc ấy tôi không thấy rõ điều gì đang diễn ra, vì xung quanh tôi là trùng giăng nước và nước. Tôi đoán đó là một con sóng đặc biệt lớn. Tôi nghe nó chụp lấy tôi, tôi cảm thấy mình bị lôi đi – và tôi không còn cảm thấy gì ngoại trừ nước. Tôi không thể làm gì để thoát chết. Và tôi nghĩ chắn hẳn mình sắp toi rồi. Bỗng tôi khiếp sợ. Chừng một phút sau đó, tôi cảm thấy mình bị cuốn theo chiều ngược lại – đó chắc là một đợt sóng khác đang ùa vào – và chỉ trong tích tắc, tôi bị hất mạnh vào vách kè đá của bến tàu. Tôi bám lấy vách đá, bò lên. Và tôi tiếp tục bò rạp vào phía trong bờ. Mình mẩy tê nhức đầy vết trầy sướt, sưng vù. Tất cả câu chuyện là như thế đó.”

- “Anh cảm nhận gì qua câu chuyện ấy?”

- “Cảm nhận về cái gì, thưa ông?” – Ted lại lảng tránh câu hỏi của tôi.

- “Anh cảm nhận gì về sự kiện thoát chết của anh?” – tôi nhấn mạnh.

- “Ông muốn nói về con sóng đã xô tôi vào bờ?”

- “Đúng vậy”.

- “À, tôi nghĩ mình đã gặp may”.

- “Gặp may ư?”, tôi đanh giọng, “Biết bao người đã bị sóng cuốn ra mà không hề được con sóng khác xô vào!”

- “Vâng”.

- “Một số người sẽ gọi đó là điều kỳ diệu”. Tôi nhận định.

- “Tôi nghĩ rằng mình đã rất may mắn trong trường hợp đó”.

- “Lạ thật”, tôi nói, “Bất cứ khi nào một điều khốn khổ xảy đến cho anh, anh trách móc Thiên Chúa, anh nguyền rủa cuộc đời đáng ói mửa. Nhưng khi có một điều tốt xảy đến, anh lại nghĩ rằng mình gặp may. Thiên Chúa chịu trách nhiệm mọi điều phiền toái lớn nhỏ trong cuộc đời anh; còn điều tốt lành ngoài tưởng tượng đó thì do... may mắn. Tại sao thế?”

Ted dần dần nhận ra tính bất tương hợp trong thái độ của anh đối với điều tốt và điều xấu. Anh bắt đầu chú ý nhiều hơn đến những khía cạnh tích cực của cuộc đời, cả những ngọt ngào lẫn những đắng cay, cả những niềm vui lẫn những nỗi buồn. Suy ngẫm lại về cái chết bi thảm của Hank cũng như những cái chết khác đi qua bên đời mình, Ted bắt đầu nhận ra rằng cuộc đời luôn có hai mặt của nó. Anh dần dần biết chấp nhận sự tồn tại của đau khổ và biết trân trọng bản chất nghịch lý của hiện sinh. Dĩ nhiên, sự chấp nhận này diễn ra trong bối cảnh một mối quan hệ ấm áp tình yêu và ngày càng thú vị giữa Ted và tôi. Anh bắt đầu sống hướng ngoại, cởi mở. Anh lại có bạn gái – và bắt đầu biết bồn chồn nôn nao mỗi lần hẹn hò. Anh dần dần thấy có cảm hứng trong cuộc sống. Con người tín ngưỡng nơi anh cũng bừng tỉnh. Nhìn đâu anh cũng thấy mầu nhiệm sự sống và sự chết, mầu nhiệm sáng tạo, hư vong và tái sinh. Anh say mê đọc sách thần học. Anh thích thú nghe đi nghe lại những ca khúc như Jesus Christ Superstar và Godspell; anh thậm chí mua cho chính mình một đĩa Jonathan Livingston Seagull – đĩa hát mà cách đây ít lâu anh ghét cay ghét đắng.

Sau hai năm trị liệu, Ted tuyên bố vào một buổi sáng nọ rằng đã tới lúc anh dấn thân vào một hành động cụ thể. “Tôi đã có tính đến chuyện theo học ngành tâm lý”, anh nói, “Nhưng ông đừng nghĩ rằng tôi muốn theo đuổi nghề nghiệp của ông. Vì không phải thế đâu”.

- “Vậy anh định sẽ làm gì?” – tôi hỏi.

- “À, tôi nghĩ đến ngành tâm lý vì tôi muốn học một cái gì thực sự quan trọng. Song rồi tôi tự hỏi tại sao mình không dấn thân vào đúng cái quan trọng nhất. Và tôi đã quyết định: khi trở lại với nhà trường, tôi sẽ học những gì quan trọng nhất”.

- “Những gì quan trọng nhất?” – tôi thắc mắc.

- “Vâng. Tâm thần con người là quan trọng. Trị liệu tâm lý cho người ta là quan trọng”.

- “Phải, Tâm thần con người và tâm lý trị liệu. Đó là cái quan trọng nhất”. Tôi cố ý thăm dò.

- “Tôi không nghĩ thế. tôi cho rằng Thiên Chúa mới là quan trọng nhất”.

- “Thế sao anh không nghiên cứu Thiên Chúa?”

- “Hử!”

- “Nếu Thiên Chúa là quan trọng nhất, sao anh không học ngành ấy?”

- “Ồ. Tôi xin lỗi. Tôi không rõ ý ông muốn nói gì?” – Ted có vẻ ngơ ngác.

- “Xem chừng anh cố ý không hiểu”. Tôi trả lời.

- “Thật mà. Tôi không hiểu làm sao người ta có thể nghiên cứu Thiên Chúa được”.

- “Có trường cho anh học về tâm lý thì cũng có trường cho anh học về Thiên Chúa”. Tôi nói.

- “Ông muốn nói đến thần học?”

- “Đúng vậy”.

- “Ông muốn nói rằng tôi có thể trở thành mục sư?”

- “Phải”.

- “Ồ không. Tôi không làm mục sư được”. Ted luống cuống.

- “Tại sao không?”

Ted thật sự lộ vẻ lúng túng. Anh phân bua: “Nói cho cùng, không có gì khác biệt giữa một nhà trị liệu tâm lý và một mục sư. Tôi nghĩ rằng các mục sư cũng đảm nhận rất nhiều công việc trị liệu tâm lý. Và ngược lại, việc trị liệu tâm lý cũng không khác mấy với công việc mục vụ”.

- “Vậy sao anh không thể trở thành một mục sư?”

- “Đừng ép tôi”, Ted nổi cáu. “Sự nghiệp là một quyết định cá nhân. Chính tôi sẽ chọn điều tôi muốn. Ông không có vai trò quyết định dùm tôi”.

- “Này Ted”, tôi nói, “tôi không làm bất cừ sự chọn lựa nào cho anh đâu. Tôi chỉ đang làm công việc phân tích thuần túy. Tôi muốn phân tích những khả năng thay thế mở ra cho anh. Song – vì lý do nào đó – anh lại không muốn nhìn thấy những khả năng lựa chọn khác nhau ấy. Anh là người muốn làm điều quan trọng nhất. Anh là người cảm nghiệm rằng Thiên Chúa là quan trọng nhất. Thế nhưng, khi tôi cố chỉ ra cho anh thấy khả năng chọn lựa một sự nghiệp liên quan trực tiếp đến điều quan trọng nhất ấy, thì anh lại bác bỏ. Anh nói anh không thể trở thành một mục sư. Điều đó cũng bình thường thôi. Nhưng trong tư cách một nhà trị liệu, tôi phải quan tâm đến lý do tại sao anh cảm thấy rằng anh không thể, tại sao anh không thể chấp nhận nó – chí ít là như một khả năng thay thế”.

- “Tôi cảm thấy mình không thể”. Ted nói với giọng run run.

- “Nhưng tại sao không?”

- “Bởi vì... bởi vì làm mục sư là phải trở thành con người của Thiên Chúa một cách công khai. Tôi không thể công khai phô bày niềm tin của tôi vào Thiên Chúa. Tôi không thể sùng đạo nhiệt tình một cách công khai”.

- “Nghĩa là anh phải giữ kín sự nhiệt tình của anh, phải không?” – tôi nói – “Anh không thể công khai biểu lộ cảm hứng của mình. Anh phải khóa chốt những cảm hứng của mình thật kỹ, phải không?”

- “Ôi, ông không biết tôi đã khốn khổ như thế nào đâu” – Ted gào lên – “Bất cứ khi nào tôi biểu lộ lòng nhiệt tình đối với một sự gì, các anh trai tôi sẽ chế nhạo tôi một cách hết sức tàn nhẫn”.

- “Nhưng anh đâu còn là một chú bé mười tuổi nữa. Và anh đâu còn ở trong gọng kìm của các anh trai!” Tôi nhắc.

- “Không chỉ các anh tôi mà thôi” – Ted nói bệu bạo như muốn khóc. “Đó cũng là cách bố mẹ tôi phạt tôi. Bất cứ khi nào tôi làm điều chi sai trái, bố mẹ sẽ trừng trị bằng cách tước lấy những gì tôi yêu thích. Thấy tôi hăm hở với chuyến về thăm dì tuần tới, ông bà phạt tôi không được đi. Thấy tôi quấn quít với chiếc cung và những mũi tên, ông bà tịch thu cung tên. Thế đấy, hễ tôi thích cái gì, tôi sẽ mất cái đó”.

Và, như vậy, cái gốc rễ thâm sâu nhất của sự rối loạn tâm thần nơi Ted đã bật ra. Dần dần, bằng ý chí, Ted tự nhắc nhở mình ý thức rằng anh không còn là một chú bé mười tuổi nữa, không còn bị bố mẹ phong tỏa và bị các anh trai trấn áp nữa, anh bắt đầu có thể bộc lộ cảm hứng của mình, có thể bộc lộ tình yêu của anh đối với cuộc sống và đối với Thiên Chúa. Anh quyết định theo học thần học. Vài tuần trước khi anh ra đi, tôi nhận được một ngân phiếu anh thanh toán thù lao trị liệu cho tháng trước đó. Có một cái gì là lạ nơi tấm ngân phiếu. A, phải rồi, chữ ký của anh dường như dài hơn. Tôi quan sát thật kỹ. Trước đây anh luôn luôn ký “Ted”. Bây giờ anh ký “Theodore”. Tôi hỏi anh về sự thay đổi này.

“Tôi đoán là ông sẽ nhận ra sự thay đổi ấy” – anh trả lời – “Hồi tôi còn bé, dì tôi bảo rằng tôi nên hãnh diện vì cái tên Theodore của mình – vì Theodore có nghĩa là ‘người yêu của Thiên Chúa’. Tôi sung sướng được biết điều đó. Khi tôi kể lại cho các anh tôi, họ bịt mũi. Họ nói đủ điều chế giễu tôi đến nỗi tôi trở nên xấu hổ với cái tên Theodore của mình. Rồi, mới cách đây vài tuần thôi, tôi chợt nghĩ rằng mình không có gì phải xấu hổ. Vì thế tôi đã quyết định sử dụng lại tên đầy đủ ấy. Mà này, tôi là một người yêu của Thiên Chúa – bộ không đúng sao?”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.