Cuộc Nổi Dậy Ở Phố Wall - Chương 2
Vấn đề của Brad
Cho đến tận lúc hệ thống tài chính Mỹ sụp đổ, Brad Katsuyama có thể tự nhủ anh không có bất cứ trách nhiệm nào với hệ thống đó. Lúc đầu, anh làm cho Ngân hàng Hoàng gia Canada (RBC). RBC có lẽ là ngân hàng lớn thứ chín trên thế giới, nhưng không mấy ai ở Phố Wall biết về sự tồn tại nó. Ngân hàng này hoạt động ổn định và khá là có đạo đức, chẳng mấy chốc nó nổi tiếng vì đã cưỡng lại sức cám dỗ cho người Mỹ vay dưới chuẩn với lãi suất cao ngất ngưởng, hay chào những khoản vay này tới các nhà đầu tư ngu ngơ. Tuy nhiên, ban quản trị ngân hàng không hiểu rằng ngân hàng mình chỉ là nơi cuối cùng được nghĩ đến − trong những dịp hiếm hoi mà các nhà tài phiệt Mỹ nghĩ đến họ. Năm 2002, Brad 24 tuổi, được các sếp điều động từ Toronto tới New York, dự phần vào “cú thúc lớn” để [ngân hàng] trở thành một đấu thủ trên Phố Wall. Sự thật đáng buồn về cú thúc lớn là gần như chẳng có ai chú ý đến nó. Nói như một một giao dịch viên nhảy từ Morgan Stanley sang RBC, “Khi tôi đến đó, mọi chuyện giống như ‘Chết tiệt, chào mừng đến với chốn con con!” Brad thì tự nhủ: “Ở Canada, mọi người cứ nói ‘Chúng ta đang phải trả quá nhiều cho mấy tay ở Mỹ.’ Điều mà họ không nhận ra là lý do mình phải trả quá nhiều là vì không ai muốn làm cho RBC. RBC chẳng là gì ở đây.” Mọi chuyện cứ như thể người Canada đã dồn hết can đảm để tham gia diễn thử một vai trong vở kịch của trường, rồi xuất hiện trong vở kịch đó với bộ đồ củ cà rốt vậy.
Trước khi được phái đến dự phần vào cú thúc lớn, Brad chưa bao giờ để mắt đến Phố Wall hay thành phố New York. Vậy nên đó là khóa học hòa mình vào lối sống Mỹ đầu tiên của anh và ngay lập tức, anh vô cùng kinh ngạc trước sự khác biệt giữa lối sống ở đây và ở Canada. “Mọi thứ đều quá độ,” anh nói. “Chỉ trong một năm ở đây, tôi đã gặp được số người hiếu chiến nhiều hơn hẳn số người hiếu chiến mà tôi đã gặp trong suốt cuộc đời. Mọi người tiêu xài nhiều hơn những gì họ có bằng cách vay nợ. Đó là điều khiến tôi choáng váng nhất. Nợ là một khái niệm xa lạ ở Canada. Nợ giống như con quỷ dữ. Trong đời mình, tôi chưa từng nợ nần ai. Tôi đến đây, và một anh chàng môi giới bất động sản nói với tôi: Với số tiền mà anh kiếm được, anh có thể mua một căn hộ giá 2,5 triệu đô-la ở đây đấy.’ Thật điên rồ! Ở Mỹ, ngay cả người vô gia cư cũng tiêu xài hoang phí. Ở Toronto, sau bữa tiệc của ngân hàng, Brad thường gom đồ thừa, để vào khay thiếc, rồi mang cho một người vô gia cư mà ngày nào anh cũng thấy trên đường đi làm. Người đàn ông đó lúc nào cũng rất cảm kích. Khi tới New York, số người vô gia cư mà anh nhìn thấy trong một ngày nhiều hơn hẳn so với số người mà anh nhìn thấy trong một năm ở quê nhà. Sau các bữa trưa ở New York, khi không ai để ý, anh lại gói chỗ đồ ăn thừa chưa ai đụng vào và đưa cho những người trên đường. “Họ nhìn tôi như thể, ‘Thằng cha này đang làm cái quái gì vậy?’” anh kể. “Tôi ngừng làm việc này vì tôi có cảm giác chẳng ai thèm quan tâm.”
Brad còn nhận thấy rằng ở Mỹ, mọi người trông đợi anh chấp nhận sự khác biệt giữa anh và những người khác, điều mà anh chẳng để ý tới khi còn ở Canada. Hồi nhỏ, anh là một trong số rất ít đứa trẻ châu Á sống trong một khu ngoại ô nhiều người da trắng ở Toronto. Hồi Thế Chiến II, ông bà người Canada gốc Nhật của anh bị giam trong các trại tù ở phía tây Canada. Brad chưa bao giờ đề cập đến điều này hay bất kỳ điều gì khác liên quan đến sắc tộc với bạn bè mình và rốt cuộc họ đều nghĩ về anh như một người không có bản sắc chủng tộc. Sự thiếu quan tâm rất mực thành thực của anh đối với chủ đề này chỉ trở thành vấn đề sau khi anh đến New York. Lo ngại rằng ngân hàng cần phải làm nhiều hơn nữa để thúc đẩy sự đa dạng, RBC đã mời Brad cùng một nhóm nhân viên không phải là người da trắng khác tham dự một cuộc họp để thảo luận về vấn đề này. Theo lượt vòng quanh bàn, mọi người đáp lại yêu cầu “kể về trải nghiệm của bạn khi là một người thuộc nhóm thiểu số ở RBC.” Khi đến lượt Brad, anh nói “thành thật mà nói, lần duy nhất mà tôi cảm thấy mình là người thiểu số chính là lúc này. Nếu muốn khuyến khích sự đa dạng, các vị không nên khiến mọi người cảm thấy mình là người thiểu số.” Rồi anh bỏ đi. Nhóm tiếp tục họp mà không có anh.
Tình tiết quan trọng này nói lên nhiều điều về anh cũng như ngôi nhà mới của anh. Từ khi còn nhỏ, bằng bản năng hơn là suy nghĩ có ý thức, anh luôn chống lại những lực lượng cố tách anh ra khỏi bất kỳ nhóm nào mà anh cảm thấy mình thuộc về. Năm anh lên 7 tuổi, mẹ anh bảo anh rằng, mọi người đánh giá anh là đứa trẻ tài năng và bà muốn cho anh đi học trường năng khiếu. Anh nói với mẹ, mình muốn ở lại với bạn bè và tiếp tục học ở ngôi trường bình thường. Lên trung học, huấn luyện viên luôn nghĩ anh có thể trở thành ngôi sao (anh chạy cự li 40m trong 4,5 giây) cho đến tận khi anh nói với huấn luyện viên rằng anh thích chơi thể thao đồng đội hơn − anh trung thành với hockey và bóng đá. Rời trung học với vị trí nhất lớp, anh có thể xin học bổng vào bất kỳ trường đại học nào: anh không chỉ là học sinh xuất sắc nhất mà còn là hậu vệ có phẩm chất của một cầu thủ đại học và một nghệ sĩ dương cầm tài năng. Nhưng thay vì thế, anh lại chọn theo người bạn gái và các đồng đội trong đội bóng tới học tại Wilfrid Laurier, ngôi trường cách Toronto khoảng một giờ chạy xe. Sau khi tốt nghiệp Laurier, với phần thưởng dành cho sinh viên xuất sắc nhất chương trình kinh doanh, anh bắt đầu sự nghiệp bằng công việc giao dịch cổ phiếu tại Ngân hàng Hoàng gia Canada − không phải vì anh thích thị trường chứng khoán, mà vì anh không biết nên làm gì khác để kiếm sống. Thực sự trước đó anh chưa hề nghĩ đến việc anh muốn làm gì khi lớn lên, hay chuyển đến một nơi nào đó khác hẳn, thay vì tiếp tục ở bên những người bạn thiếu thời, cho đến khi bị đặt vào tình thế buộc phải suy nghĩ. Điều mà anh thích ở sàn giao dịch của RBC đó là, ngoài việc nó mang đến cho anh cảm giác năng lực phân tích của anh được tưởng thưởng, thì nó còn gợi cho anh nhớ đến hình ảnh của căn phòng thay đồ. Một nhóm khác, mà lẽ tự nhiên anh thấy mình thuộc về.
Sàn giao dịch RBC ở One Liberty Plaza nhìn ra những hố lõm từng là Toà Tháp đôi (Twin Tower) sừng sững. Khi Brad đến, hãng vẫn đang tiến hành các nghiên cứu về chất lượng khí để xác định xem không khí ở đây có an toàn cho các nhân viên của mình không. Cuối cùng, họ cũng dần quên những gì đã xảy ra ở nơi này; chiếc hố lõm trong lòng đất trở thành quang cảnh quen mắt đến nỗi nhìn vào như không.
Trong những năm đầu tiên ở Phố Wall, Brad mua bán các cổ phiếu năng lượng và công nghệ của Mỹ. Anh có một số ý tưởng khá sắc sảo về cách thức tạo ra thứ mà anh gọi là “thị trường hoàn hảo”, chúng hiệu quả đến độ anh được thăng chức lên vị trí điều hành phòng giao dịch cổ phiếu với khoảng chừng 20 nhà giao dịch. Sàn giao dịch của RBC có cái mà các nhân viên ở đây thích gọi là “quy tắc không-khốn-nạn”; nếu ai đó xuất hiện trước để cửa tìm việc và ăn nói như thể một tên khốn điển hình ở Phố Wall, họ sẽ không tuyển anh ta, bất kể anh ta nói mình có thể mang về cho hãng bao nhiêu tiền. Thậm chí, họ còn có cả một cụm từ riêng để miêu tả văn hóa này: “người RBC tử tế”. Mặc dù Brad thấy cụm từ này tự kiêu kiểu Canada đến phát ngượng, nhưng anh cũng là một người RBC tử tế. Với anh, cách quản lý con người hay nhất là thuyết phục họ tin rằng ta có lợi cho sự nghiệp của họ. Cách duy nhất để khiến mọi người tin rằng ta có lợi cho sự nghiệp của họ là hỗ trợ đắc lực cho sự nghiệp ấy. Những suy nghĩ này đến với anh một cách tự nhiên bởi chúng đã quá đỗi rõ ràng.
Brad không thấy có mâu thuẫn nào giữa con người mình và công việc anh làm để kiếm sống. Anh đã nghĩ rằng mình có thể là một nhà giao dịch của Phố Wall mà không để nó gây tác động, dù là nhỏ nhất, lên thói quen, sở thích, thế giới quan hay tính cách của mình. Và trong suốt những năm đầu tiên sống ở Phố Wall, có vẻ như anh đã đúng. Chỉ đơn giản là chính mình thôi, anh cũng đã có được thành công lớn ở đây. “Nhân dạng của anh ấy ở RBC New York rất đơn giản,” một đồng nghiệp cũ của Brad nhận định. “Brad là con cưng. Mọi người nghĩ rằng rồi cuối cùng anh ta sẽ điều hành ngân hàng.” Trong gần như suốt cuộc đời mình, Brad Katsuyama đã tin tưởng hệ thống này; và đáp lại, hệ thống đó cũng tin tưởng anh. Chính điều này khiến anh đặc biệt bị động trước việc mà hệ thống đó sắp gây ra cho anh.
Rắc rối bắt đầu xảy đến với anh vào cuối năm 2006, sau khi RBC bỏ ra 100 triệu đô-la để mua một hãng giao dịch chứng khoán điện tử tên là Carlin Financial. Brad cho rằng trong lúc hấp tấp, các sếp của anh ở Canada đã mua Carlin mà không biết gì nhiều về nó cũng như về giao dịch điện tử. Theo phong cách mà anh thấy là điển hình, người Canada rất chậm chạp khi đáp lại một thay đổi lớn trên các thị trường tài chính; nhưng khi cảm thấy buộc phải hành động, họ lại hoảng loạn. “Ngân hàng này được điều hành từ Canada bởi những người Canada,” một giám đốc cũ của RBC nói. “Họ không có một chút ý niệm dù là nhỏ nhất nào về mọi ngóc ngách ở Phố Wall.”
Khi mua Carlin, họ được học một khóa cấp tốc. Ngay lập tức, Brad thấy mình đang làm việc sát cánh với một nhóm các nhà giao dịch người Mỹ, những người khó hòa nhập với văn hóa RBC nhất. Ngày đầu tiên sau cuộc sáp nhập, Brad nhận được cuộc gọi của một nữ nhân viên đang vô cùng lo lắng, cô thì thào: “Ở đây có một tay mặc quần dây đeo, đi vòng quanh với cây gậy bóng chày trong tay, vung qua vung lại.” Hóa ra đó là người sáng lập kiêm CEO của Carlin, Jeremy Frommer, người mà dù thuộc kiểu nào, thì chắc chắn cũng không thuộc nhóm người RBC tử tế. Một trong các tư thế đặc trưng của Frommer là gác chân lên bàn, khua gậy bóng chày vùn vụt trên đầu trong khi một anh chàng đánh giày khốn khổ đang cố đánh bóng giày cho anh ta. Một tư thế khác của anh ta là tìm chỗ vắt vẻo trên sàn giao dịch và cao giọng về kẻ có thể bị sa thải lần tới. Khi về lại trường cũ, Đại học Albany, để chia sẻ với các sinh viên kinh doanh về bí quyết thành công của mình, Frommer thậm chí còn nói: “Việc tôi bay ở khoang hạng nhất là không đủ. Tôi cần phải biết những người bạn mình đang bay ở khoang giá rẻ nữa.” “Jeremy là người hành động theo cảm xúc, hay thay đổi và to tiếng − tất cả những điểm mà không một người Canada nào có,” một nhân vật từng là nhà điều hành cấp cao của RBC cho biết. “Đối với tôi, Toronto giống như một đất nước xa lạ,” sau này Frommer nói. “Những người ở đó không có cùng nền văn hóa với chúng tôi. Họ áp dụng một phương pháp quá hàn lâm khi tiếp cận Phố Wall. Đó là một thế giới quá khác. Đối với tôi, đó là một sự điều chỉnh khó khăn.”
Lễ Giáng sinh đầu tiên sau khi hai hãng sáp nhập, Jeremy Frommer nhận tổ chức một bữa tiệc cho văn phòng. Trước đó, các bữa tiệc Giáng sinh của RBC luôn là một sự kiện trầm lặng. Frommer thuê ngay Marquee, một hộp đêm ở Manhattan. “RBC không vui chơi ở Marquee,” một cựu nhân viên của RBC nói. “Mọi người đều kinh ngạc và tỏ vẻ không tán thành,” một người khác nói. “Chúng tôi trông như thể đang đứng trong một quán bar dọc dãy hành lang của một khách sạn ở Vegas. Có mấy cô lượn vòng quanh, gần như khỏa thân, bán xì gà. Tôi hỏi, ‘Tất cả những người này là ai vậy?’” Từ trước tới nay, cái ngân hàng Canada lạc hậu này luôn miễn dịch khỏi những căn bệnh thông thường của Phố Wall, vậy mà Frommer lại đưa một đám người chưa miễn dịch vào đây. “Cánh phụ nữ ở Carlin có vẻ ngoài rất khác so với cánh phụ nữ ở RBC,” một nhân viên giao dịch cũ của RBC tế nhị nhận xét. “Ta sẽ có cảm giác rằng họ được tuyển về vì họ nóng bỏng.” Đi cùng với Carlin là một phòng ồn ào gồm toàn những nhà đầu tư ngắn hạn, một số trong đó còn có hồ sơ tội phạm ở khắp các phòng cảnh sát tài chính, số khác thì suýt phải kết thúc cuộc đời sau chấn song sắt nhà tù vì các vi phạm tài chính.4 “Carlin là những gì mà tôi luôn hình dung về một công ty lừa đảo,” một nhân viên khác từng làm giao dịch cho RBC nói. “Đủ các thể loại người,” một người khác nữa nói. Cứ như thể có một nhóm các nhân vật ưu tú của Phố Wall trong thập niên 1980 đã va đúng phải chiếc máy thời gian và như một trò chơi khăm, lại bấm nút hạ cánh vào đúng vào cái tỉnh bặt thiệp và cư xử đúng mực nhất ở Canada rồi quăng mình vào đó. Nếu người RBC ngồi vào bàn làm việc lúc 6 giờ 30 phút, thì mấy tay Carlin phải đến 8 giờ 30 phút mới lê lết đến với bộ dạng bệ rạc. Nếu người RBC chừng mực và lịch thiệp, thì mấy kẻ ở Carlin lại xấc xược và ồn ào. “Họ không nói dối thì cũng thổi phồng quá mức về mối quan hệ với khách hàng,” một nhân viên bán hàng hiện đang làm ở RBC cho biết. “Họ luôn nói kiểu: ‘Ừ, đúng đấy, tôi phụ trách quỹ đầu tư mạo hiểm khổng lồ John Paulson, và tôi rất thân với họ.’ Và khi bạn gọi điện cho Paulson, họ sẽ gần như chỉ mới nghe nói đến anh chàng đó lần đầu.”
Vì những lý do mà Brad không tài nào hiểu hết, RBC một mực yêu cầu anh phải chuyển toàn bộ phòng giao dịch chứng khoán của RBC ở gần khu Trung tâm Thương mại Thế giới đến tòa nhà của Carlin ở khu Midtown. Việc này khiến anh rất khó chịu. Anh có ấn tượng rõ mồn một rằng các sếp ở Canada đã quyết định giao dịch điện tử sẽ là tương lai của mình, dù họ không hiểu tại sao lại thế và thậm chí thế có nghĩa là gì. Bị sáp nhập vào văn phòng của Carlin, người RBC chẳng mấy chốc phải nghe đi nghe lại bài diễn thuyết về tình trạng thị trường tài chính của Frommer. Anh ta thường đứng trước màn hình máy tính phẳng treo trên tường. “Anh ta đứng dậy và nói thị trường bây giờ hoàn toàn xoay quanh tốc độ,” Brad kể. “‘Giao dịch hoàn toàn xoay quanh tốc độ.’ Và rồi anh ta nói: ‘Tớ sẽ cho các cậu thấy hệ thống của chúng ta nhanh đến cỡ nào.’ Anh ta có một tay đứng ngay cạnh với chiếc bàn phím máy tính. Anh ta nói với tay đó ‘nhập lệnh!’ Và tay đó nhấn Enter. Và lệnh xuất hiện trên màn hình, thế là tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy. Rồi Frommer tiếp ‘Đấy! Thấy chứ! Mọi người thấy nó nhanh chưa!!!’” Tất cả những gì mà tay kia làm là gõ tên một cổ phiếu lên bàn phím và cái tên đó sẽ hiện trên màn hình, hệt như khi ta đánh máy thì chữ sẽ hiện lên màn hình vậy. “Rồi anh ta nói tiếp ‘Làm lại nào!’ Và tay kia lại nhấn phím Enter trên bàn phím lần nữa. Và tất cả mọi người đều gật gật. Đó là lúc 5 giờ chiều. Thị trường đang đóng cửa; chẳng có gì xảy ra. Nhưng anh ta thì ra vẻ kiểu như ‘Ôi trời ơi, nó đang xảy ra đây này!’ còn tôi thì tỏ rõ thái độ không tin. Brad đã nghĩ: Cái gã vừa bán cho chúng ta nền tảng giao dịch điện tử mới này hoặc là không biết rằng màn trình diễn kỹ thuật điêu luyện của mình thật lố bịch, hoặc tệ hơn, gã ta nghĩ chúng ta ngù ngờ.
Thật tình cờ, gần như đúng lúc Jeremy Frommer bước vào cuộc đời của Brad, thị trường chứng khoán Mỹ bắt đầu hoạt động một cách kỳ cục. Trước khi RBC mua lại hãng giao dịch điện tử được cho là tiên tiến này, các máy tính của Brad đều hoạt động tốt. Vậy mà đột nhiên lúc này, chúng lại không chạy được nữa. Trước khi buộc phải sử dụng phần nào công nghệ của Carlin, Brad luôn tin tưởng các màn hình giao dịch của mình. Khi màn hình giao dịch cho biết có 10.000 cổ phiếu của Intel đang được bán với giá 22 đô-la một cổ phiếu, điều đó có nghĩa là anh có thể mua 10.000 cổ phiếu của Intel với giá 22 đô-la một cổ phiếu. Anh chỉ cần nhấn một nút là xong. Nhưng đến mùa xuân năm 2007, khi màn hình cho biết có 10.000 cổ phiếu của Intel đang được bán với giá 22 đô-la và anh nhấn nút, lời chào bán đã biến mất. Trong bảy năm làm nghề giao dịch chứng khoán, anh luôn có thể nhìn vào các màn hình trên bàn làm việc của mình và thấy được thị trường chứng khoán. Giờ thì thị trường xuất hiện trên màn hình của anh chỉ là ảnh ảo.
Vấn đề này quả thật hệ trọng. Trong vai trò nhà giao dịch, nhiệm vụ chính của Brad là đứng giữa các nhà đầu tư muốn mua/bán số lượng lớn cổ phiếu và thị trường đại chúng (gồm Sàn Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE) và Sàn Giao dịch Nasdaq), nơi nắm giữ khối lượng giao dịch nhỏ hơn. Một nhà đầu tư có thể muốn bán một lô 3 triệu cổ phiếu của IBM; thường thì các thị trường sẽ chỉ có nhu cầu mua 1 triệu cổ phiếu; Brad sẽ mua cả lô, rồi bán lẻ ngay lập tức 1 triệu cổ phiếu đó và khéo léo dỡ nốt 2 triệu cổ phiếu kia trong vài giờ tiếp theo. Nếu không biết thị trường thật sự đang như thế nào, anh không thể định giá được khối cổ phiếu lớn kia. Trước đây, anh cung cấp tính thanh khoản cho thị trường; còn hiện giờ bất cứ điều gì xảy ra trên màn hình máy tính đều làm giảm sự sẵn lòng làm việc đó nơi anh. Khi không thể đánh giá được các rủi ro của thị trường, anh không còn vui vẻ đưa ra phán đoán như trước nữa.
Tháng 6 năm 2007, vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng, đến độ không thể nhắm mắt cho qua. Flextronics, một công ty điện tử của Singapore, tuyên bố ý định mua một đối thủ nhỏ hơn, Solectron, với giá không quá 4 đô-la một cổ phiếu. Một nhà đầu tư lớn gọi cho Brad và nói ông muốn bán 5 triệu cổ phiếu của Solectron. Thị trường chứng khoán đại chúng thể hiện tình trạng hiện tại của thị trường. Chẳng hạn, giả sử giá của Solectron là 3,70-3,75, tức là ta có thể bán Solectron với giá 3,70 đô-la hoặc mua cổ phiếu của hãng này với giá 3,75 đô-la. Vấn đề là với các mức giá này, chỉ có 1 triệu cổ phiếu được đặt mua và chào bán. Nhà đầu tư lớn muốn bán 5 triệu cổ phiếu của Solectron kia gọi cho Brad vì ông muốn Brad mạo hiểm với 4 triệu cổ phiếu nữa. Và vì vậy, Brad đã mua cả lô cổ phiếu này với giá 3,65 đô-la, thấp hơn một chút so với giá trên thị trường đại chúng. Nhưng khi anh quay lại thị trường đại chúng − thị trường trên màn hình giao dịch, giá cổ phiếu lập tức biến đổi như thể thị trường đã đọc được suy nghĩ của anh. Thay vì bán 1 triệu cổ phiếu với giá 3,70 đô-la như anh tưởng lúc đầu, anh chỉ bán ra được vài trăm nghìn cổ phiếu là đã châm ngòi cho một cú sụt nho nhỏ ở giá cổ phiếu Solectron. Cứ như thể có ai đó biết anh đang cố làm gì và phản ứng với khao khát bán cổ phiếu của anh trước khi anh thể hiện rõ điều đó. Đến khi anh bán được toàn bộ chỗ 5 triệu cổ phiếu, với mức giá thấp hơn 3,70 đô-la rất nhiều, anh đã mất một gia tài nho nhỏ.
Anh không hiểu được chuyện này. Anh biết mình có thể làm thay đổi phần nào giá của một cổ phiếu không được giao dịch thường xuyên khi đáp ứng nhu cầu của người trả giá cao nhất. Nhưng trong trường hợp của Solectron, cổ phiếu của một công ty sắp được một công ty khác tiếp quản ở một mức giá mà ai cũng biết lại được giao dịch rất mạnh. Cung và cầu ở khoảng giá rất hẹp đó lớn là điều dễ hiểu; chỉ có điều đáng lẽ nó không nên biến động nhiều như thế. Đáng lẽ người mua trên thị trường không biến mất ngay khi anh đang cố bán. Lúc này, anh làm cái việc mà đa phần mọi người thường làm khi họ không hiểu tại sao máy tính của mình không hoạt động như mong đợi: anh gọi đội hỗ trợ kỹ thuật. “Nếu bàn phím của anh bị hỏng, đây là đội sẽ đến thay nó.” Giống như mọi đội hỗ trợ kỹ thuật, giả định đầu tiên của họ là Brad không biết mình đang làm gì. “‘Lỗi người dùng’ là thứ mà họ sẽ ném vào mặt anh. Họ chỉ nghĩ, chúng tôi, những tay giao dịch, là một đám ngu ngốc.” Anh giải thích với họ rằng anh chỉ nhấn phím Enter trên bàn phím. Thật khó mà làm sai chuyện đó được.
Khi ai cũng thấy rõ rằng vấn đề phức tạp hơn chuyện lỗi của người dùng, việc giải quyết nó được đẩy lên một tầm cao mới. “Họ cử đến chỗ tôi những anh chàng phụ trách sản phẩm, những người đã mua và cài đặt hệ thống và chí ít thì họ cũng nghe có vẻ như là các nhà công nghệ.” Anh giải thích rằng màn hình của anh thường tái hiện khá chuẩn xác thị trường chứng khoán thực tế nhưng giờ thì không còn như thế nữa. Đáp lại, anh chỉ nhận được những cái nhìn chằm chằm. Cuối cùng, anh lớn tiếng phàn nàn đến độ họ cử các lập trình viên đến, những người đến RBC trong cuộc mua lại Carlin. “Chúng tôi thường nghe nói họ có một phòng đầy những anh chàng người Ấn và người Hoa. Ta hiếm khi thấy họ trên sàn giao dịch. Họ thường được gọi là ‘con gà đẻ trứng vàng’.” Ngân hàng không muốn những con gà đẻ trứng vàng của mình bị phân tâm và khi mấy tay này đến, họ mang theo không khí của những người đang trên đường thi hành sứ mệnh quan trọng nào đó. Họ cũng giải thích với Brad rằng anh, chứ không phải cái máy, mới là vấn đề. “Họ bảo đó là vì tôi sống ở New York, còn thị trường thì ở New Jersey, nên dữ liệu về máy tôi bị chậm. Rồi họ nói toàn bộ chuyện này là do có hàng ngàn người giao dịch trên thị trường. Họ bảo: ‘anh không phải là người duy nhất đang giao dịch. Hơn nữa, còn nhiều sự kiện, tin tức khác cũng truyền qua kênh đó.’”
Anh hỏi họ, nếu thực là vậy, tại sao thị trường của một cổ phiếu bất kỳ chỉ cạn kiệt khi anh cố mua nó? Để nói rõ ý mình, anh yêu cầu các lập trình viên đứng theo dõi trong khi anh giao dịch. “Tôi bảo: ‘Xem kỹ nhé. Tôi sẽ mua 100.000 cổ phiếu của Amgen. Tôi sẵn sàng trả 48 đô-la cho một cổ phiếu. Hiện tại có 100.000 cổ phiếu của Amgen đang được chào bán với giá 48 đô-la một cổ phiếu − 10.000 cổ phiếu trên BATS, 35.000 cổ phiếu trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, 30.000 trên Nasdaq và 25.000 trên Direct Edge.’ Các anh có thể nhìn thấy tất cả trên màn hình. Chúng tôi ngồi đó, nhìn chằm chằm vào màn hình và tôi đưa tay lên phím Enter. Tôi đếm to tới 5...
“‘một...
“’hai... đấy nhé, chưa có gì xảy ra cả.
“’ba... giá chào bán vẫn là 48 đô-la...
“‘bốn... vẫn không có gì nhúc nhích nhé.
“’Năm.’ Rồi tôi nhấn phím Enter và − bùm! − mọi thứ đột nhiên chao đảo. Các chào bán đồng loạt biến mất và giá cổ phiếu tăng vọt.”
Rồi anh quay lại nhìn những anh chàng đang đứng phía sau mình và nói: “Các anh thấy đấy, tôi chính là sự kiện. Tôi là tin tức.” Các anh chàng phát triển im lặng.
“Họ tỏ thái độ kiểu như: ‘Ồ, đúng thật. Để tôi tìm hiểu chuyện này xem sao.’ Rồi họ lặn mất tăm.” Anh có gọi họ một vài lần, nhưng “nhận ra họ không hề tìm cách giải quyết vấn đề này, thế nên, tôi để họ được yên.”
Brad ngờ rằng thủ phạm chính là công nghệ của Carlin mà RBC đã cài đặt vào các máy giao dịch của anh. “Vì vấn đề thị trường này ngày một tệ hơn”, anh nói “nên tôi bắt đầu đồ rằng vấn đề nằm ở chỗ công nghệ của họ thật tồi tệ.” Một kiểu hành vi được xác lập: hễ khi nào anh cố gắng phản ứng với thị trường trên màn hình, thị trường sẽ dịch chuyển. Và chuyện này không chỉ xảy ra với riêng mình anh, tất cả các nhân viên giao dịch của RBC đều gặp tình huống tương tự. Ngoài ra, vì một lý do mà anh không hiểu hết, mức phí mà RBC phải trả cho các sàn giao dịch chứng khoán đột nhiên tăng vọt. Cuối năm 2007, Brad tiến hành một nghiên cứu so sánh những gì xảy ra trên sổ sách giao dịch của mình với những gì đáng lẽ phải xảy ra, hoặc những gì từng xảy ra khi thị trường cổ phiếu hiển thị trên màn hình giao dịch thực sự là thị trường mà anh thấy. “Sự khác biệt đối với chúng tôi là hàng chục triệu đô-la thua lỗ cộng thêm chi phí,” anh nói. “Chúng tôi đang làm thất thoát tiền.” Các sếp ở Toronto triệu anh về và yêu cầu anh tìm cách cắt giảm con số chi phí giao dịch đang gia tăng.
Tận cho đến lúc đó, Brad vẫn coi nhẹ các sàn giao dịch chứng khoán, cho rằng các sàn này là nghiễm nhiên. Khi anh đến New York vào năm 2002, 85% hoạt động giao dịch của thị trường chứng khoán đều diễn ra trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, và một người nào đó sẽ xử lý tất cả các lệnh. Những cổ phiếu không giao dịch ở sàn New York thì sẽ giao dịch ở Nasdaq. Không có cổ phiếu nào giao dịch trên cả hai sàn. Theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán, trước phản đối của công chúng về tình trạng thiên vị năm 2005, các sàn giao dịch đã chuyển đổi từ hình thức công ty dịch vụ công ích do các thành viên sở hữu thành công ty đại chúng hoạt động vì lợi nhuận. Một khi cạnh tranh du nhập, các sàn chứng khoán bắt đầu sinh sôi. Đến đầu năm 2008, có 13 sàn giao dịch đại chúng khác nhau, hầu hết đều nằm ở phía bắc New Jersey. Hiện nay, gần như mọi cổ phiếu đều được giao dịch trên tất cả các sàn: ta có thể mua bán cổ phiếu IBM trên Sàn Giao dịch New York, vừa mua và bán nó trên BATS, Direct Edge, Nasdaq, Nasdaq BX, v.v... Quan điểm cho rằng cần có con người đứng giữa các nhà đầu tư và thị trường đã chết. “Sàn giao dịch” ở Nasdaq hay ở Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, hay ở các đối thủ cạnh tranh mới nổi của hai sàn này, như BATS và Direct Edge, là một cụm các máy chủ máy tính chứa một chương trình được gọi là “bộ khớp lệnh”. Không có ai ở trong sàn để ta nói chuyện. Ta gửi lệnh tới sàn bằng cách nhập lệnh vào máy tính và gửi nó tới bộ khớp lệnh của sàn. Tại các ngân hàng lớn trên Phố Wall, những người từng phụ trách rao bán cổ phiếu tới các nhà đầu tư lớn nay đã được tổ chức lại. Giờ đây, họ bán thuật toán hoặc các quy tắc giao dịch đã mã hóa mà ngân hàng thiết kế, còn nhà đầu tư dùng chúng để gửi lệnh giao dịch. Các phòng ban tạo ra những thuật toán giao dịch này được gọi là phòng “giao dịch điện tử”.
Đó là lý do tại sao Ngân hàng Hoàng gia Canada lại phát hoảng và mua Carlin. Brad và những nhà giao dịch như Brad vẫn có vai trò nhất định − đó là đứng giữa người mua và người bán những lô cổ phiếu khủng và thị trường. Tuy nhiên, không gian đang co lại.
Cùng lúc đó, các sàn giao dịch cũng thay đổi cách thức kiếm tiền. Năm 2002, các sàn đã tính phí tất cả những nhà môi giới đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán một mức phí cố định và đơn giản cho mỗi cổ phiếu được giao dịch. Việc thay người bằng máy cho phép thị trường không chỉ trở nên nhanh hơn mà còn phức tạp hơn. Các sàn đưa ra một hệ thống tính phí và hoa hồng vô cùng rối rắm. Hệ thống này được gọi là “mô hình người đặt giá − kẻ theo giá”5 và giống như nhiều sáng tạo của Phố Wall, gần như chẳng ai hiểu nổi nó. Ngay cả các nhà đầu tư chuyên nghiệp cũng nghệt mặt khi Brad tìm cách giải thích nó cho họ. “Đó là nội dung tôi thường bỏ qua, vì nhiều người không hiểu được,” anh nói. Giả sử ta muốn mua cổ phiếu của Apple và thị trường của Apple là 400-400,05. Nếu bước vào và mua cổ phiếu với giá 400,05 đô-la, ta sẽ được cho là đang “băng khoảng6”. Người giao dịch vượt khoảng được liệt vào nhóm “kẻ theo giá thị trường”. Nếu thay vì làm thế, ta cứ giữ lệnh mua Apple ở giá 400 đô-la, rồi có ai đó xuất hiện và bán cổ phiếu đó cho ta với giá 400 đô-la, ta sẽ được định rõ là “người đặt giá”. Nói chung, các sàn sẽ tính phí người theo giá mức phí giao dịch là vài xu trên một cổ phiếu, rồi trả cho người đặt giá mức hoa hồng có giá trị thấp hơn, và bỏ túi khoản chênh lệch − dựa trên một lý thuyết mơ hồ rằng bất cứ ai cưỡng lại sự thôi thúc băng khoảng đều đang thực hiện một loại hình dịch vụ nào đó. Tuy vậy cũng có những ngoại lệ. Chẳng hạn, Sàn BATS ở Weehaken, New Jersey, lại nhất quyết trả hoa hồng người theo và tính phí người đặt giá.
Đầu năm 2008, tất cả những điều này đều mới mẻ với Brad Katsuyama. “Tôi cứ nghĩ tất cả các sàn đều tính chúng tôi một mức phí như nhau,” anh nói. “Thái độ của tôi lúc đó kiểu như ‘Chết tiệt, ý anh là có người sẽ trả tiền để chúng tôi giao dịch sao?’”
Với suy nghĩ mình là người khôn ngoan, anh yêu cầu tất cả các thuật toán của RBC phải điều hướng lệnh mua bán chứng khoán của ngân hàng tới bất kỳ sàn giao dịch nào trả hoa hồng nhiều nhất − mà khi đó tình cờ thay, đó lại là sàn BATS. “Đó đúng là thảm họa,” Brad nói. Khi anh cố mua hoặc bán cổ phiếu và có được hoa hồng của sàn BATS, thị trường sẽ hô biến cổ phiếu đó, và giá cổ phiếu trượt xa khỏi tầm với của anh. Thay vì kiếm được tiền, rốt cuộc thậm chí anh còn bị mất nhiều tiền hơn.
Brad không hiểu tại sao một số sàn giao dịch lại trả hoa hồng người theo giá và tính phí người đặt giá, trong khi những sàn khác lại làm điều ngược lại. Tất cả những người anh hỏi, không một ai có thể giải thích được chuyện này. “Còn chẳng có ai nói ‘Này, anh nên hết sức chú ý đến hiện tượng này.’ Bởi vì chẳng có ai chú ý đến nó.” Mức phí cũng có sự khác biệt giữa các sàn và các sàn thường thay đổi mức tính phí của mình khiến các nhà môi giới Phố Wall thêm hoang mang. Đối với Brad, tất cả chuyện này đều có vẻ kỳ cục và phức tạp một cách không cần thiết, nó làm dấy lên đủ loại câu hỏi. “Tại sao người ta lại trả tiền để một người nào đó theo giá thị trường? Ý tôi là ai mà lại sẵn lòng bỏ tiền ra để đặt giá thị trường? Tại sao có người lại làm việc đó?”
Anh thử hỏi khắp ngân hàng, những người có thể biết nhiều hơn anh. Anh thử tìm trên Google, nhưng thật tình là chẳng có gì để tìm cả. Một ngày nọ, anh nói chuyện với một anh chàng thuộc khối bán lẻ ở Toronto, chuyên bán cổ phiếu cho các khách hàng cá nhân Canada. “Tôi kể, ‘Tôi đang bị chơi xỏ nhưng lại không thể tìm ra gã nào đang chơi xỏ mình.’ Và anh ta nói ‘Anh biết đấy, bây giờ thị trường có nhiều người chơi hơn rồi.’ Tôi hỏi lại, ‘Ý anh là sao?’ Anh ta nói: ‘Anh biết rồi còn gì, có hãng mới nổi lên hiện đang nắm giữ 10% thị trường Mỹ.’” Rồi anh ta nói tên hãng, nhưng Brad nghe chữ được chữ không. Nghe như là Gekko (Tên công ty là Getco). “Tôi chưa bao giờ nghe nói đến Getco. Tôi thậm chí còn không biết đến cái tên đó. Họ nắm giữ 10% thị trường chứng khoán Mỹ, còn tôi điều hành một bàn giao dịch ở Phố Wall, và chưa bao giờ nghe nói đến tên công ty đó.” Và còn một thắc mắc nữa đó là tại sao một anh chàng bán lẻ ở Canada lại biết về hãng đó trước?
Vậy là bây giờ, anh phải điều hành một phòng giao dịch chứng khoán không thể giao dịch bình thường trên thị trường chứng khoán Mỹ. Anh buộc phải chứng kiến những người mà anh quan tâm bị một đám dân Phố Wall thập niên 1980 quấy nhiễu, khuấy cho rối tung. Và rồi, mùa thu năm 2008, khi anh băn khoăn không biết sẽ còn trục trặc nào nữa, thì cả hệ thống tài chính của Mỹ lại rơi tự do. Cái cách mà người Mỹ tiêu tiền đã khiến thị trường chao đảo, và cú chao đảo của thị trường dẫn tới sự chao đảo trong đời sống: việc làm và sự nghiệp của tất cả những người xung quanh anh đột nhiên rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. “Ngày nào tôi cũng về nhà với cảm giác thẫn thờ, đau đớn.”
Anh không phải là người khờ khạo. Anh biết là có người tốt − kẻ xấu và đôi khi kẻ xấu sẽ thắng; nhưng anh cũng tin rằng chuyện đấy chỉ là hãn hữu. Đến lúc này, quan điểm đó bị đem ra thách thức. Khi anh, cùng phần còn lại của thế giới, bắt đầu hiểu ra các công ty lớn của Mỹ đã làm gì − thao túng các bảng xếp hạng để biến nợ xấu thành nợ tốt, các trái phiếu dưới chuẩn7 được thiết kế với mục đích cố tình cho vỡ, sau đó bán cho khách hàng rồi đánh cược và để khách hàng thua lỗ, v.v... – anh như bừng tỉnh. Lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình, anh cảm thấy mình chỉ có thể thắng nếu một người nào đó thua, hoặc khả năng lớn hơn là một người nào đó chỉ có thể thắng nếu anh thua. Bản tính của anh không phải là tay năm ăn năm thua, nhưng rốt cuộc ở một mức độ nào đó, anh đã lọt đúng vào một ngành như thế.
Cơ thể anh luôn có khuynh hướng ghi nhận căng thẳng trước cả tâm trí. Cứ như thể đầu óc anh từ chối chấp nhận khả năng xung đột ngay cả khi cơ thể anh đã tham gia vào cuộc xung đột ấy. Thời điểm đó, anh mắc hết bệnh này đến bệnh khác. Chứng viêm xoang thành ra viêm nhiễm và cần phẫu thuật. Huyết áp của anh, vốn luôn ở mức cao, nay tăng vọt. Các bác sĩ còn yêu cầu anh đi gặp một bác sĩ chuyên khoa thận.
Đến đầu năm 2009, anh quyết định bỏ Phố Wall. Anh vừa mới đính hôn. Ngày ngày sau giờ làm việc, anh ngồi cạnh Ashley Hooper, vị hôn thê của mình − một cô gái sinh trưởng tại Jacksonville, Florida, mới vừa tốt nghiệp Đại học Mississippi, bàn xem họ sẽ sống ở đâu.
Họ rút danh sách xuống còn San Diego, Atlanta, Toronto, Orlando và San Francisco. Anh không biết mình sẽ làm gì; anh chỉ muốn đi khỏi đây. “Tôi đã nghĩ mình có thể đi bán thuốc hoặc bất kỳ việc gì.” Anh chưa bao giờ cảm thấy có nhu cầu cần phải ở Phố Wall. “Đó chưa bao giờ là dự định của tôi,” anh nói. “Hồi mới lớn, tôi chẳng nghĩ đến tiền hay thị trường chứng khoán. Vì vậy, mối gắn kết không mạnh lắm.” Có lẽ còn kỳ cục hơn nữa là anh chẳng hề màng đến tiền, dù RBC lúc đó đang trả anh gần 2 triệu đô-la một năm. Anh đã dồn hết tâm huyết cho công việc, nhưng lý do chủ yếu là vì anh thật sự yêu mến đồng nghiệp, cấp trên và cả cấp dưới của mình. Điều anh thích ở RBC là trước đó hãng chưa bao giờ ép anh phải là ai khác ngoài bản thân anh. Nhưng bây giờ, ngân hàng − hay thị trường, hoặc có lẽ là cả hai − hiện đang hối thúc anh phải trở thành người khác.
Thế rồi, tự ngân hàng lại thay đổi suy nghĩ. Tháng 2 năm 2009, RBC đường chia đôi ngả với Jeremy Frommer và yêu cầu Brad tìm người thay thế anh ta. Vô vàn các ứng viên đổ về từ khắp nơi trên Phố Wall − và anh thấy, về cơ bản, không một ai trong số những người tỏ ra hiểu biết về thương mại điện tử thực sự hiểu về nó. “Vấn đề là người làm giao dịch điện tử, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng chỉ là người đầu lĩnh,” anh nói. “Họ không hay biết công nghệ đó hoạt động như thế nào.”
Càng ngày, tác động trực tiếp của con người lên thị trường càng giảm, thay vào đó là tác động trực tiếp của máy móc. Tất nhiên, máy móc chịu sự giám sát của con người, nhưng có rất ít người biết những chiếc máy đó vận hành thế nào. Brad biết những cỗ máy của RBC − không phải bản thân những chiếc máy tính, mà là những lệnh vận hành chúng − là hạng bét, nhưng anh cho rằng đó là vì đơn vị giao dịch điện tử mới thành lập của ngân hàng vẫn còn lóng ngóng và chưa đủ khả năng. Khi phỏng vấn các ứng viên đang làm việc tại các ngân hàng lớn trên Phố Wall, anh nhận ra các ngân hàng này có nhiều điểm chung với RBC hơn anh tưởng. “Từ trước đến nay, tôi luôn làm giao dịch,” anh nói. “Và khi làm giao dịch, ta sẽ như ở trong chiếc bong bóng khổng lồ. Ta chỉ ngồi dõi theo màn hình cả ngày. Giờ thì tôi bước lùi lại và lần đầu tiên bắt đầu theo dõi các nhà giao dịch khác.” Brad có một người bạn quen thân đang làm giao dịch ở SAC Capital, một quỹ đầu tư mạo hiểm rất thành công tại Greenwich, Connecticut, quỹ này nổi tiếng (và cũng nhanh chóng chuốc lấy tai tiếng) vì đi trước thị trường chứng khoán Mỹ một bước. Brad phát hiện ra rằng nếu có ai biết điều gì mà Brad không biết về thị trường, thì đó chính là họ. Một buổi sáng mùa xuân, anh đón tàu tới Greenwich và dành cả ngày quan sát bạn mình thực hiện giao dịch cổ phiếu. Ngay lập tức, anh nhận thấy, kể cả khi dùng công nghệ do Goldman Sachs, Morgan Stanley và các hãng lớn khác cung cấp, bạn anh vẫn gặp phải những vấn đề hệt như RBC: thị trường trên màn hình của anh ấy không còn là thị trường nữa. Bạn của Brad nhấn nút mua hoặc bán một cổ phiếu và thị trường trượt xa khỏi tầm với của anh ấy. “Khi tôi thấy anh bạn mình thực hiện giao dịch và bị chơi xỏ − tôi hiểu ra không chỉ có tôi bị vậy. Thất bại của tôi là thất bại của thị trường. Và tôi nhận ra, Chà, chuyện này nghiêm trọng đây.”
Vấn đề của Brad không chỉ là vấn đề của Brad. Những gì mọi người nhìn thấy khi quan sát thị trường chứng khoán Mỹ − những con số trên màn hình của các nhà giao dịch chuyên nghiệp, dải băng chạy dưới chân màn hình kênh CNBC − chỉ là ảnh ảo. “Đó là khi tôi nhận ra rằng thị trường đã bị thao túng. Và tôi biết chuyện này có liên quan đến công nghệ. Rằng câu trả lời nằm bên dưới công nghệ. Tôi hoàn toàn không biết đó là chỗ nào. Nhưng khi đó tôi ngộ ra, con đường duy nhất giúp tôi hiểu chuyện gì đang diễn ra là đi sâu xuống dưới lớp mặt đó.”
Brad Katsuyama không thể tự mình đi xuống dưới lớp mặt của công nghệ. Vì anh là một anh chàng châu Á, nên mọi người luôn tưởng anh là thiên tài máy tính. Thế nhưng, anh không thể (hoặc không) lập trình được hệ thống đánh giá khách hàng VCR của riêng mình. Tuy thế, anh lại có khả năng phân biệt giữa dân máy tính thật ra không hiểu thứ mình đang nói đến với những người thật sự hiểu rõ. Tấm gương điển hình nhất của nhóm sau, theo anh, là Rob Park.
Park, một anh bạn đồng hương người Canada của Brad, là một huyền thoại ở RBC. Hồi cuối những năm 1990, khi đang học đại học, anh đã say sưa với một ý tưởng mới mẻ khi đó: dạy một chiếc máy biết cư xử như một nhà giao dịch thông minh. “Tôi thích nghiên cứu quá trình tư duy của một nhà đầu tư và tái tạo lại quá trình ấy,” Park nói. Anh và Brad chỉ làm việc cùng nhau một thời gian ngắn ở RBC, hồi năm 2004, trước khi anh nghỉ để bắt đầu kinh doanh riêng, nhưng họ đã nhanh chóng trở thành bạn bè. Rob quan tâm đến lối tư duy của Brad khi thực hiện giao dịch. Sau đó, Rob mã hóa những suy nghĩ này. Thành phẩm là thuật toán được ưa dùng nhất RBC. Thuật toán này vận hành như sau: Giả sử nhà giao dịch muốn mua 100.000 cổ phiếu của General Motors, thuật toán sẽ quét thị trường; nó thấy rằng chỉ có 100 cổ phiếu đang được chào bán. Không một nhà giao dịch khôn ngoan nào với ý định mua 100.000 cổ phiếu sẽ chịu xoa dịu mong muốn của mình bằng đúng 100 cổ phiếu. Thị trường quá mỏng. Nhưng thời điểm mà nhà giao dịch nên mua cổ phiếu của GM là lúc nào? Thuật toán mà Rob xây dựng có một điểm kích phát: Nó chỉ mua cổ phiếu nếu số lượng chào bán lớn hơn số lượng chào bán trung bình trong lịch sử giao dịch, tức là, nếu thị trường dày. “Những quyết định mà anh ấy đưa ra rất hợp lý,” Brad nói về Rob. “Anh ấy nghiền ngẫm chúng rất kỹ. Và vì đã suy nghĩ thấu đáo như thế, nên anh ấy có thể giải thích cho những người khác hiểu các quyết định này.”
Sau khi thuyết phục Rob trở lại RBC, Brad có được nhân vật hoàn hảo để tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với thị trường chứng khoán Mỹ. Và ở Brad, Rob nhìn thấy một con người hoàn hảo để tìm hiểu và giải thích cho người khác những gì mà anh phát hiện ra. “Tất cả những gì Brad cần là một người thông dịch từ ngôn ngữ máy tính sang ngôn ngữ con người,” Park nói. “Khi đã có người thông dịch, anh ấy sẽ hiểu hết nó.”
Brad không sốc lắm khi cuối cùng RBC cũng từ bỏ việc tìm kiếm người điều hành đống hỗn độn ở phòng giao dịch điện tử của mình và hỏi liệu rằng anh có thể tiếp quản và khắc phục nó hay không. Tất cả mọi người đều sốc khi anh đồng ý làm việc này, bởi vì (a) anh đã có một công việc an toàn và nhàn hạ với mức lương 2 triệu đô-la một năm khi điều hành các nhà giao dịch là con người và (b) RBC chẳng có gì để thêm vào hoạt động giao dịch điện tử. Thị trường đang lộn xộn; các nhà đầu tư lớn chỉ có chừng nào đó không gian trên bàn làm việc cho các thuật toán giao dịch mà các nhà môi giới bán ra; và Goldman Sachs, Morgan Stanley và Credit Suisse từ lâu đã tàn phá không gian đó, chiếm hữu nó làm thuộc địa. Tất cả những gì còn lại trong cuộc mua lại Carlin của RBC là những con gà đẻ trứng vàng. Vì vậy, câu hỏi đầu tiên Brad dành cho những con gà đẻ trứng vàng là: Chúng ta có kế hoạch kiếm tiền như thế nào? Họ trả lời: Họ có kế hoạch mở “dark pool8” đầu tiên ở RBC. Thì ra đây là việc mà những con gà đẻ trứng vàng này hướng tới suốt thời gian qua, viết phần mềm xây dựng mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối.
Mạng lưới này là một “đứa con tinh quái” khác của thị trường tài chính mới nổi. Các sàn giao dịch tư, do các hãng môi giới lớn điều hành, không bị buộc phải tiết lộ với công chúng chuyện gì đang diễn ra trong nội bộ sàn. Họ báo cáo mọi giao dịch mà mình tiến hành, nhưng thường trì hoãn việc này đủ lâu để mọi người không thể biết chính xác những gì đang xảy ra trên thị trường rộng lớn hơn tại thời điểm giao dịch diễn ra. Các quy tắc nội bộ của họ là một bí ẩn và chỉ có hãng môi giới điều hành mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối mới biết chắc lệnh mua và bán của ai được phép thực hiện bên trong. Quan điểm đáng kinh ngạc mà các ngân hàng lớn ở Phố Wall đã thuyết phục được các nhà đầu tư lớn tin vào đó là minh bạch là kẻ thù. Chẳng hạn, nếu Fidelity muốn bán một triệu cổ phiếu của Microsoft, họ sẽ được lợi hơn khi đưa số cổ phiếu này vào một mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối được điều hành bởi Credit Suisse chẳng hạn, thay vì đưa thẳng lên các sàn giao dịch đại chúng. Ở các sàn giao dịch đại chúng, mọi người sẽ để ý thấy có tay bán khủng vừa bước vào thị trường và mức giá thị trường của cổ phiếu Microsoft sẽ lao dốc. Trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, không ai ngoài hãng môi giới điều hành quỹ biết chuyện gì đang diễn ra.
Bây giờ thì Brad biết, chi phí để RBC xây dựng và điều hành mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối riêng sẽ rơi vào khoảng 4 triệu đô-la một năm. Vì vậy, câu hỏi thứ hai của anh cho những con gà đẻ trứng vàng là: làm sao chúng ta kiếm được hơn 4 triệu đô-la một năm từ mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của mình? Những con gà đẻ trứng vàng giải thích, họ sẽ tiết kiệm được đủ mọi khoản có dạng chi phí phải đóng cho sàn giao dịch đại chúng − bằng cách kết hợp những người mua và người bán cùng một cổ phiếu tìm đến RBC vào cùng một thời điểm lại với nhau. Nếu có nhà đầu tư của RBC muốn mua một triệu cổ phiếu của Microsoft và một nhà đầu tư khác muốn bán một triệu cổ phiếu của hãng này, họ chỉ việc trao đổi với nhau trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, thay vì trả phí để Nasdaq hay Sàn Giao dịch Chứng khoán New York thực hiện việc này. Trên lý thuyết, điều này hợp lý; nhưng thực tế thì không hẳn như thế. “Vấn đề là,” Brad nói, “RBC chỉ nắm giữ 2% thị trường. Tôi hỏi phải bao lâu thì chúng ta mới có thể có được sự giao thoa giữa nhu cầu của người bán và người mua như thế. Chưa ai phân tích chuyện này.” Sau khi hoàn tất, phân tích chỉ ra rằng, nếu mở mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối và định tuyến mọi lệnh mua bán của khách hàng vào đó trước, RBC sẽ tiết kiệm được khoảng 200.000 đô-la phí giao dịch một năm. “Vậy nên tôi nói, ‘Được rồi, thế chúng ta còn có thể kiếm được tiền theo cách nào nữa?’”
Câu trả lời sau đó giải thích tại sao ngay từ đầu không ai buồn tiến hành bất kỳ phân tích nào về mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối. Các lập trình viên máy tính giải thích, có thể dễ dàng kiếm được bộn tiền bằng cách bán quyền truy cập mạng lưới giao dịch lớn trong bóng tối của RBC cho các nhà giao dịch bên ngoài. “Bọn họ bảo, luôn có những người sẵn sàng trả tiền để gia nhập mạng lưới giao dịch lớn trong bóng tối của chúng ta,” Brad nhớ lại. “Và tôi nói ‘Ai sẽ bỏ tiền để tham gia vào mạng lưới giao dịch lớn trong bóng tối của chúng ta?’ Họ đáp ‘các nhà giao dịch cao tần.’” Brad cố nghĩ đến những lý do tốt đẹp giải thích cho việc các nhà giao dịch thuộc một kiểu bất kỳ nào đó sẵn sàng trả tiền cho RBC để có thể tiếp cận các lệnh giao dịch cổ phiếu từ khách hàng của RBC, nhưng anh không nghĩ ra được lý do nào. “Tôi chỉ cảm thấy chuyện này thật quái đản,” anh nói. “Tôi có dự cảm chẳng lành về việc tại sao lại như vậy. Vì thế, tôi nói ‘Được rồi, chẳng có điều gì trong chuyện này có vẻ hay cả. Hãy khai tử mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối ấy thôi.’”
Quyết định này chọc giận nhiều người và làm dấy lên nghi ngờ rằng Brad Katsuyama đang bận rộn với hoạt động nào đó khác, thay vì tìm kiếm lợi nhuận cho hãng. Lúc này, anh đang phụ trách bộ phận kinh doanh được gọi là giao dịch điện tử nhưng chẳng có gì để bán. Thay vào đó, những gì anh có là ngày càng nhiều các câu hỏi không lời đáp. Tại sao, nếu tính tổng cộng cả các sàn giao dịch đại chúng và các mạng lưới giao dịch chứng khoán trong bóng tối, lại có đến gần 60 nơi khác nhau, phần lớn là ở New Jersey và người ta có thể mua bất kỳ loại cổ phiếu niêm yết nào ở những nơi ấy? Tại sao các sàn giao dịch đại chúng lại hay vờn giá như vậy − và tại sao một sàn giao dịch sẵn sàng trả tiền để ta làm đúng cái việc mà sàn giao dịch khác có thể sẽ tính phí? Bằng cách nào Getco, một doanh nghiệp mà anh chưa nghe nói đến bao giờ, lại thực hiện 10% khối lượng giao dịch của toàn bộ thị trường chứng khoán? Làm sao một anh chàng tận đẩu tận đâu, làm trong ngành bán lẻ ở Canada, lại biết đến sự tồn tại của Getco trước cả anh? Tại sao thị trường hiển thị trên các màn hình giao dịch ở Phố Wall chỉ là ảnh ảo?
Tháng 5 năm 2009, một sự kiện có vẻ giống một vụ bê bối liên quan đến các sàn giao dịch đại chúng lại bổ sung một câu hỏi nữa vào danh sách của Brad. Thượng nghị sĩ New York, Charles Schumer, gửi thư cho Ủy ban Chứng khoán Mỹ SEC − rồi ra thông cáo báo chí công bố cho cả thế giới biết việc mình làm − lên án các sàn giao dịch vì đã cho phép “các nhà giao dịch cao tần tinh vi có quyền tiếp cận thông tin giao dịch trước khi những thông tin này được gửi tới các nhà giao dịch khác. Chỉ cần họ trả một khoản phí là sàn giao dịch sẽ ‘nháy’ thông tin về lệnh mua và bán trước khi thông tin đó được công khai một vài phần giây.” Đây là lần đầu tiên Brad nghe thấy cụm từ “nháy lệnh”. Nối dài thêm nữa danh sách các câu hỏi trong tâm trí mình, anh thêm vào câu hỏi: Tại sao các sàn giao dịch chứng khoán lại chủ động cho phép nháy giao dịch?
Anh và Rob bắt đầu phát triển một đội điều tra thị trường chứng khoán Mỹ. “Lúc đầu, tôi tìm những người từng làm HFT (giao dịch cao tần) hoặc những người từng làm trong các ngân hàng lớn,” Brad cho biết. Không ai làm giao dịch cao tần đáp lại cuộc gọi của anh. Tìm người làm cho các ngân hàng lớn thì dễ hơn, bởi các hãng ở Phố Wall đều là những cỗ máy bóc lột. Những anh chàng chưa từng mảy may buồn nghĩ đến RBC giờ lại kéo đến văn phòng của anh xin việc. “Tôi đã phỏng vấn hơn 75 người, nhưng không tuyển được bất kỳ ai trong đó,” anh nói. Vấn đề với tất cả những người này là ở chỗ, ngay cả khi họ nói rằng từng làm giao dịch điện tử, họ vẫn không hiểu rõ làm thế nào mà các thiết bị điện tử đó lại có thể thực hiện được giao dịch.
Thay vì chờ đợi các hồ sơ tìm đến mình, Brad chủ động tìm những người làm trong phòng công nghệ của các ngân hàng hoặc có công việc gần gũi với phòng này. Cuối cùng, đội mới thành lập của anh có một lập trình viên viết phần mềm từng làm việc cho Deutsche Bank tên là Billy Zhao, một tay từng làm quản lý bộ phận giao dịch điện tử của Ngân hàng Mỹ tên là John Schwall và một anh chàng 22 tuổi vừa tốt nghiệp khoa khoa học máy tính của Đại học Stanford tên là Dan Aisen. Tiếp đến, anh cùng Rob quay về Princeton, New Jersey, thánh địa của những con gà đẻ trứng vàng và tìm hiểu xem liệu ở đó có gì khả quan không. Họ tìm thấy một lập trình viên người Trung Quốc tên là Allen Zhang, hóa ra anh chàng này chính là người viết mã máy tính cho cái mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối đã bị khai tử kia. “Tôi không thể xác định được ai giỏi hay ai không chỉ bằng việc nói chuyện với họ, nhưng Rob thì có thể,” Brad nói. “Và mọi sự trở nên rõ ràng, Allen là con gà đẻ trứng vàng.” Hay ở một chừng mực nào đó, anh ta là “bộ phận” duy nhất có thể biến được thành vàng của con gà đó. Brad nhận thấy Allen không hứng thú với việc tuân thủ các quy tắc của đời sống công sở. Anh chàng thích làm việc một mình, giữa đêm khuya và không chịu bỏ chiếc mũ bóng chày xùm xụp che hết cả mắt, khiến anh chàng trông hệt như một tay lái xe đang trên đường đào tẩu, thiếu ngủ trầm trọng. Allen cũng là người khó ai hiểu được: Cái thanh âm có vẻ như là tiếng Anh thường thoát ra khỏi Allen liến thoắng và ríu vào nhau đến độ những gì anh ta nói thường khiến người nghe phải đờ ra. Như Brad kể, “Mỗi lần Allen nói gì, tôi lại quay sang Rob và hỏi: ‘Cậu ta vừa nói cái quái gì thế?’”
Khi đã có được một đội sẵn sàng vào vị trí, Brad thuyết phục cấp trên ở Ngân hàng Hoàng gia Canada thực hiện một loạt các cuộc thử nghiệm khoa học trên thị trường chứng khoán Mỹ. Trong vài tháng tiếp theo, anh và đội của mình sẽ giao dịch cổ phiếu không phải để kiếm tiền mà để thử nghiệm lý thuyết − để trả lời câu hỏi ban đầu của anh: Tại sao lại có sự khác biệt giữa thị trường chứng khoán hiển thị trên màn hình giao dịch và thị trường thực tế? Tại sao khi anh mua 20.000 cổ phiếu IBM được chào bán trên màn hình giao dịch của anh, thị trường chỉ bán cho anh 2.000 cổ phiếu? Để tìm ra câu trả lời, RBC đồng ý cho đội của anh để mất 10.000 đô-la một ngày. Brad đề nghị Rob đưa ra một số giả thuyết để đầu tư kiểm nghiệm.
Xuất phát điểm ngay trong tầm mắt là các sàn giao dịch đại chúng − có 13 sàn giao dịch chứng khoán nằm rải rác ở bốn khu vực khác nhau, do Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, Nasdaq, BATS và Direct Edge điều hành. Rob mời các sàn này cử đại diện tới RBC để trả lời một số câu hỏi. “Chúng tôi đặt ra những câu hỏi thật cơ bản: ‘Máy khớp lệnh của các anh vận hành như thế nào?’” Park nhớ lại. “‘Làm sao nó có thể xử lý được nhiều lệnh với cùng mức giá?’ Nhưng họ lại cử cánh bán hàng đến và những người này thì chẳng biết gì. Khi chúng tôi tiếp tục hối thúc, họ cử các quản lý sản phẩm, những người làm kinh doanh biết đôi chút về công nghệ − nhưng thật tình, họ cũng chẳng biết được là bao. Cuối cùng, họ cử cánh lập trình viên đến.” Đây chính là những tay lập trình ra các cỗ máy đó. “Câu hỏi mà chúng tôi muốn giải đáp là ‘Chuyện gì xảy ra trong khoảng thời gian kể từ khi ta nhấn nút giao dịch đến khi lệnh đến được sàn?’” Park kể tiếp. “Mọi người cứ nghĩ nhấn nút chỉ đơn giản là nhấn nút. Nhưng không phải thế. Tất cả những việc này ắt phải xảy ra. Có một lô lốc thứ sẽ xảy ra. Lúc đầu, dữ liệu mà chúng tôi nhận được từ họ về những gì xảy ra có vẻ chỉ là ngẫu nhiên. Nhưng chúng tôi biết câu trả lời nằm ở đâu đó ngoài kia. Vấn đề chỉ là làm thế nào để thấy được nó mà thôi.”
Giả thuyết đầu tiên của Rob là các sàn giao dịch không chỉ đơn giản là gom mọi lệnh ở cùng một mức giá nhất định, mà sắp xếp chúng theo một trật tự nào đó. Bạn và tôi, cả hai chúng ta có thể gửi một lệnh mua 1.000 cổ phiếu IBM với giá 30 đô-la, nhưng bằng cách nào đó bạn có thể hủy lệnh mua của mình nếu lệnh mua của tôi được thực hiện. “Chúng tôi bắt đầu nghĩ đến việc người ta hủy lệnh,” Park nói. “Tức là đó chỉ là những lệnh ma.” Chẳng hạn, mọi thị trường đều cho thấy có 10.000 cổ phiếu của Apple đang được chào bán với giá 400 đô-la một cổ phiếu. Thường thì, lô cổ phiếu này không đại diện cho một người muốn bán 10.000 cổ phiếu của Apple, mà đúng hơn là một nhóm những lệnh bán nhỏ hơn, được tập hợp lại với nhau. Họ ngờ rằng các lệnh này được tập hợp lại theo một cách nào đó mà khiến một số người đứng sau có thể nhảy ra khỏi hàng vào đúng lúc những người đứng đầu bán cổ phiếu. “Chúng tôi thử gọi cho các sàn giao dịch và hỏi xem có phải họ làm thế không,” Park nói. “Nhưng chúng tôi thậm chí còn chẳng biết nên nói như thế nào.” Vấn đề rắc rối hơn nữa là các báo cáo giao dịch không phân rõ các sàn: Nếu bạn đang cố mua 10.000 cổ phiếu Apple đang được chào bán và chỉ mua được 2.000 cổ phiếu trong số đó, bạn sẽ không được cho biết 8.000 cổ phiếu kia biến mất trên sàn nào.
Allen viết một chương trình mới cho phép Brad gửi lệnh tới một sàn duy nhất. Brad tương đối tin tưởng cách này sẽ chứng tỏ được rằng một số, hoặc thậm chí là tất cả các sàn, đều đang cho phép tồn tại những lệnh ma. Nhưng không: Khi gửi lệnh tới một sàn, anh có thể mua tất cả những gì được rao bán. Thị trường xuất hiện trên màn hình, một lần nữa, là thị trường thực tế. “Tôi đã nghĩ, Chết tiệt, thế là giả thuyết đó đi tong,” Brad nói. “Và đó là giả thuyết duy nhất của chúng tôi.”
Chuyện này thật vô lý: Tại sao thị trường trên màn hình lại là thị trường thật nếu ta gửi lệnh tới một sàn, nhưng lại là ảo khi ta gửi lệnh tới tất cả các sàn cùng lúc? Thiếu giả thuyết thực tế, đội của Brad thử nhóm các sàn giao dịch lại với nhau rồi gửi lệnh. Đầu tiên là NYSE và Nasdaq, sau đó là NYSE và Nasdaq rồi đến BATS. Tiếp đó là NYSE, Nasdaq BX, Nasdaq và BATS. Và cứ thế. Kết quả thu được còn bí ẩn hơn. Khi họ tăng số lượng sàn giao dịch, tỷ lệ phần trăm lệnh được đáp ứng giảm; khi càng cố mua cổ phiếu từ nhiều nơi, họ càng mua được ít cổ phiếu. “Có một ngoại lệ,” Brad nói. “Dù gửi lệnh tới bao nhiêu sàn, chúng tôi cũng vẫn luôn mua được 100% những gì được chào bán trên BATS.”
Rob Park nghiên cứu chi tiết này và nói: “Tôi không biết tại sao lại như vậy. Tôi chỉ nghĩ, BATS là sàn số 1!”
Một sáng nọ, khi đang tắm, Rob nảy ra một giả thuyết khác. Anh hình dung ra biểu đồ cột mà Allen đã lập ra. Nó thể hiện thời gian các lệnh giao dịch đi từ bàn giao dịch của Brad ở Trung tâm Tài chính Thế giới tới các sàn khác nhau. (Thật nhẹ nhõm làm sao, họ đã rời văn phòng cũ của Carlin và trở về khu trung tâm). Rob kể lại, “Khi hình dung lại cái biểu đồ đó, tôi chợt nhận ra các cột trên đó có độ cao khác nhau. Sẽ thế nào nếu chúng có cùng độ cao? Ý tưởng đó khiến tôi hào hứng hẳn lên. Tôi tới chỗ làm, đi thẳng vào phòng Brad và nói: ‘Tôi nghĩ nguyên nhân là vì chúng ta không đến cùng lúc.’”
Số gia thời gian như có thể thấy trên biểu đồ thấp đến phi lý: Trên lý thuyết, thời gian di chuyển ngắn nhất, từ bàn làm việc của Brad đến sàn giao dịch BATS tại Weehawken, là khoảng 2 mili giây và thời gian dài nhất từ bàn làm việc của Brad đến Carteret là khoảng 4 mili giây. Trên thực tế, thời gian có thể biến động nhiều hơn thế, tùy theo lưu lượng truy cập mạng, mức độ nhiễu tĩnh điện và sự cố kỹ thuật ở các thiết bị giữa hai đầu. Chúng ta mất 100 mili giây cho một cái chớp mắt; thật khó tin được rằng một phần nhỏ của cái chớp mắt đó lại gây ra những hệ quả lớn đến vậy trên thị trường. Allen đã bỏ ra hai ngày trời để viết một chương trình tích hợp các khối hoãn vào những lệnh mà Brad gửi tới những sàn giao dịch có thời gian tới nhanh hơn, sao cho các lệnh tới các sàn này cùng lúc tới các sàn có thời gian tới chậm hơn. “Cách này ngược đời,” Park nói. “Bởi người ta vẫn nói với chúng tôi rằng toàn bộ vấn đề nằm ở việc nhanh hơn. Chúng tôi lẽ ra phải đi nhanh hơn, vậy mà giờ lại tìm cách đi chậm lại.” Một buổi sáng, họ ngồi trước màn hình máy tính để chạy thử chương trình. Bình thường, khi ta nhấn nút mua và thất bại, màn hình sẽ nổi đèn đỏ; khi ta chỉ có được phần nào số cổ phiếu mà mình muốn mua, màn hình sẽ nổi đèn nâu; và khi ta có được tất cả những gì mình cần, màn hình sẽ xanh. Allen chưa tham gia kỳ thi cấp Chứng nhận Giao dịch Chứng khoán số 7, điều này có nghĩa là anh chàng sẽ không được phép nhấn nút Enter và thực hiện giao dịch, vì vậy Rob là người nhấn nút. Allen thấy màn hình nổi màu xanh và như sau này anh kể lại: “Tôi đã có ý nghĩ: chuyện này dễ ợt.” Rob không đồng ý. “Ngay khi nhấn nút, tôi chạy tới bàn Brad,” Rob nhớ lại. “‘Nó hoạt động rồi!’ Tôi nhớ lúc đó có một khoảng lặng và rồi Brad nói: ‘Giờ thì chúng ta làm gì đây?’”
Câu hỏi này hàm chứa một ý hiểu: Có ai đó ở ngoài kia đang tận dụng thực tế rằng các lệnh thị trường đến các sàn vào những thời điểm khác nhau để chạy trước lệnh từ thị trường này qua thị trường khác. Biết điều đó rồi, ta sẽ làm gì tiếp đây? Câu hỏi này cũng gợi ra một câu hỏi khác: Ta có dùng hiểu biết này để tham gia vào bất kỳ trò chơi nào đang được chơi trên thị trường chứng khoán không? Hay ta sẽ sử dụng nó cho mục đích khác? Brad mất khoảng 6 giây để trả lời câu hỏi này. “Brad nói, ‘Chúng ta phải tiến hành một chiến dịch phổ cập kiến thức,’” Park nhớ lại. “Kiếm tiền từ việc này rất dễ, nhưng cậu ấy đã không làm thế.”
Giờ thì họ đã có câu trả lời cho một trong các câu hỏi của mình và như thường lệ nó lại làm nảy sinh một câu hỏi khác. “Đó là năm 2009,” Brad nói. “Chuyện này đã xảy ra với tôi trong gần 3 năm. Không thể nào có chuyện tôi là người đầu tiên khám phá ra nó. Vậy điều gì đã xảy ra với tất cả những người khác?” Họ cũng có một công cụ có thể bán cho các nhà đầu tư: Chương trình mà Allen viết để lồng các khối hoãn vào lệnh gửi tới sàn giao dịch. Trước khi làm việc này, họ muốn thử nghiệm nó với các nhân viên giao dịch của chính RBC. “Tôi nhớ lúc đó mình đang ngồi ở bàn,” Park nói, “và nghe mọi người kêu lên ‘ồ...ồ...ồ!’; và ‘Bố khỉ, anh có thể mua được cổ phiếu này!’” Công cụ này cho phép các nhân viên giao dịch thực hiện được công việc mà họ phải làm: Thay mặt cho các nhà đầu tư lớn, những người muốn giao dịch cổ phiếu theo lô lớn, mạo hiểm. Họ có thể một lần nữa tin tưởng thị trường trên màn hình. Công cụ này cần có một cái tên. Brad và đội của anh nghĩ mãi về chuyện này cho đến một ngày, một nhân viên giao dịch đứng ở bàn và la lên “Anh bạn, anh nên gọi nó là Thor! Cây búa ấy!” Một người được giao nhiệm vụ tìm hiểu xem Thor có thể là viết tắt của những từ gì. Họ tìm thấy một số từ phù hợp, nhưng chẳng ai nhớ nổi chúng. Công cụ này luôn được gọi đơn giản là Thor. “Chúng tôi biết mình đang bước vào chuyện gì khi Thor trở thành động từ,” Brad nói. “Khi tôi nghe mọi người nói ‘Thor nó đi!’”
Một cách khác giúp anh biết nhóm của mình đang bước vào chuyện gì, đó là nhờ những cuộc trò chuyện với một số nhà quản lý tài chính lớn nhất thế giới. Chuyến đi đầu tiên của Brad và Rob Park là tới chỗ Mike Gitlin, người quản lý 700 triệu đô-la các khoản đầu tư vào thị trường chứng khoán cho T. Rowe Price. Câu chuyện mà họ kể không làm Gitlin choáng váng lắm. “Ta có thể thấy rằng có điều gì đó đã thay đổi,” Gitlin nói. “Ta có thể thấy rằng khi ta giao dịch một cổ phiếu, thị trường biết ta sẽ làm gì và nó sẽ dịch chuyển theo hướng phản lại ta.” Nhưng những điều mà Brad trình bày là bức tranh thị trường chi tiết hơn nhiều so với những gì mà Gitlin từng xét đến − và trong thị trường đó, tất cả các động cơ đều bị làm cho rối tung lên. Hãng môi giới Phố Wall đảm nhận việc quyết định nơi gửi lệnh mua bán của T. Rowe Price có quyền kiểm soát đáng kể đối với cách thức và nơi gửi lệnh. Hiện các hãng này đang được trả hoa hồng khi gửi lệnh tới một số sàn giao dịch và bị tính phí khi gửi lệnh tới các sàn giao dịch khác. Vậy, nhà môi giới có cự tuyệt động cơ kiếm hoa hồng khi chúng không phù hợp với lợi ích của nhà đầu tư mà mình đại diện không? Không ai biết được. Một khoản hoa hồng kỳ cục khác có tên là “thanh toán cho chuyển lệnh − payment for order low9”. Từ năm 2010, mọi hãng môi giới chứng khoán ở Mỹ và các nhà môi giới trực tuyến đều tiến hành đấu giá hiệu quả các lệnh giao dịch chứng khoán mà khách hàng gửi đến cho mình. Chẳng hạn, nhà môi giới trực tuyến TD Ameritrade đã được trả hàng trăm triệu đô-la mỗi năm cho việc gửi lệnh tới một hãng giao dịch cao tần có tên Citadel, để hãng này thực hiện lệnh thay cho họ. Tại sao Citadel lại sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền như vậy để xem được dòng chu chuyển? Không ai có thể nói chắc.
Trước đó, thật khó đo lường chi phí của cấu trúc thị trường mới. Nhưng giờ họ đã có một công cụ không chỉ có khả năng phán đoán phương thức lệnh đi tới điểm đến, mà còn đo đếm được số tiền mà cỗ máy trung gian mới của Phố Wall đang rút khỏi túi của các nhà đầu tư lớn nhỏ: Thor. Brad giải thích cho Mike Gitlin hiểu đội của anh đã thực hiện những giao dịch lớn để đo lường xem mình mua được cổ phiếu với giá rẻ hơn bao nhiêu khi chặn khả năng chạy trước của cỗ máy ấy. Chẳng hạn, họ mua 10 triệu cổ phiếu của Citigroup, rồi giao dịch với giá khoảng 4 đô-la một cổ phiếu và tiết kiệm được 29.000 đô-la − tức là khoảng gần một phần mười của 1% tổng giá bán. “Đó là khoản thuế,” Rob Park nói. Nghe qua thì nó có vẻ nhỏ, nhưng mọi sự sẽ khác khi ta nhận ra khối lượng giao dịch trung bình hàng ngày trên thị trường chứng khoán là 225 tỉ đô-la. Khoản thuế trên khi áp dụng cho toàn bộ khối lượng sẽ lên đến hơn 160 triệu đô-la một ngày. “Con số này có vẻ âm thầm như vậy bởi ta không thể nhìn thấy nó,” Brad nói. “Nó xảy ra ở cấp vi mô đến độ ngay cả nếu có cố sắp xếp và tính toán, ta cũng không thể làm được. Mọi người bị chơi xỏ vì họ không thể hình dung ra nổi một micro giây.”
Thor cho ta thấy những gì xảy ra khi một doanh nghiệp ở Phố Wall giúp một nhà đầu tư tránh phải trả khoản thuế đó. Bằng chứng này tuy gián tiếp, nhưng đối với Gitlin nó lại rất quan trọng. Chỉ riêng sự tồn tại của Brad Katsuyama cũng đã đủ gây choáng váng. “Biết RBC có được chuyên gia giao dịch điện tử tài ba nhất thế giới là một điều hơi lạ,” Gitlin nói. “Thường thì ta sẽ chẳng nghĩ rằng đó là nơi mà chuyên gia tài ba nhất về giao dịch điện tử chịu ở lại.”
Phát kiến ra Thor không phải là phần kết mà là phần mở đầu của câu chuyện. Brad và đội của anh đang xây dựng bức tranh tâm trí về thị trường tài chính hậu khủng hoảng. Thị trường bây giờ là khái niệm thuần túy mang tính trừu tượng. Nó không gợi ra trong tâm trí một hình ảnh rõ ràng nào để thay thế cho hình ảnh cũ mà mọi người vẫn giữ trong đầu. Dải băng cũ vẫn chạy dưới chân màn hình tivi − dù nó chỉ đại diện cho một phần vô cùng nhỏ của hoạt động giao dịch thực tế. Các chuyên gia thị trường vẫn báo cáo từ sàn giao dịch chứng khoán New York, dù giao dịch không còn diễn ra ở đó. Một chuyên gia thị trường, nếu thật sự muốn thâm nhập vào bên trong Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, sẽ phải trèo vào một chồng cao ngất màu đen những chiếc máy chủ được khóa kín trong một chiếc tủ nằm trong một pháo đài được bảo vệ bởi một đạo quân nho nhỏ được trang bị vũ trang hạng nặng và những chú chó săn hung hãn ở Mahwah, New Jersey. Nếu anh ta muốn có cái nhìn tổng quan về toàn bộ thị trường chứng khoán hay thậm chí hoạt động giao dịch ở đúng một công ty như IBM chẳng hạn − anh ta cần kiểm tra bản in máy tính từ 12 sàn giao dịch đại chúng khác, nằm rải rác khắp phía bắc New Jersey, cộng thêm báo cáo về các giao dịch riêng tư diễn ra trong các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối đang tiếp tục bành trướng. Nếu cứ cố làm việc này, anh ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng thật ra chẳng có bản in máy tính nào. Hay chí ít là chẳng có bản in nào đáng tin cậy. Bức tranh tâm trí về thị trường tài chính mới không hề tồn tại. Chỉ có bức ảnh đã ố vàng về một thị trường mà giờ đã chết, trong vai kẻ đóng thế cho thị trường đang sống.
Brad không biết bức tranh mà anh tạo ra sẽ đen tối và khó khăn đến chừng nào. Tất cả những gì mà anh biết chắc là thị trường chứng khoán sẽ không còn là thị trường nữa. Đó là một tập hợp các thị trường nhỏ nằm rải rác khắp New Jersey và khu trung tâm Manhattan. Khi các lệnh mua và bán cổ phiếu được gửi tới những nơi này cùng một lúc, thị trường sẽ hoạt động như bình thường. Nếu chúng tới cách nhau dù chỉ một mili giây, thị trường sẽ biến mất và mọi khoản đặt cược cũng bốc hơi theo. Brad biết mình đang bị vượt trước − rằng có nhà giao dịch nào đó khác quả thật đang chú ý đến nhu cầu cổ phiếu của anh trên một sàn và mua nó ở sàn khác vì dự tính sẽ bán lại nó cho anh với giá cao hơn. Anh xác định được một đối tượng tình nghi: các nhà giao dịch cao tần. “Tôi có cảm giác rằng vấn đề là do những kẻ mới tham gia thị trường này,” Brad nói. “Chỉ là tôi không biết họ làm thế bằng cách nào thôi.”
Cuối năm 2009, các hãng giao dịch cao tần của Mỹ đã bay tới Toronto làm việc với các ngân hàng Canada cùng lời đề nghị mua quyền tiếp cận thông tin khách hàng. Đầu năm đó, một đối thủ cạnh tranh của RBC, Ngân hàng Thương mại Hoàng gia Canada (CIBC), đã cho một số hãng giao dịch cao tần thuê lại giấy phép hoạt động của mình trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Toronto, và chỉ trong vài tháng hãng này đã thấy thị phần giao dịch của mình vốn dĩ ổn định ở mức 6-7% trên thị trường chứng khoán Canada tăng lên gấp ba10. Các nhà quản lý cấp cao ở Ngân hàng Hoàng gia Canada tranh cãi, liệu ngân hàng có nên lập một mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối ở Canada, hướng các lệnh mua bán chứng khoán của khách hàng Canada vào đó, rồi bán cho các nhà giao dịch cao tần quyền hoạt động trong mạng lưới giao dịch trong bóng tối hay không. Brad cho rằng sẽ đúng đắn hơn nếu RBC phơi bày hiện thực của trò chơi mới này và xác lập mình là hãng môi giới duy nhất trên Phố Wall không âm mưu chơi xỏ nhà đầu tư. Nói như Rob Park, “Quân bài duy nhất còn lại để chơi là sự trung thực.”
Brad đưa ra lý lẽ thuyết phục các cấp trên nên để anh phát động một chương trình có ý nghĩa như một chiến dịch phổ biến thông tin cho công chúng. Anh muốn đứng lên giải thích cho bất kỳ ai có tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán Mỹ rằng họ đang là con mồi. Anh muốn nói với họ về thứ vũ khí mới mà họ có thể sử dụng để tự bảo vệ mình trước con cá mập đang lăm le nuốt gọn họ. Nhưng thị trường đã gây áp lực buộc anh không được hé răng. Anh đang ở trong cuộc đua thuyết phục ban quản lý cấp cao của RBC về cách phản ứng với thị trường chứng khoán tự động mới mẻ này. Tất cả những gì anh có để củng cố lý lẽ của mình là cái phát kiến lạ lùng chứng tỏ... chính xác là chứng tỏ điều gì đây? Rằng thị trường chứng khoán đang hành xử lạ lùng, trừ những khi nó không như vậy ư? Những lãnh đạo ở RBC muốn kết hợp lực lượng với các nhà giao dịch cao tần cũng mù mờ về giao dịch cao tần như anh. “Tôi cần một ai đó từ ngành này chứng thực những điều tôi nói là đúng,” Brad nói. Anh cần, cụ thể là, một người nào đó từ sâu trong giới giao dịch cao tần. Anh đã bỏ ra hơn nửa năm trời gọi điện cho những người xa lạ để tìm kiếm một chiến lược gia HFT sẵn lòng đào ngũ. Lúc đó anh đã ngờ rằng tất cả những người biết các nhà giao dịch cao tần kiếm tiền như thế nào cũng đang kiếm chác bộn túi nhờ làm thế đến độ không thể ngừng lại và giải thích xem chuyện gì đang diễn ra. Anh cần tìm một lối vào khác.

