Cuộc Nổi Dậy Ở Phố Wall - Chương 1
Ẩn giữa chốn đồng không
Đến mùa hè năm 2009, đường dây đã “có cuộc sống riêng”, khi đó có khoảng 2.000 người đang đào bới và khoan cắt chỗ trú ẩn kỳ quái mà nó cần để sinh tồn. Có 205 đội, mỗi đội 8 người, cộng thêm một đội các chuyên gia tư vấn và thanh tra đủ loại, dậy từ sớm để tìm cách đặt mìn làm đường dẫn xuyên qua một dãy núi vô tội nào đó, hoặc làm một đường hầm dưới một thềm sông nào đó, hay đào một con hào bên cạnh con đường quê còn chẳng có lề để đi − tất cả đều hì hụi làm mà chưa bao giờ trả lời câu hỏi rất đỗi hiển nhiên: Tại sao? Đường dây ấy chỉ là một ống nhựa màu đen, cứng, rộng gần 4cm, được thiết kế để che chắn 400 sợi thủy tinh mảnh như sợi tóc, nhưng ở nó toát ra những cảm giác về một sinh vật sống, một loài bò sát sống ngầm dưới mặt đất với những nhu cầu và mong muốn riêng. Nó cần chiếc hang của mình phải thẳng một mạch, mà có lẽ chưa có con đường nào nhất nhất phải thẳng một mạch như thế từng được đào bới trong lòng đất. Nó cần kết nối một trung tâm dữ liệu ở phía nam Chicago1 với một sàn giao dịch ở phía bắc New Jersey. Hẳn nhiên là, trên hết, nó cần phải được bảo mật.
Các công nhân chỉ được cho biết những gì cần biết. Họ đào hầm theo những nhóm nhỏ tách biệt và chỉ biết lờ mờ về điểm xuất phát hay đích tới của đường dây. Họ không được cho biết cụ thể về mục đích của đường dây − để đảm bảo rằng họ không tiết lộ mục đích đó cho kẻ khác. Một công nhân cho biết, “Mọi người lúc nào cũng hỏi chúng tôi: ‘Nó tối mật à? Có phải là chính phủ không?’ Tôi chỉ đáp: ‘Ừ’”. Các công nhân có thể không biết đường dây đó được dùng để làm gì, nhưng họ biết chắc nó có kẻ thù: tất cả bọn họ đều biết họ phải cảnh giác với những nguy cơ tiềm tàng. Chẳng hạn, nếu nhìn thấy ai đó đào bới gần đường dây, hoặc hỏi quá nhiều về nó, họ phải lập tức báo ngay những gì mình thấy cho trụ sở chính. Nếu không, thì phải giữ mồm giữ miệng hết sức có thể. Nếu mọi người hỏi họ đang làm gì, họ sẽ nói: “Chỉ là đặt cáp thôi”. Đó thường là câu chốt lại cuộc nói chuyện, nhưng nếu không phải vậy thì cũng chẳng hề gì. Các đội xây dựng cũng hoang mang như bất kỳ ai khác. Họ đã quen đào đường hầm nối thành phố này với thành phố kia, người ở nơi này với người ở nơi khác. Tuy vậy, đường dây này chẳng kết nối ai với ai. Mục đích duy nhất của nó, như những gì họ có thể thấy, là chạy thẳng hết sức có thể, dù phải nổ mìn phá núi, thay vì chọn đường vòng. Tại sao lại phải vậy?
Nhưng từ đầu đến cuối, hầu hết các công nhân, chẳng ai đặt ra câu hỏi này. Đất nước đang rập rình ở ngưỡng một đợt suy thoái khác và họ đơn giản là hạnh phúc vì có việc để làm. Đúng như Dan Spivey đã nói: “Chẳng ai biết tại sao. Mọi người bắt đầu bịa ra lý do của mình.”
Spivey là người gần nhất có thể giải thích cho các công nhân về đường dây, hay về cái nền mà họ đã đào để đỡ nó. Mà về bản chất, Spivey lại là người kín như bưng, một tay miền nam thận trọng, không bận tâm tới việc chia sẻ vô vàn những suy nghĩ trong đầu. Spivey sinh trưởng ở Jackson, Mississippi và vào những dịp hiếm hoi mở lời, anh nói nghe như thể chưa bao giờ rời khỏi vùng đất đó. Anh vừa bước sang tuổi 40 nhưng vẫn giữ được thân hình rắn rỏi, với khuôn mặt của một anh tá điền trong ảnh chụp của Walker Evans2. Sau một vài năm không như ý khi làm môi giới chứng khoán ở Jackson, anh nghỉ việc để “làm gì đó thể thao hơn”. Hóa ra việc đó là thuê một chỗ trên Sàn Giao dịch Quyền chọn Chứng khoán của Chicago Board và mua bán cho tài khoản của mình. Giống như những nhà giao dịch khác trên Sàn Chicago, anh thấy có thể kiếm được bộn tiền khi lợi dụng mức giá hiện tại của các giao dịch cổ phiếu cá nhân ở New York và New Jersey để mua bán các hợp đồng kỳ hạn ở Chicago. Mỗi ngày, có hàng nghìn khoảnh khắc giá chênh lệch − khi mà chẳng hạn ta có thể bán các hợp đồng kỳ hạn với mức giá cao hơn giá cổ phiếu cấu thành nên nó. Để có lời, ta phải cùng lúc nhanh chân ở cả hai thị trường. Khái niệm thế nào là “nhanh” thay đổi chóng vánh. Trước đây, chẳng hạn, trước năm 2007, tốc độ thực thi của nhà giao dịch bị giới hạn bởi yếu tố con người. Con người làm việc trên các sàn giao dịch, và nếu muốn mua hay bán thứ gì, ta buộc phải thông qua họ. Đến năm 2007, các sàn giao dịch đơn giản là những cụm máy tính trong các trung tâm dữ liệu. Tốc độ diễn ra giao dịch không còn bị giới hạn bởi con người nữa. Hạn chế duy nhất là ở chỗ một tín hiệu điện tử có thể đi nhanh đến đâu giữa Chicago và New York, hay nói một cách chính xác hơn, giữa trung tâm dữ liệu ở Chicago, nơi Sàn giao dịch Chicago Mercantile đóng giữ, và trung tâm dữ liệu nằm cạnh sàn giao dịch chứng khoán Nasdaq ở Carteret, New Jersey.
Đến năm 2008, Spivey nhận thấy có sự khác biệt rất lớn giữa tốc độ giao dịch khả dụng giữa các sàn giao dịch này với tốc độ giao dịch khả thi trên lý thuyết. Nếu xét về tốc độ ánh sáng trong đường truyền cáp quang, đáng lẽ một tay nhà giao dịch cần giao dịch cùng lúc ở cả hai nơi có thể gửi lệnh từ Chicago tới New York và ngược trở lại trong khoảng 12 mili giây, tức khoảng 1/10 thời gian mà ta cần để chớp mắt nhanh hết sức có thể. (Một mili giây là 1/1.000 giây). Đường truyền mà nhiều hãng dịch vụ viễn thông − Verizon, AT&T, Level 3, v.v... − cung cấp chậm hơn thế và không ổn định. Ngày hôm nay, họ mất đến 17 mili giây để gửi lệnh tới hai trung tâm dữ liệu; ngày hôm sau, họ chỉ mất 16 mili giây. Ngẫu nhiên, một số nhà giao dịch gặp đúng đường truyền do Verizon quản lý và chỉ mất 14,65 mili giây. “Đường truyền vàng”, các nhà giao dịch gọi nó như vậy, vì vào những dịp ta tình cờ thấy mình ở trên nó, ta sẽ là người đầu tiên khai thác được sự chênh lệch giá giữa Chicago và New York. Đối với Spivey, điều không thể tin nổi là các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông này lại không ở vào thế có thể hiểu được nhu cầu tốc độ đầy mới mẻ này. Verizon không chỉ không thấy rằng mình có thể bán đường truyền đặc biệt này cho các nhà giao dịch để kiếm một khoản kếch xù; mà có vẻ còn không nhận thức được rằng mình đang nắm trong tay bất cứ thứ gì có giá trị đặc biệt. “Anh sẽ phải đặt vài đường truyền và hy vọng mình vớ được nó,” Spivey nói. “Bọn họ không biết mình có cái gì”. Đến tận năm 2008, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn vẫn không nhận ra thị trường tài chính đã làm thay đổi, một cách triệt để, giá trị của một mili giây.
Khi nghiên cứu kỹ hơn, Spivey đã hiểu tại sao. Anh tới Washington DC., tìm được bản đồ những tuyến cáp quang hiện đang chạy từ Chicago tới New York. Chúng chủ yếu chạy theo các tuyến đường sắt và giữa các thành phố lớn. Ra khỏi New York và Chicago, chúng chạy về phía nhau theo một đường khá thẳng, nhưng khi đến Pennsylvania, chúng bắt đầu lượn sóng và uốn khúc. Spivey tỉ mẩn xem xét bản đồ Pennsylvania và nhìn thấy vấn đề chính là dãy núi Allegheny. Tuyến đường thẳng duy nhất chạy qua dãy Allegheny là tuyến đường cao tốc liên bang và có một điều luật cấm không cho đặt cáp quang dọc theo đường cao tốc liên bang. Các tuyến đường bộ và đường sắt thì lại chạy lắt léo khắp bang theo điều kiện cảnh quan. Spivey tìm được một tấm bản đồ về Pennsylvania chi tiết hơn và vẽ tuyến đường chạy qua đây của riêng mình. “Tuyến đường thẳng nhất theo luật”, anh thích gọi nó như vậy. Bằng cách dùng những con đường rải nhựa, đường đất, các cây cầu và các tuyến đường sắt cùng với các khu đỗ xe hoặc sân trước, hay cánh đồng ngô thuộc sở hữu tư nhân nằm rải rác đây đó, anh có thể giảm giảm khoảng cách xuống hơn 160km so với tuyến đường của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Kế hoạch của Spivey, mà sau này trở thành nỗi ám ảnh của anh, bắt đầu từ một suy nghĩ ngây thơ: Tôi muốn xem người ta có thể nhanh hơn bao nhiêu nếu họ làm thế.
Cuối năm 2008, khi hệ thống tài chính toàn cầu đang trong cơn chao đảo, Spivey tới Pennsylvania và nhờ được một anh chàng làm nghề xây dựng chở anh đi dọc tuyến đường lý tưởng của mình. Trong hai ngày, họ cùng nhau dậy từ lúc 5 giờ sáng và lái xe cho đến tận 7 giờ tối. “Khi đi như vậy”, Spivey chia sẻ, “anh sẽ thấy những thị tứ rất nhỏ và những con đường bé xíu, bên này là mép vực, bên kia là vách đá”. Các tuyến đường sắt chạy từ đông sang tây thường vòng lên phía bắc và xuống phía nam để tránh dãy núi. “Bất cứ thứ gì không chạy theo đúng cung đông − tây, và cong thì dù cong ít hay nhiều, tôi đều không thích,” Spivey nói. Những con đường quê nhỏ hữu dụng hơn cho mục đích của anh, nhưng lại bị ép chặt vào địa thế lởm chởm nên chẳng có chỗ nào để đặt cáp quang ngoài việc chạy ngầm bên dưới. “Ta sẽ phải chặn đường để xới tung nó lên”, anh nói.
Anh chàng dân xây dựng đi cùng rõ ràng đã ngờ rằng Spivey mất trí. Nhưng khi bị Spivey hỏi dồn, ngay cả anh ta cũng không thể đưa ra một lý do cho việc tại sao kế hoạch này lại bất khả thi, chí ít là về mặt lý thuyết. Đó là điều mà Spivey mong đợi: một lý do để không làm việc đó. “Tôi chỉ đang cố tìm lý do giải thích cho việc không một nhà cung cấp dịch vụ [viễn thông] nào làm việc đó”, anh nói. “Tôi đã nghĩ: Chắc chắn mình sẽ gặp trở ngại nào đó”. Ngoài ý kiến của anh chàng kỹ sư xây dựng cho rằng chẳng ai minh mẫn lại muốn xuyên dãy Allegheny sừng sững, thì anh không tìm được lý do nào khác.
Đó là khi, như anh nói, “tôi quyết định vượt lằn ranh”. Lằn ranh này tách biệt những anh chàng Phố Wall chuyên mua bán quyền chọn trên các sàn giao dịch Chicago với những người làm trong các cơ quan và phòng Giao thông Vận tải của hạt, những người quản lý các tuyến giao thông công cộng mà một công dân có thể xin đào đường hầm bí mật chạy xuyên qua đó. Spivey tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi: Những quy định về việc đặt cáp quang là gì? Mình cần xin phép ai? Đây cũng là lằn ranh tách biệt dân Phố Wall với những người biết đào hố và đặt cáp. Việc đó sẽ mất bao lâu? Một đội với thiết bị phù hợp có thể đào được bao nhiêu mét đường hầm xuyên núi một ngày? Cần phải dùng loại thiết bị nào? Chi phí bỏ ra có thể là bao nhiêu?
Không bao lâu sau, anh chàng kỹ sư xây dựng Steve Williams ở Austin, Texas nhận được một cuộc gọi bất ngờ. Theo lời kể của Williams, Đó là cuộc gọi của anh bạn tôi. Anh ấy bảo: ‘Tớ có một người bạn cũ có ông anh họ đang gặp chút rắc rối, ông ấy có vài thắc mắc về việc xây dựng.’” Thế rồi đích thân Spivey gọi đến. “Anh ta gọi”, Williams nhớ lại, “hỏi về kích thước hộp bao, loại cáp cần dùng, cách đào trong lòng đất và dưới thềm sông”. Vài tháng sau, Spivey gọi lại hỏi anh có muốn giám sát việc đặt một đường cáp quang dài 80km, bắt đầu từ Cleveland không. “Lúc đó, tôi không biết mình đang sắp bước vào chuyện gì,” Williams nói. Spivey chẳng nói gì thêm với anh về dự án, ngoại trừ những gì anh cần biết để đặt một đường cáp dài 80km. Giữa chừng, Spivey thuyết phục được Jim Barskdale, nguyên là CEO của Netscape Communications và cũng là đồng hương của Jackson tài trợ cho công trình mà Spivey ước tính là một đường hầm trị giá 300 triệu đô-la. Họ đặt tên công ty là Spread Networks, nhưng lại ngụy trang dự án xây dựng này sau các công ty vỏ bọc với những cái tên vô nghĩa như Northeastern Its và Job 8. David Barksdale, con trai của Jim Barksdale, cũng tham gia vào đội ngũ xúc tiến thương thảo, một cách âm thầm hết sức có thể, chừng 400 thỏa thuận mà họ cần tiến hành với các hạt và các thị trấn để có thể đào đường hầm chạy qua những nơi này. Về sau, Williams đã chứng tỏ được tài đi dây ngầm dưới đất đến độ Spivey và Barksdale phải gọi tới và đề nghị anh phụ trách toàn bộ dự án. “Lúc đó họ nói, ‘Này, đường dây này sẽ chạy suốt đến New Jersey đấy,’” Williams kể.
Rời Chicago, đội xây dựng kéo cáp qua Indiana và Ohio. Ngày nào thuận lợi, họ có thể đặt được 2-5km cáp dưới đất. Khi đến phía tây Pennsylvania, họ gặp núi đá và tốc độ giảm xuống, đôi khi chỉ đi được vài trăm mét cáp một ngày. “Người ta gọi nó là dãy núi xanh,” William kể. “Đó là dãy núi đá vôi cứng. Và để xuyên qua được nó quả là một thách thức.” Lúc nào anh cũng chỉ nói đúng một điều với đội xây dựng ở Pennsylvania. “Tôi phải giải thích với họ rằng chúng tôi cần xuyên qua một dãy núi nào đó, và hết người này đến người khác sẽ nói, ‘chuyện đó thật điên rồ’. Tôi đáp: ‘Tôi biết, nhưng chúng ta phải làm thế’. Rồi họ hỏi: ‘Tại sao?’ Và tôi đáp: ‘Đây là tuyến đường thiết kế riêng theo ý chủ sở hữu.’” Với lời đáp ấy, thật ra họ chẳng có gì nhiều để nói, ngoại trừ việc thốt lên: “Ôi trời!” Vấn đề khác của Williams là Spivey. Spivey sẽ nhảy xổ vào anh về những đường vòng dù là ngắn nhất. Chẳng hạn, thỉnh thoảng tuyến đường được phép qua lại sẽ chạy từ phía bên này đường sang phía bên kia đường, và đường dây không thể băng qua con đường theo hướng thẳng tắp được. Những cú băng đường liên tục này khiến Spivey bứt rứt bởi Williams đang tạo ra những khúc ngoặt trái và ngoặt phải đột ngột. “Steve, anh làm tôi mất 100 nano giây rồi đấy,” anh ta sẽ làu bàu như vậy. (Một nano giây là một phần triệu giây). Và: “Anh có thể chí ít là chạy xiên được không?”
Spivey đúng là người hay lo. Anh cho rằng khi một người mạo hiểm, thứ đi chệch hướng thường là thứ mà người đó không nghĩ đến, vì vậy anh cố gắng nghĩ đến những gì mà bình thường anh sẽ chẳng nghĩ đến. Sàn giao dịch Chicago Mercantile có thể đóng cửa và chuyển tới New Jersey. Sông Calumet có thể là nơi không thể vượt qua được. Một “ông lớn” nào đó − một ngân hàng cỡ bự ở Phố Wall, một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông − có thể phát hiện ra việc anh đang làm và bắt chước theo. Nỗi sợ cuối cùng, có ai đó khác đã và đang đào đường hầm chạy thẳng của riêng mình, choán hết tâm trí anh. Tất cả dân xây dựng mà anh nói chuyện đều nghĩ anh mất trí, nhưng anh chắc chắn một điều rằng dãy Allegheny đang đầy những kẻ có chung nỗi ám ảnh với anh. “Khi chuyện gì trở nên rõ ràng với ta”, anh nói, “ta sẽ ngay lập tức nghĩ, chắc chắn là có kẻ khác cũng đang làm việc này.”
Điều anh không hề nghĩ đến là khi đường dây của anh hoàn thành, Phố Wall có thể sẽ không muốn mua nó. Trái lại hoàn toàn: anh nghĩ đường dây sẽ là điểm diễn ra cuộc đổ xô tìm vàng. Có thể vì lý do ấy mà anh và những người hỗ trợ mình không nghĩ nhiều đến việc làm thế nào để bán đường dây ấy cho đến khi thời điểm làm việc đó xảy đến. Đây là việc khá phức tạp. Tốc độ − thứ họ bán − chỉ có giá trị vì nó khan hiếm. Điều mà họ không biết là mức độ khan hiếm để tối đa hóa giá trị thị trường của đường dây này. Đối với một người chơi trên thị trường chứng khoán Mỹ, việc có được lợi thế về tốc độ hơn tất cả những kẻ khác đáng giá như thế nào? Và nó đáng giá bao nhiêu đối với 25 người chơi khác nhau, cùng chia sẻ lợi thế này trước toàn bộ những kẻ còn lại trên thị trường? Để trả lời những câu hỏi kiểu này, sẽ tốt hơn nếu biết nhà giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ có thể kiếm được bao nhiêu tiền thuần túy từ tốc độ, và chính xác thì, họ kiếm được nó như thế nào. “Không ai hay biết về thị trường này,” Spivey nói, “nó rất mù mờ”.
Họ cân nhắc đến phương án tổ chức đấu giá kiểu Hà Lan − tức là bắt đầu bằng một mức giá đặt trước thật cao và giảm dần cho đến khi có hãng ở Phố Wall quyết định mua. Họ không tự tin vào việc có một ngân hàng hay một quỹ đầu tư mạo hiểm nào đó sẽ trả nhiều tỷ đô-la mà theo họ là cái giá xứng đáng cho mặt hàng độc quyền của mình, và họ không thích những dòng tít không thể tránh khỏi trên các tờ báo: Nhà Barksdale kiếm được hàng tỷ đô-la khi bán đứt cho nhà đầu tư thường của Mỹ. Họ tuyển Larry Tabb, một chuyên gia tư vấn đã thu hút được sự chú ý của Jim Barksdale bằng một bài viết có nhan đề: “Giá trị của một mili giây”. Theo Tabb, có một cách để định giá quyền sử dụng đường dây là tìm xem người ta có thể kiếm được bao nhiêu tiền từ nó, từ giao dịch chênh lệch giữa New York và Chicago − nghiệp vụ buôn chênh giá giản đơn giữa tiền mặt và hợp đồng có kỳ hạn. Tabb ước tính nếu một ngân hàng trên Phố Wall khai thác được vô số đợt chênh giá nhỏ giữa Hợp đồng A ở Chicago và Hợp đồng A ở New York, họ sẽ kiếm được 20 tỷ đô-la một năm. Anh còn ước tính xa hơn nữa rằng sẽ có khoảng 400 doanh nghiệp tranh giành nhau để có được 20 tỷ đô-la ấy. Bọn họ đều sẽ cần ở trên đường dây nhanh nhất giữa hai thành phố, và đường dây chỉ có đủ chỗ cho 200 doanh nghiệp trong số đó.
Cả hai ước tính này vui thay đều trùng hợp với cảm nhận của Spivey về thị trường, và anh thường nói bằng giọng hồ hởi thấy rõ: “Chúng ta có 200 chiếc xẻng cho 400 tay đào ‘vàng’.” Nhưng phải tính giá bao nhiêu cho mỗi chiếc xẻng? “Đây chỉ là chuyện nghe ngóng phán đoán mà thôi,” Brennan Carley, người từng hợp tác mật thiết với nhiều nhà giao dịch cao tốc, được Spivey tuyển về để bán mạng lưới của mình cho họ, nhận định. “Tất cả chúng tôi đều chỉ phỏng đoán mà thôi.” Con số mà họ đưa ra là 300.000 đô-la một tháng, gấp khoảng 10 lần giá thuê các đường dây viễn thông hiện tại. 200 người đầu tiên sẵn sàng trả trước và ký hợp đồng thuê 5 năm sẽ được giá hời: tổng cộng là 10,6 triệu đô-la cho 5 năm. Những nhà giao dịch thuê đường truyền của Spread cũng sẽ cần mua và bảo trì các bộ khuếch đại tín hiệu riêng, được đặt ở 13 điểm khuếch đại dọc tuyến. Tổng cộng, chi phí trả trước mà mỗi nhà đầu tư phải bỏ ra sẽ vào khoảng 14 triệu đô-la, tức là 2,8 tỷ đô-la cho 200 nhà đầu tư.
Đến đầu năm 2010, Spread Networks vẫn chưa thông báo tới một khách hàng triển vọng nào về sự tồn tại của mình. Một năm sau khi các công nhân bắt đầu đào xới, điều ngạc nhiên là đường dây này vẫn là một bí mật. Để tối đa hóa giá trị gây sốc của đường dây và giảm thiểu nguy cơ ai đó sẽ tìm cách bắt chước những gì mà mình đang làm, họ quyết định đợi cho đến tháng 3 năm 2010, tức ba tháng trước khi đường dây đến hạn hoàn thành, mới tìm cách bán nó. Nhưng làm sao để tiếp cận những nhân vật giàu có và quyền lực, để giới thiệu về giải pháp sẽ làm khuấy đảo hoạt động kinh doanh của họ đây? “Cách thông thường là tìm một người mà một trong số chúng tôi biết, hiện làm việc ở các hãng này,” Brennan Carley nói. “Chúng tôi sẽ nói: ‘Anh biết tôi rồi đấy. Anh biết Jim Barksdale rồi đấy. Chúng tôi muốn qua chỗ anh trao đổi về món này. Chỉ khi nào đến nơi thì chúng tôi mới có thể nói cho anh biết đó là gì. Và tiện đây, chúng tôi muốn anh ký một bản NDA [thỏa thuận không tiết lộ] trước khi chúng tôi đến.’”
Họ đã đến Phố Wall một cách lén lút như thế. “Cuộc gặp nào cũng có CEO,” Spivey nói. Những nhân vật mà họ gặp nằm trong số những người được trả lương cao nhất thị trường tài chính. Phản ứng đầu tiên của hầu hết những người này là hoàn toàn không tin. “Sau này, mọi người mới cho tôi biết lúc đó họ nghĩ: Chắc chắn là không rồi, nhưng cứ nói chuyện với anh ta xem sao,” Spivey kể. Đoán trước được sự hoài nghi của họ, anh mang theo một tấm bản đồ kích thước 4x8 foot3. Anh di ngón tay chỉ cho họ tuyến đường hầm vắt ngang đất nước mình. Ngay cả khi đó, mọi người vẫn đòi có bằng chứng. Người ta không thể thật sự nhìn thấy đường cáp quang được chôn sâu dưới 1m đất, nhưng các điểm đặt bộ khuếch đại là những boong-ke bằng bê tông, rộng cỡ nghìn foot vuông thì nổi rõ hẳn lên. Ánh sáng yếu dần khi di chuyển; càng yếu, khả năng truyền dữ liệu của nó càng kém. Cứ sau 80-120km, tín hiệu được truyền từ Chicago tới New Jersey lại cần được khuếch đại một lần, và để che chắn cho những bộ khuếch đại thực hiện công việc này, Spread đã xây những boong-ke có cấp độ an ninh cao nhất dọc suốt tuyến đường. “Tôi biết các anh là người ngay thẳng”, một nhà đầu tư nói với họ. “Nhưng tôi chưa từng nghe nói đến các anh. Tôi muốn nhìn thấy ảnh chụp nơi này.” Suốt ba tháng sau đó, ngày nào Spivey cũng gửi cho ông này một bức ảnh chụp điểm đặt khuếch đại gần nhất đang được xây dựng để cho ông ta thấy đúng là nó đang được xây.
Khi sự hoài nghi dần tan biến, hầu hết những nhân vật Phố Wall này chỉ còn biết há hốc mồm kinh ngạc. Lẽ dĩ nhiên, tất cả bọn họ vẫn đặt ra những câu hỏi thông thường. Tôi sẽ được gì khi bỏ ra 14 triệu đô-la cho đủ các loại chi phí này? (Hai sợi cáp thủy tinh, mỗi sợi chạy một hướng). Chuyện gì sẽ xảy ra nếu có một chiếc máy xúc cắt đúng đường dây? (Chúng tôi có người túc trực trên đường dây, sẽ khắc phục và đảm bảo vận hành nó trong 8 giờ). Các anh có kế hoạch dự phòng thế nào nếu đường dây bị hỏng? (Xin lỗi, chúng tôi không có kế hoạch dự phòng nào cả). Khi nào thì các anh có thể cung cấp cho chúng tôi những báo cáo tài chính kiểm toán cho 5 năm mà chúng tôi cần trước khi hợp tác với một doanh nghiệp bất kỳ? (Ừm, 5 năm nữa). Nhưng ngay cả khi đã đặt câu hỏi và đánh dấu vào các ô kiểm, họ vẫn không thể giấu nổi nỗi băn khoăn của mình. Cuộc gặp mà Spivey thích nhất là cuộc gặp với một nhà đầu tư mặt lạnh như tiền ngồi nghe anh nói 15 phút ở phía bên kia của chiếc bàn hội thảo dài, rồi nhảy bật lên và hét to “CHẾT THẬT, CÁI NÀY HAY QUÁ!”
Trong các cuộc gặp này, những điều không được nói ra cũng thú vị chẳng kém những điều được nói ra. Thị trường tài chính đang thay đổi theo những cách mà ngay cả các nhà chuyên môn cũng không hiểu hết. Khả năng mới mẻ − di chuyển ở tốc độ của máy tính thay vì của con người − đã làm nổi lên một tầng lớp giao dịch mới trên Phố Wall, những người tham gia vào các kiểu giao dịch khác hẳn. Những cá nhân và doanh nghiệp vô danh giàu lên nhanh chóng mà không phải giải thích mình là ai và mình đã kiếm tiền bằng cách nào: Họ chính là khách hàng mục tiêu của Spread Networks. Spivey quả thật chẳng muốn tọc mạch vào các chiến lược đầu tư gây chiến của họ. “Chúng tôi chẳng bao giờ muốn để lại ấn tượng như thể chúng tôi đã biết họ kiếm chác từ thị trường này như thế nào”, anh nói. Anh không hỏi và họ cũng không nói. Tuy vậy, phản ứng của nhiều người trong số họ cho thấy toàn bộ sự tồn tại về mặt thương mại của họ phụ thuộc vào việc họ nhanh chân hơn những kẻ còn lại trên thị trường − và rằng bất kể họ đang làm gì, việc đó không đơn giản là bỏ tiền để lấy hợp đồng có kỳ hạn theo kiểu từ bao đời nay. Một vài người trong số họ, nói như Brennan Carley, “sẽ bán cả tông chi họ hàng để đổi lấy một micro giây”. (Một micro giây là một phần triệu giây). Không rõ tại sao tốc độ lại quan trọng như vậy với họ; điều có thể thấy rõ là họ cảm thấy đường truyền mới, nhanh hơn này đang đe dọa mình. Carley nhớ lại: “Họ thường nói: ‘Đợi chút. Nếu chúng tôi muốn tiếp tục thực hiện những chiến lược đang dùng, chúng tôi sẽ phải ở trên đường dây này. Chúng tôi không có lựa chọn nào ngoài việc trả bất kỳ mức giá nào mà các anh đưa ra. Và các anh sẽ bước ra khỏi văn phòng của tôi và đi chào mời với tất cả các đối thủ cạnh tranh của tôi.’” “Nếu muốn tiếp tục thực hiện những chiến lược đang dùng, chúng tôi phải ở trên đường dây này. Chúng tôi không có lựa chọn nào ngoài việc trả bất kỳ mức giá nào mà các anh đưa ra. Và các anh sẽ bước ra khỏi văn phòng của tôi và đi chào mời tất cả các đối thủ của tôi,” Carley nói.
“Tôi sẽ kể cho ông nghe phản ứng của tôi với họ”, Darren Mullholland, người đứng đầu hãng giao dịch cao tần Hudson River Trading, kể. “Tôi đã nói: ‘Biến khỏi văn phòng của tôi ngay’. Tôi không thể tin được là khi đến văn phòng của tôi, thì chỉ còn một tháng nữa là họ đi vào hoạt động. Và họ thậm chí còn không biết khách hàng là ai! Họ chỉ phát hiện ra chúng tôi khi đọc một lá thư mà chúng tôi gửi cho Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC)... Kẻ nào mà lại chọn kiểu kinh doanh mạo hiểm như thế cơ chứ?”
Với 300.000 đô-la một tháng cộng thêm vài triệu đô-la chi phí trả trước, những nhân vật có lẽ đang kiếm được nhiều nhất từ Phố Wall sẽ được hưởng quyền tiếp tục làm những việc mà mình đang làm. “Lúc đó, họ gần như nổi điên lên,” Carley nói. Sau một cuộc gặp gỡ bán hàng, David Barksdale quay sang Spivey và nói: Những tay đó ghét chúng ta. Kỳ cục là Spivey lại thích những cuộc gặp sặc mùi thù địch này. “Thật hay khi có 12 vị ngồi phía bên kia bàn và tất cả đều muốn nổi điên lên với ta”, anh nói. “Cả tá người nói với chúng tôi là chỉ có bốn người mới mua nó và rồi tất cả đều mua.” (Hudson River Trading cuối cùng cũng mua đường truyền này). Brennan Carley nói: “Chúng tôi từng nói ‘Chúng ta không thể để Dan tới cuộc gặp, vì ngay cả nếu họ không có lựa chọn nào, họ cũng sẽ không muốn làm ăn với kẻ làm họ điên tiết.’”
Khi các nhân viên bán hàng của Spread Networks chuyển từ những hãng nhỏ, ít tiếng tăm hơn trên Phố Wall sang những ngân hàng lớn, quang cảnh bên trong thế giới tài chính thời hậu khủng hoảng trở nên hấp dẫn hơn nữa. Điều khó hiểu là Citigroup khăng khăng đòi Spread phải chuyển hướng đường dây từ tòa nhà nằm bên cạnh trụ sở Nasdaq ở Carteret sang văn phòng của họ ở khu hạ Manhattan; những khúc uốn cong và rẽ ngoặt này sẽ làm tăng thêm vài mili giây nữa và sẽ làm đổ bể toàn bộ mục đích của đường dây. Mọi ngân hàng khác đều hiểu giá trị của đường dây nhưng hợp đồng của Spread khiến tất cả họ đều phải khựng lại một lúc. Hợp đồng này cấm bất kỳ bên thuê đường dây nào cho người khác sử dụng đường dây này. Các ngân hàng lớn thuê chỗ trên đường dây có thể sử dụng nó cho các giao dịch độc quyền của riêng mình, nhưng lại không được chia sẻ nó với các khách hàng nhà môi giới của mình. Với Spread, dường như đây là một giới hạn rõ ràng: Càng ít người được cấp quyền sử dụng, đường dây càng có giá trị. Toàn bộ giá trị của đường dây là ở chỗ nó tạo ra một không gian riêng tư trong lòng các thị trường đại chúng, mà chỉ những ai sẵn sàng trả hàng chục triệu đô-la phí vào cửa mới có thể bước vào. “Credit Suisse giận điên lên,” một nhân viên Spread, người đàm phán với các ngân hàng lớn trên Phố Wall, cho biết. “Họ nói, ‘Các anh đang tạo điều kiện cho mọi người lừa khách hàng của họ.’” Nhân viên này cố gắng giải thích rằng không phải như vậy, rằng mọi chuyện phức tạp hơn thế, nhưng cuối cùng Credit Suisse vẫn từ chối ký hợp đồng. Trong khi đó, Morgan Stanley quay lại gặp Spread và nói: Chúng tôi cần các anh thay đổi từ ngữ trong hợp đồng. “Chúng tôi nói, ‘Nhưng các anh đồng ý với các quy định giới hạn chứ?’ Họ nói: ‘Nhất trí, đây chỉ là vấn đề về cách thể hiện trước công chúng thôi.’ Chúng tôi đã phải sửa lại cách dùng từ để họ có một lời từ chối khả dĩ.” Morgan Stanley muốn mình có được khả năng giao dịch cho mình theo cách không thể tiến hành cho khách hàng; nhưng họ lại không muốn cho thấy là họ muốn như thế. Trong số tất cả các ngân hàng lớn trên Phố Wall, Goldman Sachs là đối tác dễ thương thảo nhất. “Goldman không có vấn đề gì với việc ký kết hợp đồng,” anh chàng nhân viên Spread cho biết.
Đúng lúc này − khi các ngân hàng lớn nhất Phố Wall chuẩn bị giậm nhảy vào đường dây, thì đường dây đột nhiên khựng lại.
Có nhiều thách thức suốt tuyến đường. Sau khi rời Chicago, họ đã cố chạy ngầm 120m dưới thềm sông Calumet, nhưng 6 lần thử thì cả 6 lần đều thất bại. Ngay khi định bỏ cuộc và tìm một con đường vòng chậm hơn thì họ gặp một đường hầm có tuổi đời dễ cả trăm năm, đã bị bỏ không 40 năm. Điểm khuếch đại đầu tiên sau khi rời Carteret theo dự định sẽ nằm gần một một trung tâm thương mại ở Alpha, New Jersey. Thế nhưng ông chủ khu đất này nói không. “Ông ta bảo ông ta biết nó sẽ trở thành mục tiêu khủng bố nào đó và không muốn thấy nó ở quanh khu vực này,” Spivey nói. “Ngoài kia luôn có những việc nho nhỏ mà ta phải chú ý đến.”
Pennsylvania tỏ ra là nơi thậm chí còn khó khăn hơn cả hình dung của Spivey. Xuất phát từ phía đông, đường dây chạy tới một khu rừng nhỏ ở Sunbury, ngay bờ đông của sông Susquehanna và dừng lại tại đây, chờ đợi người anh em song sinh từ phía tây. Đường dây xuất phát từ phía tây phải băng qua sông Susquehanna. Khoảng cách từ bờ bên này đến bờ bên kia của con sông quá rộng. Trên thế giới chỉ có một chiếc máy khoan có khả năng khoan được đường hầm dưới thềm sông này − với chi phí thuê là 2 triệu đô-la. Tháng 6 năm 2010, chiếc máy này đang ở Brazil. “Chúng ta cần một chiếc máy khoan hiện ở Brazil,” Spivey nói. “Ý tưởng đó khiến mọi người phát hoảng. Rõ ràng là có người đang dùng máy khoan. Vậy khi nào chúng tôi mới có thể dùng nó đây?” Phút chót, họ thuyết phục được các nhà quản lý cầu đường từng có ý kiến phản đối ở Pennsylvania và được phép băng qua sông theo đường cầu − bằng cách khoan lỗ qua các tháp bê tông và chạy cáp phía dưới cầu.
Đến lúc này vấn đề kỹ thuật lại nhường chỗ cho vấn đề xã hội. Rời cây cầu, con đường phân thành hai ngả; một ngả chạy lên phía bắc; một ngả chạy xuống phía nam. Nếu cố chạy đúng hướng đông, nó sẽ vấp phải đường cụt. Con đường dừng lại tại đó, gần một tấm biển cạnh con đê, trên có dòng chữ “Chào mừng tới Sunbury”. Hai bãi xe lớn đã chặn đường đi của đường dây, một thuộc về một công ty sản xuất cáp thép; một thuộc sở hữu của một cửa hàng bách hóa đã trăm năm tuổi tên là Weis Markets. Để gặp được người anh em song sinh của mình ở rừng Sunbury, đường dây phải đi qua một trong hai bãi xe, hoặc phải làm một vòng quanh thành phố. Chủ sở hữu của cả hai bãi xe đều tỏ thái độ không thiện chí, hoặc hoài nghi, hoặc cả hai; họ không đáp lại các cuộc gọi. “Cả bang đang bị các công ty than đá lạm dụng khai thác,” Steve Williams giải thích. “Thế cho nên khi ta nói ta muốn đào bới, mọi người sẽ nghi ngờ.”
Spivey tính, nếu phải đi vòng thay vì đi xuyên qua thành phố, họ sẽ mất vài tháng và tốn nhiều tiền hơn, đồng thời đường truyền của anh sẽ mất thêm 4 micro giây nữa. Nó cũng sẽ cản trở, không cho Spread Networks cung cấp dịch vụ cáp đúng thời hạn cho các ngân hàng và nhà đầu tư Phố Wall đã sẵn sàng viết tấm séc 10,6 triệu đô-la để thuê nó. Tuy nhiên, vị điều hành nhà máy cáp thép không hiểu vì lý do gì lại giận nhà thầu địa phương của Spread đến độ không buồn nói chuyện với họ. Vị điều hành Weis Markets thậm chí còn khó tiếp cận hơn. Thư ký của ông này nói với Spread rằng ông ta đang tham dự một giải đấu golf và không rảnh để gặp họ. Ông ta cũng đã quyết định − mà không thông báo với Spread Networks − rằng sẽ từ chối đề nghị có phần lạ lùng trị giá cỡ cả trăm nghìn đô-la, cộng thêm khả năng truy cập Internet tốc độ cao để đổi lấy quyền đi qua một đoạn chừng 3m dưới bãi xe của ông ta. Đường dây chạy quá gần nhà máy làm kem, và vị chủ tịch hội đồng quản trị thì không mấy hứng thú với việc ký bán đứt quyền đi qua đó, bởi nó có thể sẽ cản trở việc mở rộng nhà máy kem sau này.
Tháng 7 năm 2010, đường dây dừng lại ngay dưới cây cầu ở Sunbury. “Chúng tôi có tất cả đường cáp ở ngoài kia và chúng tôi cần nó gặp nhau nhưng lại không thể,” Spivey nói. Sau đó, vì một lý do khó hiểu nào đó, những người ở công ty cáp thép lại xuôi xuôi. Họ bán cho anh quyền đi qua mà anh cần. Một ngày sau khi mua được quyền sử dụng vĩnh viễn tuyến đường rộng 3,04m, chạy dưới bãi xe của nhà máy cáp thép, Spread Networks phát đi thông cáo báo chí đầu tiên: “Thời gian gửi đi − nhận về từ Chicago tới New Jersey giảm còn 13 mili giây.” Họ đặt mục tiêu không đi quá 1.351km; và đường dây dài 1.330km. “Đó là khoảnh khắc cả ngành phải thốt lên ‘cái quái gì thế này!’” Spivey nói.
Ngay cả khi đó, không một nhà sáng lập nào của đường dây biết chắc nó sẽ được sử dụng như thế nào. Câu hỏi lớn nhất về đường dây − Tại sao? − vẫn còn chưa được khám phá hết. Tất cả những gì mà các nhà sáng lập đường dây biết là những tay trên Phố Wall mà đã muốn có nó là muốn có cho bằng được – và cũng muốn tìm mọi cách để kẻ khác không có được nó. Trong cuộc gặp gỡ ban đầu với một hãng khủng ở Phố Wall, Spivey cho ông chủ hãng biết giá thuê đường dây nếu trả trước là 10,6 triệu đô-la cộng thêm chi phí, và chừng 20 triệu đô-la nếu ông ta trả góp. Ông chủ hãng nói ông ta muốn đi ra ngoài suy nghĩ một chút. Rồi sau đó, ông ta trở lại với đúng một câu hỏi: “Anh có thể nâng giá lên gấp đôi không?”

